Showing posts with label A-6 PhânTích. Show all posts
Showing posts with label A-6 PhânTích. Show all posts

03 September 2024

Một Vài Cảm Nghĩ Về Đất Nước Tôi

Triệu  huỳnh Võ

Khi bước vào tuổi 70 và hồi tưởng lại quá khứ, tôi cảm thấy con đường của mình vừa đi qua dường như đã được vạch sẵn. Thật vậy, khi bước chân vào Trường Phan thanh Giản tôi đã có ý định sau nầy sẽ theo đuổi nghề gõ đầu trẻ, nên sau khi đỗ Tú  tài toàn phần ban Toán tôi đã nộp đơn thi vào Trường Đại học sư phạm Ban Toán (Đệ nhị cấp). Kết quả không đậu, nên tôi mới xoay qua nộp đơn thi và đậu vào Trường Quốc Gia Hành Chánh định an phận vởi nghề làm công chức theo kiểu sáng vác ô đi chiều vác ô về. Tuy đậu ra trường hạng cao và đáng lẽ có thể có quyền chọn nhiệm sở, nhưng vì nhu cẩu công vụ lúc bấy giờ, một danh sách trích ngang từ trên xuống dưới gồm hai mươi người được bổ nhiệm về một cơ quan an ninh trực thuộc Phủ Tổng thống, và sau đó cơ duyên lại đưa đẩy tôi lần lượt thuyên chuyển đến phục vụ cũng trong các cơ quan đầu não khác của chính phủ.

Bước khởi đầu có tính cách tiền định nầy đã gắn chặt tôi vào với hàng ngũ những người quốc gia chống cộng sản và từ đó đã trực tiếp gắn bó với tiến trình sinh hoạt thăng trầm của nền đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng hỏa. Khi nền đệ nhị Cộng hòa sụp đổ, tôi bị đi tù cộng sản, được thả ra, sau đó được đi định cư ở Mỹ, và tại đây, ngoài lo sinh kế vẫn còn có chút đóng góp hạn chế nào đó cùng với những người Việt quốc gia đang mưu cầu một đất nước Việt Nam không cộng sản.

Những môn sinh với tôi ở trường Trung học Phan thanh Giản, các chiến hữu đã từng phục vụ dưới thời đệ nhất vả đệ nhị Cộng hòa, mỗi người thử suy nghiệm lại xem phải chăng phần lớn đều nhận thấy nghề nghiệp sau cùng của mình không phải là mục tiêu chọn lựa lúc ban đầu. Phải chăng mỗi người chúng ta đã được an bài một nhiệm vụ nào đó, dù có tầm thường đến mức nào đi nữa, nhưng cũng được xem như là một mắt xích cấu thành guồng máy của quốc gia, đã bị gắn bó với sự sinh tồn của nó và đã dự phần làm nên một trang sử đã qua của đất nước.

Khái niệm về nhiệm vụ an bài nầy dường như đã được củng cố thêm qua sự xuất hiện của cụ Phan đình Phùng, dưới hình thức giáng cơ, tại trại tù Nam Hà vào các năm 1980 trở đi. Vào thời gian tinh thần người tù bị xuống thấp nhất, cụ Phan đình Phùng đã giáng cơ để cho họ đọc các bài thơ Đường luật loại thất ngôn tứ cú hay bát cú do cụ sang tác lấy bút hiệu là Tùng La. Các bài thơ nầy thật tuyệt tác về niêm luật, có nội dung trấn an, khích lệ các tù nhân rằng rồi ra họ sẽ được thả, có cơ duyên sẽ được đi ra nước ngoài, có cơ duyên sẽ trở về nước. Về tình hình chung của đất nước, cụ có bài thơ tứ cú sau:

Trì trì bộ bộ bộ trì trì,
Cử bộ thời lai hữu hỉ kỳ
Thiên phụ cao bồi tư hóa dục,
Thanh phân thiên tải tụng hòa vi.

Theo sự diễn giảng của anh em tù nhân ở trại Nam Hà lúc bấy giờ thì đại ý cụ cho rằng:

Sự việc tiến triển một cách từ từ và chậm chạp,
Nhưng đến khi có chuyển động sẽ đem lại kết quả vui vẻ,
Cứ coi như đây là giai đoạn để nhận chịu sư bồi dưỡng và huấn nhục,
Sử xanh rồi đây vẫn được lưu truyền tưoi sáng. 

27 February 2016

"Cuộc giải phẫu hiểm nghèo của Đảng Cộng Sản"

Trong bài phân tích mới đây của tác giả Nguyễn Gia Kiểng, với tựa đề như trên, có những nhận xét khá xác đáng về Đảng CSVN. Bài viết khá dài nên TTR chỉ xin trích phần quan trọng dưới đây:

Trích:
Trong những ngày sắp tới chính quyền cộng sản sẽ phải thanh toán nhà nước Nguyễn Tấn Dũng trong những điều kiện không khác một bệnh nhân phải phải qua một cuộc giải phẫu hiểm nghèo dù biết trước là sẽ không qua khỏi.

Không những thế chế độ còn phải trải qua một cuộc giải phẫu hiểm nghèo khác. Lần đầu tiên Đảng Cộng Sản sẽ phải thử nghiệm điều mà các các cấp lãnh đạo của nó thường nói tới nhưng chưa lường được hậu quả, đó là một mức độ “dân chủ trong nội bộ đảng”. Cuộc giải phẫu này cũng sẽ không thành công vì trái ngược với bản chất của chế độ.

Tất cả các đảng cộng sản về bản chất đều là những đảng khủng bố. Khi chưa có chính quyền họ là những tổ chức khủng bố phá hoại, khi đã giành được chính quyền họ thiết lập một nhà nước khủng bố.

Sức mạnh của các đảng và chế độ cộng sản chủ yếu là sức mạnh của những lực lượng khủng bố, nghĩa là họ có thể làm tất cả những gì cần làm để đạt mục đích, điều mà các nhà nước và tổ chức bình thường không thể tự cho phép.

Nhưng một đảng khủng bố đòi hỏi lãnh đạo thống nhất và kỷ luật tuyệt đối trong nội bộ; đảng viên có thể bị trừng trị chỉ vì bị nghi ngờ có tư tưởng dao động hay có những quan hệ không minh bạch. Đó chính là trường hợp của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng đã mạnh lên, giành được chính quyền và tồn tại được tới ngày nay nhờ một kỷ luật thép, nghĩa là một thứ độc tài trong nội bộ. Kỷ luật thép đó được duy trì bởi một nhóm cầm quyền trong đảng có tất cả mọi quyền hành và có thể thanh trừng bất cứ ai. Nhóm này khống chế đảng và dùng đảng để khống chế phần còn lại của xã hội.

Ở mỗi giai đoạn họ là những người có vị thế thuận lợi nhất để thực hiện mục tiêu chính của Đảng. Mới đầu là Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp khi mục tiêu chính của Đảng là tiêu điệt các đảng phái không cộng sản để giành độc quyền đấu tranh giành độc lập và dùng chiêu bài độc lập để tiến hành cuộc nội chiến thiết lập chế độ cộng sản.

Kế đến là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khi mục tiêu của Đảng là chinh phục miền Nam vì hai người này hiểu biết miền Nam nhất.

Sau đó, kể từ giữa thập niên 1980, là Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh và Đỗ Mười, những người chủ trương thần phục Trung Quốc và được Trung Quốc yểm trợ, khi Đảng cần cầu hòa với Trung Quốc để tồn tại.

Sơ đồ quyền lực này đã bắt đầu lung lay khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ và chế độ phải thích nghi với một thế giới đã thay đổi, nhưng những người lãnh đạo đã không có đồng thuận về thay đổi những gì và với nhịp độ nào.
. . . . . . . . . . . . . . . .

Sau đại hội 12 này với sự thất bại của Nguyễn Tấn Dũng giai đoạn Lê Đức Anh hoàn toàn chấm dứt. Đảng Cộng Sản từ nay không còn nhóm cầm quyền trong đảng để duy trì một kỷ luật thép nữa và sẽ ít nhiều phải thực hiện dân chủ trong nội bộ. Họ sẽ khám phá ra rằng không thể duy trì chế độ độc tài nếu không có độc tài ngay trong nội bộ đảng. Cuộc giải phẫu của Đảng Cộng Sản để chuyển hóa từ một đảng có bản chất khủng bố thành một đảng có ít nhiều thảo luận dân chủ trong nội bộ cũng sẽ thất bại. Kinh nghiệm các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ cho thấy không một đảng cộng sản nào chịu đựng được cuộc giải phẫu này. Tất cả đều tan rã và biến mất.

Gorbachev và Yeltsin tuy chống nhau nhưng đều có cùng một nhận xét rằng các chế độ cộng sản chỉ có thể xóa bỏ chứ không thể cải tổ. Đó cũng sẽ là số phận của chế độ cộng sản Việt Nam. 
Hết trích

Trích từ bài "Cuộc giải phẫu hiểm nghèo của Đảng Cộng Sản",
tác giả: Nguyễn Gia Kiểng,
đăng trên Tông Luận

04 January 2016

Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật "cùng tất biến"

Nguyễn Xích Long

Trong bộ phim Chu Nguyên Chương có một câu ông này dạy con “triều đình là nơi tập hợp những kẻ ghê gớm nhất thiên hạ”, nhưng ông ta không được sống ở thời “Đại Vệ chí dị” để hiểu rằng những kẻ tập hợp về triều đình bây giờ đã phát triển đến mức thái cực của sự ghê gớm trở thành “lưu manh đỏ” và sự lưu manh cũng đã đi đến bước đường cùng như nhiều người đã từng phân tích.

Trong xã hội “Đại Vệ chí dị” từ lâu người ta đã có cụm từ “lưu manh trí thức” để chỉ ra loại lưu manh cao cấp đã thâm nhập vào khắp triều đình từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở, mức độ lưu manh thì đểu cáng vô nhân kinh khủng vượt xa loại lưu manh hạ cấp đầu đường xó chợ. Loại lưu manh này phát triển đến nay đã trở thành “lưu manh đỏ” biết dựa vào lý luận triết học để lừa bịp mị dân, nhưng do vẫn chỉ là đầu óc lưu manh nên cũng chỉ là trình độ lừa bịp mà qua những phát ngôn gần đây của cả đống “lưu manh đỏ” cấp cao trong triều đình thiên hạ đã nhìn thấy sự biến thái đến bế tắc của đường cùng.

