Showing posts with label Lê-V-Bỉnh. Show all posts
Showing posts with label Lê-V-Bỉnh. Show all posts

01 September 2023

Em đến bộ ngực trần, thơ

EM ĐẾN BỘ NGỰC TRẦN

Em mang lại sức sống
Bộ ngực trần thanh tân
Dạt dào bao hồi tưởng
Những trái tim héo tàn

Em tỏa vùng ánh sáng
Bộ ngực trần tự tin
Nhìn tương lai sáng lạn
Trong cuộc đời yên bình

Em mang lại sự thực
Bộ ngực trần thanh xuân
Để lòng ai náo nức
Để hồn ai bâng khuâng

Cám ơn em đã đến
Bộ ngực trần thanh xuân
Dù không lời hò hẹn
Tất cả xích lại gần

Hành trình tuy xa thẳm
Em ngực trần thanh xuân
Đường đi chừ rút ngắn
Cám ơn bộ ngực trần.

Lê Văn Bỉnh
Virginia, tháng 12/14
(Sau khi xem tranh Mộng Lệ An của ACLa)


29 May 2023

Câu Chuyện Nợ Nần Nước Mỹ

Lê Văn Bỉnh


Trong một bức thư gửi cho một người bạn, vị Bộ Trưởng Ngân Khố đầu tiên của Hoa Kỳ Alexander Hamilton (hình trên tờ giấy bạc $10), đã viết:

Quốc trái, nếu không thừa thãi, sẽ là quốc phúc đối với chúng ta. Nó sẽ là một chất xi măng có tác dụng mạnh mẽ gắn chặt Liên Hiệp của chúng ta. Nó còn đưa đến sự cần thiết duy trì thuế khóa tới mức độ nào đó, nếu không bị áp chế, sẽ là một kích thích cho nền kinh tế.

Hamilton đã viết những lời trần tình trên vào năm 1780, tức trên hai trăm ba mươi năm về trước, để giải thích vì sao quốc gia tân lập này cần huy động quốc trái để trả dứt nợ mà một số tiểu bang còn mắc trong cuộc chiến tranh giành độc lập từ nước Anh. Quan điểm của Ông đã thắng thế thời bấy giờ.  Và quốc trái Hoa Kỳ hình thành từ đấy .

Nhiều người khi biện minh cho việc chính phủ vay nợ, đã cố tình bỏ đi mấy chữ “if it is not excessive” trong câu “A national debt, if it is not excessive, will be to us a national blessing.” 

Có lẽ chỉ vì Hamilton đã không cho biết đến mức độ nào thì nợ bị gọi là “thừa thãi”, cho nên vấn đề quốc trái đã không ngừng được bàn cãi trong những thập niên vừa qua khi mức nợ cứ lần lần lên cao, và “nổ tung” ra từ giữa năm 2011 khi cần phải quyết định xem đến đâu thì được xem là mức nợ cao nhất (debt ceiling). Báo chí của cộng đồng người Việt hải ngoại bỗng dưng cũng bị hai “chữ lạ” xâm nhập.  Đó là “Nợ trần”! Nếu tiếng Anh mà dịch ra dễ dàng như thế này, thì thiên hạ chỉ cần lật từ điển ra là xong, chứ cần chi phải mất thì giờ học ngữ pháp! 

Chữ quốc trái trong bài này dùng để dịch chữ national debt. Nếu đề cập đến Hoa Kỳ mà thôi, nó cũng dùng để chỉ nợ liên bang (federal debt) mà chính phủ liên bang Hoa Kỳ vay mượn từ các nguồn trong và ngoài nước. Thật ra đã từ lâu các nhà lãnh đạo trên thế giới đã sử dụng quốc trái để tài trợ những chi phí cần thiết.  Đế quốc La Mã, đế quốc Anh v.v. không những chỉ được xây dựng trên xương máu của binh sĩ, mà còn trên nợ nần để mua sắm vũ khí, tàu bè, quân trang, quân dụng. Và từ năm 1936, khi học thuyết của kinh tế gia John Meynard Keynes ra đời thống ngự chính sách kinh tế của hầu hết các nước Tây phương đến nay, thì vay mượn trở thành “chuyện thường ngày”. Không phải chỉ khi có chiến tranh lớn, chính quyền mới vay mượn nợ; mà trong thời bình, mỗi khi thấy cần thiết, chính quyền cũng vay mượn nợ như một công cụ cho chính sách kinh tế tài chánh. Thậm chí nhiều chính quyền còn vay mượn nợ để tài trợ cho những chương trình được xem là dân sinh để nhằm duy trì hay củng cố quyền lợi của cá nhân hay đảng phái của mình.

Song song với cuộc khủng hoảng nợ nần của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, người ta cũng đang chứng kiến cảnh bên kia bờ Đại Tây Dương nhiều nước châu Âu trong Châu Âu Thống Nhất lâm vào cảnh nợ nần chồng chất.  Bắt đầu từ Hy Lạp, rồi đến Ý, đến Tây Ban Nha v.v., vấn đề quốc trái đang đe dọa nền tiền tệ của khu vực sử dụng đồng euro.  Ban đầu nhiều người nghĩ nếu không có sự ra tay của “hiệp sĩ” Đức dưới một hình thức nào đó, thậm chí của “hảo hớn” Bắc Kinh, thì tổ chức bên kia bờ Đại Tây Dương này, vốn đã được dày công thành lập với tham vọng đối kháng với sức mạnh kinh tế Hoa Kỳ, sẽ trở về giấc mơ nguyên thủy. Nhưng sau hội nghị thượng đỉnh European Leaders ngày 26/10/11 vừa qua, thì tình hình tài chánh của châu Âu đã bớt khẩn trương và các vấn đề sẽ được giải quyết theo hướng mà hội nghị đã vạch ra, tuy chi tiết thi hành cũng sẽ gây xích mích ít nhiều giữa các nước trong tổ chức, nhất là giữa Pháp và Đức.

MỘT CHÚT LÝ THUYẾT

14 December 2021

Tiếng Cười Mỹ Đen, thơ


* Mỗi dân tộc, mỗi sắc dân đều có những điều diễu cợt để phản kháng. Người Mỹ Đen diễu cợt những người lúc đầu đến nước Mỹ “khố rách áo ôm” như người Ái Nhĩ Lan, hay khổ sở vì nạn diệt chủng như người Do Thái, hay khốn đốn vì kinh tế chính trị như người châu Á (“banana”) vv., nhưng không bao lâu sau đó lại cùng với người da trắng kỳ thị họ. Họ cũng diễu cợt người da trắng không muốn cho họ bình đẳng chỉ vì sợ bình đẳng thì sẽ dễ mất vợ! Họ cũng mỉa mai cười với nhau về trò dã man treo cổ (lynch), hay vì bị gọi bằng nhiều tên (Negroes, the Colored Americans, Black Americans, Africa Americans) vv. mà không sắc dân nào khác có thể cười được vv. Một số ý trong bài thơ này dựa vào quyển sách “Black Culture and Black Consciousness” của Lawrence W. Levine do Oxford University Press xuất bản năm 1977. (LVB)

17 June 2021

Bốn Năm Trong Tù Cải Tạo Long Thành

Lê Văn Bỉnh

Tôi xin ghi lại đây một số hồi ức và cảm nghĩ về bốn năm ở trại tù cải tạo Long Thành, nơi tập trung hầu hết công chức, tình báo, cảnh sát và đảng viên cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ được di chuyển ra miền Bắc. 

Đây chỉ là những điều tôi nhớ lại.  Trong các tù trại cải tạo, nhật ký chỉ gây phiền phức, thậm chí nguy hiểm cho người ghi.  Vả lại, nếu các trại viên có cất giấu được đi nữa, thì về sau qua những cuộc lục soát bất thần đối với cá nhân hay toàn trại, những trang nhật kỳ đó cũng sẽ bị tịch thu và người viết sẽ bị trừng phạt nặng nhẹ tùy theo những gì đã ghi. Tuy cố gắng trung thực, nhưng ký ức của tôi về những gì đã xảy ra trên 30 năm qua cũng khó mà chính xác hoàn toàn được. 

Trình Diện Hay Bị Bắt? 

Nhiều người khi cầm trong tay "giấy ra trại" cảm thấy chút ít "ngỡ ngàng." Ngỡ ngàng vì tờ giấy này ghi "ngày bị bắt", chứ không ghi "ngày trình diện" -- tiếng chính thức dùng trong lệnh gọi được đọc nhiều lần trên các đài truyền thanh và truyền hình.  Người ta kết tội nhà cầm quyền cộng sản "lừa gạt" dân chúng chỉ vì họ đã ra lệnh những người đi cải tạo phải mang theo tiền để đài thọ 15 hay 30 ngày ăn, nhưng sau thời hạn đó thì không thấy ai về!  Gọi là "lừa gạt" thì cũng đúng.  Tuy nhiên, nếu không dùng lối chơi chữ lững lờ như vậy, thì làm sao họ "bắt" được hàng chục, hàng trăm ngàn người. 

