Showing posts with label Nguyễn-Q-Minh. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn-Q-Minh. Show all posts

04 February 2021

Xem tranh CHỜ EM của A.C.La

Cái phông màu tím

Tôi không phải là người phê bình tranh thứ thiệt như A.C.La cho là đã gặp được, vì tự thấy vốn hiểu biết của mình còn thiếu nhiều lắm, chỉ thỉnh thoảng thoạt nhìn một bức tranh, thấy bị thu hút mạnh, mới xem đi xem lại vài lượt, rồi thử « mao tôn cương » vài câu cho vui vậy thôi.

Tôi cũng đồng ý với A.C.La là dạo nầy ông ấy rất sung sức, sáng tác rất mạnh, trong vòng chưa đầy hai tháng, tháng 10 và 11, ông đã vẽ xong một hơi 5 bức sơn dầu : 3 bức tranh phong cảnh và 2 bức diễn tả nội cảm (xin quí vị tha lỗi cho tôi vì chữ mới chế nầy).

Điều làm tôi chú ý ngay khi nhìn bức tranh CHỜ EM là cái phông màu tím với nhiều sắc độ đậm nhạt hoà quyện với nhau, như diễn tả nổi xôn xao trong lòng thiếu nữ, và xoắn lại như tâm của cơn lốc ngay sau lưng thiếu nữ, đẩy người con gái như lướt tới trước, chân không chạm đất.
Tôi thích cái phông màu tím nầy, màu của nhớ nhung, nó diễn tả được cái tâm tình rộn ràng, nhưng nhẹ nhàng pha một chút e ấp của thiếu nữ, không phải cái nét sôi nổi của các màu nóng vàng và đỏ ; nó cũng rất hợp với màu trắng thanh thoát của chiếc áo dài trên người cô gái. Tà áo trắng tinh khôi từ thuở « em tan trường về, anh theo Ngọ về », « ...tóc dài tà áo vờn bay » sao vẫn quấn quít trong ký ức của hoạ sĩ. Đây là lần thứ ba trong một khoảng thời gian không dài lắm, người xem tranh A.C.La thấy lại cũng người con gái với vóc dáng mảnh mai, thon thả trong chiếc áo dài trắng trinh nguyên.

Với ÁO TRÙNG DƯƠNG, người xem tranh đã thấy người con gái với tà áo dài trắng, tóc lộng gió, chân trần, một mình lang thang trên bờ biển, bình thản nhìn sóng xô đập vào bờ đá, bọt nước tung toé.

Trong TÂM SỰ, cũng người con gái dáng dong dỏng trong chiếc áo dài trắng, tà áo phất phơ theo gió, ngồi tựa nhẹ bên bờ đá, mặt nhìn nghiêng, dõi mắt theo mặt biển bao la hướng về chân trời xa tắp, như mong chờ ai.

Và bây giờ là CHỜ EM. Ở đây người xem tranh mới thấy rõ mặt người con gái trong mộng của ai đó. Toàn thân thiếu nữ từ đầu tới chân chiếm hết 3/4 chiều cao bức tranh, riêng chiếc áo dài trắng từ vai tới chân choán 3/5 chiều cao tranh, chẳng những không mất cân đối, mà gần như còn được kéo dài thêm một chút nhờ độ tương phản ( le contraste ) của màu vàng bụi cỏ và màu tím đậm phủ lên màu nâu của phiến đá bên đường. Một chút ánh sáng mặt trời phả vào vạt áo dài phất lên theo đà chạỵ của thiếu nữ làm cho màu trắng trên toàn thân như sáng hơn và bồng bềnh hơn ; tiếp tục chiếu sáng cho bụi cỏ reo vui dưới chân thiếu nữ, niềm vui được chuyển tiếp thành vẻ hớn hở trong ánh mắt và làn môi hé mở thay cho lời gọi thảng thốt là tựa của bức tranh.

Tiếng gọi không cần phát ra thành lời, nhưng được chăm chút diễn tả qua màu tím tràn ngập nhớ nhung của cái phông, qua màu trắng đầy ắp kỷ niệm của chiếc áo dài, qua dáng đi bươn bả như chạy, chân không kịp chấm đất, qua niềm vui rạng rỡ trên nét mặt của người con gái, người xem tranh thấy hoạ sĩ đã dành cho một lời đáp là vòng tay ấm đang chờ người con gái.

Trước khi rời mắt khỏi bức tranh, người xem tranh cảm thấy có một điều gì hơi vương vướng. Cánh tay trái duỗi thẳng ra sau của người con gái ở cuối đà vung tay dường như hơi ngưng đọng, làm giảm nét linh hoạt trong động tác chạy hối hả của cô (Điểm này đã được sửa lại trên bức tranh - A.C.La). Tuy nhiên điều đó không làm mất vẻ đẹp toàn thể của bức tranh.

NQMINH Paris

12 September 2019

Xem Tranh « HOA MỘNG » Của A.C.La

Phiêu lãng trong cảnh mộng

Hoạ sĩ đã dùng một cách bố cục lạ để diễn tả cõi mộng mơ, theo như tên bằng tiếng Anh của bức tranh : The Dreamy Years.

Hoa thì dể thể hiện, người xem thấy trong Hoa Mộng có rất nhiều hoa, đủ màu sắc.

Để diễn tả thế giới mộng mơ, hoạ sĩ đã cắt nửa khuôn mặt của thiếu nữ từ chóp mũi trở lên, bởi vì đã là mộng thì không cần đến mắt để nhìn cảnh thực, chỉ cần nhắm mắt lại để ru hồn vào mộng. Cũng không cần đến cái đầu với bộ óc để suy nghĩ, phân biệt thực hư, phải hay không phải. Tuổi xuân là tuổi đang ươm hoa dệt mộng, nên người con gái chỉ cần chiếc mũi nhạy cảm để tiếp nhận hết những mùi hương dịu dàng hay nồng nàn của thời hoa mộng.

Tuổi hoa mộng cũng là tuổi sống với những đam mê bồng bột, nên hoạ sĩ đã bỏ đi nửa phần bên phải của thân người, chỉ giữ lại nửa thân bên trái, phía chứa trái tim, vẫn được xem là nơi xuất phát của tình cảm, nhứt là tình yêu.

Tôi có hân hạnh cùng với vài bạn trên Tiếng Thông Reo được hoạ sĩ cho xem 3 phiên bản của bức tranh Hoa Mộng từ đầu dến lúc hoàn chỉnh, nên ghi nhận được công phu của hoạ sĩ dành cho bức tranh nầy, nhứt là trong cách phối hợp các màu sắc để dẫn người xem vào cõi mộng với hoạ sĩ.

Trong Hoa Mộng, người xem tranh phân biệt được 4 màu chính : màu tím, màu xanh da trời, màu trắng và màu vàng cam. Màu tím ở đây là màu tím pha hồng. Khi nói tới mộng đẹp, người ta thường nghĩ tới màu hồng. Nhưng ở đây hoạ sĩ không dùng màu hồng tươi thuần nhứt, mà pha màu tím với nhiều biến điệu.

Người xem tranh ghi nhận hoạ sĩ đã chủ ý dùng màu tím-hồng để diễn tả tâm cảnh hồn nhiên, mơ mộng của thiếu nữ trẻ trung, tươi tắn, được biểu hiện với cánh hoa trắng muốt, kẹp giữa hai ngón tay thon dài, đài các.

Màu tím-hồng còn diễn đạt tâm hồn còn ngây thơ trong trắng của người con gái, chưa nếm vị đắng cay của một chuyện tình dở dang, qua màu tím đậm u hoài của cuộc chia tay đầy xót xa :
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt,
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.
Và tiếng hát và nước mắt.
( Nửa Hồn Thương Đau, PĐChương )
Tuy nhiên trong phiên bản đầu của Hoa Mộng, hoạ sĩ đã pha màu tím khá đậm, nhứt là màu tím của chùm hoa ở góc trên bên phải bức tranh, làm cho khung cảnh mộng giảm nét phiêu bồng.

Nhưng qua hai phiên bản sau, dùng kỹ thuật glacis* ( tôi đoán như vậy vì chỉ xem được hình chụp bức tranh qua internet ) – là cách dùng một hoặc nhiều lớp màu mỏng phết chồng lên lớp màu bên dưới, nhưng không xoá hẳn lớp màu bên dưới – hoạ sĩ đã dùng những lớp màu xanh da trời làm giảm sắc đậm của màu tím.

Thêm vào đó, hoạ sĩ còn sửa cho nét môi thanh mảnh hơn, màu son môi nhạt và tươi hơn, chiếc cằm nhờ hiệu ứng glacis trở nên thanh tú hơn, bờ vai và cánh tay được chỉnh lại cân đối và hài hoà hơn.

Trong phiên bản hoàn chỉnh của Hoa Mộng, màu xanh trở thành màu chủ, làm cho toàn thể bức tranh ẩn hiện trong một màu tím hồng, phiêu lãng như trong cảnh mộng.

Hoạ sĩ còn chăm chút diễn tả màu da thịt trên bờ vai trần, cánh tay và bàn tay của thiếu nữ, chừng như muốn đưa người xem tranh từ cõi mộng trở về cảnh thực để đừng quên ngắm nét đẹp từ làn da mịn màng của người con gái đang xuân. Nếu nhìn về phần kỹ thuật, màu da thịt tươi hồng của người con gái ở đây có tác dụng tương phản và tạo được chiều sâu cho bức tranh.

Sau khi dừng lại nhiều lần ngắm tranh Hoa Mộng và thả hồn vào cõi mộng với hoạ sĩ, người xem chợt nhận ra thấp thoáng trong tranh, cũng như ở khá nhiều bức tranh khác của A.C.La, dường như có ẩn một mẫu tâm sự của hoạ sĩ. Cùng với đôi môi hé mở của người con gái tuy lộ vẻ hồn nhiên, nhưng nét mặt vẫn đượm vẻ nghiêm trang, không thoáng hiện một nụ cười tươi, nhí nhảnh của tuổi hoa mộng, có phải hoạ sĩ chủ ý không dùng màu hồng tươi, mà pha màu tím hồng cho bức tranh, để gợi một chút hương xưa vẫn chưa phai nhạt vào dòng hoài niệm của mình ?

NQMINH Paris
____
(*) hay glaze trong Anh ngữ.

23 July 2012

Vài Cảm nghĩ về thơ Như Thương

Chào Cô Út,

Tôi nhận được tập thơ ‘Thượng Đế Lỡ Tay’ Cô Út đề tặng mấy hôm nay, nhưng nghĩ không lẽ chỉ có mấy lời cám ơn suông, nên để chầm chậm ghi thêm vài dòng cảm tưởng dù không chuyên về thơ. Mà trước hết phải kèm theo hai lời tạ lỗi với Cô Út. Lời tạ lỗi thứ nhứt là đã đánh mất hết một tập thơ của Cô Út, vì đây là tập thơ thứ năm của Cô Út chớ không phải là tập thơ thứ tư như tôi đã nhớ lầm trong cái mail gởi Cô Út bữa trước. Lời tạ lỗi thứ hai về câu đùa dai đáng ghét của tôi sau bài thơ dễ thương ‘Hạt Thiền’ của Cô Út hôm trước. Dĩ nhiên là Cô Út đã xí xoá rồi nên mới chịu khó đề tặng và gởi cho tập thơ mới in của Cô Út.