Có thể thấy rõ sự cùng quẫn khi không còn biết cách nào để lý luận bịp bợm mà đành ăn nói bừa bãi quàng xiên một cách láo lếu kiểu của bọn lưu manh đầu đường xó chợ không coi dân chúng ra gì, thiên hạ không còn ai hiểu biết nữa. Những câu nói mà nhiều người đã đưa lên FB dưới dạng “Mỗi ngày một thằng ngu” với rất nhiều ví dụ như “Tăng giá điện toàn dân đều có lợi”, “bán vé số có thu nhập cao cần nghiên cứu phát triển”, “công khai tài sản công chức là vi hiến”, “biên cương bờ cõi biển đảo để cho con cháu đòi”, “Ngậm tăm khi giặc cướp biển đảo là đúng nếu không bây giờ chúng ta có ngồi đây mà họp hành bầu bán được không”, “trận đánh lớn của nghành giáo dục là bỏ môn sử”, “Tâm lý người dân ai cũng ghét Trung quốc rất nguy hiểm”, “luật sư bị đánh do gây bụi đường”, “Dân xem pháo hoa để quên đói nghèo”…..

Sau những câu nói cùng quẫn là những chính sách cùng quẫn kiểu tận thu bóc lột đến đồng tiền cuối cùng của người dân như thu bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân, thu phí đường bộ xe máy, chặt cây xanh hàng loạt, tăng giá điện, nước, vô tội vạ, giảm giá xăng nhỏ giọt khi giá dầu thế giới giảm, tăng phí dịch vụ y tế vô tội vạ…. tất cả những điều này thể hiện sự bế tắc của “lưu manh đỏ” đã đến đường cùng được thấy rõ bằng các biểu hiện cạn kiệt ngân sách, nhiều địa phương đã không có tiền trả lương, nợ công tăng vọt, các công trình dự án vô bổ kém hiệu quả đua nhau mọc ra….

Theo quy luật tất yếu “cùng tắc biến” thì ta thấy sắp tới sẽ có rất nhiều biến, cuộc đại hội “lưu manh đỏ” phân chia lại quyền lực đang diễn ra khốc liệt đến mức triệt tiêu nhau sẽ có nhiều biến cố không lường, ngân sách cạn kiệt, tài nguyên cạn kiệt dẫn đến miếng ăn tham nhũng không còn đủ chia chác tất dẫn đến đánh nhau tranh giành miếng ăn quyết liệt lộ ra những sai phạm, tội lỗi nội bộ. Các phong trào đấu tranh của dân oan ngày càng phát triển rộng, sâu, các phong trào dân chủ phát triển mạnh về nhiều mặt, ý thức hệ cũng đã thay đổi sâu sắc trong xã hội đặc biệt là lớp trẻ đã có nhiều người tham gia nhiệt huyết năng nổ, hiện tượng ở Ninh Hiệp thiếu nhi cũng đã tham gia có tổ chức đông đảo chống chiếm đất đã trở thành điểm mẫu, mô hình đấu tranh có hiệu quả. Như vậy các pháp biến tất yếu sẽ xảy ra từ nội bộ “lưu manh đỏ” đến áp lực xã hội dân chúng bên ngoài và kể cả quốc tế, chắc chắn “Đại Vệ chí dị” sẽ có biến lớn trong thời gian ngắn sớm thôi. Các tổ chức dân sự và phong trào dân chủ cần chuẩn bị tinh thần, tổ chức, lực lượng để nắm bắt cơ hội thay đổi thể chế phát triển đất nước. Ai nắm bắt được đúng cơ hội sẽ trở thành lãnh đạo đất nước.

Hà nội tháng 01 năm 2016
Tác giả Nguyễn Xích Long
(Nguồn Dân Luận)

09 December 2015

Cạm bẫy tiềm tàng thứ 5 của Trung Quốc: Hoa Kỳ

Tùy Nghi Tiến (Danlambao) dịch - Sau khi phát triển nhanh chóng trong gần suốt 40 năm, Trung Quốc hiện ở một điểm ngoặt của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Trong loạt bài này, Tiến sĩ Xue Li sẽ xem xét năm thách đố then chốt và các cạm bẫy tiềm tàng nhất mà Trung Quốc đối đầu ngày hôm nay.

Cạm bẫy tiềm tàng cuối cùng của Trung Quốc là mối đe dọa tới từ nước ngoài, chủ yếu là từ Hoa Kỳ. Việc tây phương hóa Trung Quốc vẫn là một mục tiêu dài hạn của Mỹ, và mục tiêu trung hạn của việc lôi kéo Trung Quốc vào trật tự thế giới hiện nay cũng là một chiến thuật tây phương hóa.

Trong giai đoạn trước mắt, thì người Mỹ nỗ lực thiết lập một sự hợp tác đôi bên cùng hưởng lợi với người Hoa (win-win cooperation). Nhưng giả sử như Trung Quốc lâm vào một hoàn cảnh khó khăn, Mỹ sẽ điều chỉnh các mục tiêu chính sách. Nếu sự trì trệ kinh tế và các cuộc biểu tình khổng lồ xảy ra tại Hoa Lục, thì các thế lực muốn phân hóa Trung Quốc sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, và những người ở Hoa Kỳ muốn tây phương hóa Trung Quốc (và vô hình chung triệt tiêu năng lực thách đố của Trung Quốc với Mỹ) sẽ thấy rằng mục tiêu ấy trở thành thực tế hơn.

Kể từ khi Bắc Kinh khởi sự chính sách cải cách và mở cửa, thì sách lược chính yếu của Hoa Kỳ là cam kết trước và gắn bó sau. Tuy nhiên, kể từ năm ngoái, sách lược ấy đã có xu thế đảo ngược, gắn bó trước rồi cam kết sau. Vì sự gắn bó trở thành quan trọng hơn, nên vấn đề Biển Đông bây giờ là một mốc điểm để Hoa Kỳ theo dõi các xu thế trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Đồng thời, Hoa Thịnh Đốn ngày càng can dự trực tiếp hơn trong vấn đề Biển Đông. Mỹ bây giờ là một trong các tham dự viên then chốt.

Tuy nhiên, mục tiêu chính yếu của Mỹ hiện nay không phải là ngăn chặn Trung Quốc (như họ từng làm với Liên Sô trong cuộc Chiến tranh Lạnh), mà là duy trì tình trạng cân bằng quyền lực trong khu vực, duy trì tình trạng ổn định của khu vực, và bảo vệ lợi ích cốt lõi của họ. Ngõ hầu có thể đạt được những điều này, Hoa Kỳ cần phải có một sự thông hiểu tương đối rõ ràng về các mục tiêu chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Vì thế, Hoa Kỳ cảm thấy khó chấp nhận được các chính sách nhập nhằng của Bắc Kinh. Tuy nhiên, vì Biển Đông không phải là lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ nên sẽ khó xảy ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở đó.

Thật ra, cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ đều không có ý định gây chiến với nhau ở Biển Đông. Sự bất hòa về Biển Đông thật ra đều đã và đang được đôi bên kiểm soát khá hiệu quả. Bắc Kinh cũng đang điều chỉnh chính sách Biển Đông nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc hoàn thành sách lược thiết lập “Con đường Tơ lụa Hàng hải trong Thế kỷ 21”. Trung Quốc và Hoa Kỳ cần phải duy trì sự thông tin về vấn đề Biển Đông, như vậy họ có thể đạt thêm sự thông hiểu và tránh được các tính toán sai lầm.

Giả sử Trung Quốc có thể ứng phó thành công với năm thách đố mà tôi đã liệt kê trong loạt bài này, thì họ sẽ không bị vấp ngã ở ngưỡng cửa trở thành một quốc gia phát triển. Trung Quốc có thể tiếp tục phát triển cho tới khi trở thành quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, nếu như Bắc Kinh không ứng phó nổi năm thách đố này, thì chúng sẽ trở thành năm cạm bẫy trên con đường thăng tiến của Trung Quốc.

Nguồn: thediplomat.com/2015/11/chinas-potential-pitfalls-5-the-united-states/

16 November 2015

Khủng bố Paris: Nhớ lại dự báo của Samuel Huntington

Nguyễn Văn Tuấn
Theo blog Nguyễn Văn Tuấn

Vụ khủng bố ở Paris lại thêm một bằng chứng nữa về cái mà nhiều học giả uy tín từng nói đến: Vấn đề Hồi giáo. Đó là vấn đề mà học giả Samuel Huntington đã viết thành một cuốn sách nổi tiếng nhưng cũng gây ra nhiều tranh cãi. Tôi vẫn nghĩ cho đến nay, những tiên đoán của giáo sư Huntington về sự xung đột giữa thế giới phương Tây và Hồi giáo dần dần trở thành hiện thực -- một cách đáng sợ.

Những ai không biết hay chưa nghe đến Samuel Huntington, tôi cần phải có vài dòng về học giả này. Ông từng là một giáo sư chính trị học của ĐH Harvard, tác giả của cuốn sách nổi tiếng "The Clash of Civilizations" (Xung đột giữa các nền văn minh), và gây ra nhiều tranh cãi. Ông còn là một chuyên gia cố vấn chiến lược trong thời chiến tranh ở Việt Nam, và là cha đẻ của ý tưởng Ấp Chiến Lược. Ông là một học giả xuất sắc, uyên bác, và có nhiều ảnh hưởng đến các chính phủ Mĩ. (Ngoài ra, ông còn là một người viết văn tuyệt vời, mà tôi hay nhắc đến mỗi khi ai hỏi về học tiếng Anh).