Những ai đã từng làm việc trong ngành cảnh sát hay tư pháp đều biết rằng trình diện cũng là hình thức bị bắt. Giọng nói đanh thép của người xướng ngôn viên đài truyền hình Saigon khi đọc tuyên bố về trách nhiệm của những người phải trình diện học tập cải tạo và trách nhiệm liên đới của gia đình, rõ ràng là một lệnh bắt. Không ai có thể nghi ngờ về sự thực này. Nhiều người muốn trốn.  Nhưng trốn ở đâu để đừng làm phương hại tới gia đình hay những người chứa chấp mình?  

Thật ra, khi đi trình diện người ta viện ra nhiều lý do để hy vọng sẽ không có tù đày.  Nước nhà đã thống nhất, chánh quyền mới đã “long trọng” ban hành lệnh khoan hồng. Hoặc phải đi "học tập" để biết chính sách và đường lối của chính quyền mới; thời gian sẽ từ "vừa phải", tức chừng 3-6 tháng cho tới "coi được", tức 1-2 năm. Đó cũng là suy nghĩ của riêng tôi trước khi "cũng liều nhắm mắt đưa chân." Và đó cũng có thể là suy nghĩ của những người đã từng sống và làm việc với Cộng Sản.  Cụ Vũ Hồng Khanh, từng làm Phó Chủ Tịch Nước VNDCCH, hồi 1945 dưới Hồ Chí Minh cũng có mặt tại trại ngay từ những ngày đầu, nghĩa là cụ không phải do phường, khóm bắt giải đến.

Hành Trang Đi Cải Tạo

Trong thời gian 1965-67 khi còn làm việc ở tỉnh Long An, tôi đã đọc một vài phúc trình an ninh có đề cập tới việc Việt Cộng bắt một số gia đình có liên hệ đến chính quyền quốc gia để đưa vào bưng "học tập", thời gian 10 ngày đến 6 tháng. Tôi biết "học tập" dành cho họ là đào giao thông hào, hầm ẩn trú, đấp mô, đào lộ đê cản trở lưu thông, thâm chí bị giết nếu chống đối.  Nó khác với học tập về lý thuyết Mác-Lê dành cho du kích, điạ phương quân của họ.  

Tôi bàn với Lưu Trường Khương (cùng lớp Đốc Sự 10 và Cao Học 2) chuẩn bị.  Khương và tôi đã từng ở chung phòng Ký Túc Xá Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, cùng hoạt động trong Phong Trào Phục Hưng Miền Nam. Khương rủ tôi cùng nhau đến gặp Lý Quý Chung (cựu sinh viên ĐS 10, nhưng rời trường sau năm thứ nhất), dân biểu và Tổng Trưởng Thông Tin dưới chính phủ Dương Văn Minh, bổ Khương làm Tổng Giám Đốc Báo Chí. Chung nói trước 30/4 anh đã gặp Đại Sứ Pháp Mérillon và nay hình như ông ta đã bị đuổi về Pháp rồì.  Khương hỏi ai đuổi và vì sao. Chung nhìn chúng tôi: "Moi chỉ nghe đồn vậy thôi." (Sau này khi sang Hoa Kỳ định cư, đọc quyển Nước Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử do Dương Hiếu Nghĩa dịch từ quyển La Mort du Vietnam của Tướng Vanuxem, Đại Nam xuất bản 1997, tôi mới biết chính Lê Đức Thọ khi tiến quân vào Saigon đã buộc Merillon rời VN lấy lý do vị đại sứ này đã tiếp tay với Trung Cộng dàn xếp để đình chiến, ngăn cản cuộc tổng tấn công) Khương chợt buột miệng: "Không biết có chuyện gì mà người ta lại cấm treo cờ Trung Cộng!"  Chung im lặng một lúc rồi nói:  "Mấy tuần nay bọn mình trở thành phó thường dân Nam Bộ rồi! Chắc sẽ có nhiều điều bất lợi cho anh em mình."  Anh tỏ ý bi quan cho thân phận hai đứa chúng tôi.  Anh cũng nói rồi đây anh chẳng biết ra sao, nhưng Khương và tôi hiểu anh sẽ không đi trình diện.  Anh không cười như mọi khi chúng tôi gặp nhau mặc dù giọng nói của anh vẫn trầm tĩnh.  Trên đường về, Khương bảo anh sẽ đem theo một cái võng và muối ớt ăn trong 6 tháng.  Anh cũng hỏi tôi “có cái gì hay hay để equiper cho tinh thần không."  Tôi đưa ra hai điều.  Điều thứ nhất là: Nhà cầm quyền mới nói "Lao động là vinh quang", nhưng có thể đưa đến cái chết. Tôi thuật lại cho Khương nghe rằng tôi vừa đọc trong một số Digest Reader's nhập cảng vài tháng trước thấy trước cổng trại tập trung dân Do Thái ở Auschwitz, có một khẩu hiệu viết bằng tiếng Đức, được dịch sang tiếng Anh là "Work Frees Men." Khương cười: "Vậy thì đừng có dại mà lao động hết mình, để còn sống mà về với vợ con. Còn điều thứ hai?"  Tôi nói: "Cái nầy chắc chắn "toi" sẽ khoái. Họ sẽ không tẩy não bọn mình nổi đâu. Liên Xô tưởng đã tẩy não được tù binh Nhật sau khi biến một số nhỏ làm tay sai.  Nhưng khi trở về nước, sống với gia đình và xã hội, thì tinh thần và lối suy nghĩ của cựu tù binh Nhật trở lại như cũ." Khương nhìn tôi:"Thật hả?" Tôi biết đây là thói quen hay hỏi của anh dù anh không nghi ngờ, tôi vẫn trấn an Khương: "Moi đọc research hẵn hoi đấy."  Khương khoái chí cười ha hả: "Phong cách của bọn mình cũng chẳng ngon lành gì, nhưng mất đi thì moi thấy tiếc."  Tôi ngồi sau xe Honda, thấy lưng Khương thẳng lên. Tôi chợt nghĩ đến chiếc xe Volkswagon mà anh thường mơ ước -- môt chiếc Volkswagon nhỏ với màu sơn tím và cành hoa phong lan trắng vẽ trên cửa passenger (Vợ Khương tên Lan). Thấy thương anh lạ thường.

Trước khi chia tay, Khương còn hỏi tôi nên đem theo bao nhiêu tiền.  Tôi nói nếu dư dã, thì đem theo kha khá để tùy còn cơ ứng biến.  Riêng tôi, sau khi mua sữa đặc có đường đủ 6 tháng cho hai thằng con 3 và 4 tuổi --vẫn chưa dứt sữa -- và sữa bột 6 tháng Similac đứa út mới sinh ngày 1/4, thì tôi sẽ chia 2/3 tiền còn lại cho vợ tôi.  Phần tôi, sẽ đủ "tiền cơm 30 ngày" như lệnh "trình diện" đòi hỏi, và vài ba gói thuốc lá. Khương cũng buồn bã lắc đầu: "Moi cũng không hơn gì.  Trời sinh voi, trời sinh cỏ." Nghe Khương nói, tôi nhìn các bồn cỏ nhỏ bên lề đường, nghĩ: Có lẽ rồi sẽ không có đủ cỏ.  Chúng tôi hẹn gặp nhau ở trường nữ trung học Gia Long.

Một ẢoTưởng 

29 April 2020

những bước chân lầm lũi

May the good Lord be with you down every road you roam
And may sunshine and happiness surround you when you’re far from home
And may you grow to be proud, dignified, and true
And do unto others as you would have done to you
Rod Steward, Forever Young
tôi rời nhà
mắt cay cay
môi mặn mặn
*
những chiếc áo trận
ai cởi bỏ bên đường
màu áo có thời tôi đã khoác
trong mấy tháng ngắn quân trường
vài người bộ hành vội vàng
đi qua cố tránh
ai nỡ dẫm lên
*
tiếng đại bác
lác đác từ xa
cao cao mấy vuông cờ đỏ
*
dòng sông Tân Thuận kia ơi
nước dưới cầu chảy siết
hãy cuộn lấy thân tôi
hãy cuộn lấy hồn tôi
dập dùi rữa mục
*
buổi sáng hôm nay
em khẽ đặt bàn tay nhỏ lên vai
trước khi tôi rời nhà đến sở
em không nói gì hơn
ngoài đôi mắt khác thường
*
môi mặn đường đi
môi khô lối về
cuộc sống có bao nhiêu điều
tôi không thể nào hiểu nổi
hôm nay từ đâu hiện ra câu hỏi
có thể nào làm lại khi nghĩ là đã hết
có thể nào ngày cuối cùng là ngày mới bắt đầu
*
một tia nắng soi lòng âm ấm
bàn tay nhỏ kia vẫy gọi tôi về
đôi mắt khác thường kia đã trao cả niềm tin
trong khoảnh khắc
tôi thôi là mình
cúi xuống đếm
những bước chân lầm lũi
*
rồi tôi lưu đày tù ngục
em lặn lội thân cò
một đàn con nheo nhóc
bụng không mấy khi no
*
ngày tháng nặng nề qua
tôi rời xa quê nhà
lời ca nào giục giã
lời ca nào nguyện cầu
lời ca nào bảo tôi hãy ngẩng đầu
như cây hoa sắp héo tàn
được tưới nước hồi sinh
từ tình thương đồng môn đồng đội
*
ba mươi tháng tư
bốn mươi lăm năm rồi
vết thương lòng chưa khép lại
tôi tiếp tục bước đi -- những bước đi nhanh và dài
nhưng vẫn những bước chân lầm lũi đó 
Lê Văn Bỉnh (ĐS 10)