Tập thơ trình bày và giấy in đẹp không thể chê vào đâu được.

Những bài thơ lục bát rất đặc biệt Như Thương, với hai chữ ‘vô thường’ được lặp đi lặp lại nhiều lần với những cách dùng khác nhau, có khi được biến điệu thành ‘hư không’, ‘hư vô’. Mà cuộc đời đã là vô thường, thì đâu có gì cố định, chắc chắn để xác quyết, nên Như Thương cũng rất thường dùng những chữ ‘dường như’, ‘chừng như’, ‘hình như’ và cách bỏ lửng câu với ‘...’

               Ơi viên sỏi nhỏ lạc đường
               Ngủ trong thân xác vô thường của em   
               (Bài thơ cho sỏi)

               Dường như em phải là thơ
               Dẫu đời em vụng ước mơ bình thường    
               (Là thơ ...)


               Nghe môi mắt của hư không
               Dường như nương náu giữa dòng trần gian        
               (Lục bát bẻ đôi)

               Âm vang giờ đã khuất chìm
               Dường như cõi mộng đi tìm hư không        
               (Tạ lỗi em)

Có lẽ từ kinh nghiệm qua những lần giải phẫu, cận kề cái chết trong gang tấc :

               Biết đâu thượng đế đền bù
               Bên kia đời sẽ nghìn thu ngọt ngào             
               (Cạn cùng)

               Hai lần ngủ giữa cơn mê
               Tỉnh ra chợt thấy lại về trần gian                
               (Cơn mê)

nên thơ của Như Thương bàng bạc cái ý vô thường, hư không.

Nhưng cái ý vô thường của cuộc đời không làm cho thơ Như Thương bi quan ủy mị, trái lại thơ lục bát Như thương có nhiều hình ảnh đẹp, dể thương :


                 Tìm anh nhón gót một đời
                 Trần gian hẹp quá, mặt trời bơ vơ
                 Trốn mây trốn nắng ngẩn ngơ
                 Ra bờ cỏ dại, ngồi mơ thiên đường    
                 (Dòng sông tháng sáu)

Cũng có nhiều câu thơ có âm hưởng nhẹ nhàng của ca dao :


                 Sân ai rơm rạ vàng phơi
                 Ngó nghiêng tàu chuối tả tơi sau hè   
                 (Bí nụ hoa vàng)

Điều tôi thích nhứt khi đọc thơ lục bát của Cô Út là cách dùng chữ thông thường, bình dị, không cầu kỳ, nhưng đem lại cho người đọc cảm giác lâng lâng dể chịu với những hình ảnh, cách diễn tả mới, lạ, đôi khi bất ngờ thú vị.

Để kết thúc đôi dòng cảm tưởng nầy, tôi có ý nghĩ nếu như thượng đế đã không lỡ tay, chắc gì bạn đọc có đươc những bài thơ lục bát rất Như Thương trong tập thơ nầy.

Đây hoàn toàn không phải là một bài bình thơ, mà chỉ là một vài cảm tưởng ghi vội sau khi đã đọc được một phần của tập thơ để gọi là tạ một chút tình của Cô Út dành cho tôi, một người không biết làm thơ, không sành thơ, nghĩ sao viết vậy, Cô Út có cười cũng không sao.

Xin cám ơn Cô Út đã thân tình đề tặng tập thơ ‘Thượng Đế Lỡ Tay’ nầy.

thân mến
NQMinh


13 June 2012

Cô Gái Việt, Con Nuôi Của Ông Bà Cựu Tổng Thống Pháp Chirac.

NQMinh

Tháng 2.2006, đài phát thanh RFI của Pháp trong chương trình tiếng Việt có nói về một cô gái Việt Nam là con nuôi của ông bà Jacques và Bernadette Chirac, lúc đó đang ở nhiệm kỳ hai Tổng Thống Pháp (2002-2007). Cũng trong tháng đó phát hành quyển tự truyện bằng tiếng Pháp của cô. Thực ra về phương diện pháp lý, chữ con nuôi dùng ở đây không đúng, vì khi cô gái nầy đến Pháp, ông bà Chirac không có làm thủ tục xin và nhận cô làm con nuôi theo luật. Ông bà Chirac đã  chỉ bảo trợ và nhận cô vào gia đình của mình và thương yêu chăm sóc cô như một người con, theo như lời kể của cô trong quyển tự truyện.

Thấy câu chuyện lạ, tôi đã tìm đọc khi quyển sách vừa phát hành. Đọc xong, có nhiều điểm làm thất vọng, nên lúc đó tôi đã bỏ qua, không viết bài tường thuật như dự định ban đầu. Nay nhân trong chính phủ Pháp vừa thành lập, sau khi có tân Tổng Thống vào tháng 5 vừa qua, trong đó có một Thứ Trưởng (bà Fleur Pellerin), từng là một cô bé mồ côi gốc Nam Hàn  tên Kim Jong-Suk  sinh năm 1973 ở Hán thành, được một gia đình người Pháp nhận làm con nuôi, tôi xin kể lại câu chuyện để so sánh hai người, hai hoàn cảnh.

Quyển sách có tựa: La Fille De Coeur (tạm dịch : Đứa Con Gái Của Tấm Lòng – ý muốn nói tuy không phải là con nuôi, nhưng được ông bà Chirac thương yêu như một đứa con trong gia đình). Tác giả là Anh-Dao Traxel. Anh Đào là tên cô gái, Traxel là họ của người chồng thứ hai của cô.

Cô Dương Anh Đào sinh năm 1957 ở Mỹ Tho, là người thứ năm trong một gia đình có 9 anh chị em. Cha là giáo viên, làm hiệu trưởng một trường Tiểu Học ở Long An. Cô thi rớt Tú Tài năm 1974 rồi thôi học. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cha cô đi tù cải tạo, gia đình rơi vào cảnh túng quẩn. Cô tìm đường vượt biên. Đến đảo Poulo Bidong. Cô cùng một nhóm người Việt trên đảo được toà Đô Chánh Paris bão lãnh để được định cư ở Pháp. Ngày cô đến phi trường Charles de Gaulle vào tháng 7.1979, ông Jacques Chirac lúc đó là Đô Trưởng Paris có đến nơi để gặp những người được tòa Đô Chánh bão lãnh. Ông thấy cô ngồi khóc, động lòng thương, đến an ủi cô và hứa sẽ tiếp nhận cô. Cô được ông bà Chirac đón về tòa Đô Chánh Paris sống với hai cô con gái ruột của ông bà, Laurence sinh năm 1958, Claude, năm 1962.

08 June 2012

Bóng đá

TIN VỀ GIẢI TÚC CẦU ÂU CHÂU 2012

Hôm nay thứ sáu 8 tháng 6, khai mạc giải Túc Cầu Âu Châu lần thứ 14 do hai nước Ba Lan và Ukraine đồng tổ chức, với trận mở màn giữa hai đội Ba Lan và Hy Lạp tại sân vận động Warsaw, tiếp theo là trận giữa hai đội Nga và Cộng Hoà Tiệp tại sân vận động Wroclaw, cả hai sân vận động nầy đều ở Ba Lan. Ba Lan và Ukraine mỗi nước cung cấp 4 sân vận động cho giải túc cầu kỳ nầy.

Sau hai năm đấu vòng loại còn lại 16 nước vào giai đoạn chót của giải tranh tại Ba Lan và Ukraine, được chia thành 4 nhóm A B C D, mỗi nhóm có 4 đội, mỗi đội trong một nhóm đấu 3 trận, hai đội dẫn đầu của mỗi nhóm sẽ vào vòng tứ kết.

Bốn đội giao đấu hôm nay thuộc nhóm A. Ngày mai thứ bảy là hai trận của nhóm B. Chúa nhựt là hai trận của nhóm C. Thứ hai là hai trận của nhóm D. Thứ ba trở lại nhóm A.

Xin nhắc lại, giải túc cầu Âu Châu năm 2008 tổ chức ở Áo và Thuỵ Sĩ, trong trận chung kết ngày 29 tháng 6, đội Tây Ban Nha đã thắng đội Đức 1-0 và đoạt chức vô địch Âu Châu.

Về thực lực của các đội trong giải lần nầy, theo nhận xét của giới sành điệu túc cầu, 3 đội sáng giá có triển vọng đi tới trận chung kết, ngoại trừ những bất ngờ thú vị của mỗi giải túc cầu quốc tế, là ba đội Tây Ban Nha, Đức và Hoà Lan.

Riêng đội Pháp sau lần thảm bại ở giải túc cầu thế giới tổ chức ở Nam Phi năm 2010, gần như tan rã, được huấn luyện viên Laurent Blanc gầy dựng lại với những cầu thủ trẻ, đang cố gắng lấy lại phong độ của lớp đàn anh thập niên 1980, 1990.

Sau đây là bảng xếp nhóm của 16 đội tham dự gai đoạn chót giải túc cầu 2012 tại Ba Lan và Ukraine, lấy trên báo Le Parisien và ảnh biểu tượng (la mascotte) của giải: 

05 February 2012

Chuyện hội họa

Có hai bức Mona Lisa vẽ cùng thời


Bảo Tàng Viện Prado ở Madrid, thủ đô Tây Ban Nha cho biết đã tìm thấy và phục chế từ trong kho lưu trử của mình một bức tranh La Joconde (Mona Lisa) thứ hai giống y bức được trưng bày lâu nay ở BTV Louvre, Paris.

Theo các nhà chuyên môn, qua kết quả giảo nghiệm bằng kỹ thuật phản quang (la réflectograhie) với tia hồng ngoại, tranh La Joconde của BTV Prado không phải là một bản sao chép về sau bản chánh của Leonard de Vinci, mà là tranh vẽ cùng thời, trong xưởng vẽ của L. de Vinci bên Ý trong những năm 1500-1510, có thể do một trong hai đệ tử ruột của Vinci là Andrea Salai và Francesco Melzi.

Khi sang Pháp năm 1515 do lời mời của vua François Ier, L. de Vinci đã mang theo bức của mình vẽ. Bức thứ hai vẫn ở lại bên Ý. Người ta chưa rõ vì sao bức tranh La Joconde thứ hai đó lưu lạc sang Tây Ban Nha có thể từ giữa thế kỷ 17 và đã ở trong kho lưu trử của BTV Prado từ lâu.

Giám đốc BTV Prado cho biết sẽ đem trưng bày cho công chúng bức tranh La Joconde song sinh trong tháng 2 nầy, và từ cuối tháng 3 sẽ cho BTV Louvre Paris mượn để trưng bày bên cạnh bức hiện đang được trưng bày. Xin xem hình kèm theo: tranh bên trái là tranh L. De Vinci BTV Louvre, tranh bên phải của BTV Prado.

qmn

28 December 2011

Paris có gì lạ không ai.....

Cách nay ít lâu, có lẽ thấy tôi «lặn» hơi kỹ, ông bạn hoạ sĩ bèn khều tôi một phát trên TTR bằng cách gởi tặng bài hát « Paris Có Gì Lạ Không Em » của Ngô Thuỵ Miên do Ngọc Hạ trình bày. Xin cám ơn muộn hoạ sĩ. Xin nói qua về cô ca sĩ với bản nhạc nầy.