Cuốn "Xung đột giữa các nền văn minh" xuất phát từ những bài viết và bài nói chuyện của ông trong thập niên 1990. Trong đó, ông lí giải rằng thế kỉ 21 là thế kỉ của văn hoá, vì các quốc gia trên thế giới sẽ qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa và tôn giáo, nhưng không dựa trên ý thức hệ (như tự do và cộng sản) trong thời gian qua.Trong thế kỉ 21, người ta sẽ hỏi “Anh là ai" thay vì “Anh thuộc phe nào” như trong thời Chiến tranh lạnh. Câu hỏi đó thể hiện một sự chuyển biến về tư duy từ phe phái sang căn cước tính. Theo Huntington, sau thời kì Chiến tranh lạnh, các quốc gia trên thế giới sẽ tập trung thành 8 nhóm văn minh:

21 October 2015

Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership)

Alan Phan
Đời sống không phải là một bài toán cần giải đáp mà là một thực tại cần trải nghiệm – Life is not a problem to be solved, but a reality to be experienced – Soren Kierkegaard
Khoảng 2002, trong cuộc tranh cãi với một đại gia Mỹ, hai chúng tôi đánh cược vào một tình thế chính trị đang “hot” lúc bấy giờ. Khủng bố Hồi Giáo đã đánh sập tòa nhà World Trade Center ở New York năm ngoái, dân Mỹ sôi sục với an ninh quốc gia, và TT G. W. Bush đang chuẩn bị đổ quân vào Iraq, lấy lý do tiện lợi là Hussein có thể đe dọa Mỹ và thế giới với “weapons of massive destruction” (WMD, vũ khí có sức tàn phá diện rộng). Ông bạn đại gia Mỹ hờ hởi tin rằng cuộc chiến mới sẽ thay đổi bộ mặt chính trị và xã hội của Trung Đông, đặc biệt là kinh tế dầu khí… Là siêu cường duy nhất còn lại, khi Mỹ kiểm soát nguồn năng lượng quan trọng này, thế giới sẽ có Pax Americana (thời đại thanh bình kiểu Mỹ)….

Quan điểm trái ngược của tôi là bộ mặt Trung Đông đã hình thành qua cả ngàn năm lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… nó sẽ không thể thay đổi trong vài năm chỉ vì Mỹ và ông Bush có ước muốn như vậy. Dù lý tưởng và triết thuyết có hay đẹp đến đâu, thực tại luôn là một “son of a bitch” (con chó đẻ). Tôi kết luận là sau 2 nhiệm kỳ (nếu ông Bush tái cử) , Iraq sẽ không khác gì ngày nay, a messy nation under some form of dictatorial regime (một quốc gia hỗn loạn dưới một hình thức độc tài nào đó). Riêng Trung Đông, it’s the same old story (thành ngữ VN là –vũ như cẩn).

Lúc đó, căn nhà ở Hồng Kông của tôi có trưng bày một lộc bình thời Khang Hy rất quý. Tôi không sưu tầm đồ cổ, nhưng mua được với giá quá hời từ một công ty nhà nước nhỏ ở Xian (Tây An).  Ông đại gia Mỹ thèm thuồng đòi mua lại, thuê cả người định giá là khoảng 30 ngàn đô la, nhưng tôi không bán. Sẵn đó, ông cược với tôi là nếu nhận xét của ông đúng, khi Iraq và Trung Đông đã ngoan ngoãn trong vòng tay Mỹ, thì 6 năm nữa, ông sẽ làm chủ chiếc lộc bình này. Nếu ông sai, ông sẽ ghé Hồng Kong và trả tôi 30 ngàn tiền thua cuộc. Tôi đồng ý, nhưng năm sau, vợ tôi bán chiếc lộc bình khi trang trí lại nhà cửa (không biết sau này ông TBT Trọng có là chủ nhân?). Tôi thấp thỏm cả mấy năm trời, nghĩ là phải mất 30 ngàn nếu thua cược. May mắn sao, trước khi TT Bush hết nhiệm kỳ hai, ông đại gia Mỹ ghé Hồng Kong, tìm tôi và trả tôi chi phiếu 30 ngàn đô la như một gentleman.

TPP và cao trào của hy vọng

09 October 2015

Góc nhìn về cuộc di cư thứ hai của Việt Nam: du học sinh

Hoài Thu Nguyễn (VNTB) – Sau hơn hai thập kỷ “thuyền nhân” Việt Nam, một cuộc di cư* mới lại bắt đầu. Ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam theo đuổi bằng cấp nước ngoài, những người di cư này – đã nhìn thấy giá trị cao của nền giáo dục Mỹ, Anh và Úc. Và hơn nữa, họ bị thu hút bởi lương cao phù hợp với năng lực bỏ ra. Một nhận định của tác giả Kris Hartley, vốn là giảng viên thỉnh giảng về Kinh tế tại Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh trên The Guardian đã cho thấy một góc nhìn giữa tăng trưởng kinh tế và giáo dục đại học.

Cuộc di cư này dẫn đến hai yếu tố: giá trị của ngành công nghiệp trong nước sẽ gia tăng nhờ vào chất lượng lao động và các trường đại học Việt Nam sẽ có động lực cải thiện năng lực đào tạo.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, số lượng sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ tăng gấp bảy lần trong giai đoạn 2000 – 2014 (từ 2.266 lên đến 16.579). Và 1/3 sinh viên Việt Nam đang làm việc cho các doanh nghiệp, trung tâm nghiên cứu Hoa Kỳ. Trong một bài báo gần đây, một cựu bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo Việt Nam đã thẳng thắn nhìn nhận rằng, “Giáo dục đại học Việt Nam không tốt” và ông nhấn mạnh về giáo trình thiếu thốn, với những lý thuyết rỗng. “Trong một bài báo, một công chức Việt Nam và là mẹ của một du học sinh đã mô tả hệ thống giáo dục Việt Nam là “áp lực và dối trá.”

“Học thuộc lòng và bóp nghẹt sáng tạo” cũng là căn bệnh trầm kha của nền giáo dục Việt Nam.

Ngoài những yếu tố trên – vốn làm gia tăng số lượng du học sinh Việt Nam thì chính sách tuyển dụng sinh viên nước ngoài của một số quốc gia cũng có tác động không nhỏ. Ví dụ, trong năm 2014 của chính phủ Canada đã thông báo ý định của mình về tăng gấp đôi số sinh viên nước ngoài đến học tập vào năm 2022, lên đến nửa triệu người. Và Việt Nam được xác định là một “thị trường ưu tiên”, cùng với Trung Quốc, Brazil và Ấn Độ.

Trong một bài báo tháng chín trên CBC, một nhân viên tại trường đại học Ottawa (top 50 của Canada) đã mô tả việc tuyển dụng sinh viên nước ngoài là công việc “cạnh tranh khốc liệt,” dấu hiệu cho thấy nhu cầu về nguồn sinh viên là rất lớn.

Các trường đại học Việt Nam đã không rút lui lặng lẽ. Đang có một cuộc chạy đua đầy tư cơ sở vật chất trường học và tuyển dụng đội ngũ giảng viên quốc tế. Thậm chí, một cuộc chạy đua vũ xây dựng khuôn viên, ký túc xá, khu thể thao, và trung tâm giải trí của sinh viên, như Đại học FTP tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi vừa công bố xây dựng một khuôn viên trường “xanh” với lối kiến trúc hoành tráng để “cạnh tranh” với các trường đại học lớn trên thế giới.

Giáo dục là thường xuất hiện trong các cuộc thảo luận về tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Không một quốc gia nào muốn được buộc vào cuộc chiến chi phí lao động, một tư thế cạnh tranh không bền vững. Do đó năng suất cao thông qua phát triển kỹ năng là một chiến lược đúng đắn, muốn vậy cần phải đầu tư giáo dục, gia tăng nguồn lao động chất lượng cao. Trong nền kinh tế như Việt Nam hiện nay, với sản xuất công nghiệp – bất kể mức giá trị của nó – vẫn được “nắm” trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các doanh nghiệp nước ngoài.

Biến đổi về tăng trưởng kinh tế sẽ không xảy ra cho đến khi các doanh nghiệp Việt Nam sở hữu và quản lý được các phương tiện sản xuất, thay vì các công ty nước ngoài. Và điều đó sẽ gia tăng sự hiện diện và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi sự phụ thuộc vào gia công phần mềm và hướng tới tự túc. Tất nhiên, quan điểm này không ủng hộ chủ nghĩa biệt lập và bảo hộ mậu dịch. Và do đó, để làm được điều nêu, xây dựng năng lực công ty trong nước phải đến từ sự hỗ trợ bởi chất lượng giáo dục và chính sách công chuyên nghiệp.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào giáo dục có thể đóng góp nhằm đạt được mục tiêu này. Sinh viên Việt Nam phải cần phải có đầu óc kinh doanh và hệ thống đại học của Việt Nam cần phải chuyển biến phù hợp cho điều đó. Trong một bài báo năm 2013, một cựu chủ tịch RMIT-Việt Nam tỏ ra bất ngờ về số lượng sinh viên tốt nghiệp RMIT bắt đầu kinh doanh riêng. Có lẽ giáo dục kiểu phương Tây (bên trong hoặc bên ngoài Việt Nam) thu hút những người ưa thích kinh doanh, nhưng các kỹ năng đã học trong các trường đại học nước ngoài mới định hình chiến lược nghề nghiệp của học sinh và triết lý kinh doanh theo những cách mới.

Việt Nam đã đạt được tiến bộ kinh tế đáng chú ý kể đổi mới kinh tế năm 1986. Tăng trưởng sẽ không thể thực hiện được nếu không có tham vọng của người Việt. Thật vậy, Việt Nam gần đây đã được cải thiện bảng xếp hạng toàn cầu về chỉ số đổi mới của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới với việc tăng 19 bậc. Hơn nữa, hệ thống trường trung học của nước này gần đây đã tạo ra sự chú ý với xếp hạng 12 trong phần toán học và khoa học thông qua các bài kiểm tra PISA quốc tế. Tuy nhiên, tiềm năng sáng tạo to lớn của lớp trẻ Việt Nam tiếp tục lép vế so với phương Tây.