Câu chuyện tháng 4

THÁNG  TƯ  VÀ  “NỬA  HỒN  XUÂN  LỘC”        

Trong những biến động đầy đau thương của đất nước, từng có một thế hệ những người trẻ tuổi miền Nam trải qua một thời  hậu chiến đầy ngang trái, để rồi cảm nhận xót xa những vần tuyệt bút của Tô Thùy Yên trong bài thơ Ta Về:
Ta về như lá rơi về cội, Bếp lửa nhân quần ấm tối nay, Chút rượu hồng đây xin rưới xuống, Giải oan cho cuộc biển dâu này.
để rồi ngẫm lại cuộc đời hiện tại của mình:
Ta về như đứa con phung phá, Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu, Mười năm, con đã già trông thấy, Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu…
Với Tô Thùy Yên, ta để lòng lắng lại sau bao nhiêu can qua đã ập xuống đời mình. Nhưng với Nửa Hồn Xuân Lộc của Nguyễn Phúc Sông Hương, ta lại có dịp sống với những hồi ức khắc khoải,  bi thương nhất. Đó là hồi ức về một quãng đời của tưng bừng máu lửa, của ruột thịt phân ly, của những hoài vọng tắt ngấm và sự tàn lụi của xuân thì!

Tôi vẫn nghĩ rằng những người lính trận VNCH từng trải qua những ngày cuối cùng của cuộc chiến bi thương, khi đọc bài thơ này, sẽ khóc. Mà cứ gì những người lính ngày đó, cả thế hệ của Nguyễn Phúc Sông Hương ở miền Nam, đọc chưa hết bài thơ này cũng sẽ rưng nước mắt. Bài thơ đó, từ cuộc tình đẹp và bi thương giữa người lính và cô gái làng quê Xuân Lộc, đã trở thành nỗi đau chung của cả một thế hệ trầm luân.

Tháng 4.1975 là ngày miền Nam trải qua những cơn địa chấn kinh hoàng. Những đoàn người, dân, quân, trẻ, già, trai, gái, tuôn rừng lướt bụi, vượt sông, vượt suối, từ Pleiku xuống Qui Nhơn, từ Quảng Trị xuôi về Huế, từ Nha Trang đu giây, nhảy sóng, giành nhau một chỗ đứng trên những chiếc tàu di tản không còn chỗ cho chỉ một bàn chân. Những đứa trẻ buông tay rơi xuống biển trong ánh mắt thất thần và tuyệt vọng của người mẹ đang kẹt cứng giữa rừng người!

Chưa bao giờ lịch sử dân tộc chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng đến như vậy! Vết thương đau âm ỉ trong tâm tưởng của mỗi người đã trải qua những giờ phút căng thẳng nhất, và phòng tuyến Xuân Lộc là cứ điểm cuối cùng không cỏn có thể giữ được nữa. Lệnh rút quân ban ra làm chùng lòng những con người gan góc nhất!

Trong tình huống đó, mỗi người một ý nghĩ, mỗi người một tâm trạng.  Riêng Nguyễn Phúc Sông Hương (một Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng) đã thể hiện những cảm xúc của mình trước tình yêu trong sáng và dạt dào mà người con gái Xuân Lộc đã dành cho anh. Đó là tình yêu thương không nói nên lời, là nỗi chia biệt không thốt lên thành tiếng, là sự uất nghẹn của trái tim người chiến sĩ trong giây phút căng thẳng nhất của một cuộc chiến tàn khốc đã đến hồi ngã ngũ!
Buổi chiều nhận lệnh rời Xuân Lộc Ta muốn tìm em nói ít lời Nhưng sợ em buồn, không nói được Nên đành lặng lẽ mà đi thôi!
Buổi chiều, anh nhận được lệnh thu quân, đêm nay rời cứ địa, nghĩ đến  em, muốn tìm em để nói lời chia biệt, nhưng anh, người lính trận từng xông pha giữa rừng bão lửa, lại không đủ dũng cảm để nhìn những giọt nước mắt của em rơi xuống trước giờ phút xa cách nghìn trùng. 

           Ngại phút rời xa em sẽ khóc
           Bao người vợ lính sẽ buồn theo
           Yếu đuối tim ta người chiến sĩ
           Loạn rừng, tội nghiệp tiếng chim kêu

Thôi thì, anh đành lặng lẽ thu quân, mỗi quân lệnh ban ra như một nhát cứa vào lòng. Rút quân, có nghĩa là anh đã bỏ lại nơi đây một quãng đời chinh chiến với bao nhiêu kỷ niệm không rời! Giờ này em đang làm gì trong  tiếng đại pháo ầm vang, giữa thị trấn Xuân Lộc sắp trở thành một trận địa hoang tàn?
Rút quân bỏ lại đời ta đóBảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trờiLửa ngút, trái tim ta lửa ngútTrái tim người lính mới yêu người 

Vì bí mật quân, ta đành phụMối tình Long Khánh tội người ơiMất thêm Xuân Lộc tay càng ngắnNúm ruột miền Trung càng xa vời
Anh tưởng tượng đến ngày mai, khi đoàn quân đã lặng lẽ rút đi rồi, em sẽ bàng hoàng, ngơ ngác, và lòng em sẽ chùng xuống trong một nỗi bi thương không nói nên lời. Em sẽ thầm trách ta là người phụ bạc, hay em vẫn ôm ấp vào lòng những kỷ niệm khôn nguôi? Chỉ biết rằng trong phút giây này, lòng anh như trái sầu riêng nhà em, rơi vỡ làm đôi trên mảnh vườn đã từng chứng kiến những phút giây hò hẹn của chúng mình.
              
          Sáng mai chắc chắn em buồn lắm,
          Sẽ trách sao ta lại phụ người.
          Lòng ta như trái sầu riêng rụng,
          Trong vườn em đó vỡ làm đôi.

Những phòng tuyến vỡ vụn trên cao nguyên, những  cuộc di tản kinh hoàng trải dài trên từng đoạn đường máu lửa, để làm tròn sứ mạng của người chiến binh, anh đã trở thành người tình phụ:

          Cao nguyên bài học đầy cay đắng
          Lớp lớp người rơi, lớp lớp rơi…
          Ta chẳng muốn làm người bại trận
          Thành người tình phụ đó em ơi …

Trong giây phút chia lìa, không chỉ con người buồn, mà đến những vật vô tri, vô giác cũng đượm buồn. Chiếc cầu bắc qua con sông La Ngà cuộn đỏ  phù sa ghi đậm kỷ niệm những ngày hành quân vất vả, vạt nắng bìa rừng chờ đợi một ngày anh trở về, mang hong chiếc áo trận thấm đẫm mồ hôi. Tất cả  như có linh hồn, những linh hồn biết rung động và yêu thương!

          Đêm nay quân rút hồn ta ở
          Nhìn nước La Ngà pha máu sôi
          Thương chiếc cầu chờ cơn thác lũ
          Tràn qua Xuân Lộc cuốn theo người

          Ta đi áo nhuộm màu đất đỏ
          Cao su vướng tóc mãi thơm mùi
          Tội nghiệp nắng vàng chờ áo trận
          Khi tàn chinh chiến sẽ đem phơi

 Ta đã trải qua bao đêm sốt rét run người, những trận đánh mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ là một lằn chỉ mong manh. Những lúc đó, ta không ngã, vẫn dửng dưng cười trước mọi hiểm nguy. Nhưng đêm nay, trong  giờ phút sắp rút quân này, ta cảm thấy rờn rợn trong lòng ta nỗi nhục của người đi trận:
                
         Sốt rét đêm run, ngày không ngã
         Bao lần máu đổ dửng dưng cười

         Một phút này thôi, hừ lại ngã
         Bỏ thành, bỏ đất nhục nào vơi…

Trong những giây phút dầu sôi lửa bỏng ấy, trái tim người lính se lại khi nghĩ đến một ngày không định trước, khi anh không còn nữa, người con gái anh yêu sẽ côi cút giữa cuộc đời. Nghĩ đến những giọt nước mắt của em rơi dưới hầm tránh pháo, lòng ta quặn lại với mặc cảm của người đã phụ bạc một tình yêu:

         Tôi sợ một ngày mai bại trận
         Để em côi cút lại trên đời

         Nếu phải một ngày mai bại trận
         Đêm nay sao ta lại bỏ người!

         Em hỡi, dưới hầm ai đang khóc
        Thét gào pháo địch mãi không thôi

        Em hỡi em thương người lính trận
        Người lính đêm nay phụ bạc rồi!