Cách nay khoảng 7, 8 năm, khi cô ca sĩ nầy mới được trình làng trên sân khấu Thuý Nga Paris By Night, tôi thích giọng hát của cô qua bản « Mái Đình Làng Biển ». Lúc đó cô có một giọng kim khá lạ và tự nhiên, đặc biệt là lúc lên cao cô giữ được hơi, không bị bễ như một vài ca sĩ khác. Đến nay cô đã khá thành danh. Trong khi trình bày bản «Paris CGLKE» nầy, cô làm dáng và làm điệu hơi quá, thiếu tự nhiên. Tôi vốn không thích những ca sĩ cả nam lẫn nữ, lúc hát có dáng dấp và lối diễn tả kiểu cách . Thêm vào đó chiếc áo dài cô mặc cho bài hát nầy, thay vì diễn tả nét sang trọng của thời trang Paris như người tạo mẫu chiếc áo và cô ca sĩ muốn, tôi thấy nó hơi luộm thuộm và hơi «quê». Cảm giác khó chịu, vì phong cách diễn tả của ca sĩ cùng với chiếc áo dài không hợp, làm cho người nghe tiếc cho cái hồn của bản nhạc không đọng lại được trong lòng mình. Dù sao, tình của người tặng bản nhạc vẫn đẹp, nguyên vẹn.

Chuyện hội họa

Trước khi đưa bức tranh Yếm Thu lên TTR, hoạ sĩ có cho tôi xem chung với mấy vị trong «bang», với lời phụ đề: bức tranh bị sượng vì hoạ sĩ đang bị cơn đau răng hành hạ. Lúc đầu tôi đã có ý viết vài câu cảm tưởng, sau lại thôi. Tôi thích cách diễn tả mùa thu trong bức tranh của hoạ sĩ qua ba màu vàng cam, màu đỏ và màu tím. Nhứt là màu tím của chiếc yếm thiếu nữ mặc làm cho bức tranh sáng và rất nổi. Có điều tôi không hiểu, do tranh chụp lại và đưa qua internet nên bị biến đổi, hoặc do hoạ sĩ đã thực hiện như vậy, mà chân tóc ở trán của thiếu nữ hơi lạ, tôi muốn nói là nó có vẻ biến dạng, lệch và khô, khiến người xem nghĩ tới tóc của người bịnh lâu ngày mới khỏi. Theo cảm nghĩ của tôi, nếu nói bức tranh hơi sượng, có lẽ do ở chỗ nầy.

Sau khi đưa bức tranh Tuổi Ngọc lên TTR, hoạ sĩ có gởi riêng cho tôi với lời ghi chú «mình thương cô bé nầy ghê». Lại thêm một kỷ niệm ngày nào của hoạ sĩ ? Cái mới mẻ của bức tranh nầy dưới mắt tôi là, dù hoạ sĩ cho biết là vẽ bằng sơn dầu, thoạt nhìn tôi có cảm tưởng tranh được vẽ bằng phấn tiên (pastel), nhứt là chỗ cái phông gồm hai màu vàng cam lợt và màu xanh lục. Hai màu nầy hợp với màu trắng của chiếc băng vải giữ tóc, và chiếc áo bó vừa sát thân người mới bắt đầu căng tròn của em gái đang vào tuổi dậy thì, gây được cho người xem cảm giác đang nhìn một em gái ngây thơ, hồn nhiên. Người xem tranh Tuổi Ngọc thấy thích hơn nếu đôi mắt của em gái thay vì hạ xuống, hướng lên một chút với tia nhìn nhí nhảnh hay một chút nghịch ngợm, và đôi môi thay vì hơi se lại, thoáng mở trong niềm vui của tuổi trẻ. Nhưng phải theo cảm hứng và tâm tình của hoạ sĩ thôi.

Trong tháng 11 vừa qua tôi có đi thăm phòng triển lãm tranh ở Paris của hoạ sĩ người Na Uy, Edvard Munch ( 1863-1944 ) – tên của ông có lẽ viết theo tiếng Na Uy nên viết với chư cái V chứ không phải W—E.Munch được xem cùng với Vincent Van Gogh ( 1853-1890 ), người Hoà Lan là những hoạ sĩ mở đường cho phái Biểu Hiện (xin dùng để tạm dịch chữ Expressionnisme) sẽ ra đời và thịnh hành ở Đức gần ba thập niên đầu của thế kỷ 20. Ở Pháp, phái Fauvisme (tôi chưa tìm được chữ tiếng Việt để tạm dịch, gợi được ý nghĩa của phái nầy – tôi thấy có người dịch là phái Dã Thú, dịch như vậy là dịch theo từ ngữ, chứ không diễn tả được ý nghĩa về chủ trương của phái nầy) có gần như cùng chủ trương và phong cách diễn tả của phái Biểu Hiện. Chỗ nầy xin được múa rìu qua mắt ... hoạ sĩ một chút. Phái Ấn Tượng (Impressionnisme), thịnh hành trong hai thập niên chót của thế kỷ 19 ở Pháp, cảm nhận một cách tinh tế màu sắc biến chuyển theo ánh sáng, làm biến đổi cảnh vật, đồng thời diễn tả tình cảm của hoạ sĩ ; chẳng hạn Claude Monet vẽ 5,6 bức về nhà thờ Chánh Toà Rouen vào những lúc khác nhau. Phái Biểu Hiện không chú ý diễn tả trung thực đường nét và hình dáng của đối tượng, có khi còn làm biến dạng thành méo mó, mà chú trọng việc dùng màu sắc, phần nhiều là những màu không có thực để biểu hiện một tình cảm hay một xúc động có tính cách bùng vỡ, mạnh mẽ.

Xin trở lại với phòng triển lãm tranh của hoạ sĩ E.Munch. Ngoài hội hoạ, ông cũng sử dụng nghệ thuật nhiếp ảnh. Nhắc đến E.Munch, người ta thường nhắc tới bức tranh nổi tiếng Le Cri (Tiếng Thét) của ông, vẽ năm 1893, diễn tả một hình người đang đứng trên chiếc cầu cạnh bờ biển, hai tay ôm mặt ở hai bên thái dương, gương mặt méo mó, mắt trợn trừng, miệng mở to như đang thét lên, sợ hải, ở đầu kia của chiếc cầu, có hai người đang đi xa dần, bên cạnh chiếc cầu, sóng biển cuộn dâng lên, với một nền trời đỏ bầm. Nhưng trong số gần 100 bức tranh của ông được trưng bày ở phòng tranh Paris hôm đó, tiếc là không có bức tranh Tiếng Thét vừa kể, có lẽ vì không mượn được của Viện Bảo Tàng Munch ở Oslo. E.Munch có sang Pháp mấy lần, có tìm hiểu về phái Ấn Tượng. Trong phòng tranh, tôi thấy có một bức có nét hao hao giống tranh Ấn Tượng. Nhưng thực tình tôi không thấy thích phong cách tranh của Munch. Ông dùng nhiều màu tối, diễn tả nổi lo âu, kinh sợ, khắc khoải, tạo cho tranh của ông cái vẻ ray rứt, thê lương.

Nhắc đến chữ nghĩa, xin trở lại với hai chữ «phản hồi» mà Blog Trưởng có biện hộ cho cách dùng nó cách đây không lâu trên TTR. Theo tôi, chữ phản hồi vừa cầu kỳ vừa không rõ nghĩa. Nhớ trước kia trên DĐ/ĐS14 có lần tôi sửa lưng Hùng khi Hùng dùng hai chữ «thời điểm» để chỉ một quãng thời gian dài. Tôi đã phân tich: điểm, tiếng Hán Việt chỉ một dấu chấm. Vậy thời điểm phải dùng để chỉ một thời gian rất ngắn ngủi, một lúc chính xác nào đó. Trong ý nghĩ đó, để nói về một khoảng thời gian ngắn, chúng ta đã có cách nói: vào đúng lúc đó, chính lúc đó, còn để nhắc đến một quãng thời gian dài, có cách nó : trong khoảng thời gian đó, vào thời kỳ, vào giai đoạn đó , ý nghĩa về thời gian muốn diễn tả rất rõ ràng, chính xác. Còn chữ thời điểm, tuy có vẻ «kêu» cho những người sính dùng chữ Hán Việt, nhưng mơ hồ, không xác định được thời gian muốn diễn tả. Vì vậy tôi cho rằng nhiều người dùng chữ thời điểm như một thứ thời trang chữ nghĩa, cũng như những chữ: chất lượng, kịch bản, hoành tráng, bức xúc ... ráng đưa vào câu viết cho nó kêu, chứ thực ra không đúng, hoặc không hợp với văn mạch hoặc không rõ nghĩa.

Về hai chữ phản hồi, là hai chữ Hán Việt, phản có nghĩa là chống lại, ngược lại, trả lại, như trong nghĩa của những chữ: phản đối, phản bội, phản gián, phản pháo, phản nghịch, phản cung ... , hồi là trở về, trở lại. Chữ phản cũng có nghĩa là trở về, như trong Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, hai chữ phản hồi có nghĩa là trở về. Chúng ta đã có cách nói rất gọn và rõ nghĩa: phần trả lời, góp ý, thảo luận. Tôi cho rằng dùng hai chữ phản hồi để nói cái ý đáp lại, trả lời, tuy mới, kêu, có tính cách thời thượng, nhưng không làm giàu gì cho tiếng Việt, trái lại còn làm cho tối nghĩa vì tạo và dùng chữ Hán Việt không đúng.

Paris có gì lạ không em? Thưa có, nhiều lắm. Nhưng chỉ xin kể một chuyện thành hai.

Câu chuyện yếu lòng

Báo chí và giới truyền thông Pháp từ lâu vẫn gọi Ông Dominique Strauss-Kaln tắt là DSK – cựu Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế FMI. Câu chuyện tuy xảy ra ở thành phố New York, Hoa Kỳ, nhưng có liên quan tới Paris, vì ông DSK là một người Pháp. DSK, 62 tuổi, là chính khách thuộc đảng Xã Hội Pháp, từng giữ chức Bộ Trưởng liên quan đến kinh tế, tài chánh vào những năm 1991-1993 và 1997-1999 và được chọn làm Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế từ tháng 11-2007. Ông là một người được dư luận Pháp coi là sáng giá, nếu ra tranh cử Tổng Thống Pháp vào tháng 5.2012, sẽ đánh bại được ông Sarkozy, Tổng Thống đương nhiệm. Nhiều người thân cận đều tin là DSK sẽ từ chức TGĐ/FMI trở về Pháp chuẩn bị ra tranh cử Tổng Thống với danh nghĩa đảng Xã Hội.

Nhiều người đang chuẩn bị và chờ ông thì đột nhiên một biến cố lớn xảy ra cho ông. Vào lúc 4:30 pm ngày 14.5.2011 tại phi trường J F Kennedy, New York, ngay trước lúc chiếc máy bay Air France cất cánh bay về Paris, DSK bị cảnh sát Hoa Kỳ lên máy bay bắt ông và đưa về cơ quan cảnh sát. Lý do là một phụ nữ da đen tên Nafissatou Diallo, 32 tuổi, người gốc xứ Guinée, Phi Châu, nhân viên dọn phòng ở khách sạn Sofitel, NY báo với cảnh sát là trưa hôm đó bà bị DSK cưỡng hiếp trong phòng của ông. Hai tờ báo lớn New York Times và New York Post đưa lên trang nhứt những tin tức có tính cách cáo buộc DSK. Ông biện lý Cyrus Vance Jr. Cũng có những lời lẽ nặng nề đối với DSK.