Việt Nam sẽ phải làm việc tích cực để cải thiện hệ thống giáo dục đại học của mình, không chỉ trong bảng xếp hạng toàn cầu, mà còn trong chính bản thân sự điều chỉnh chương trình, phong cách giảng dạy trong các trường đại học. Và đây là bước đi quan trọng đến hướng đến sự chuyển đổi của nền kinh tế.

Đọc thêm: Du học – “Đi đi, đừng về!”

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ hiện đang ở Việt Nam hè 2014. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc bốn năm đại học, tôi muốn về Việt Nam nhưng ai cũng ngăn cản: “Đi đi, đừng về!”.

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học lớp 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc “đừng về Việt Nam” bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: “Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 1980. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên…

Với “quyền lực mềm” của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà nhiều nơi cũng có “quyền lực mềm” giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Về làm gì hả con?”.

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: “Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng có thể tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!”. Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: “Sẽ về!”. Tôi có một cô bạn thân đang học ngành công nghệ thực phẩm. Cô bảo: “Ngành mình học về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau bốn năm vất vả!”.

Một người bạn khác chia sẻ: “Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết tại Việt Nam mình sẽ không làm được”. Một chị theo học kinh tế thì bảo: “Đơn giản chị không muốn!” Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa “apply” thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh? Về ư? Anh không thể”.

Giữa dòng ý kiến “Đi đi, đừng về!” dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về “trách nhiệm công dân”. Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam mà chỉ nói: “Đừng về để giẫm vào đường cụt. Vì tương lai của con, hãy đi đi!”.

Tôi nên ở hay về?
____________
Nguồn: VNTB
(Via Blog SầuĐông) 
****
* Cuộc di cư này khó có thể đồng nhất với những cuộc di cư chạy trốn chế độ cộng sản của đồng bào miền Bắc vào Nam năm 1954, và cuộc di cư thứ hai của đồng bào miền Nam sau 1975 , tuy sự lựa chọn ở lại những nước tư bản “đang giãy chết” (?!) dù nói cách nào cũng phảng phất ảnh hưởng của thể chế chính trị, và không chỉ đơn thuần là di cư về kinh tế, giáo dục.

14 September 2015

Xã hội Việt Nam thiếu một thứ rất quan trọng

Nguyễn
Tôi là người gốc Việt. Mặc dầu sống ở nước ngoài đã lâu và có nhiều văn hoá Tây Phương trong người nhưng tôi vẫn yêu nước Việt Nam và luôn mong muốn những điều tốt đẹp cho đất nước này.
Bài viết dưới đây được thực hiện vì mục đích làm một điều gì tốt đẹp đó.

Tôi đã ở Sài Gòn hơn sáu tháng và hay có thói quen chạy xe vòng vòng quan sát tìm hiểu cuộc sống của mọi người. Khi lang thang như vậy tôi khám phá ra nhiều điều lý thú và ngạc nhiên (ví dụ như mấy chú xe ôm có thể nằm ngủ trên chiếc xe bên lề đường rất thoải mái mà không bị té). Tôi thấy nhiều điều hay nhưng cũng có nhiều điều không đẹp.

Một trong những khám phá của tôi là có nhiều người quét rác từ trong nhà ra ngoài, quét rác trước cửa nhà, hoặc trên sân trước nhà. Tuy nhiên, mặc dầu có rất nhiều người quét rác như vậy, nhưng tôi chưa bao giờ thấy họ sử dụng một cái hốt rác (sử dụng ngoài nhà). Tôi đã cố gắng quan sát, tìm kiếm trong sáu tháng qua, nhưng vẫn chưa thấy. Và tôi nhận ra rằng xã hội Việt Nam là một xã hội thiếu cái hốt rác. Tôi đã suy nghĩ nhiều về vấn đề này.

Trước tiên tôi tự hỏi mục đích của việc quét rác là gì. Dĩ nhiên, mục đích của việc này là làm sạch.

Sau đó tôi lại hỏi, “Vậy có sạch không?”

Nhưng câu trả lời là “Không sạch.” Quét rác như vậy không sạch. Bụi, rác nhỏ, rác lớn chỉ được đẩy ra khỏi nhà, khỏi sân, ra phía trước hoặc hai bên nhà; hoặc đôi khi được gom thành một đống nhỏ mà thôi. Nhưng chỉ mấy phút sau đó, khi một vài cơn gió bay , hoặc người đi bộ và xe cộ qua lại đưa đẩy thì bụi, rác lớn, rác nhỏ, rác cũ, rác mới lại hiện diện đầy trước sân, trước nhà. Tức là bao nhiêu bụi, rác cứ bay vòng vòng trước nhà bạn, trước nhà hàng xóm, và chạy qua chạy lại giữa nhà bạn và nhà hàng xóm mà thôi. Kết quả là muốn sạch nhưngkhông sạch. Bụi và rác chỉ đơn giản chạy vòng vòng trong thành phố từ nơi này đến nơi khác, vẫn ở trong thành phố, và thành phố vẫn dơ.

Có người sẽ gom rác lại với suy nghĩ nhân viên vệ sinh sẽ hốt chúng đi. Nhưng từ khi gom rác tới khi nhân viên vệ sinh đến thì những người đó vẫn phải sống với rác ngay trước nhà; hoặc gió, xe cộ và người đi bộ sẽ làm nỗ lực gom rác bị tiêu tan chỉ trong vài phút. Tại sao không hốt và bỏ vào thùng rác ngay mà phải chờ nhân viên vệ sinh tới?

Sau đó tôi còn suy nghĩ thêm về những vấn đề khác có thể liên quan đến việc quét rác này.

Thứ nhất, nó cho thấy cái lười của con người. Vì lười nên làm qua loa, cho xong, và không bỏ công.

Thứ hai, nó cho thấy sự ẩu tả và dễ dãi trong làm việc. Làm cho nhanh, không cần biết việc làm có tốt không, chất lượng công việc thế nào. Hoặc biết chất lượng xấu nhưng vẫn mặc kệ.

Thứ ba, nó cho thấy tầm nhìn rất ngắn hạn của con người. Chỉ cần sạch trước mắt, sạch vài phút là được rồi. Không cần biết và không quan tâm sau vài phút đó tình hình sẽ ra sao.

Một đặc tính nữa là sự nông cạn. Làm nhưng không suy nghĩ, phân tích nhiều về việc làm. Hoặc thấy người khác làm thì làm theo mà không suy nghĩ, không cần biết việc làm đó đúng hay sai, tốt.

Tạm bợ là đặc tính thứ năm. Cũng như trên, làm hời hợt, không quan tâm đến chất lượng, không quan tâm đến kết quả lâu dài. Chỉ cần sạch trong vài phút.

Điều thứ sáu cho thấy sự mất vệ sinh. Muốn quét cho sạch nhưng sự việc này lại làm lộ ra bản chất mất vệ sinh và không quan tâm đến vệ sinh của con người.

Thứ bảy, nó cho thấy sự ỷ lại, sự chừa, đẩy việc cho người khác. Có thể có một chút hy vọng nhỏ nhoi người hàng xóm sẽ hốt rác. Khả năng điều này xảy ra là 0% vì người hàng xóm cũng nghĩ y hệt như vậy. Hoặc ỷ lại nhân viên vệ sinh sẽ hốt rác. Tại sao chờ người khác trong khi bản thân mình làm được? Hoặc trông chờ gió, mưa, nước sẽ mang bụi rác đi một nơi khác và xuống cống. Điều này tác hại tới môi trường rất lớn.

Đặc tính kế tiếp là vô trách nhiệm. Coi việc hốt rác là trách nhiệm của ai đó chứ không phải bản thân mình mặc dầu rác trước nhà mình hoặc từ trong nhà mình được quét ra (trong một số trường hợp). Vô trách nhiệm với bản thân công việc, chất lượng công việc và kết quả công việc. Vô trách nhiệm với những người chung quanh, với cảnh quan, và với môi trường. Đặc điểm thứ chín là tính vô kỷ luật. Làm ẩu tả, không kỷ luật trong công việc, không kỷ luật với bản thân. Không cần biết rác đẩy ra ngoài sẽ đi đến đâu. Không quan tâm đến tác hại của công việc đối với mọi người, môi trường.

Điều cuối cùng là sự không công bằng và gian manh vặt. Điều này xảy ra khi rác được gom lại trước sân nhà hàng xóm, hoặc một nơi có vẻ giữa hai nhà nhưng gần nhà hàng xóm và xa nhà mình hơn một chút.

Tôi tin việc quét rác này phản ánh, nếu không tất cả thì cũng phần lớn, những tính chất trên. Những điều này rất quan trọng vì tính cách, tầm nhìn, và cách làm việc của con người được hình thành từ từbắt nguồn từ những việc nhỏ hàng ngày như quét rác. Sau đó những đặc tính đó sẽ được con người áp dụng trong cuộc sống, trong các công việc lớn hơn, và trong giao tiếp với mọi người. Chỉ tưởng tượng tới điều đó thôi cũng thấy thật đáng sợ.

Xã hội phát triển nhờ vào sự loại bỏ các đặc tính trên.

Ở trên tôi đã nói mong muốn những điều tốt đẹp cho Việt Nam. Vậy các bạn cùng giúp tôi làm việc này nhé. Sau khi đọc xong bài viết này, và nếu đồng ý, bạn hãy chạy ngay ra chợ mua cho mình một cái hốt rác và mua thêm một cái nữa cho bạn bè.

Không cần biết những người xung quanh, những người hàng xóm có hốt rác hay không, bạn cứ hốt rác. Nếu bạn thấy đúng, thấy tốt thì cứ làm... cứ tự làm... ngay bây giờ. Chúng ta cùng quét rác với một cái hốt rác trong tay nhé.

18 August 2015

Bò Trắng Răng: Chiến Tranh Lạnh Hay Đối Đầu Nóng?