Ta thông cảm với người lính Nguyễn Phúc Sông Hương, vì không muốn làm người bại trận nên đành trở thành kẻ tình phụ. Nhưng khi cuộc chiến tàn rồi, trở về với nỗi đắng cay của người bại trận, lòng anh còn đau đớn đến bao nhiêu! Đó cũng là tâm trạng chung của một lớp người ở cùng thế hệ với anh, lớn lên, oằn mình trong cuộc chiến, để rồi chứng kiến bao nhiêu vỡ vụn của cuộc đời.

Mỗi năm, tháng tư trở về với rất nhiều cảm xúc, ngùi thương một dân tộc phải trả giá quá nhiều mà cuộc sống vẫn phải tiếp tục đối mặt với những thử thách cam go.

         Lê Nguyễn
         22.4.2020

      ***
                            
        
NỬA HỒN XUÂN LỘC

Buổi chiều nhận lệnh rời Xuân Lộc
Ta muốn tìm em nói ít lời
Nhưng sợ em buồn, không nói được
Nên đành lặng lẽ mà đi thôi!

Ngại phút rời xa em sẽ khóc
Bao người vợ lính sẽ buồn theo
Yếu đuối tim ta người chiến sĩ
Loạn rừng, tội nghiệp tiếng chim kêu

Rút quân bỏ lại đời ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời
Lửa ngút, trái tim ta lửa ngút
Trái tim người lính mới yêu người

Vì bí mật quân, ta đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn
Núm ruột miền Trung càng xa vời

Sáng mai chắc chắn em buồn lắm
Sẽ trách sao ta lại phụ người
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi

Cao nguyên bài học đầy cay đắng
Lớp lớp người rơi, lớp lớp rơi…
Ta chẳng muốn làm người bại trận
Thành người tình phụ đó em ơi

Đêm nay quân rút hồn ta ở
Nhìn nước La Ngà pha máu sôi
Thương chiếc cầu chờ cơn thác lũ
Tràn qua Xuân Lộc cuốn theo người

Ta đi áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi
Tội nghiệp nắng vàng chờ áo trận
Khi tàn chinh chiến sẽ đem phơi

Em hỡi, em thương đàn thỏ trắng
Bầy gà mất mẹ sống mồ côi
Em hỡi em thương người lính trận
Người lính đêm nay phụ bạc rồi

Bao năm ta trọn tình đất đỏ
Một phút này thôi hẹn với đời
Sốt rét đêm run, ngày không ngã
Bao lần máu đổ dửng dưng cười

Một phút này thôi, hừ lại ngã
Bỏ thành, bỏ đất nhục nào vơi
Nếu được đưa quân lên Định Quán
Cuối cùng một trận cũng là vui

Sáng mai chân bước qua Bình Giã
Cẩm Mỹ, nhìn lui luống ngậm ngùi!
Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy
Một trời Gia Kiệm nhớ khôn nguôi

Muôn năm em hỡi trời Xuân Lộc
Giữ nửa hồn ta mãi với người
Giữ nửa hồn ta bên chiếc võng
Dưới giàn thiên lý bóng trăng soi…

Đêm nay quân rút sầu riêng rụng
Trong vườn em và trong tim tôi!
Tôi sợ một ngày mai bại trận
Để em côi cút lại trên đời

Nếu phải một ngày mai bại trận
Đêm nay sao ta lại bỏ người!
Em hỡi, dưới hầm ai đang khóc
Thét gào pháo địch mãi không thôi

Xuân Lộc trời ơi Xuân Lộc cháy
Ai gọi tôi về trời Gia Rai!

Nguyễn Phúc Sông Hương

20 April 2020

Giấc Mơ Trở Lại Đồi 29, thơ



Đêm qua trong giấc mơ
Toàn thân tôi bừng nóng
Đau đau cổ họng
Ho khan rồi khó thở
Những đám vi khuẩn đỏ
Ồ ạt chui vào phổi
Hung hăng đào xới
Phá vỡ hàng vạn phế nang
Khi tôi sắp xỉu ngất
Bỗng cửa phòng mở bật
Mấy làn gió mát
Từ một đỉnh đồi xa
Thổi vào mũi miệng vô vàn hạt phấn hoa
Hai buồng phổi đầy dưỡng khí và thân tôi hồng hào trở lại
Chúng ta phải sống và tập hợp dưới chân đồi xưa
Tiếng vọng vang vang oai phong hiệu lệnh

*
Ngọn đồi đó chúng tôi từng dừng quân
Đóng lại một đêm
Đồi 29 ai dễ gì quên
Cao độ trùng tên với ngày cận cuối tháng Tư
Chúng tôi đã vội vã leo lên
Hì hục cuốc đào công thự
Những ụ súng to nhỏ bố trí sẵn sàng
Lệnh chờ đánh tập hậu
Đại quân địch sẽ qua thung lũng dưới chân đồi này
Nhưng sáng hôm sau
Khi mặt trời vừa lên cao
Chợt có lệnh đầu hàng
Chúng tôi bàng hoàng
Đắn đo do dự
Cả đơn vị tức tưởi gục đầu
Quân phục cởi ra giấu cùng súng đạn
Vào những hốc đá
Lần lượt bước xuống chân đồi

*
Vừa hồi sức tôi cùng đồng đội
Quay trở lại ngọn đồi xưa
Hoang vu u tịch
Những mái tóc bạc vờn bay trong gió
Những khuôn mặt nhăn nheo khắc khổ
Những bàn tay gầy guộc ốm o
Chúng tôi nhìn lên đồi
Nhạt nhòe nước mắt
Đồi 29 hôm nay sao cao quá
Những chướng ngại không thể vượt qua
Những bộ quân phuc kia ơi còn như xưa hay mục nát
Những khẩu súng kia ơi còn như xưa hay rỉ sét
Bốn mươi lăm năm háo hức chờ đợi
Còn lại đây hồn xác thẫn thờ
Đau xót

Lê Văn Bỉnh, ĐS 10
Virginia, tháng Tư 2020

03 April 2020

“Quán Khóc”: Có lẽ Đóng Cửa Hết Rồi!

Do ảnh hưởng chết chóc  lây lan của vi khuẩn Vũ Hán, nhiều hàng quán bên Tàu phải đóng cửa.  Nay nghe nói bên đó tình hình bệnh dịch cải tiến, và chính quyền ra lệnh cho các hoạt động kinh tế bắt đầu trở lại, tôi tự hỏi không biết các quán khóc mở cửa lại chưa.  Có lẽ độc giả tò mò muốn hỏi tôi đang muốn nói  gì đây.  Vâng, tôi muốn nói về mấy cái quán khóc (crying bars).

Khi đói, người ta vào quán ăn, gọi hủ tíu, mì, điểm xấm, bánh bao vv.  Chủ quán cung cấp thức ăn, và thực khách sau khi no bụng thì đứng lên trả tiền. Còn ở đây quán khóc, khi buồn muốn khóc, khách hàng cứ vào mà khóc, khóc cho đã, hết nước mắt rồi đứng lên, chủ quán coi giờ và tính tiền.  Chủ quán cung cấp những gì? Một cái quán nhỏ với vài ba phòng mà phần trên mỗi cánh cửa phòng được làm bằng kính, để chủ nhân có thể nhìn vào kịp thời can thiệp: an ủi, ngăn ngừa tự sát vv.  Trang bị là một cái ghế ngồi để ngồi thoải mái mà khóc; một cái sofa vì đôi khi khách vào đây một cặp; một cành hoa hồng để hồi tưởng ngày xưa đẹp đẽ, mà khóc rống lên thêm;  môt hai hộp khăn giấy lau mặt (facial tissue) để tha hồ lau nước mắt tuôn tràn vì chuyện đau buồn, chuyện tức tưởi của quá khứ, hiện tại và tương lai của mình, của thế gian thiên hạ.

Google cho biết cái quán khóc đầu tiên do Luo Jun, lập ra ở thành phố Nanjung, vào khoảng năm 2004, sau khi nghe vài người nói muốn khóc quá mà không có chỗ kín đáo để hu hu. Đàn ông con trai Tàu mà khóc nơi thanh thiên bạch nhật thì bị coi là ... nhi nữ ươn hèn!  Còn phái nữ mà  khóc lóc bù lu bù loa nơi công cộng hay ở nhà mình thì sẽ dễ bị kẻ bất lương dở trò an ủi rồi dụ dỗ lường gạt!  Luo Jun tính thù lao 50 Nhân Dân Tệ, tương đương 6 đô la Mỹ mỗi giờ --giá hồi mới mở. Ông ta còn tiết lộ mỗi ngày trung bình quán đón được 10 vị khách vào, nhưng không nói rõ bao nhiêu nam bao nhiêu nữ, và  mỗi vị khóc trung bình, tối thiểu, tối đa mấy tiếng đồng hồ. Ông ta còn cho biết mình không được huấn luyện chuyên môn về tâm lý, nhưng lời an ủi chân thành cũng giúp ích cho khách hàng ít nhiều.  Mô hình kinh doanh quán khóc này đã “nhiễm truyền” sang vài thành phố khác , như Heifei tỉnh Anhui, và đến tận thủ đô Bắc Kinh nữa, nơi ắt phải đắt hàng. 