Ngày thứ hai 16.5, DSK bị giải ra trước tòa án quận hạt Manhattan NY. Mặc dù luật sư của ông DSK xin đóng tiền ký quỹ một triệu đô la, xin giao hộ chiếu, để xin cho ông được tại ngoại hầu tra, nhưng bà chánh án M.C. Jackson từ chối, cho biết DSK bị cáo buộc về 7 tội danh và cho lệnh tạm giam DSK ở nhà tù Rikers Island NY. Công luận Pháp xúc động trước cảnh ông DSK bị còng tay với bộ mặt phờ phạc, râu lởm chởm, trước công chúng và ống kính của các ký giả Mỹ, và cho rằng luật pháp Hoa Kỳ không tôn trọng quyền được coi là vô tội của một người mới chỉ bị nghi ngờ phạm tội, nhưng chưa có án xử.

Ngày 18.5, đại bồi thẩm đoàn gồm 23 người họp kín để nghe nguyên cáo N. Diallo kể lại nội vụ. Cũng hôm nay, ông DSK gởi thư xin từ chức TGĐ cơ quan FMI.

Ngày 19.5, DSK ra trước Toán Án Tối Cao của Liên Bang NYork, các luật sư lại xin cho ông được tại ngoại hầu tra. Ông chánh án M. Obus chấp thuận với điều kiện đương sự phải đóng số tiền thế chân một triệu đô la, cộng với số tiền ký quỹ bảo đảm 5 triệu đô la, bị chỉ định cư trú, phải mang vòng kiểm soát bằng điện tử, phải tự trả tiền thuê một nhân viên an ninh trông chừng thường trực có võ trang. DSK được đưa ra khỏi nhà tù Rikers Island ngày 20.5.

DSK trước sau đều không nhận tội cưỡng hiếp N. Diallo, chỉ nhận có sự giao hợp nhưng với sự thuận tình của nguyên cáo.

Văn phòng biện lý Cyrus Vance Jr vẫn tiếp tục cuộc điều tra. Mỗi lần DSK xuất hiện ngoài đường, những phụ nữ trong Hiệp Hội Bảo Vệ Phụ Nữ, những nữ nhân viên trong công đoàn về khách sạn dàn chào và đả đảo ông ta.

Sau khi thu thập những tin tức điểu tra, báo NYTimes bắt đầu dịu giọng với DSK và đưa ra những bằng chứng bất lợi cho bà N.Diallo.

Để phản ứng, bà N.Diallo mở cuộc họp báo, chắc hẳn là theo lời cố vấn của các luật sư của mình, diễn tả lại với cử chỉ lúc mà bà cho là bị ông DSK cưỡng hiếp trong phòng số 2806, khách sạn Sofitel. Nhưng người ta thấy sự xúc động của bà có nét giả tạo, cách diễn tả của bà như đóng kịch, nên không có hiệu quả thuyết phục.

Ngày 22.8, ông biện lý C.Vance Jr gọi bà N.Diallo tới văn phòng thông báo, theo kết quả điều tra, bà đã nói láo trong những lần cung khai bất nhứt về việc tố cáo ông DSK cưỡng hiếp bà, bà đã khai gian trong lý lịch để xin tỵ nạn ở Hoa Kỳ, bà có tới 6 đường dây điện thoại chứ không phải một như bà đã khai, có bằng chứng cho thấy bà là thành phần trong một đường dây buôn ma tuý. Do những lẽ đó, văn phòng biện lý của ông sẽ đề nghị toà án huỷ bỏ lệnh truy tố ông DSK.

Ngày 23.8, toà án New York triệu tập phiên họp, có mặt hai bên nguyên và bị cáo cùng luật sư của hai phía. Sau khi nghe phó biện lý trình bày kết quả điều tra, ông chánh án M.Obus đã tuyên bố chấp thuận lời yêu cầu của công tố viện, huỷ bỏ lệnh truy tố hình sự ông DSK về 7 tội danh đã báo cho ông trước đây và tha bổng ông.

Ngay sau đó luật sư của bà Diallo đưa đơn lên tòa Thượng Thẩm xin huỷ đề nghị tha DSK của biện lý, nhưng tòa Thượng Thẩm bác đơn.

Trước đó, qua những tin tức điều tra về nội vụ, luật sư của bà N.Diallo biết là vụ án về phần hình sự sẽ bị huỷ bỏ, ngày 4.8 đã đưa đơn kiện ông DSK về phần dân sự để đòi bồi thường thiệt hại. Theo luật pháp của Hoa Kỳ, một vụ án có thể đem kiện về hai phần hính sự và dân sự riêng biệt. Toà đã nhận đơn. Nhưng vụ kiện về dân sự thường kéo dài một hai năm.

Được trả tự do, ông DSK cùng bà vợ đã về Pháp ngày 4.9.

Nhưng cái nạn của ông DSK vẫn chưa dứt. Song song và cùng thời với vụ án Diallo ở Mỹ, bên Pháp cô Tristane Banon, một nữ ký giả và văn sĩ, đâm đơn kiện ông DSK ở Pháp đã toan cưỡng hiếp cô trong một buổi phỏng vấn DSK dành cho cô năm 2003. Thẩm phán đã đòi và nghe lời khai của cả hai bên và đã cho đối chất, sau đó đã tuyên bố không có bằng chứng rõ rệt về việc DSK toan cưỡng hiếp, nhưng xác nhận ông DSK có xâm phạm tình dục cô T.Banon; tuy nhiên theo luật của Pháp sự việc xảy ra đã 8 năm, tội danh nầy đã bị thời tiêu, và tuyên bố xếp hồ sơ.

Vẫn chưa hết. Theo tin tức gần đây, ông DSK bị nghi ngờ, trong thời gian một, hai năm gần đây, có dính líu vào một đường dây cung cấp gái mại dâm hạng sang ở một khách sạn ở Lille, một thành phố miền bắc nước Pháp, với tư cách của một người thụ hưởng. Nhiều người trong đó có một số giới chức công quyền đã bị bắt giữ để điều tra. Có lẽ ông DSK cũng sẽ được cảnh sát mời để lấy lời khai.

Sau vụ Diallo bên Mỹ, tuy DSK được tha bổng về phần hình sự, nhưng qua tin tức báo chi về đời sống tình dục của DSK (cũng nên biết bà vợ hiện tại của ông là người thứ ba, sau khi ông đã lần lượt ly dị với hai người vợ trước), uy tín chính trị của ông xuống rất thấp, có người còn cho là sự nghiệp chính trị của ông coi như tiêu tan. Chính DSK có lần đã tự nhận ông có một điểm yếu về phía phụ nữ.

Câu chuyện bổn phận vợ chồng

Tháng 5.2011 vừa qua, Toà Thượng Thẩm Aix-en-Provence ở miền nam nước Pháp đã xử y án của Toà Sơ Thẩm cho ly dị một cặp vợ chồng và buộc người chồng phải bồi thường thiệt hại cho người vợ 10.000 euros. Lý do là hai người đã cưới và ăn ở với nhau đã 21 năm, có hai đứa con, nhưng người chồng không mặn mòi lắm với chuyện chăn gối. Mặc cho những cố gắng hâm nóng của chị vợ, anh chồng vẫn không tha thiết, không tích cực và thú nhận lửa tình trong anh đã nguội với thời gian, vì sức khoẻ, vì công việc, vì mệt nhọc... Nhưng luật về hôn nhân lại qui định chuyện tình dục là một yếu tố quan trọng, một bổn phận để duy trì đời sống chung của vợ chồng.

Thế mới biết, trong chuyện đó, các đấng mày râu thuộc hạng tả xung hữu đột hoặc ngược lại xuội lơ đều dể mắc nạn thằng nhỏ hại thằng lớn.

NQMinh

21 January 2011

Tunisie: Tức nước vỡ bờ


Khi tuổi trẻ vùng dậy
vì « Tự Do, Nhân Phẩm, Việc Làm »
NQMINH Paris

Sau 23 năm cai trị nước Tunisie với bàn tay sắt, Tổng Thống Zine el-Abidine Ben Ali đã lên máy bay trốn khỏi nước chiều ngày 14 tháng 01 năm 2011.

Nước Tunisie ở Bắc Phi đã thu hồi độc lập và chủ quyền năm 1956 sau 75 năm sống dưới chế độ thuộc địa của người Pháp ( 1881-1956 ). Với diên tích 163 810 km2, dân số 10,5 triệu, là nước có Sản Lượng Nội Địa ( GDP ) tính theo đầu người 7025 € cao nhứt trong ba nước Bắc Phi cựu thuộc địa của Pháp, hai nước kia là Algérie và Maroc.

Habib Bourguiba ( 1903-2000 ), người tranh đấu lâu năm cho nền độc lập của Tunisie và là vị Tổng Thống đầu tiên của Tunisie ( 1957-1987 ), đã đặt nền tảng phát triển kinh tế vững và tốt cho Tunisie. Tuy nhiên, sau gần 20 năm cầm quyền, ông đã cho sửa hiến pháp và trở thành Tổng Thống trọn đời năm 1975.

Ông Ben Ali nguyên là một tướng lãnh trong quân đội Tunisie, được TTh Bourguiba cử làm Bộ Trưởng Nội Vụ, sau đó là Thủ Tướng. Theo hiến pháp Tunisie, khi Tổng Thống không còn khả năng đảm nhiệm chức vụ, Thủ Tướng sẽ thay thế. Dựa vào điều khoản hiến pháp đó, bằng thủ đoạn, ông Ben Ali đã đẩy ông Bourguiba già yếu, bịnh hoạn ra đi và chiếm chiếc ghế Tổng Thống, sau đó tái đắc cử nhiều lần . Năm 2002, đi vào vết xe của ông Bourguiba, ông Ben Ali dùng thủ thuật trưng cầu dân ý có xếp đặt, sửa hiến pháp, theo đó một người chỉ được ra ứng cử Tổng Thống không quá ba nhiệm kỳ, để được tái ứng cử không hạn định số nhiệm kỳ.

Ông Ben Ali đã đẩy nước Cộng Hoà Tunisie càng ngày càng đi sâu vào chế độ độc đoán. Thực tế chỉ có một đảng cầm quyền trên chính trường Tunisie, đảng Tập Hợp Trong Hiến Pháp và Dân Chủ ( Rassemblement Constitutionnel et Démocratique, RCD ), không có đối lập thực sự. Các chính khách đối lập bị trù dập, có người phải lưu vong ra nước ngoài. Nhân quyền bị vi phạm và chà đạp. Không có tự do báo chí, giới truyền thông bị nhà nước ra lệnh và kiểm soát chặt chẽ, không có tự do phát biểu ý kiến. Mặc dù có một nền kinh tế khá ổn định nhờ sự tin tưởng và đầu tư của các công ty tư bản Tây phương, trong đó nước Pháp, cựu chủ nhân thuộc địa, giữ một phần quan trong, cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chánh thế giới từ năm 2008 đã đem nạn nghèo đói và thất nghiệp chụp lên đầu dân Tunisie. Nhứt là giới trẻ. Thống kê cho biết, năm 2009 tỉ lệ thất nghiệp trung bình trong cả nước là 14,2%, tỉ lệ nầy là 31,2% đối với thanh niên trong lớp tuổi 15-29*. Có rất nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm.