Đinh Tấn Lực

“Liệu căng thẳng trên Biển Đông có xác suất vượt qua lằn ranh của một cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Tàu cộng? VN ta đứng đâu và cần làm gì cho có lợi nhất, hay ít thiệt hại nhất, trong cuộc xung đột tăng nhiệt đó?” (ĐTL đóng gói nỗi lo của thiên hạ)
Cuộc thế chiến cực nóng ở gần giữa thế kỷ 20 đã đẻ ra bệ phóng cho 3 nước thua trận cất cánh. Nhật có Honda, Toyota, Sony, JR-Maglew… Đức có Mercedes, Porche, Transrapid. Ý có Pagani, Ferrari, Frecciarossa…

Cuộc chiến tranh lạnh ở nửa sau thế kỷ 20 đã để thẹo thảm khốc đến 40 năm chưa liền da cho VN.

Tư bản với Cộng sản đấu nhau, ta đổ máu. Hoa Kỳ với Liên Xô đấu nhau, ta đổ máu. Mỹ với Tàu đấu nhau, ta đổ máu. Bành Trướng với Be Bờ đấu nhau, ta đổ máu. Bắc-Nam ta đấu nhau, cả nước đổ máu. Liên Sô với Tàu cộng đấu nhau một trận diệt chủng dân tộc khác, ta lại tiếp tục đổ máu, trên đất Cam và cả trên biên giới Bắc, rồi cắn răng mà nuốt lệnh cấm vận 10 năm…

Những cuộc chiến “thần (đánh) thánh (vật)” đó đẻ ra một VN phất cờ chiến thắng loang loáng máu nhầy nhụa thịt, và tự động tụt dần xuống vực thế giới thứ ba. Tạo ra được chút sản phẩm đinh vít cũng đã là một niềm tự hào đẳng cấp quốc gia.

Chiến tranh lạnh chấm dứt với bản đồ thế giới được vẽ lại từ bức tường Bá Linh qua tới Hải Sâm Uy, giải phóng non một phần tư nhân loại ra khỏi ách búa liềm độc ác. Quốc tế cộng sản tan rã. XHCN teo tóp lại ở vài nước đếm được trên các ngón 1 bàn tay, trong đó, VN đứng ngay sau Tàu cộng. Chú em Cuba lẽo đẽo đàng sau VN thoắt cái đã “dinh tê”.

Nay, xem ra, Mỹ với Tàu đang lăm le đọ sức đa diện và đa cấp lần nữa, cả kinh tế lẫn quân sự và địa chính trị. Nhiều chỉ dấu leo thang cả hai phía.

VN, trong tình trạng trắng tay vay tiền ngân hàng bù vào ngân sách, dù không đỏ mắt đi tìm cũng buộc phải thấy trước mặt một ngả ba đường rộng mở.

Một bên, phía trái, từng lớn tiếng “Đánh Mỹ đến người VN cuối cùng”, từng coi “VN là côn đồ, cần dạy cho 1 bài học”, và từng chủ trương “Không để VN mạnh quá hay yếu quá, thì mới dễ khống chế”. Bù lại, VN cung kính coi đó là là thành trì cuối cùng của CNXH, thậm chí, là cái khiên chắn thiên triều để bảo vệ vị thế lãnh đạo độc tôn của đảng cai trị chư hầu, thông qua 16 chữ vàng và 4 tương/4 tốt. Nay, cái thứ lãnh đạo XHCNVN đó quá yếu, bởi cả tính hèn và tính tham cốt lõi, lại bởi cái thế lực thù địch (mở mắt thông não) vạn năng của internet, bên cạnh xác suất khủng hoảng kinh tế tài chính vĩ mô của cả hai, nên thiên triều không dễ khống chế nó như xưa.

Một bên, phía phải, từng là “thằng đế quốc sừng sỏ”, từng là “thằng sen đầm quốc tế”, từng là kẻ cựu thù không đội trời chung… Nay bỗng chốc biến thành “bạn bè” cùng ký một tuyên bố Tầm Nhìn Chung quan hệ đối tác trong một lần “hội kiến lịch sử”. VN bỗng chốc vui mừng vì được “nó” gỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương rồi còn tăng cường “hợp tác trong các vấn đề khu vực và đa phương”, kể cả việc tham gia cộng đồng TPP. Còn gia công thêm một phụ lục “Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” mà không cần nói rõ nhu cầu quốc phòng cho ai. Nói cho vuông là “nó” hô biến thành cái phao cứu sinh “sen đầm xoay trục” trên Biển Đông.

Tình hình Biển Đông càng biến động “phức tạp”, cái ngả ba thoát hiểm kia càng rõ ra trên từng milimét.

Mớ kim chỉ nam tư tưởng quay mòng, sau cùng, tạm rung rung hướng về một phía. Dường như, đâu đó, cả bọn vội nắn nót kẽ thêm cái bảng “thoát trung” bên cạnh cái biển “thoát hiểm”, cho đủ nghĩa.

Chiến lược thần thánh mới, với bàn tay nhào nặn những thay đổi thần kỳ từ bên kia đại dương, đã ló dạng định hình bức tranh ba giòng thác mới toanh…

1.    Trực tiếp đối đầu: Nhật-Phi-Việt. Cho tới giờ, Tàu cộng chỉ gờm mỗi Nhật với Phi trên Biển Đông, cho dù có hay không có Mỹ đứng chắn sau lưng các bạn ấy. Nương theo tinh thần võ sĩ đạo của Nhật hay tính khí giang hồ đứng thẳng ngẩng đầu như Phi, lắm người hy vọng VN sẽ bỏ dần được cái đặc thù hèn, mà tự thân dấn bước giữ lấy biển đảo nước nhà.

2.    Khu vực trái đệm làm thương hiệu: ASEAN. Tất nhiên, không thể tính một vài nước “rụt rè” như Thái Lan, “ràng buộc ơn nghĩa” như Cambodia, hay mới vừa bước xuống lưng cọp như Miến Điện. Cũng tất nhiên, số còn lại sẽ trở thành một tập hợp biểu kiến, nếu chưa đủ lực hiệp thông thì cũng vừa đủ thế hội đồng để bĩ mặt Tàu cộng trên một số diễn đàn quốc tế.

3.    Lực lượng bảo hiểm trừ bị: Một liên minh phòng thủ tương tự như SEATO (South East Asia Treaty Organization – Liên Minh Phòng Thủ Đông Nam Á Châu). Đây không phải là một tổ chức mới thành hình. SEATO ra đời tại Manila ngay sau chuyến công du Á châu của Phó TT Mỹ Richard Nixon thời đó, vào tháng 9 năm 1954 (tức là khoảng 2 tháng sau Hiệp định Genève chém đứt đôi xương sống VN).

 Hình thái sinh hoạt của SEATO là một tổ chức liên minh quân sự đa quốc gia, phỏng theo sinh hoạt của Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO. Có 8 quốc gia tham gia liên minh SEATO, gồm: Úc, Tân Tây Lan, Pakistan, Phi, Thái, Pháp, Anh & Mỹ. Nhằm mục tiêu trước mắt bấy giờ là ngăn chận làn sóng đỏ của Liên Sô & TQ tràn xuống Đông Nam Á. Có 2 quốc gia được SEATO tích cực bảo vệ thời đó là VNCH & Lào, cho tới khi miền Nam VN & Lào rơi vào vòng xiềng xích búa liềm năm 1975, đưa đến tình trạng tổ chức này giải thể, vào năm 1977.

Trong mùa biển động hung hãn hiện tại, một số chuyên gia kinh tế-quân sự manh nha rút tỉa bài học của nửa thế kỷ trước và gợi ý cho một tiến trình phục hoạt một phiên bản SEATO trong tinh thần phòng thủ hoàn toàn mới, với nhiều quốc gia tham gia và thực sự góp sức, góp công lẫn góp của, vào mục tiêu chung ngăn chận ý đồ bành trướng bá quyền của nhà nước Tàu cộng trên Biển Đông, hay xa hơn, là chiếm hữu một khoảng lớn hải phận quốc tế làm ao nhà.

28 July 2015

Tản Mạn Về Người Việt Xấu Xí

Huỳnh Thục Vy

Người Việt mình hay đặt các giao ước dân sự trên nền tảng tình cảm chứ không có thói quen tạo lập sự minh bạch bằng luật pháp hay các định chế tương tự.  Những ai hay rêu rao về nguyên tắc tình cảm trong các mối quan hệ thường chính là kẻ lợi dụng nó để giành lấy lợi thế cho mình. Tôi luôn thấy sợ hãi điều ấy. Bởi điều đó không những không gìn giữ được tình yêu thương giữa người với người mà khiến tình cảm của những người thật lòng và tử tế bị kẻ xấu lợi dụng. Trong khi kẻ xấu không dùng tình cảm để đối đãi với tha nhân nhưng lại có thẩm quyền chê trách người dùng các nguyên tắc bảo đảm khác (thay cho tình cảm) trong quan hệ với họ. 

Một ví dụ hay gặp: một người cho bạn mượn tiền sẽ bị trách móc, dè bỉu nếu yêu cầu người mượn kí kết các giấy tờ vay mượn theo pháp luật; hoặc bạn muốn chuyển tiền cho bên thứ hai, nhờ người đó giao cho bên thứ ba và yêu cầu bên thứ hai giải trình, ngay lập tức bạn sẽ bị cho là không tôn trọng họ. Không biết đến bao giờ thì sự minh bạch và nhu cầu kiểm chứng mới được chúng ta tôn trọng để tình cảm cá nhân không trở thành đầu mối cho động cơ trục lợi của con người. Tôi từng nghe kể nhiều về những việc anh em ruột thịt, bà con thân tộc cho nhau mượn đất đai, tiền bạc mà không có khế ước được thị thực trước pháp luật; thế rồi một thời gian dài trôi qua, bên mượn nghiễm nhiên không trả tiền và làm chủ luôn mảnh đất đã mượn. Ban đầu giao ước được thực hiện dựa trên mối quan hệ tình cảm và sự tin tưởng thân tộc nhưng rõ ràng sự ràng buộc lỏng lẻo ấy khiến các giao ước bị đặt sẵn trước nguy cơ đổ vỡ vì luôn có khả năng một bên sẽ vì động cơ tư lợi mà phá bỏ cái nguyên tắc mà trước đó họ dựng làm nền tảng: tình cảm.