Có đìều bí mật mà các websites về quán khóc bên Tàu không nói ra. Đó là ở đây, có nhiều trường hợp người ta buồn khổ mà không được phép khóc, nếu Đảng ủy, hay phường khóm địa phương ... không cho phép.  Vì khóc là ... làm mất khí thế nhân dân đi, tạo cơ hội cho thiên hạ trút mọi  lỗi lầm cho đảng và nhà nước.  Tôi biết điều này nhờ phương pháp loại suy, ngay hồi còn ở Việt Nam. Số là đồng nghiệp dạy ESL của tôi, một Đại úy tên PCN,  trước 1975 dạy ở Trường Sinh Ngữ Quân Độị.  Sau khi anh đi tù cải tạo về là lúc con anh “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” rồi không may tử trận ở chiến trường Campuchia.  Trong lúc làm đám tang cho con ở Saigon, anh “được” phường khóm kè kè bênh cạnh, khuyến khích dặn dò, ngăn cản không cho khóc... Tôi không rõ họ có đưa giấy tờ cho anh ký vào hứa không đi Mỹ theo diên H.O. hay không (thuở đó chúng tôi ai mà chẳng đã làm đơn), mà sau đó đến đầu những năm 1990, anh vẫn còn ở lại Saigon.  VC hay dùng chiêu trò ký kết kiểu này khi ... người ký đang gặp bối rối, vì có thì giờ đâu mà đọc cho kỹ. Một vài bạn tôi đã “dính bẫy” này.
 
Ngoài ra ai cũng biết rằng, khi khóc lóc, người ta lại hay kể lể, không kềm chế và dễ nói toạc ra mọi thứ trên đời.  Cho nên khóc nơi công cộng thật là nguy hiểm nếu người ta lỡ mồm lỡ miệng mà kết tội, chửi rủa Đảng và Nhà Nước. Chính vì lý do “chính đáng” này các quán khóc mới được lập ra.  Và cũng chính vì lý do này mà tôi nghĩ là ngày nay các Quán Khóc đã đóng cửa hết rồi.  Hẳn độc giả không quên là cách đây vài năm, Nhà nước Tàu đã trang bị máy nhận dạng cũng như thu âm khắp hang cùng ngõ hẽm, thì làm sao họ lại có thể bỏ qua các quán khóc này.  Quán khóc còn mở cửa thì công an còn tìm ra bọn phản động, tay sai ngoại bang, bọn mưu toan lật đổ chính quyền.  Bề nào thì công an cũng chụp lấy cơ hội để nâng cao thành tích. Cho nên quán khóc nếu tiếp tục mở cửa thì chỉ ...có đói mà thôi.

Trong mấy tháng đầu của trận đại dịch, dân Tàu phẫn uất công khai khóc lóc và chửi rủa, không cần phải tìm chỗ kín đáo cho mất thì giờ, lại còn tốn tiền, lại còn cả gan phổ biến trên mạng nữa. Vả chăng, phố phường cũng bị phong tỏa, cách ly cả rồi, làm sao mà đi đây đi đó để mà tìm quán khóc.  Cho nên các quán khóc không kiếm chác gì được, chắc đành phải đóng cửa thôi.  Nay, với tình hình công an rảnh rổi hơn, dân Tàu không còn dám liều lên mạng khóc chửi nữa. Chắc chắn là trong nhiều triệu điện thoại di động “mất tích” sau biến cố dịch Vũ Hán vừa qua đã ghi lại vô số điều bí mật, đau thương. Hơn nữa, vào các quán khóc ngày nay --nếu còn mở cửa-- thì lại bị máy móc nhận dạng, nghe lén. Tội nghiệp dân Tàu! Tội nghiệp những chủ nhân quán khóc.  Tội nghiệp thay cho một ngành kinh doanh có tiềm năng đi lên nay lại phải đột tử! 
  
Tại Hoa Kỳ cũng có những quán khóc karaoke. Kẻ có tâm sự buồn vào đây nhâm nhi vài ly rượu, hát karoke, rồi tự do ... khóc cho đến khi cảm thấy hết buồn thì ... trả tiền ra về.  Có điều là ... khá tốn kém -- $150.00 hay hơn.  Quý độc giả lẫn người viết nay không còn trẻ trung gì, cho nên chúng ta thường dễ kìm chế cảm xúc.  Độc giả và người viết đã qua quá nhiều năm đau khổ --và đau khổ cùng cực-- rồi!  Mỗi khi nhìn lại những ngày tháng cuối cùng của Miền Nam, những ngày tháng tù đày và những ngày tháng cơ cực sau đó của mình, của gia đình, của thân nhân bằng hữu vv.  làm sao cầm được nước mắt. Bao giờ còn sống trên đời thì còn nước mắt để khóc. Thường khi người già lại còn dễ xúc động hơn những người trẻ nữa.  Lý trí lắm khi nhường chỗ dễ dàng cho những xúc động có thể bị người trẻ tuổi duy lý xem là ... trẻ con, vô lý, lẩm cẩm, tinh thần ... có vấn đề.  Khi nghe tin một người bạn thân vừa ra đi, khi đứng lên chào cờ trong một buổi hội họp nghiêm trang, khi đọc bản tin thấy có người già xin nhường máy trợ thở cho bệnh nhân trẻ, khi biết quá nhiều người chết trong trận đại dịch này,  vv., bạn hay tôi ứa nước mắt.  Đó là một điều tự nhiên khi chúng ta không kiềm chế được, hay không phải giấu diếm  như những người Trung quốc đau khổ trong những quán khóc bên kia bờ đại dương. 

Để kết luận, tôi tạm  trích một đọan thơ (stanza) trong bài thơ dài  có  tựa đề “An End or a Beginning” của Wuer Kaixi , một nhà thơ người Uy Ngô Nhĩ (Uyghur), đã từng tham gia cuộc biểu tình phản  kháng của sinh viên ở Thiên An Môn năm 1989, sau đó phải bỏ chạy sang HongKong, Pháp, rồi Hoa Kỳ học ở Harvard University, nay sinh sống ở Đài Loan.  Đoạn thơ đó được dịch sang tiếng Anh như sau: 
Here I stand
Replacing another, who has been murdered
I have no other choice
And where I fall
Another will stand
A wind rests on my shoulders
Stars glimmer in the wind.

(Tạm dịch: Tôi đứng đây
Thay cho một người
Vừa bị sát hại
Không có sự chọn lựa nào khác
Và nơi tôi ngã xuống
Người khác sẽ đứng lên thay
Một làn gió đọng trên đôi vai
Những vì sao nhạt nhòe trong làn gió ấy.
Sau khi làm xong, đọc lại ... có lẽ Wuer Kaixi đã khóc.  Nhưng chắc chắc là anh ta không phải vào...  quán khóc để tuôn đôi dòng lệ.  May thay cho anh ta! Anh ta may mắn hơn những người Uy Ngô Nhĩ, cũng như bao nhiêu triệu người Tàu khác, còn ở lại.

Riêng chúng ta, năm nay là năm thứ 40 kể từ ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản Việt Nam, một đảng luôn theo lệnh Cộng Sản Tàu, sẵn sàng hy sinh xương máu của đồng bào mình để cho nước Tàu được yên ổn mà phát triển kinh tế,  để  cho đảng mình được tồn tại như họ đã từng hãnh diện, để cho đảng viên mình được “vinh thân phì gia” như họ đang khoe khoang, không hề giấu diếm.  Nay khi dịch phương Bắc tràn sang như thác lũ, họ không dám tự tay đóng sớm cửa khẩu, mà lại mạnh và nhanh tay đóng cửa làng mạc, phường khóm nhốt đám dân đen đói khổ vào những căn nhà nhỏ bé, thiếu vệ sinh, trong khi các đảng viên vui sướng nghỉ ngơi trong các tòa biệt thự ngất ngưởng, bề thế.  Chỉ riêng hoàn cảnh trái ngược này cũng khiến chúng ta không cầm được nước mắt rồi --cần chi phải kể thêm những điều khác nữa, kể cả tang tóc toàn cầu do vi khuẩn Vũ Hán gây ra. Đảng Cộng Sản Việt Nam vốn là một dị dạng bẩm sinh (birth defect) của xã hội ta. Càng lớn nó càng trở nên xấu xí, tham lam, độc hiểm và hung ác.  Chúng ta đã tránh xa được nó.  Khi buồn thì cứ tự nhiên mà khóc lóc kể lể, chửi rủa, không cần phải sợ sệt đến nỗi phải tìm đến quán khóc trả tiền mà khóc! 