08 January 2011

Người Việt cần đặt Nước Tàu vào đúng vị thế của nó, không hơn không kém.

Lòng tự cao tự đại của Hán tộc, coi mình là cái rốn của vũ trụ, đã bén rễ từ rất lâu trong lịch sử. Hoàng đế nước Tàu vốn tự xưng và cũng được thần dân nước Tàu coi là thiên tử. Trong những cuộc hội quần hùng thời Xuân Thu Chiến Quốc để định vị thế trên dưới, nước nào cũng cố dương oai diệu võ để được tôn lên ngôi bá. Nhiều khi đường xá xa xôi, trên đường đi dư hội về, quân sỹ bị mưa bão bệnh tật chết quá nửa cũng vẫn cam tâm mà chịu vì cái danh nhiều khi chỉ là hão!

Chính vì sự cai trị dựa vào ưu thế của Hán tộc đã đưa đến thể chế trung ương tập quyền cao độ. Ở đây người ta không tìm sự chính thống dựa vào công ước xã hội mà đi tìm hệ thống cai trị dựa vào sức mạnh. Trong quá khứ nước Tàu đã từng nhiều lần chia năm xẻ bảy. Một lúc nào đó khi đảng CS Tàu suy yếu, cái đảng mà chính trị bộ là người Hán, thì chuyện gì sẽ xẩy đến cho nước Tàu?

Bài dưới đây của anh Nguyễn Quan Minh đào sâu về cái tính hiếu thắng và lòng tự cao tư đại này.

Rồi về phần chúng ta nữa, cũng nên nghĩ đến việc xác định lại tên nước của mình, không nên để các nước khác đặt tên nước cho mình. Trong những thời kỳ độc lập tự chủ kết quả của những ngày tháng chống bắc xâm gian khổ, tổ tiên chúng ta chưa hề coi mình là phía nam của nước Tàu, chưa có khi nào lấy nước Tàu làm chuẩn để đặt tên nước. Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt... những quốc hiệu tổ tiên đã dùng không mảy may coi nước Tàu ở vị trí trung tâm và nước mình ở phương nam.

Cũng như dân Nhật gọi nước họ là Nhật Bản, dân Triều Tiên gọi nước họ là Đại Hàn, không phải là Nhật Đông, Hàn Đông. Cũng thế chúng ta nên lấy lại quốc hiệu ông cha ta đã dùng để gọi nước mình là Văn Lang, là Đại Việt ... là nước của các dân tộc Việt, không phải nước của Việt tộc ở phương nam của Nước Tàu.

TTR 

NƯỚC TÀU

Trên một số bao bì các sản phẩm làm ở nước Tàu lục địa, chúng ta đọc thấy mấy chữ « made in China », bên cạnh có mấy chữ Hán « Trung quốc sản phẩm ». Những chữ "China" và

« Trung quốc » (phiên âm pin yin là Zhong guo) đúng ra không cùng nghĩa vì có nguồn gốc khác nhau.

Có hai giả thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của chữ China.

Theo giả thuyết thứ nhứt, chữ China do chữ “çin“ của người Thổ (Turc) có lẽ lấy từ chữ «Cin» trong tiếng sanskrit của Ấn Độ, đến lượt chữ Cin nầy là do chữ Qin, phiên âm của chữ Tần trong tiếng Hán, tên của nước Tàu sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhứt năm 221 trước công nguyên (CN). Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều gọi nước Tàu bằng một tên gần với chữ China nầy :
Đức, Tây ban nha, Bồ đào nha, Roumanie : China.
Ý : Cina.
Thụy Điển, Na Uy : Kinas
Ba lan : Chiny
Trong tiếng Nga, nước Tàu được gọi là Kitaï, theo tên chủng tộc Khitan ( Khiết đan ) ở vùng Mãn châu, Đông Bắc nước Tàu. Người Khiết đan đã lập nước Liêu tranh hùng với nhà Bắc Tống thế kỷ thứ 10,11.

Theo giả thuyết thứ hai, chữ China do chữ Serica, tên người Roma dùng để gọi tơ lụa, người Tàu gọi tơ lụa là Si. Chữ Serica có nguồn gốc Tartare. Theo lịch sử, các vua đầu nhà Tây Hán (cũng gọi là Tiền Hán, 206 trước CN – 8 sau CN), không đánh thắng nổi quân Hung nô, người Tàu gọi là Hồ, phải đem con gái tôn thất gã cho các Thiền vu Hung nô và đem lụa, ngọc tặng cho họ để cầu hòa. Người Hung nô có lẽ qua trung gian của các sắc dân thuộc chủng tộc Tartare ở Trung Á bán tơ lụa cho người Roma. Trong khi giao dịch, theo cách phát âm của người Tartare, người Roma gọi tơ lụa là serica và gọi nước sản xuất ra tơ lụa là Seres. Họ không biết đích xác xứ đó ở đâu, chỉ biết là ở xa lắm.

Đời Hán Võ đế (140 – 87 trước CN), Trương Kiên được sai đi sứ nước Đại Nhục chi, ở vùng Tân cương nước Tàu ngày nay, để tìm đồng minh, bao vây và chống quân Hung nô. Tuy việc đi sứ của Trương Kiên không có kết quả, nhưng chuyến đi kéo dài 13 năm của Trương Kiên qua nhiều nước nhỏ ở Trung Á đã giúp người Tàu thu thập được nhiều tin tức và kinh nghiệm giúp cho việc giao tiếp với thế giới Tây phương và mở ra con đường tơ lụa. Về sau Ptolémée (khoảng 90 – 168 sau CN), nhà thiên văn và nhà địa lý Hy lạp sống ở thành phố Alexandrie, Ai cập, từ những tài liệu thu thập được, gọi xứ sở sản xuất ra tơ lụa là Sinae, tiếp theo người Roma gọi nước Tàu là Sina. Ngày nay chữ Sina không còn dùng nữa, nhưng chúng ta còn thấy dấu vết của nó qua chữ sinologie (môn học nghiên cứu về văn hóa Tàu) và những tĩnh tứ kép như sino-américain. Nhưng dù theo giả thuyết nào về chữ China, chữ nầy cũng không cùng nghĩa với chữ Trung Quốc mà người Tàu tự xưng.

Nơi phát xuất của người Tàu là một vùng đất ở trung du sông Hoàng hà, nằm trong địa phận các tỉnh Thiểm tây, Hà nam, Sơn tây nước Tàu ngày nay. Trong sách vở, vùng đất nầy còn được gọi là Hoa Hạ (phiên âm pin yin là Hua Xia - chữ Hoa nầy hiện nay người Tàu viết theo lối giản thể không giống chữ Hoa trong tiếng Hán cổ điển, cũng như trường hợp của chữ Quốc trên kia ).

Những nhà nghiên cứu không đồng ý với nhau về ý nghĩa của chữ Hoa Hạ nầy. Mặt khác, có người cho chữ Hoa từ trước tới nay hay dùng để chỉ người Tàu là từ chữ Hoa Hạ nầy. Vùng đất nầy là cái nôi của người Tàu, sau nầy được gọi là người Hán, vì thời nhà Hán (206 tr.CN – 220 s.CN), do những chiến công dưới hai triều vua Võ đế và Quang Võ (25 – 58 s.CN), lãnh thổ nước Tàu mở mang rất rộng, được nhiều nước biết, nhiều nước khác chịu thần phục và triều cống. Sông Vị, một con sông đổ vào sông Hoàng Hà, nơi Khương Tử Nha ngồi câu cá chờ thời, trước khi ra giúp Văn Vương dựng nghiệp nhà Chu, một phần lớn nằm trong tỉnh Thiểm Tây. Hàm Dương được Tần Thủy Hoàng chọn làm kinh đô cũng nằm trong tỉnh Thiểm Tây. Tràng An (Tây An) thuộc tỉnh Thiểm Tây và Lạc Dương thuộc tỉnh Hà Nam đã từng là kinh đô của nhiều triều đại của Tàu.

30 September 2010

Thư Paris tiếp theo

Trở Lại Bài « Đánh Dấu Chữ Việt »
của A.C.La

Dạo nầy tôi chú ý tới cách tạo chữ và dùng chữ của người trong nước. Rồi lan man nhớ lại bài ĐÁNH DẤU CHỮ VIỆT của hoạ sĩ A.C.La nhà mình trên Tiếng Thông Reo vào đầu tháng 5 vừa qua. Trong bài đó hoạ sĩ lên lớp Cô Út Như Thương, bảo rằng trong bài thơ HÔN EM NGHÌN NỤ rất hay của Cô Út có hai chữ Đoá và Thoả đã bỏ dấu giọng sai qui tắc :
                           ...  Trái tim nạm ngọc ĐOÁ hương
                                Trinh nguyên cánh mỏng vương vương chân người ...

                            ... Yêu em dẫu nắng dẫu mưa
                                 Hôn em nghìn nụ vẫn chưa THOẢ lòng.

A.C.La đã tóm tắt qui tắc :
-  dấu giọng đánh trên các nguyên âm, thí dụ : Này em đã khóc chiều mưa đỉnh cao.
-  khi có hai nguyên âm đi cạnh nhau, nếu có phụ âm đứng sau, dấu giọng được đánh trên  nguyên âm thứ hai, thí dụ : hoàng, thượng.
-  nếu không có phụ âm theo sau thì dấu giọng được đánh trên nguyên âm thứ nhứt, thí dụ: thủy, đáo, hải, cầy, bừa.
Và đưa ra Luật Trừ : những chữ có âm IA cũng theo qui tắc trên : (ngã ba chú) ÍA, (đằng kia) Kìa, (đừng) PHịa chuyện, (mai) Mỉa. Nhưng  nếu IA đứng ngay sau chữ G, GI trở thành phụ âm kép, phải đánh dấu giọng trên nguyên âm kế tiếp, thí dụ : Già, Giả.

Sau đó Cô Út vẫn giữ im lặng. Tôi cho rằng Cô Út không đồng ý với cách giải thích của hoạ sĩ, nhưng cứ để cho ông hả hê vì trả được thù để ông có cảm hứng tiếp tục vẽ tranh, và để cho TIẾNG THÔNG vẫn REO vui. Tôi cũng không đồng ý, vì cũng theo cách đánh dấu giọng như Cô Út, nhưng nghĩ bụng, thôi cứ để cho ông ấy thích chí đi, chuyện đâu còn có đó, để từ từ rồi tính với ông ấy.