21 July 2015

Xoay trục sang Châu Á: Tầm nhìn và Hành động, tham khảo

Nguyễn Quang Dy

“Tương lai chính trị sẽ được quyết định tại Châu Á, chứ không phải tại Afghanistan hay Iraq, và Mỹ sẽ ở ngay tại tâm điểm của hành động đó” (Hillary Clinton)

Từ “Xoay trục” đến “Tái cân bằng” đến “Xoay trục 2.0”: Tiếng kèn ngập ngừng

Quan điểm của Hillary Clinton về Châu Á có tầm nhìn chiến lược và được các nước Châu Á hoan nghênh (trừ Trung Quốc). Nếu bà Clinton được bầu làm Tổng thống thì sẽ là tin mừng đối với Châu Á (nhưng sẽ là tin buồn đối với Trung Quốc). Tuy nhiên, giữa tầm nhìn và hành động có một khoảng cách. Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách này?

Gần đây người ta thường nói đến “Xoay trục sang Châu Á” như một cụm từ thông dụng và là tâm điểm chính sách Châu Á của chính quyền Obama. Vậy nó được hình thành như thế nào, thực chất là gì, và triển vọng ra sao? Thực ra ngay từ đầu, nó không phải là kết quả nghiên cứu sâu sắc của một think tank nào cả, mà là hệ quả do phản ứng linh hoạt và nhạy bén của các nhà ngoại giao Mỹ, đứng đầu là ngoại trưởng Hillary Clinton.

Chính Hillary Clinton là người đầu tiên đã tuyên bố tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (2009) rằng Mỹ có lợi ích chiến lược tại khu vực này (làm Trung Quốc tức giận). Các nhà quan sát coi đó là khởi đầu chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng”. Nhưng cả Trung Quốc lẫn các nước đồng minh của Mỹ tại khu vực vẫn chưa thực sự tin vào chủ trương này của Mỹ. Washington phải có tầm nhìn rõ ràng và hành động mạnh mẽ hơn.

Tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (Hà Nội, 22/7/2011), ngoại trưởng Hillary Clinton đã chuẩn bị kỹ hơn và đọc một bài diễn văn khẳng định lập trường của Mỹ tại Châu Á (làm ngoại trưởng Dương Khiết Trì tức giận bỏ ra ngoài). Hội nghị đó là một bước ngoặt, khi Mỹ khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của mình, xóa được phần nào nghi ngờ của đồng minh, và làm Trung Quốc lo ngại. Trong một lần đối thoại với bà Clinton, ông Đới Bỉnh Quốc đã hỏi, “Tại sao các vị không xoay trục đi chỗ nào khác ngoài khu vực này?”

Vào tháng 11/2011, trong một bài dài đăng trên tạp chí “Foreign Policy”, ngoại trưởng Hillary Clinton đã lý giải chính sách “xoay trục” bằng một quan điểm mới là Mỹ chủ động chứ không phải bị động: Mỹ quyết định rút quân khỏi Iraq và Afghanistan là nhằm “xoay trục” sang Châu Á, chứ không phải là Mỹ bị động “thoái lui” trong thế yếu. Hillary Clinton đã đề xuất 6 hành động chủ chốt để “xoay trục” (trong đó có 4 điểm được “mượn” trong nội dung một báo cáo của CSIS). Nhưng tầm nhìn phải có hành đông kèm theo.

Trước khi Tổng thống Obama đến dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Bali (11/2011), ông đã quyết định đến thăm Australia để tuyên bố điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, như một hành động cụ thể để “xoay trục” sang Châu Á, nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh. Tuy nhiên, quyết định mang tính tượng trưng đó lại gây ấn tượng là chính sách “xoay trục” của Mỹ chủ yếu là điều động binh lực, nên không lâu bền. Vì vậy, 6 tháng sau, Washington đã điều chỉnh thuật ngữ “xoay trục” thành “tái cân bằng”.

08 July 2015

Thực lực quân sự Trung Quốc vượt Mỹ cũng không thể áp đảo Nhật Bản

Các nước nhỏ yếu không thể bị áp đảo chỉ bằng vũ lực, sự phản kháng của những nước này còn có thể làm cho nước lớn đi tới suy thoái.
Tờ "Thời báo Hoàn Cầu" Trung Quốc ngày 29 tháng 6 đăng bài viết phân tích về quan hệ Trung-Nhật của giáo sư Lưu Địch - Đại học Kyorin, Nhật Bản. Sau đây là nội dung bài viết:
Một số người ở Trung Quốc cho rằng, "chỉ cần Trung Quốc có thực lực kinh tế, thực lực quân sự mạnh, chỉ cần Trung Quốc vượt Mỹ, đủ mạnh, Nhật Bản sẽ tự nhiên chịu thua, mâu thuẫn Trung-Nhật cũng sẽ tự nhiên giải quyết".

Tàu đổ bộ cỡ lớn Type 071,
Hạm đội Nam Hải,
Hải quân Hoa Lục

Loại quan điểm này hoàn toàn không phải là suy nghĩ của chính phủ, mà nghe nói là đánh giá đối với quan hệ Mỹ-Nhật trước Chiến tranh thế giới thứ hai của các nhà quan sát. Như vậy, quan sát này có đạo lý hay không?

Chúng ta nhìn thấy một sự thực - Mỹ triển khai đáp trả quân sự mạnh mẽ đối với Nhật trước, còn Nhật Bản đầu hàng sau. Trước tiên, chúng ta không phủ nhận, thực lực quân sự mạnh của Mỹ đã đẩy nhanh rất lớn tiến trình đầu hàng của Nhật Bản.

Nhưng, sau Chiến tranh, Mỹ phát huy vai trò ảnh hưởng đối với Nhật Bản tuyệt đối không chỉ dựa vào hai chữ "áp đảo". Hiện nay, quan hệ Mỹ-Nhật là kết quả của tác dụng thực lực tổng hợp của Mỹ.
Tàu hộ vệ hạng nhẹ Type 056 Hải quân Trung Quốc

Chỉ về sức mạnh cứng, ngay từ năm 1913 tức là trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, sản lượng công nghiệp của Mỹ đạt gấp 2,9 lần so với Anh. Cho dù như vậy, Mỹ vẫn không hứng thú với việc thay thế Anh, mà là tập trung cho xây dựng ở trong nước.

Năm 1938, sản lượng công nghiệp Mỹ đã tăng cần 6 lần so với Anh, Mỹ vẫn chưa có quyết tâm thay thế Anh. Điều này cho thấy, sự tham gia của một nước đối với các vấn đề quốc tế hoàn toàn không chỉ cân nhắc từ sức mạnh kinh tế, thậm chí cũng không chỉ là thực lực quân sự.

Mặt khác, từ sau giữa thế kỷ 19, chế độ dân chủ Mỹ được các nước ngưỡng mộ, ảnh hưởng từ chế độ này, sự đồng tình của nhân dân đối với nhà nước cũng đang lên cao.

Mặc dù trước khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Mỹ đã đưa ra cương lĩnh hoạch định trật tự quốc tế sau Chiến tranh, nhưng các quan điểm chủ yếu của Mỹ hoàn toàn không muốn tham gia vào các vấn đề của đại lục già.

Tàu hộ vệ tên lửa Type 054A,
Hải quân Hoa Lục

Bắt đầu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước chống phát xít trên thế giới hy vọng Mỹ phát huy vai trò lãnh đạo. Nhưng, sau khi lãnh thổ bị tấn công, Mỹ mới thực sự hạ quyết tâm tham chiến. Mỹ đi lên sân khấu lãnh đạo quốc tế chính là “tự nhiên”, trở thành nhà lãnh đạo quốc tế được đông đảo ủng hộ.

Học giả chính trị Mỹ Aznoni cho rằng, để áp đặt sự thống trị của mình, để cho kẻ bị trị phục tùng, quyền lực tồn tại 3 phương thức: Một là quyền lực mang tính cưỡng chế, hai là quyền lực mang tính thù lao, ba là quyền lực mang tính chuẩn mực.

Mỹ đã thực hiện quyền lực loại thứ nhất, nhưng sau Chiến tranh, để duy trì ảnh hưởng tuyệt đối của mình đối với Nhật Bản, Mỹ đã sử dụng 2 loại sức mạnh sau.

Trước hết, Mỹ giành lấy vị thế chủ đạo trật tự quốc tế, sau đó sử dụng trật tự này để xử lý quan hệ Mỹ-Nhật. Ngoài ra, để khuyến khích mặt trận trung thành với mình ở Nhật Bản, cung cấp thị trường trong nước cho họ.

Điều quan trọng hơn là, sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, dưới sự thúc đẩy, trợ giúp của Mỹ, Nhật Bản đã xây dựng Hiến pháp Hòa bình, đã xác lập chế độ dân chủ, đã đào tạo rất nhiều tinh hoa.
Tàu khu trục Type 052C, Hạm đội Nam Hải, Hải quân Trung Quốc

Trong 70 năm sau Chiến tranh, lực lượng tinh hoa này trở thành trợ thủ trung thành với việc thể chế hóa vai trò ảnh hưởng của Mỹ. Nhưng cũng không nên cho rằng, chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản được thực hiện "một đêm" sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Ngay từ trước sau Minh Trị duy tân, đã có rất nhiều người Mỹ và châu Âu hoạt động ở Nhật Bản, truyền bá quan niệm giá trị của phương Tây. Đồng thời, trong nước Nhật Bản cũng xuất hiện một lực lựng học giả lớn, đề xướng "tất cả lấy phương Tây là mục tiêu".

Đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, quan niệm giá trị phương Tây đã thông qua hệ thống giáo dục của Nhật Bản, từng bước thâm nhập đến mọi ngóc ngách của xã hội Nhật Bản trong thời gian gần một thế kỷ.