Những quán khóc –dù dưới hình thức giản đơn rẻ tiền như những quán khóc bên Tàu, hay rườm rà tốn kém như những quán khóc karaoke như bên Mỹ-- cũng có thể khó tìm được đất đứng ở Việt Nam, mặc dù nơi đây, người nghèo khó rất cần chỗ khóc --miễn là chưa hết nước mắt, và nhất là quán phải kín đáo, kẻo dễ gặp nhiều rủi ro khi kể lể, không khéo lựa lời. Kẻ giàu có cũng cần chỗ khóc, để khoe là mình tuy đã  “vinh thân phì gia” rồi, nhưng cũng còn một chút tấm lòng –trong chốn đại gia. Nhưng than ôi, “tai vách mạch rừng”, máy móc chụp hình, thu âm khắp nơi khắp nẻo, ai dám vào đây khóc than kể lể.  Vậy thì quán khóc có mở ra chăng nữa, cũng phải là quán khóc do đảng kinh doanh, hay ít ra cũng do “dư luận viên” điều hành.  Vào đây để mà chết à?

Hành trình nghèo đói, gian khổ, nô lệ không dễ thay đổi.  Hay nếu thay đổi, thì sẽ theo hướng tệ hơn mà thôi.

Lê Văn Bỉnh
(ĐS 10)

27 December 2019

Mùa Giáng Sinh Đầu Tiên Tôi Mất

(Để nhớ lại Đêm Giáng Sinh 1975 tại Trại Tù Cải Tạo Long Thành,
khi chúng tôi chưa bị khoá nhốt trong các nhà tù vào ban đêm)

Mùa Giáng Sinh đầu tiên tôi mất
Trại Long Thành kẽm gai cao ngất
Vài ánh nến le lói chập chờn
Trong gió buốt về từ phương Bắc

Những bóng đen lờ mờ động đậy
Những bóng ma như vừa thức dậy
Khe khẻ hát bài “Hang Bêlem” (1)
Sưởi hồn nhau -- hồn không ấm mấy

Chúng tôi đây gia đình ngoài đó
Làm chi có ánh đèn xanh đỏ
Trên cành thông thấp thấp góc nhà
Bụng sắn khoai mơ chi quà nhỏ

Trong bóng tối chúng tôi thèm khóc
Nhưng có ai còn dư nước mắt
Tuyến lệ bấy lâu cạn kiệt rồi
Mất tất cả --mất cùng đất nước

Mùa Giáng Sinh đầu tiên đã mất
Ba ngàn hồn não nề u uất (2)
Buông xuôi thân muối xát lòng đau
Xa rồi âm thanh “White Christmas” (3)

Trôi nổi về đâu bên bại trận
Những riêng tư chất chồng ân hận
Quê hương ơi sóng gió bên trời
Ánh nến tắt lạnh thêm dĩ vãng

Lê Văn Bỉnh
___
(1) Thường được gọi “Đêm Đông Lạnh Lẽo” của Hải Linh
(2) Trại Long Thành giam giữ trên 3.000 viên chức cao cấp VNCH,
thuộc 4 thành phần: hành chánh, đảng phái, cảnh sát và tình báo
(3) Bài hát do đài quân đội Hoa Kỳ Saigon phát vào tháng Tư,
làm tín hiệu di tản

01 December 2019

Chiều Em và Tôi, thơ

Chiều ươm nắng hay chiều toan trốn nắng
Tiếng còi xe quen thuộc sẽ thôi vang
Sót lại đây chút hương thầm thoang thoảng
Bay loanh quanh mấy chiếc lá nâu vàng
 
Em đã bảo em sẽ không trở lại
Tháng năm dài chỉ những điệu nhạc buồn
Em chết từ từ hay hóa điên dại
Anh thương em lời hát đó không thương
 
Anh ôm ấp chi một trời quá khứ
Kim hướng Bắc anh u uẩn phương Nam
Sống bên em sao hồn anh lữ thứ
Luôn thì thầm lời ma quái nghĩa trang
 
Em dung dị cuộc đời cần thực tiễn
Vui ở buồn đi không mấy luyến lưu
Mãi ngoảnh lại là chịu thua vĩnh viễn
Bài học đó đâu cần phải suy tư
 
Tôi chúc em trọn cuộc đời hạnh phúc
Em mong tôi sớm lấy lại yên bình
Ta đã cho nhau những lời đẹp nhất
Nụ hôn cuối là hơi thở chính mình
 
Tôi nghe nơi đó đời em mới lại
Nhạc trẻ trung và em đã vui tươi
Mắt em sáng lên tiếng cười thoải mái
Quanh em những vòng tay ấm chào mời
 
Xin chúc em những bước đi hạnh phúc
Tôi vẫn loay hoay mãi kiếm mãi tìm
Chưa gặp may được tìm ra sự thực
Sự thực nào giúp thoát cõi ưu phiền
 
Chiều âm ấm hay là chiều lành lạnh
Tôi ngồi đây ấm lạnh cũng như nhau
Đời bể dâu biết bao giờ hưng thịnh
Đứng một mình sao tránh khỏi lao đao
 
Chiều trở lại hay là chiều vẫn đó
Điệu nhạc vui tươi hay điệu nhạc buồn
Trời sắp tối hay trời còn sáng tỏ
Tôi một hướng còn em trời bốn phương 
Lê Văn Bỉnh

26 June 2019

Chim Hồng Yến Sẽ Bay Lượn Đâu Đây

Tháng Chín này em có về đây hội ngộ
Chim hồng yến* sẽ bay lượn đón em
Cất tiếng hót hân hoan chào thêm một lần gặp gỡ
Ai sẽ ra phi trường
Hồi hộp đón em
Bảng số xe có thể làm em ít nhiều bối rối
Xin hãy bỏ qua cho sự tình cờ
“Virginia is for lovers” **
Nếu hàng chữ này chỉ dành riêng cho “chúng mình”
                                            trong phút giây ngắn ngủi
Cũng là hạnh phúc anh hằng mơ ước
Có một thời không thể nào bày tỏ được

***

Tháng Chín này bạn có về đây hội ngộ
Cùng nâng ly rượu vang đỏ địa phương
Cho một chút ấm lòng
Thêm vài ly dành cho bạn bè vắng bóng
Một phút trầm tư kẻ trước người sau
Có một thời chúng mình say sưa lý tưởng
Háo hức tung cánh bay về các tỉnh quận xa xôi
Tuổi trẻ kia những toan đội đá vá trời
Rồi một hôm bầu trời sụp đổ
Mộng cao cao ảo ảnh phù du
Kẻ vào tù
Người phiêu bạt trên những xứ lạnh tuyết băng

***

Gánh nặng cuộc đời đôi vai em trĩu xuống
Những lo toan đất lạ trán bạn nhăn nheo
Bụi thời gian chúng ta giủ phủi cho nhau
Tất cả như sẽ qua mau thật mau
Khi những tia mắt ấm đan nhau biển đời sẽ lặng

***

Tháng Chín này em có về đây hội ngộ
Tháng Chín này bạn có về đây gặp gỡ
Gíó mùa thu thuở ban sơ nhắc nhở
Gió mùa thu giấc mộng cũ lại đong đầy
Chim hồng yến sẽ bay lượn đâu đây
Hót chào những tấm lòng
Vẫn với nhau như những ngày xưa ấy

Lê Văn Bỉnh
Tháng 6/2019

* Cardinal, con chim biểu tượng cho tiểu bang Virginia
** DMV design, trên hầu hết các bảng số xe tiểu bang Virginia

29 January 2018

Trên Cát, thơ

Người thương binh loay hoay trên bãi biển
Đắp mô hình thủ đô cũ Sài Gòn
Tấp nập bộ hành đại lộ hẻm con
Xuất hiện thêm chợ mấy ngôi lớn nhỏ

Ngọn cờ tí teo mặt anh rạng rỡ
Nhiều mái trường đông đúc đám học sinh
Anh nói đây một thủ đô thanh bình
Dù xa xa vang vang bom đạn nổ

Khách đi qua bấm máy hình ghi nhớ
Anh mỉm cười cám ơn kỷ niệm này
Sóng biển vào trong vài giờ nữa đây
Sẽ xóa hết cảnh thanh bình trên cát

Khách vắng đi và nhanh trong chốc lát
Anh vẽ người chỉ còn lại một chân
Cánh tay cụt đong đưa nỗi nhọc nhằn
Nước lại xóa công trình vừa mới chớm

Nhìn sóng vỗ tràn lan anh cười lớn
Tác phẩm vẫn còn – đó chính là ta
Chứng tích một thời -- dù khá phôi pha
Là thực tế -- không chỉ qua hình ảnh

Cứ vài tuần anh lai ra biển lạnh
Đắp mô hình thủ đô cũ Sài Gòn
Khách vẫn chụp hình - ảnh đó sẽ còn
Còn ảnh anh -- người lắc lư trên cát.