A.C.La đưa ra qui tắc căn bản, dấu giọng đánh trên các nguyên âm, mọi người đều chấp nhận. Nhưng đến qui tắc hoạ sĩ đưa ra sau đó, trong một chữ có hai nguyên âm đi cạnh nhau, không có phụ âm theo sau, phải đánh dấu giọng trên nguyên âm thứ nhứt, điều nầy không đơn giản như vậy. Trong hầu hết các cuốn từ điển, chúng ta đọc được : hòa (bình), thỏa (thích), xóa (bỏ). Nhưng tất cả đều ghi : huề (vốn), thuế (vụ), quà (cáp), (cây) quế, quí (trọng), thuở (nào), (làm không) xuể, không có từ điển nào, và không có ai đánh đấu giọng trên nguyên âm thứ nhứt là U. Đã có sự lộn xộn. Càng rắc rối hơn khi ngay trong một tiếng đôi, có sự mâu thuẩn trong cách đánh dấu : (tánh tình) xuề xòa, chữ đầu đánh dấu trên nguyên âm thứ hai, chữ sau đánh dấu trên nguyên âm thứ nhứt.

Để giải quyết tình trạng lộn xộn nầy, ông Lê Ngọc Trụ, nguyên giảng viên trường Đại Học Văn Khoa và trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, một người có uy tín trong giới ngữ học ở miền Nam trước 1975, trong đoạn chót cuốn Chánh Tả Việt Ngữ đã đưa ra ý kiến :
« Hai bán âm o và u trong tiếng hợp khẩu chỉ đóng vai âm kẹt, bởi âm lượng của bán âm không đủ rõ như của nguyên âm : vì vậy bán âm không mang dấu giọng  ». ( Chú thích của người viết bài nầy : tiếng hợp khẩu là tiếng có các vần oa, oe, uê, uơ, ui, uy ; bán âm hay bán nguyên âm, ông LNTrụ dịch chữ Pháp semi-voyelle ). Và ông kết luận :
« Theo đây, chúng ta thấy, trong các tiếng hợp khẩu, dầu vận trơn hay vận cản, bán âm không bao giờ mang dấu giọng, chỉ có nguyên âm mang dấu giọng thôi.
Xưa nay quen đánh dấu giọng trên bán âm :
                hỏa, khỏe, thủy ...  
Vậy muốn cho nhất trí và hợp lẽ, nên đánh dấu giọng trên tất cả nguyên âm của các tiếng hợp khẩu vận trơn và vận cản, bán âm không mang dấu giọng :
                     hoả, khoẻ, quỷ, thuỷ, huế, tuệ, tuỵ, thuở ...
                     hoàn, hoẻn, huyền, thuyết ... »
(Chú thích của người viết : Theo ông LNTrụ, tiếng có vận trơn là tiếng kết thúc bằng một nguyên âm như : ta, hoa, tiếng có vận cản là tiếng kết thúc bằng phụ âm như : tan, hoan, khoanh).

Ông Hoàng Phê, tác giả quyển Từ Điển Chính Tả, xuất bản ở Hà Nội năm 2006, trong Lời Nói Đầu cũng có cùng ý kiến :
« Trong tiếng Việt, có một quy tắc là dấu thanh đánh trên con chữ (viết) nguyên âm ; vậy viết hoạ, hoè, huỷ, quả, quẻ, quý là hợp quy tắc, nên coi đó là chuẩn. Việc đánh dấu thanh trên O và U trong những tổ hợp nầy là kết quả của một sự nhầm lẫn, cho rằng O và U ở đây viết các nguyên âm o và u ». ( Chú thích của người viết : trong một đoạn trên, ông Hoàng Phê cũng gọi các chữ O và U trong các tổ hợp oa, oe, uy, ua, ue là bán nguyên âm ).

Về trường hợp luật trừ về phụ âm kép GI,  A.C.La nêu ra ở trên, xin ghi thêm lời của ông Hoàng Phê, ở phần ghi chú tiếp theo đoạn trên :
« Các trường hợp trên đây khác các trường hợp ia, ua, ưa, là những nguyên âm đôi : dấu thanh đánh trên I,U, Ư ( con chữ đầu của tổ hợp IA, UA, ƯA) : so sánh CủA và QUả, THủA và THOả. Trong giạ (giạ lúa), nguyên âm là a, nên đánh dấu nặng dưới A : GIạ ; khác với trong gịa (giặt gịa), có nguyên âm đôi ia (I ở đây vừa tổ hợp với G viết phụ âm gi, vừa tổ hợp với A viết nguyên âm đôi ia), nên đánh dấu nặng dưới I : GịA »
Về các tổ hợp IA, UA, ƯA mà ông Hoàng Phê gọi là các nguyên âm đôi, suy nghĩ của tôi  gần với quan điểm về âm gằn (accentué) của Giáo Sư LNTrụ tương đối tổng quát  hơn. Xin được chép lại đây đoạn nói về âm gằn trong quyển Chánh Tả Việt Ngữ của ông LNTrụ để tham khảo :
« Nguyên tắc căn bản là phần âm nào được gằn thì mang dấu giọng.
Vậy những âm nào được gằn ?
1 -  Các nguyên âm đứng một mình thành một giọng (vận trơn và vận cản) thì mang dấu          
       giọng :
       a,e,ê,i,y,o,ô ơ,u,ư (vận trơn và vận cản).
       ă,â (chỉ ở vận cản thôi).
2 -  Trong vận cản, nguyên âm đứng kế trước phụ âm mang dấu giọng :
       hường, tiền,quyển, quýt, khuyến, hoàn, thoát ...
3 -  Trong vận trơn nhị trùng âm, phần nào mang dấu chữ thì mang dấu giọng :
       ây,âu, êu, ôi, ơi,ơu,ưa, ưi,ưu.
       oă, uâ, uê,uơ. ( có lẽ ông LNTrụ sơ sót, thật ra hai nhị trùng âm oă,uâ chỉ có trong           
       vận cản như oăt, uân).
4 -  Trong nhị trùng âm không có phần mang dấu chữ, phần âm nào được gằn thì mang dấu 
       giọng :
       a được gằn trong vận                      :  ai, ay, ao au
       e được gằn trong tất cả âm kép       :  eo,oe,ue 
       i được gằn trong vận                       :  ia, iu
       y được gằn trong vận                       :  uy
       o được gằn trong vận                       :  oi
       u được gằn trong vận                       :  ua, ui
5 -  Trong vận trơn tam trùng âm không có phần âm mang dấu chữ hoặc có hai phần âm                      
       mang dấu chữ thì phần âm ở giữa mang dấu giọng:
       oai, oay, uai,ueo,uyu,ươi,ươu …”
 Có lẽ nên thêm một trường hợp về các âm có vận cản uyê, phần âm mang dấu chữ thì  mang dấu giọng: quyền, thuyết.

Ông hoạ sĩ nè, trong vụ nầy tôi chỉ binh Cô Út có một chút thôi, không có xăn tay áo đâu, nên ông không cần phải quăng giá vẽ mà chạy. Ông cứ thư thả tiếp tục ngồi vẽ tranh đưa lên TTR cho bạn bè, thân hữu thưởng thức. Không có bên thắng thua trong việc bỏ dấu giọng nầy, vì lẽ Việt Nam chưa có Hàn Lâm Viện để đưa ra qui tắc chuẩn cho việc đánh dấu giọng, thiết nghĩ cả hai cách đánh dấu đều được chấp nhận.

Theo tôi nghĩ, nguyên nhân sâu xa của tình trạng nầy là vì còn thiếu nhiều nghiên cứu về phần ngữ âm ( la phonétique) của tiếng Việt. Các giáo sĩ người Âu Châu đến truyền giáo ở Việt Nam vào thế kỷ 16,17, trong đó người góp phần rất lớn là giáo sĩ Đắc Lộ, đã có sáng kiến rất tài tình là dùng chữ cái la tinh, phối hợp với tiếng nói giàu âm điệu của người Việt Nam, để tạo thành một thứ chữ viết mới có dấu, vừa chuyển tả được ngôn ngữ Việt Nam, vừa dể học, dể sử dụng hơn chữ Hán và chữ Nôm. Nhưng từ trước tới nay, phần lớn các nhà làm từ điển và các nhà viết văn phạm chú trọng nhiều tới phần tự dạng (la morphologie) mà không nghiên cứu rộng rãi phần ngữ âm của tiếng Việt, (ngay cả trong phần nói về luật hỏi ngã cũng nghiêng về phần tự dạng nhiều hơn), để đưa ra được một qui tắc thống nhứt về cách đánh dấu giọng trên chữ viết tiếng Việt mà chúng ta bàn ở đây.

Tôi không chuyên về môn ngữ học, chỉ thích tìm hiểu về tiếng Việt. Nhân thấy hoạ sĩ nói đến cách đánh dấu giọng, với đôi chút hiểu biết xin lạm bàn vài câu. Vì dùng Unicode để đánh các bài viết, tôi phải theo cách đánh dấu giọng của phần lớn từ điển mà Unicode theo, nhiều khi không sửa được hết các chữ theo cách đánh dấu của mình.

NQMINH    
___________

Mới nhìn cái tựa đề bài viết, mỗ tôi buột miệng "Biết ngay mà". Thế nào rồi cũng có người bênh Cô Út. Chỉ không ngờ rằng, tưởng chuyện trả thù cô Út đã êm. Ai dè nay mới có người lên tiếng. Quân tử trả thù mười năm chưa muộn mà lị!

Nhưng khi đọc đến những chỗ mình bị "quạt" vì nói chưa thấu đáo vì không am tường  nên nhiều chỗ còn quá hở hang thì lại cười trừ mà rằng: "Ừa nhỉ!"

Người bênh Cô Út là người Parisien. Người Parisiens nói chung rất lịch sự, chẳng bao giờ đánh ai, ngay cả khi nhóm Hồi Giáo tính biến Paris thành thánh địa của họ, người Paris cũng chỉ biểu tình qua quít cho có lệ mà thôi! Thế nên tôi sẽ không chuồn đâu. Bạn mà uýnh tôi, tôi chuồn, bạn sẽ ở lại quét chùa một mình... cho chết luôn!

Còn Cô Út chắc là khoái tít mắt vì có người bênh.

Aha!!!!!!!!!!!
A.C.La
Tái bút: Chữ "uýnh" bỏ dấu như thế có đúng chỗ không đó, nhà ngữ học?

27 September 2010

Thư Paris

Càm ràm
chuyện Đất Việt

Tự nhiên tôi nảy ra ý nghĩ coi phim bộ VN, vì cho rằng loại hình văn hóa phổ biến nầy chắc hẳn có phản ảnh nếp sống và ngôn ngữ của dân gian.

Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2009 tôi đã dành nhiều thời giờ để coi hết 5,6 bộ phim truyền hình nhiều tập đã chiếu trên các đài Truyền Hình Sài Gòn trong vài ba năm gần đây. Những phim nầy nay đã được đưa lên các site internet. Phim khi chiếu trên màn ảnh truyền hình chia ra từng tập cho mỗi buổi chiếu là 45-50 phút. Khi đưa lên internet được ngắt ra thành từng tập nhỏ khoảng 15 phút mỗi tập. Một bộ phim truyền hình đưa lên internet thường dài khoảng trên dưới 100 tập nhỏ như vậy. Tôi mất khoảng 3 tuần lễ mới coi xong một bộ.

Vì là phim chiếu trên các đài truyền hình ở Sài Gòn, nên những người viết kịch bản và đạo diễn thực hiện phim dựa trên nếp sống của dân miền Nam. Phần lớn các phim có tính cách tình cảm, tâm lý, xã hội.