Trong thế giới ngày nay, bất kỳ nước nào cho dù phát triển sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự đến mức tận cùng cũng chỉ đủ để phòng vệ tự thân. Từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, toàn thế giới không có bất cứ nước nào chỉ dùng sức mạnh quân sự để áp đảo bất cứ nước nào thành công.
Tàu khu trục tên lửa Type 052D, Hạm đội Nam Hải, Hải quân Trung Quốc

Bài học của Liên Xô ở Hungary, Czech và Afghanistan bài học của Mỹ ở Việt Nam, Afghanistan, Iraq đã cho thấy điều gì? Điều này cho thấy, các nước nhỏ yếu không thể bị áp đảo chỉ bằng vũ lực, sự phản kháng của những nước này còn có thể làm cho nước lớn đi tới suy thoái.

Nhật Bản có một tâm trạng phức tạp đối với Mỹ. Sau Chiến tranh, xã hội Nhật Bản phát triển, ở Nhật Bản có sự sùng bài đối với văn hóa Mỹ, nhưng Nhật Bản cũng có sự phản kháng lúc công khai, lúc âm thầm đối với chính sách chiếm đóng và bá quyền của Mỹ.

Trong giai đoạn đầu, Nhật Bản có phong trào xã hội chống Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ có thanh thế to lớn; trong khi đó, hiện nay, ở Nhật Bản có phong trào xã hội phản đối căn cứ, phản đối quyền tự vệ tập thể.

Hiện nay, người dân hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đều tồn tại tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Sự phản kháng của Trung Quốc đối với sự xâm lược của Nhật Bản trở thành thời cơ cho xây dựng Trung Quốc cận đại, ký ức lịch sử chống Nhật Bản và xây dựng quốc gia cùng tồn tại.
Tàu ngầm thông thường Type 039B lớp Nguyên, Hải quân Trung Quốc

Đối với Nhật Bản, một trong những ký ức huy hoàng nhất của Nhật Bản cận đại chính là giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc, áp đảo sự đắc chí của Trung Quốc.

Trong thời gian tới và một thời gian tương đối dài tương lai, ký ức xây dựng quốc gia trái ngược này vẫn tiếp tục tồn tại.

Nhưng, mặt khác, trong thế kỷ 21 hôm nay, so sánh các lực lượng chính trị toàn cầu, hiện thực phát triển kinh tế của khu vực Tây Thái Bình Dương lại không ngừng thúc đẩy Trung Quốc và Nhật Bản chấm dứt mâu thuẫn dân tộc, khôi phục và phát triển quan hệ chính trị, xã hội song phương.

Hiện nay, nhìn thẳng vào bối cảnh của quan hệ Trung-Nhật, từ bỏ tư duy "áp đảo" và chấm dứt sự đối đầu là một sự lựa chọn thực tế của hai nước.

Đông Bình (nguồn Thời báo Hoàn Cầu)

26 May 2015

Quốc Phòng Mỹ Tin Rằng Trung Quốc Sẽ Đánh Việt Nam

Theo nguồn tin mới nhất mà chúng tôi mới có được là các giới chức cao cấp của Hoa Kỳ tin rằng Trung Quốc chắc chắn sẽ tấn công Viêt Nam trong một thời gian rất gần, có thể là trong vòng vài tháng tới.

Các giới chức Hoa Kỳ đã đưa ra những phân tích và nhận định tình hình cũng như 4 lý do chính vì sao Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam, sau khi họ rút dân Tàu và các phương tiện làm ăn ra khỏi Việt Nam.

1. Mộng bành trướng vươn ra biển lớn

Đây là một chính sách, một chiến lược nhất quán, khó có thể thay đổi của Trung quốc, là phải bằng mọi giá phải chiếm và làm chủ phần lớn khu vực biển đông. Vì đây là con đường huyết mạch, giao thương chính của các cường quốc Chấu Á (Nhật Bản, Singapore và Nam Hàn) và thế giới. Một khi làm chủ, khống chế được khu vực này, thì Trung quốc xem như đã khống chế được cả khu vực Châu Á và tuyến đường hàng hải quan trọng của Thế giới. Giở lại những trang lịch sử thế giới cho thấy, Trung Quốc luôn luôn có tham vọng xâm chiếm lảnh thổ của các nước khác trong khu vực có lảnh thổ, đường biên giới giáp ranh với Trung Quốc. Đặc biệt Việt Nam là một quốc gia đã từng bị Trung Quốc xâm chiếm và cai trị cả hàng ngàn năm về trước, qua nhiều các triều đại phong kiến trước đây. Qua trải nghiệm của lịch sử, mỗi khi đất nước Trung Quốc có sự hưng thịnh, phát triển vế quân sự, kinh tế và khi có đủ sức mạnh, có đủ tự tin để tiến hành cuộc xâm lăng là họ sẽ ra tay tấn công các nước láng giềng. Trên thực tế, từ ngàn xưa cho tới nay, Trung quốc chưa bao giờ là người láng giềng hoà bình đối với các nước láng giềng xung quanh. Trung cộng chỉ hòa bình với các nước láng giềng, khi nội lực đất nước của họ có vấn đề v à họ không đủ sức để thực hiện mộng bá quyền.

2. Tại sao lại rơi vào thời điểm này?

09 May 2015

Quan hệ Việt – Trung: Thực tế bẽ bàng hơn nhiều

Đôi giòng:

Nguyễn Gia Kiểng là một trong những lý thuyết gia chủ lực của Tập hợp Dân chủ Đa nguyên.  Ông là tác giả của nhiều bài viết (và cả sách) với nhiều ý tưởng phong phú (có khi rất ‘lạ’ với những bạn đọc ưa tìm hiểu về lịch sử, chính trị, và xã hội VN; ông không hề thiếu kẻ yêu, người ghét!) đã từng gây tranh cãi rất nóng giữa nhiều bạn đọc. Dù dị ứng hay không với lối viết, cách nhìn trong sách cũng như những bài viết trước đây của ông, thiết nghĩ bài viết này cho thấy thêm một số khiá cạnh không hề đơn giản của quan hệ Việt – Trung, dưới mắt nhìn sắc cạnh của một người vẫn còn đam mê với những hoạt động chính trị, ở độ tuổi ngày xưa hiếm người đạt tới, mà ngày nay không hẳn nhiều người đã qua khỏi. (SĐ)


Quan hệ Việt – Trung: Thực tế bẽ bàng hơn nhiều

Nguyễn Gia Kiểng

Diễn tiến quan hệ Việt Trung

“…Nếu ở Việt Nam có một người không được quyền lên án bất cứ ai là tay sai Trung Quốc thì người đó chính là Lê Đức Anh…”

Giờ này, khi mà nhiều người nghĩ và tin rằng Việt Nam chỉ còn một chọn lựa là ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc và nhanh chóng tiến đến thế đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ và các nước dân chủ, chúng ta cần nhận định lại quan hệ Việt – Trung một cách chính xác hơn. Lý do là vì sự thực còn phũ phàng hơn nhiều người nghĩ. Và nếu quá khứ có khả năng tiết lộ những gì có thể sẽ tới thì chúng ta phải rất cảnh giác nếu không muốn hụt hẫng một lần nữa.

Cho tới nay, theo cái nhìn của nhiều người, Trung Quốc, sau khi thất bại trong chiến tranh biên giới 1979,  đã cố lôi kéo Việt Nam vào quỹ đạo của họ và đã thành công; Đại Hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã là một bước đổi mới đầy hy vọng không may bị khựng lại và đảo ngược; Nguyễn Văn Linh là con người của một cách canh tân dang dở; trong nội bộ ĐCSVN đã có đấu tranh giữa hai phe canh tân thân phương Tây và bảo thủ thân Trung Quốc và sau cùng phe bảo thủ đã thắng v.v. Nhưng sự thực rất khác.

Cái nhìn này không giải thích được một cách thuyết phục tại sao ĐCSVN đã có thể đổi hẳn chính sách đối với Trung Quốc từ thế tử thù sang thế chư hầu ngoan ngoãn mà không gây ra một chấn động lớn, bằng cớ là cho đến nay ít người có thể nói một cách quả quyết ĐCSVN đã quyết định thay đổi thái độ đối với Trung Quốc vào lúc nào, hay tại sao mặc dù Việt Nam hết sức chiều lòng Trung Quốc mà Trung Quốc lại cứ tiếp tục hạ nhục và chèn ép Việt Nam. Lý do là vì nó vẫn nằm trong một logic bình thường theo đó mọi chính quyền trước hết mưu tìm quyền lợi cho đất nước mình, họ có lầm lẫn hay không là chuyện khác. Logic này không đúng trong trường hợp của quan hệ Việt – Trung  như chúng ta sẽ thấy.

Nhìn lại quan hệ Việt – Trung đòi hỏi một phân tích thấu đáo những gì đã xảy ra, điều này không dễ vì sự đảo ngược quan hệ Việt Trung đã diễn ra một cách bí mật trong nội bộ của nhóm cầm quyền cao nhất trong đảng cộng sản, nghĩa là bộ chính trị (BCT) và ban bí thư (BBT), ngay cả tuyệt đại bộ phận đảng viên cao cấp cũng không biết. Hơn nữa nó lại chủ yếu được quyết định qua những thảo luận miệng trong tập đoàn lãnh đạo mà các biên bản hoặc không có hoặc vẫn còn được giữ kín. Trong hoàn cảnh đó ta chỉ có thể dựa vào hồi ký của những người trong cuộc cuối đời hoặc có những tâm sự muốn nói ra hoặc có những ân oán giang hồ muốn thanh toán.