Mưa mỗi lúc càng thêm nặng hạt
Gió vù vù như tích tụ trăm năm
Sóng điên cuồng gào thét ầm ầm
Anh về đâu -- hay vẫn còn trên cát
Lê Văn Bỉnh
Virginia Tháng Giêng 2018

28 December 2017

Gởi Tấc Lòng Bên Đây

Gởi Tấc Lòng Bên Đây

Bao nhớ thương mòn mỏi
Vun đắp tình hoài hương
Tình hoài hương khắc khoải
Dật dờ dòng thời gian

Bao năm dài uất ức
Nhú lên cành hướng dương
Cành hướng dương bất khuất
Bung những đóa hoa vàng

Muôn vàn hạt giống nhỏ
Nở rộ rừng hướng dương
Hoa vàng lan khắp ngõ
Là hy vọng đang vươn

Em lăn xe dẫn bước
Anh chống gậy theo sau
Rừng hướng dương phía trước
Chúng ta cần có nhau

Buồn thay bàn tay nhỏ
Run run với tháng ngày
Ai có về bên đó
Gởi tấc lòng bên đây

Lê Văn Bỉnh
(Tháng 8 Năm 2017)

03 December 2017

Trái Tim Cổ và Tượng Voi Trắng,

Trái Tim Cổ và Tượng Voi Trắng

Anh nhất định quay về mảnh đất xưa
Dù ai nói nghiêng nói ngửa
Dù mảnh đất này có nằm trong bàn tay ai đi nữa
Anh cương quyết dành phần đời còn lại phục vụ quê hương
Sau bao nhiêu năm xứ người tận lực

Anh mang theo những thùng sách mới
Đã cẩn thận đặt mua
Cùng vài quyển do chính tay anh viết
Chưa kịp làm index
Quan trọng hơn
Trái tim anh đầy nhiệt huyết
Bằng chứng hùng hồn cho tình quê hương ngàn dặm ai chờ
Trong đám bạn tiễn anh 

   - Ừ đám bạn già cũng chưa cạn tình quê hương nhưng luôn ngờ vực
Có một người bạn thơ buột miệng
Trái tim anh còn nóng nhưng vẫn là trái tim cổ
Anh mỉm một nụ cười dễ thương như tự bao giờ
Trái tim cổ đem đấu giá có khi kiếm được nhiều tiền

Rồi anh bay đi
Như gió lộng trùng dương
Bạn bè già về hưu dành thời giờ thay con trông đàn cháu nhỏ
Quanh quẩn trong nhà hay bên chiếc computer cổ lỗ
Có rảnh rang chi tò mò những chuyện người đời

Bỗng tháng trước người bạn còn sót lại bên kia
E mail báo hai tin quan trọng về anh bạn mới về

Một là trái tim anh bây giờ trở thành đắt giá
Khá nhiều người trẻ đẹp tranh mua
Hai là công việc nghiên cứu của anh nhiều nơi ca tụng
Báo chí nêu danh
Anh lại khoe được thủ trưởng tặng một tượng voi trắng thật to
Anh long trọng đặt giữa phòng làm việc
Tượng voi trắng này được ngài Bộ Trưởng mua từ bên Thái
Cho thủ trưởng và thủ trưởng tặng anh

Người bạn thơ nghe được chuyện này lo lắng
Email anh một bài thơ ngắn
Khuyên anh cẩn tắc vô ưu
Trong đó có mấy câu
Mỹ nhân xưa sắc nước khuynh thành
Mỹ nhân nay bốc lửa ngực trần
Dễ thiêu rụi những kệ sách của anh
Và tượng voi trắng chỉ dấu mối đe dọa ngấm ngầm

Hôm qua chúng tôi được tin buồn anh chết
Trần truồng
Người bạn bên kia ngại ngùng cho biết
Không trang báo nào rọi soi chi tiết
Không dễ gì sự thật được tìm
Dù sự thật được đóng dấu tròn rất đỏ
Người bạn thơ trầm ngâm tư lự
Những trải nghiệm cuối đời thường khi không tốt đẹp như mơ

Lê Văn Bỉnh

10 January 2017

KHOẢNG TRỐNG VÀ EM , thơ

Khoảng trống quanh đây như không khí
Em hồn nhiên hít thở hằng ngày;
Nhưng cớ sao bao người trân quý,
Và đêm ngày tranh đấu hăng say?   

Em nhìn xuống vô vàn biểu ngữ:
Biên thùy, biển đảo, ruộng dân oan,
Môi trường, nhân quyền và dân chủ …
Đương đầu với gậy gộc hung tàn.

Em thờ ơ.  Đôi chân vẫn bước,
Nhẹ nhàng theo điệu nhạc du dương.
Em hững hờ, làm sao thấy được
Máu đỏ loang loang khắp nẻo đường.  

Chợt sớm mai khi em tỉnh dậy,
Nghe khác thường ngột ngạt trong phòng:
Cánh cửa phòng hôm nay khóa lại;
Khoảng trống kia đã hết mênh mông!

Em hớt hãi nhìn theo khe nắng;
Miệng kêu cầu ai giải cứu cho.
May mắn thay có người lẳng lặng
Đến trả em khoảng trống em chờ.

Bàn chân nhỏ, trái tim em lớn,
Biết yêu thương, biết phải làm gì:
Từ tầng cao em lao vội xuống,
Gia nhập đoàn rầm rập bước đi.

Khoảng trống đó em mơ rộng trải
Là Tự Do -- không khí em cần.
Mỗi khi bị ép dồn hẹp lại,
Nó thét gào gọi tiếng bước chân.

Nỗi phẩn uất dâng lên ngùn ngụt, 
Em hiên ngang Hà Nội, Sài Gòn.
Cùng đồng hành mơ ngày hạnh phúc:
Mất Tự Do, hạnh phúc không còn.

Em hỡi em, người em gái nhỏ,
Quê hương cần những bước chân em.
Một mai kia dân mình bớt khổ,
Em trở về cuộc sống ấm êm

Virginia, tháng 6/2016
Lê Văn Bỉnh

04 January 2017

Ý NIỆM VỀ SỰ TRỊ VÌ CỦA LUẬT PHÁP (THE RULE OF LAW) TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

•    Lê Văn Bỉnh
… as in absolute governments, the King is law, so in free countries the law ought to be the king; and there ought be no other. (… vì trong các chính quyền chuyên độc, Vua là luật, vậy thì trong các quốc gia tự do, luật phải là Vua; và không nên có gì khác nữa,)
Thomas Paine (Commense Sense, Jan. 1776)
Từ khi Liên Bang Xô Viết tan rã và hình thành những quốc gia độc lập, bắt đầu xây dựng nền dân chủ non trẻ, và nhất là trong hai thập niên vừa qua, thế giới càng ngày càng tiến xa trên đường toàn cầu hoá, thì ý niệm về sự trị vì của luật pháp càng ngày càng được phổ biến.  Các nhà lãnh đạo, các chính trị gia, các ứng cử viên vào các chức vụ cấp quốc gia cũng như địa phưong tại các quốc gia dân chủ, cũng như độc tài đều đề cập đến ý niệm này một cách say sưa nồng nhiệt.  Mọi người xem đó là viên thuốc trị bá bệnh giúp ổn định trật tự xã hội, xây dựng dân chủ, tôn trọng nhân quyền, phát triển kinh tế, cải thiện guồng máy công quyền nói chung, và hành chánh nói riêng vv.  Tại Hoa Kỳ, khi vận động tranh cử Donald Trump, ứng cử viên chức vụ tổng thống không ngừng hô hào “luật pháp và trật tự” (law and order); ứng cử viên không thành công Clinton và Tổng Thống Obama cũng lần lượt nói đến “sự trị vì của luật pháp” (the rule of law) trong bài diễn văn liền sau khi cuộc bầu cử kết thúc.

Trong hơn thập niên vừa qua, các cơ quan kinh tế, luật pháp thuộc Liên Hiệp Quốc đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu, huấn luyện cho các quốc gia giao thời nói trên, cũng như cho các quốc gia đang phát triển.   Hoa Kỳ, Canada, Liên Âu v.v. cũng dành không ít ngân quỹ và nhân sự để giúp cho việc cải tổ pháp luật, truyền bá và rao giảng “sự trị vì của pháp luật” ở các nước vừa nói, hy vọng rằng khi “nguyên tắc” này được tôn trọng, hay “lý tưởng” này được tiến gần, thì mọi sự tốt đẹp sẽ đến từng các quốc gia, cũng như cho toàn thế giới.

Về Thuật Ngữ Tiếng Việt 

Trong bài viết này, thuật ngữ “sự trị vì của luật pháp” được dịch theo nguyên ngữ tiếng Anh “the rule of law”. Nó có thể hiểu một cách đơn giản là trong việc cai trị đất nước, luật pháp đứng trên hết, trên cả vua (nếu đó là vương quốc), nhà nước, các đảng phái chính trị và dân chúng.  Nói cách khác, mọi người thuộc mọi tầng lớp trong nước đều là đối tượng bình đẳng trước luật pháp.  Chính vì vậy mà “sự trị vì của luật pháp” còn được gọi là “tính thượng đẳng của luật pháp” (the supremacy of the law).  Chúng tôi chọn cách dịch sát nghĩa, nhưng không ngắn gọn này, vì nó dễ hiểu và hy vọng sẽ tránh được sự hiểu lầm cho một người đọc vốn quen với một số thuật ngữ thông dụng hiện nay, chẳng hạn “pháp trị”, “pháp quyền”.   Hơn nữa, nguồn gốc của thuật ngữ này là từ tiếng Anh, chứ không phải từ tiếng Pháp, tiếng Hoa, hay tiếng nước khác được dịch sang tiếng Anh. Theo từ điển The Oxford Encyclopedic English Dictionary, 1996, trang 1262, thì trong thuật ngữ này, “rule” có nghĩa là government (cai trị) hay dominion (chế ngự); do đó chúng tôi đề nghị dịch là “sự trị vì” để nói lên tính thượng đẳng của luật pháp; hơn nữa trong lịch sử Anh quốc, có lúc luật pháp đã thật sự đứng trên vua. (sẽ đề cập trong bài).