Tôi chọn phim coi tình cờ thôi, thường là chú ý tới một phim có cái tên là lạ. Phim đầu tiên tôi chọn có tên Hương Phù Sa, nói về đời sống của một gia đình sống về nghề đóng ghe ở miền Tây. May sao tôi tìm thấy điều mình muốn ngay trong phim đầu tiên nầy. Bộ phim nói về câu chuyện tình tay ba giữa hai chị em trong gia đình của một người chủ đóng ghe và chàng thanh niên tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật về Hội Họa, nhưng thất nghiệp, đến xin làm việc ở xưởng đóng ghe của gia dình hai cô gái. Cô chị có tên là Út Nhỏ, cô em tên là Út Ráng, không phải là hai chị em ruột nhưng rất thương nhau. Sở dĩ có tên Út Ráng vì lúc sơ sinh cô bé bị bỏ rơi, gia đình người chủ xưởng đóng ghe đang ráng muốn có thêm một đứa con nữa đã đem về nuôi và đặt tên như vậy.

Coi xong bộ phim nầy tôi đã chuyển hướng tìm , có ý định tìm hiểu nhiều hơn về những chữ dùng mới trong ngôn ngữ VN trong nước hiện nay, đời sống của người dân miền Nam hiện nay, và đi xa hơn, những chuyện xung quanh ngành phim bộ truyền hinh ở miền Nam hiện nay. Tôi rời bỏ VN từ năm 1985 và chưa trở lại VN lần nào, nên nghĩ đây cũng là một cách để tìm hiểu một phần đời sống xã hội VN hiện nay.

Tôi cũng có coi vài bộ phim Hàn Quốc (Nam Hàn) và Tàu Hồng Kông để đối chiếu. Tôi có cảm tưởng là những người làm phim bộ ở VN nhằm mục đích thương mại nhiều hơn là nghệ thuật.

Về hình thức, các bộ phim tôi đã coi qua, có bố cục thường lỏng lẻo, cách thắt mở những tình tiết quan trọng thiếu hợp lý ; trong diễn tiến của phim , vì không dùng cố vấn chuyên môn để tham khảo, đã đưa ra những chi tiết giả tạo, gượng ép, không đúng với thực tế. Bắt chước kỹ thuật quay của Phim Hàn quốc và Hồng Kông, dùng quá nhiều cảnh hồi tưởng (flashback) trong một bộ phim càng kéo dài phim ra, hơi chán. Cũng có một số cảnh coi được. Về diễn viên, nhứt là các nữ diễn viên, phải nhận là VN hiện nay có những nữ diễn viên cao ráo,đẹp, ăn ảnh, một phần lớn có lẽ nhờ kỹ thuật hóa trang tiến bộ. Tìm hiểu thêm, được biết là trong giới diễn viên, nhứt là bên phái nữ, có nhiều người mẫu và ca sĩ đi đóng phim. Họ đã quen với ánh đèn sàn diễn và sân khấu, nên thủ diễn tương đối tự nhiên, nhưng không hay, thua số diễn viên tốt nghiệp Trường Đào Tạo Sân Khấu Và Điện Ảnh. Dù vậy, không biết do lỗi của đạo diễn, của các chuyên viên kỹ thuật, hay của chính diễn viên, mà trong phim bộ VN so với phim Hàn và Tàu, các diễn viên có nhiều cử chỉ và động tác thừa. Phải công bằng mà nói là đây đó cũng thấy được những cảnh và cử chỉ diễn xuất hay, rất VN, thí dụ cảnh người con gái bỏ đi bịn rịn quay đầu nhìn lại, hay cử chỉ phùng má phụng phịu.

Về nội dung, các bộ phim thường nói về đời sống của giới trung lưu và giàu có ở thành thị VN hiện nay. Người coi phim bộ VN dể có cảm tưởng là xã hội VN hiện nay giàu đẹp. Cảnh nghèo cũng được đề cập đến nhưng không sâu sắc, không nhiều, không sát thực trạng VN.

Điều làm cho người xem các phim bộ tâm lý, xã hội VN thấy rõ là tính cách dạy luân lý, đạo đức lộ liễu của các phim nầy. So với thực trạng xã hội VN, nó cho thấy sự xuống dốc về đạo đức trong nếp sống và cách giao tiếp của đa số người VN trong nước hiện nay. Vì các phim phần lớn nhằm diễn tả cảnh sống của giới trung lưu giàu có ở thành thị, người xem thấy được cảnh nhộn nhịp của phòng trà, vũ trường, nơi các cậu ấm cô chiêu, các tay áp phe hẹn hò. Bên cạnh đó người ta cũng còn thấy một thân phận đặc biệt của một số phụ nữ, mà người trong nước gọi là «gái bao», vợ lẻ không ra vợ lẻ, mà gái làng chơi không ra gái làng chơi. Có thể tạm gọi là bồ nhí của các ông chủ có quyền, có tiền.

Thành phố Sài Gòn – người dân trong nước bây giờ không gọi Thành Phố Hồ Chí Minh nữa mà gọi gọn lỏn là Thành Phố hoặc Sài Gòn – đông đúc xô bồ, vì người ở các tỉnh đổ xô về tìm việc làm. Do đó việc xây nhà trọ cho thuê phát triển rất mạnh. Cuộc sống chen chúc, nhiều tạm bợ, tình cảm dể nhen nhúm nhưng cũng dể tàn. Hiện tượng phá thai từ những hoàn cảnh khác nhau cũng được nhắc đến nhiều.

Từ ngày VN thi hành chính sách đổi mới, mở cửa, có nhiều người VN đã đi ra nước ngoài vì nhiều lý do khác nhau, vào những thời kỳ khác nhau, đã trở về thăm quê hương,bà con. Phim ảnh VN bây giờ cũng đề cập đến hiện tượng nầy, có lẽ được sự chỉ đạo của nhà nước, đã lồng vào đó việc ve vãn, chiêu dụ người VN ở nước ngoài trở về thăm nhà hoặc mở những công cuộc từ thiện ( rong khi các quan chức nhà nước đua nhau bòn rút công quỷ bỏ túi không lo gì đến việc cải thiện đời sống của dân nghèo). Việc đi du học của sinh viên cũng được nhắc đến nhiều trong các bộ phim. Những cậu ấm cô chiêu đi du học trở về là đề tài được khai thác dưới nhiều khía cạnh, hay có, dở cũng không thiếu.

Có một bộ phim nội dung coi cũng tạm được, nhưng thấy khó chịu. Bộ phim có tên là Dòng Sông Định Mệnh, kể câu chuyện tình gặp trắc trở của hai thanh niên nam nữ, con của hai gia đình có mối hiềm khích giữa người lớn với nhau. Điều làm tôi khó chịu là trong phim có một vai ác. Người đàn ông trung niên tên Sáu Tiếng thủ đoạn, sống bám vào một người đàn bà goá có tiền của. Những người dựng phim đã cho anh ta mặc quần rằn ri ngụy trang của lính biệt kích thời VNCH, mặc áo thung màu ô liu, lại mang thêm tòn ten trước ngực sợi dây kim loại có thẻ bài. Rõ ràng là người làm bộ phim đã bêu rếu và nhục mạ người lính VNCH, qua cách ăn mặc của người đàn ông đóng vai ác. Dù bộ phim sản xuất năm 2007,2008, hơn 30 năm sau ngày chấm dứt cuộc chiến Quốc Cộng, người Cộng Sản VN vẫn còn tiêm nhiểm trong dân chúng lòng hận thù đối với người lính VNCH, nhứt là với đoạn kết phim, người viết kịch bản phim đã để cho người đàn ông đóng vai ác đó treo cổ lên cây tự tử.

Nhưng như đã nói, điều tôi chú ý là những chữ dùng và cách nói của nguời dân trong nước hiện nay. Qua những bộ phim đã xem, tôi tạm chia ra ba nhóm chữ dùng : những tiếng đã có từ xưa, trước 1975, những tiếng mới bây giờ và những tiếng hán việt nghe lùng bùng lỗ tai.

Về những tiếng dùng trước năm 1975, có những cách nói đã hoàn toàn mất dấu như « bỏ đi tám », « sức mấy », « mệt nghỉ ». Nhưng có những cách nói vẫn còn được giữ lại : như cách những đứa cháu bỏ chữ « ông », « bà » và gọi tắt « nội ơi ! », « ngọai ơi ! » nghe rất dể thương ; cách nói nuốt nguyên âm chót trong một chữ vẫn còn : «sao d(v)ậ(y)?», «phả(i) hôn?», hay như cách diễn tả thái độ vừa hờn dỗi vừa nũng nịu của cô gái khi cô vừa phùng má vừa phát âm chữ «hông!».

Nhưng bên cạnh đó, do sự biến thiên của ngôn ngữ theo đà thay đổi của hoàn cảnh sinh sống, có rất nhiều tiếng mới và cách nói mới, chẳng hạn, bây giờ người ta dùng chữ «oải quá» thay cho «mệt đừ», «quậy» thay cho «phá phách», «đi làm suốt», «đi chơi suốt». Để từ chối, không nhận một lời khen, với một chút giễu cợt và mỉa mai, người ta nói « hổng dám đâu ! ». Để diễn tả sự bực mình có pha một chút thân thiết : « bó tay (với) anh luôn!». Để nói một người lên mặt muốn làm tay anh chị, có chữ mới « trùm sò ». Ngoài ra có một cách nói khá ngộ nghĩnh, để chỉ việc thanh niên nam nữ do tình cảm nẩy sinh trong các khu nhà trọ, sống chung với nhau nhưng không có cưới hỏi, họ nói « góp gạo nấu cơm chung ». Nếu ở Tây phương có fast food thì ở Sài Gòn hiện nay có cơm hộp cũng khá tiện lợi.

Phải nói là cho tới bây giờ người trong nước vẫn sính dùng chữ hán việt đến độ có thể nói là bừa bãi. Ngoài cái khẩu hiệu «nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa» nghe muốn điếc con ráy mà không hiểu người ta muốn nói gì, và những chữ đã được nhiều người Việt ở ngoài nước bắt chước và dùng một cách vô tội vạ và thiếu phê phán như «chất lượng», «hoành tráng» «bức xúc», người trong nước hiện nay còn dùng chữ «kiểm tra» trong bất kỳ hoàn cảnh sinh hoạt nào, và nhứt là lạm dụng cách nói « ấn tượng » như một thứ thời trang chữ nghĩa, đến độ nói : «tôi rất ấn tượng trước cảnh tuyệt diệu đó» thì thật hết thuốc chữa ! Còn có chữ « biến thái » cũng thường dùng để chỉ người trở thành khùng điên hay mất nhân tính, làm bậy.

Để kết thúc phần chữ nghĩa dùng trong nước hiện nay nầy, xin ghi lại tên mấy món ăn trong một bộ phim tôi còn nhớ được, nhằm chiêu dụ người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương :

- uống nước mắt quê hương: rượu đế.

- ngà voi chấm óc khỉ: đậu bắp luộc chấm chao.

- rồng qua sông ( hay: rồng xanh vượt đại dương ): rau muống xào tỏi.

- anh hùng nằm trong lửa đỏ: cá lóc nướng trui.

- Kinh kha nhớ nhà: lẫu mắm.