Để cho ngắn gọn trong sự trình bày, chúng tôi còn dịch “rule of law” thành “luật trị”, tức sự trị vì/ sự cai trị của luật pháp, để đối chiếu với đảng trị, gia đình trị mà người ta thường nghe và hiểu rõ nội dung.  Theo cách dùng chữ này, thì  “Luật trị” có ý nghĩa khác biệt với “pháp trị” và “pháp quyền” như sẽ được đề cập phần sau. Nhưng ngay từ đây, xin đừng hiểu “luật trị” là cai trị bằng luật pháp. Nói cách khác, trong phần còn lại của bài viết có 2 cụm từ  “sự trị vì của luật pháp” và “luật trị” được dùng thay thế cho nhau. Cũng cần nói thêm là trong thời kỳ chuyển tiếp, nhiều chế độ “cai trị bằng chính sách” trong khi chưa có đủ luật lệ mới để điều hành guồng máy nhà nước --  Việt Nam sau 1975 là một thí dụ.  Đối với một xã hội văn minh, tình thế này không thể tồn tại trong một thời gian dài.

Khoảng 9-10 năm trước, khi bản dự thảo hiến pháp (về sau thành Hiến Pháp 2013) của Việt Nam Cộng Sản được đưa ra thảo luận trong nước, đã có sự tranh luận về việc dùng thuật ngữ “pháp trị” hay “pháp quyền” để dịch thuật ngữ tiếng Anh “the Rule of Law”.  Nhóm chủ trương dùng chữ “pháp trị” giải thích “pháp trị” là dùng pháp luật nghiêm khắt để cai trị, một chủ trương của nhóm pháp gia thời xa xưa bên Trung Hoa, mà tiêu biểu là Công Tôn Ưởng thời Đông Chu Liệt Quốc. Đối nghịch với trường phái “pháp trị” này là trường phái “nhân trị”, tức dùng lòng nhân để mà cai trị. Với ý nghĩa đó, “nhân trị” còn được coi như là đức trị (rule of virtues). Trước năm 1975, các sinh viên năm thứ nhất của Đại Học Luật Khoa và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đều được học bài học nhập môn này; do đó, khi ra trường và hòa mình vào xã hội có luật pháp kỷ cương, chẳng mấy ai dám liều lĩnh, quên “nguyên tắc thượng tôn luật pháp”, vì biết rằng luật pháp sẽ chẳng tha nếu mình vi phạm.
  
Nhóm chủ trương sử dụng chữ mới “pháp quyền” khẳng định “pháp quyền” là  “rule of law”, nhưng khi đọc bản dịch, thì người ta không còn thấy dấu vết của “rule of law” ở đâu nữa.  Thật vậy, Điều 2, khoản 1 tiếng Việt là:
Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Trong các bản dịch sang tiếng Anh này, giống hệt nhau trên mạng, khiến người viết nghĩ là chỉ từ một bản dịch “chính thức” của nhà nước, Điều 2 khoản 1 trên đây được dịch như sau:
The Socialist Republic of Vietnam is a socialist state ruled by law and of the People, by the People and for the People. [Người viết thêm dấu gạch dưới]. 
Nếu hiểu “nhà nước pháp quyền” là nhà nước bị luật pháp chi phối, theo lối viết tiếng Anh này, thì người viết thiết nghĩ câu dịch sau đây có thể gọn gàng hơn:
The Socialist Republic of Vietnam is a law-ruled (or (or a law-governed) sate of the People, by the People and for the People.
Cũng cần nhớ lại là 2 chữ “pháp quyền” này mới được ghi thêm vào Hiến Pháp 2013, chứ không có trong các hiến pháp trước đó. Từ câu tiếng Anh này, người đọc có thể hiểu pháp quyền có nghĩa là cai trị bằng /bởi luật pháp; và cả câu sẽ có nghĩa nôm na như sau: Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa [thừa] được cai trị bằng luật pháp, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Nhưng theo Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hiệu, Ủy Viên Trung Ương Đảng, Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao trong bài Một số vấn đề về nhà nước pháp quyền ở nước ta trên Tạp Chí Cộng Sản Thứ Hai 14/11/2007, thì “Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật trong đó tính tối cao của pháp luật được tôn trọng vv.” [Người viết cho in nghiêng].  Người viết nghĩ với học vị và chức vụ của ông, ý kiến của TS Hiệu phản ảnh trung thực ý muốn của những người soạn thảo Hiến Pháp. Điều đó có nghĩa là “nhà nước pháp quyền” là nhà nước trọng nguyên tắc sự trị vì của luật pháp, do đó dịch sang tiếng Anh “rule of law state” như bản dịch “không chính thức” (unofficial) dưới đây của International Institute for Democracy and Electoral Assistance (viết tắt International IDEA) là chuẩn vì vẫn giữ được cái lõi “rule of law” quen thuộc trong ngôn ngữ của giới nghiên cứu chính trị và luật pháp nước ngoài:
The Socialist Republic of Vietnam is a socialist rule of law state of the People, by the People and for the People.   [Người viết thêm dấu gạch dưới]
Tuy nhiên, chữ “state” có nhiều nghĩa trong đó có 2 nghĩa đáng lẽ không nên lẫn lộn:  nước (quốc gia), và nhà nước (tổ chức chính quyền của nước đó).  Do đó, người viết thiết nghĩ Khoản 1 bản tiếng Việt có thể dịch gọn (không luộm thuộm như trong bản dịch phía Việt Nam và rõ nghĩa hơn so với trong bản dịch “không chính thức” của International IDEA), như đề nghị dưới đây:
The State of the Socialist Republic of Vietnam is a socialist rule-of-law state of the People, by the People and for the People. (có thể không cần hai dấu gạch nối, như International IDEA)
Thật ra “sự trị vì của luật pháp” tuy đã có một lịch sử lâu dài, nhưng vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng. Theo người viết, dù chỉ là một ý niệm chưa được định nghĩa rõ ràng, hay một lý tưởng muốn theo đuổi, nếu nay được đưa vào hiến pháp thì e rằng nó sẽ khiến Hiến Pháp trở thành quá tải! Hay nói đúng hơn là Hiến Pháp quá ôm đồm và tạo thêm mơ hồ khi nó phải gánh thêm ý niệm “sự trị vì của luật pháp”, ngoài cái lý tưởng “chủ nghĩa xã hội” mà đến nay vẫn chưa được định nghĩa cụ thể. Lý tưởng luật trị, cũng như các lý tưỏng chính trị khác như dân chủ, nhân quyền, tự do cá nhân v.v. đã được làm sống lại và hiện đại hóa trong thời đại toàn cầu hiện nay, nhất là từ sau khi chủ nghĩa cộng sản không còn đất đứng như trước đây.

 Bài viết này đề cập đến các phần sau đây:

-    Sơ lược về sự phát triển của ý niệm luật trị
-    Vài quan điểm kinh điển về luật trị
-    Luật trị trong thời đại toàn cầu hóa
-    Đo lưòng nguyên tắc luật trị

1.    Sơ Lược Về Sự Phát Triển Của Ý Niệm Luật Trị

18 January 2016

Thơ Lê Văn Bỉnh

MẤY BÀI THƠ NGẮN

Mìn Bẩy
Đoàn xe tiến vững chãi
Những người lái không ngờ
Đoạn đường đầy mìn bẫy
Nổ tan tành giấc mơ

Đông Hay Xuân

Đông đến hay xuân về
Bao năm trời vẫn ngỡ
Vẫn chìm trong cơn mê
Một đàn chim vỡ tổ

Bè và Chúng Ta
Trên dòng sông ghềnh thác
Bè không thể quay đầu
Bốn phương trời tan tác
Chúng ta đang về đâu

Cõi Mờ
Qua cõi mờ xa xăm
Nhớ thương về tổ quốc
Trong bóng tối âm thầm
Ai vỡ òa tiếng  khóc

Chờ Đợi
Giọt nước mắt sót lại
Đừng nhỏ xuống hôm nay
Xin hãy chờ hãy đợi
Để vui  một ngày mai

Khoảng Yên Bình
Hãy buông hết đi anh
Đừng để gì vướng lại
Cho một  khoảng yên bình
Từ đây và mãi mãi

Lê Văn Bỉnh
(Virginia, tháng Giêng 2016)

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...