Bài nầy tôi bắt đầu viết cách nay hai tuần. Viết được phân nửa thì mất hứng, không viết tiếp được, thỉnh thoảng tôi vẫn bị như vậy. Bèn đi coi ké phim bộ Hàn quốc với bà xã. Phim nói về một người con trai và một người con gái yêu nhau chân thành, đã làm đám cưới với nhau. Nhưng trước áp lực chống đối của bên nhà người con trai, dù vẫn yêu nhau tha thiết, hai người đành ra trước tòa xin ly dị. Chuyện đó bắt nguồn từ việc trước khi hai người quen biết rồi yêu nhau, lấy nhau, người con gái vì nhà nghèo, cần có tiền để giải phẫu chữa bịnh cho cha mình, đã hy sinh, không cho người trong nhà biết, nhận mang thai mướn cho một cặp vợ chồng, mà người vợ không thể mang thai được. Hai người đó lại chính là anh và chị dâu của người con trai. Phim được kết thúc theo lối có hậu để làm vui lòng khán giả. Nhưng phải nói là người viết kịch bản phân tích tâm lý các nhân vật khá sâu sắc.

Nqm
23/09/10

04 August 2010

Thư Paris

 Câu chuyện mùa hè


Cách nay ít lâu, Bạn có hỏi tôi thấy hình thức trình bày của Tiếng Thông Reo thế nào. Xin nêu vài ý kiến.

Lúc đầu Bạn để hai giải rộng, sát biên theo chiều dọc, màu xanh đậm (bleu noir) khá lớn, làm phần dành cho các bài viết ở giữa bị thu hẹp, phải dùng cỡ chữ nhỏ, vừa không đẹp vừa khó đọc. Hơn nữa, hai  giải màu xanh đậm đó tạo thành cái khung của TTR trông tối và buồn, trừ phi lúc đó Bạn muốn tạm thời trình bày như vậy để tưởng nhớ Diễn Đàn cũ ( NAF ) bị xóa sổ ngang xương và người bạn đã lập ra nó.

Nhưng sau đó Bạn đã bỏ hai giải màu xanh đậm đó và thay bằng hai giải nhỏ hơn, màu xanh lá mạ non, trông nhẹ nhàng và vui mắt hơn, dành nhiều chỗ hơn cho phần bài vở. Phần nầy Bạn dùng màu xanh rêu nhạt làm nền cho các bài viết, rất thích hợp để dùng các màu khác cho việc trang trí hoặc mình họa. Màu xanh lục, đậm, được dùng làm nền cho phần thư khố cũng hay, nó vừa lặp lại màu xanh của cây thông, là tên và chủ đề của Diễn Đàn, vừa tạo được sự hài hòa giữa ba phần của TTR: màu xanh lá mạ non của hai giải biên, màu xanh lục của phần thư khố và màu xanh rêu nhạt của phần bài vỡ.

Có điều là khi đi sâu xuống bên dưới TTR, đến lúc hết phần thư khố, mắt người đọc bất chợt rơi vào mảng màu trắng, hơi bị hụt hẫng. Tôi đề nghị, nếu được, Bạn thử tiếp tục kéo dài mảng màu xanh lục, dù phần thư khố đã tạm dứt. Tôi nghĩ làm như vậy sự hài hòa giữa ba giải màu không bị đứt đoạn, và mắt người đọc không bị «sốc» vì cái màu trắng bất ngờ và trống trải đó.

Về phần nền của Logo của TTR, tôi thấy lúc đầu Bạn chỉ dùng một đường viền nhỏ màu vàng, có lẽ tượng trưng cho màu nền cờ của VNCH. Về sau và cho đến nay, Bạn thêm hai vệt màu vàng lớn ở hai đầu khung của Logo, thấy hơi chóa mắt , nhứt là nó lấn và áng màu xanh lục của cây thông, trông không được đẹp. Bạn nghĩ sao nếu bỏ hai vệt màu vàng đó để trả lại màu xanh lục nguyên vẹn của cây thông, và vẫn giữ đường viền
màu vàng xung quanh khung logo? Tôi cũng đề nghị nên bỏ hình cờ VNCH trên mẫu tự E của chữ «TIẾNG», thay vào đó Bạn có thể đặt ở góc trên bên phải của khung logo một cái «pin» hình tròn, phần trên là cờ VNCH, phần dưới thí dụ là hình sóng nước tượng trưng cho việc vượt biên của người VN chạy trốn chế độ Cộng sản, đi tìm tự do, một trong những đề tài tranh ưa thích của Bạn; hoặc cờ VNCH dưới hình thức một chiếc huy chương cuốn các sĩ quan mang phía trên túi áo trong lễ phục.

Nhân tiện xin nói qua về một bức tranh của Bạn, được đưa lên TTR cách đây không lâu, bức tranh Vỗ Cánh.

Bức tranh nầy có những nét của một bức tranh thủy mặc: khung trời với đám mây, một làn nước, một chòm cây, một nhánh cây, một cánh cò. Bức tranh cũng gợi nhớ hai câu trong bài phú Đằng Vương Các của Vương Bột ( 647- 675 ), thi sĩ Tàu thời Sơ Đường :
Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng trường thiên nhứt sắc.

Tạm dịch :
Ráng mây với cánh cò đều bay,
Nước mùa thu cùng với trời xa một màu.
Nhưng nếu hai câu thơ của bài phú vẽ ra trước mắt người đọc một cảnh trời chiều mùa thu êm đềm, với cánh cò bay chấp chới trong ráng chiều đỏ thẩm đang nhạt dần, trên mặt nước có sóng gợn lăn tăn của dòng sông chạy mút mắt đến chân trời xa, cùng hòa trộn trong một màu xanh biêng biếc, thì bức tranh Vỗ Cánh dàn trãi vẻ cô đơn buồn vương nhhẹ. Trên mặt nước buổi sáng sớm còn vờn nhẹ một màn sương mỏng, nên dù ánh sáng bình minh đã ửng, vẫn chưa đủ cho những đám mây lơ lửng trên cao soi bóng. Chỉ có một phần của bụi cây đã hiện rõ nét, phần còn lại vẫn chìm trong màn sương đục. Con cò thấy ánh sáng ban mai mời gọi, từ trong màn sương bay ra để tìm đàn, nhưng vẫn chỉ có một mình. Sự tương phản giữa màu xanh, đậm và rõ của cành cây to và chòm lá ở chính diện, với màn sương đặc còn phủ chòm cây và ánh sáng bắt đầu reo vui trước mặt càng làm nổi bật sự lẻ loi của cánh cò.

Tiếng đập cánh của con cò lẻ bạn dường như không đủ làm xao động được không gian còn quá yên tĩnh. Không gian trầm lặng gợi cô đơn, dường như có mang tâm sự của họa sĩ lúc phác thảo bức tranh?

NQMINH PARIS
***

Không ngờ Bạn Nguyễn Quan Minh, người Paris của chúng ta, lại để ý theo dõi tường tận Diễn Đàn Tiếng Thông Reo từ đầu chí cuối như thế. Nếu có nhiều người chú ý đến Diễn Đàn này thì nhất định cuộc vui sẽ còn có mặt lâu dài trên lưới điện.

Những đề nghị sửa đổi của bạn NQM đa phần xem ra rất hợp ý với mỗ này, nhưng chưa hay không thực hiện được vì một số lý do. Chúng ta thử bàn thảo xem sao.

Kéo dài mảng màu xanh lục dưới phần thư khố:
Chính tôi cũng nhận ra điều này rất sớm, và muốn làm một cái gì để mắt đỡ "hụt hẫng" khi tụt vào một khoảng trắng ...mênh mông. Nhưng đụng đến chuyện này là đụng đến việc khá chuyên môn và tôi cũng biết rằng mình rất sơ đẳng về HTML.  Nhiều khi liều mạng lại từ chỗ tệ đến chỗ tệ hơn, chưa kể nguy cơ blog bị sụp đổ. Chẳng đặng đừng khi phải vào chỉnh đổi (modify) HTML, tôi luôn tuân theo lời khuyên save một copy để rủi ro còn có cơ may trở về nhà cũ, đó là một sự khôn ngoan ngay cả những tay chuyên nghiệp về HTML cũng không nên bỏ qua. Thành thử chuyện này cứ tạm để đó.

Viền vàng chung quanh logo Tiếng Thông Reo:
Bạn NQM nhớ không sai: Lúc đầu tôi kẻ một đường viền màu vàng chung quanh tên của Diễn Đàn. Nhiều ngày sau tôi nhận ra cái khung quá mạnh, quá cứng nên tìm cách cho màu vàng hai đầu hòa lẫn với nền của logo phía trong ở đây là những cây thông lấy từ bức họa "Túy Vân". Nhìn lại tôi thấy khá hơn. Nhưng đó là ý kiến riêng của tôi thôi. Nếu chỉnh cho màu vàng bớt đi mà đẹp hơn thì tại sao lại không làm chứ?

Cờ vàng trong logo:
Có nhiều ý kiến về điều này mà tựu trung là: 1/ Không cần cờ vàng miễn nội dung chứng tỏ khuynh hướng tự do dân chủ là được. 2/ Đưa cờ vàng ra một bên như những Web "quốc gia" khác cho nghiêm chỉnh và rõ ràng. 3/ Tạo một logo riêng cho TTR trong đó có cờ vàng. Đề nghị của bạn NQM thuộc nhóm này.

Dứt khoát chúng ta là những người ham chuộng và muốn được sống trong chế độ tự do dân chủ. Thế nên cũng cần có một dấu hiệu biểu hiện điều này. Ở một ý hướng xa hơn, chúng ta muốn chia sẻ niềm ước vọng ấy với đồng bào của mình tại quê nhà. Hiện có những độc giả đang chung vui với chúng ta từ trong nước, nơi việc lên NET phải đăng ký.

Từ thực tế đó một dấu hiệu căn cước của Diễn Đàn cần hai điều kiện:

1. Khi máy nhìn vào, software không nhận ra chúng ta là ai để né bức tường lửa kiểm soát của chính quyền CS, và để những người bạn ở VN bớt áy náy khi vào Diễn Đàn.

2. Nhưng khi mắt thường nhìn vào, một người sẽ nhận ra ngay chúng ta có thể là ai.

Khi sang Mỹ lần đầu, người bạn dẫn tôi đi thăm thành phố anh ở, chỉ vào một  SuperMarket  có treo lá cờ vàng lớn bay phất phới trên nóc chợ và nói: "Thấy zậy mà không phải zậy đâu nhe".  Tôi gật đầu tỏ ý hiểu chuyện. Thế nên ở trên tôi nói "có thể" là vì chắc chắn hiện nay nhiều trang web trương cờ vàng rất to nhưng thực chất  chưa hẳn có khuynh hướng tư do dân chủ, tệ hơn có thể  nằm trong quỹ đạo CS.

Hiện nay tôi chưa nghĩ ra được một cái logo hay logo-type để thay thế cái logo-type đang dùng mà hội đủ những điều kiện cần thiết.

Kính chào quý anh chị, và xin cám ơn anh Nguyễn Quan Minh thật nhiều.

A.C.La

Trump Không Biết Làm Thế Nào Để Kết Thúc Cuộc Chiến Với Iran

Thomas L. Friedman,   “ Trump Has No Idea How to End the War With Iran ”   The New York Times Chuyển ngữ:  Lương Định Văn Tôi đến Tehran lần...