Tập Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ là một tài liệu quí. Ít ai có điều kiện để theo dõi biến chuyển trong quan hệ Việt – Trung bằng ông. Ông chủ trì nhóm CP87 một nhóm nghiên cứu chiến lược đối ngoại của đảng vào giai đoạn chuyển hướng này. Ông cũng là thứ trưởng đặc trách vấn đề Campuchia, vấn đề gai góc nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc vào lúc đó. Ông đại diện Việt Nam đàm phán với đại diện Trung Quốc Từ Đôn Tín vào tháng 6-1990, cuộc đàm phán gay go cuối cùng trước khi chính quyền cộng sản Việt Nam thực sự đầu hàng, đúng ra là được Trung Quốc cho phép hàng phục. Quan trọng hơn, Trần Quang Cơ là một trong những người hiếm hoi có kiến thức về thế giới và bang giao quốc tế, một khả năng mà không ai trong số những lãnh tụ cộng sản cao nhất có. Tuy vậy ông Cơ chỉ là một người thừa hành ngoan ngoãn. Nếu đôi khi ông có những tâm sự u uất thì đó cũng chỉ là những trăn trở của một tôi trung. Trần Quang Cơ không có cái nhìn của người lấy quyết định, do đó ông quan tâm trước hết đến những gì thuộc phần nhiệm của mình. Vì vậy trong hồi ký này các sự kiện không được chọn lựa và sắp xếp theo tầm quan trọng đối với chính sách đối ngoại mà theo tầm quan trọng của chúng đối với cá nhân ông. Ông kể khá chi tiết những thảo luận về giải pháp Campuchia và những cuộc phỏng vấn của ông với các báo dù chúng chỉ có một giá trị rất tương đối nếu ta muốn tìm hiểu động cơ và não trạng của những người quyết định chính sách của Việt Nam vào lúc đó. Những điều Trần Quang Cơ kể lại vì vậy cần được hội nhập vào dòng thời sự của cả một giai đọan dài mới có giá trị giải thích và soi sáng.

Trước hết hãy nhìn lại một cách tổng quát quan hệ Việt -Trung.

05 May 2015

Những Vấn Nạn và Nghịch Lý 40 Năm Kinh Tế Việt Nam

Nguyễn Bá Lộc

Cộng sản VN cưởng chiếm miền Nam và dựng lên chánh quyền CS trên toàn quốc nay đã 40 năm.

Nhưng đảng và chánh quyền CS chẳng những không đáp lại được mong ước chánh đáng của toàn dân đã chịu đựng quá nhiều mất mát trong quá khứ, mà CSVN còn tạo ra nhiều đau khổ hơn về đời sống kinh tế và nhiều xáo trộn xã hội từ những hậu quả kinh tế.

Cho tới nay , kinh tế XHCN của VN còn tồn tại nhiều vấn nạn nghiêm trọng và khó có thể cất cánh được. Mặc dù bề ngoài và trên một vài mặt , nó có một số tiến bộ. Nhưng rất nhỏ nhoi so với những tiêu cực quá lớn đã và sẽ không vượt qua nỗi, vì nguyên nhân chánh yếu bắt nguồn từ bản chất chế độ.

I.VỀ MÔT SỐ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trong 10 năm đầu sau khi hiếm miền Nam, nền kinh tế suy sụp , chìm tới đáy vực. Từ 1986 nhờ “đổi mới kinh tế”, VN đạt được một số phát triển trên  một số mặt. Những  sự kiện kinh tế đó chỉ có tánh cách bề ngoài, không bền vững, có mưu tính sai trái và bất công. Tôi xin tóm tắt và phân tích một số tiến bộ đó.

1-Về tỷ suất phát triển và tổng sản lượng quốc gia

Từ khi thay đổi mô hình kinh tế (1986) tỷ suất phát triển có đạt con số khá theo báo cáo của VN, trong khoảng 8-8.5%. Nhưng cũng chỉ trong 8 năm từ 2001-2008. Còn các năm khác , trước 2001 và sau 2008, chỉ đạt 4.5-5.5%, đó là tỷ suất thấp so với các nước đang phát triển. Ví dụ: 2012 có 5.4%, 2013: 5.2%, 2014: 6%. Thực sự năm rồi kinh tế vẫn rất yếu , nhưng vì năm tới là đại hội đảng , các lảnh đạo đang “cải sửa” để tranh giành quyền lực.

Tổng sản lượng quốc gia (GDP) và lợi tức đầu người (Income/capita) có tăng. Từ 180 US$/ người vào năm 1985 lên $620 (2001) và khoảng 2000 US năm 2013  (theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới). Năm 2005  Nhựt hơn VN 62 lần, Đại Hàn hơn 25 lần, Đài Loan hơn 25 lần (Ngân hàng thế giới). Gần đây khoảng cách không thu hẹp mà bị bỏ xa hơn nhứt là đối với một số nước như Đại Hàn, Malaysia, Singapore. Trong lịch sử phát triển kinh tế, các nứơc tân hưng, trong 10 năm đầu, cũng đã đạt tỷ lệ 8-10%.

Các con số trên cùng thực tế 40 năm qua nói lên kinh tế VN phát triển yếu kém, có nhiều mâu thuẩn và rất bấp bênh. Một nước như vậy không thể nào “cất cánh” được nói chi đến mơ ước trở thành “rồng con kinh tế”. Trên bình diện thế giới, cho tới bây giờ VN vẫn còn là một nước nghèo trong các nước đang phát triển. Về phương diện thời gian, 40 năm qua là khá lâu so với các nước mới phát triển trước kia chì cần độ 10 - 15 năm đã tạo được cái nền và cái đà khá tốt để tiến tới.

2- Về đầu tư khu vực nhà nước
 
Tại VN đầu tư công, tức là đầu tư do vốn nhà nước gồm đầu tư cho các lảnh vực xây dựng và phát triển không có tính cách kinh doanh, và đầu tư của các quốc doanh.

Đầu tư công gia tăng rất nhanh, nhứt là trong 10 năm nay. Đó là một nghịch lý vì khi chủ trương cho tư doanh lớn lên thì phải giảm bớt đầu tư công nhứt là quốc doanh

Từ 2001 đến 2012 đầu tư công tăng gấp 3.2 lần (mỗi năm trung bình tăng 13.9%). Đây là sự gia tăng rất lớn. Khu vực công áp đảo khu  vực tư doanh. Thứ hai là chánh phủ cần giử mức độ đầu tư công lớn để giữ mức độ phát triển.

Chánh phủ VN không tính đầu tư của quốc doanh nằm trong tổng số đầu tư công. Trong khi đó theo nguyên tắc của cơ quan Liên hiệp quốc thì phải tính chung vào.  Vì vậy năm 2013, Chánh quyền VN cho rằng tỷ lệ đầu tư công chỉ là 60% của GDP (mức tối đa mà VN có thể chấp nhận là 65%, theo Tổng cuộc thống kê), nhưng theo Ngân hàng thế giới là 106%, vượt xa mức độ nguy hiểm (GDP năm 2012 là 150 tỷ mỹ kim).

Trong đầu tư công trên, có một hiểm họa và nghịch lý là sự gia tăng đầu tư cho quốc doanh, đặc biệt là cho các Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty từ 2005 trở lại đây. Tăng từ 37.3% năm 1990 lên 60% năm 2012. Trong khi đó quốc doanh chỉ đóng góp có 30-35% số thu ngân sách , mặc dù chiếm giử 70% tài sản cố định xã hội, và chiếm 60% tổng số tín dụng. Chính khu vực quốc doanh có vai trò quan trọng làm cơ cấu kinh tế mất quân bình và không tạo sự kết hợp và hổ tương cần thiết của các khu vực trong phát triển kinh tế.

3- Về đầu tư ngoại quốc (FDI)

Đối với những nước có tronng nước quá yếu kém, thì đầu tư ngoại quốc hết sức cần thiết.

Trong 30 năm qua FDI có gia tăng, nhưng không ổn định. Một số khó khăn lớn còn đó. Các trở ngại cho FDI gồm có:

* Mục tiêu các dự án FDI chú trọng đến đoản kỳ hơn là lợi ích trường kỳ cho đất nước. Ngoài dầu khí phần chánh là gia công may mặc, điện tử, cho các công ty ngoại quốc. Kế là nhà đất, khách sản.

* FDI đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế, chiếm 70% trị giá hàng xuất cảng, mà trị giá xuất cảng chiếm 70% GDP (theo Tổng cục thống kê VN 2008). Nếu FDI sụt giảm mạnh thì kinh tế bị suy yếu ngay.

*Môi trường đầu tư không tốt: luật lệ rắc rối, nhiều thay đổi, thống kê và chỉ số kinh tế không minh bạch, lạm phát cao, kinh tế không ổn định. VN vẫn bị các cơ quan quốc tế đánh giá thấp, ở hạng khoảng 117 trên 170 nước. (Theo tổ chức quốc tế Heritage).

* Tham nhũng quá khủng khiếp của viên chức cán bộ toàn các cấp chánh quyền. Sau 30 năm từ khi đổi mới, bộ máy chánh quyền chỉ thay đổi vụn vặt về thủ tục hành chánh. Mức độ tham nhũng chẳng những không giảm mà còn tăng. Theo cơ quan chánh thức của CSVN và theo cơ quan quốc tế, các viên chức liên hệ dự án và viện trợ quốc tế tham nhũng khoảng 20-30% tổng tri giá viện trợ. Cho tới nay tổng viện trợ là 50 tỷ mỹ kim.

4. Về xuất nhập cảng. 

Xuất cảng và nhập cảng đều gia tăng từ sau đổi mới.

VN chủ trương đẩy mạnh xuất cảng bằng mọi giá. Các nước mới bắt đầu phát triển cũng theo con đường như vậy. Nhưng qua 10-15 năm khi nền kinh tế đã cất cánh, hầu hết các nước tân hưng đều có chánh sách chọn lọc trong xuất cảng cũng như nhập cảng. Kinh tế VN loạn hoạn yếu đuối mãi cho tới bây giờ. Cho nên hàng xuất cảng cũng là hàng gia công, khoáng sản, dầu thô, gạo, ca phê. Còn nhập cảng thì đủ thứ kể cả nông sản làm cho nông nghiệp lạc hậu bị suy yếu thêm. Một số hàng hóa phục vụ nông nnghiệp và kỹ nghệ đáng lẽ phải cố gắng giảm nhập và sản xuất trong nước, thì gần như không đạt kết quả nào, như phân bón, một số máy móc thô sơ cho nông nghiệp, một số nguyên liệu như tơ sợi, bột giấy… Sau 30-40 năm rồi những cái căn bản đó không thực hiện được thì đến bao giờ. Về nhập cảng với tình trạng kinh tế VN  đáng lý phải hết sức giới hạn nhập hàng tiêu thụ xa xỉ.

Có một điều rất đáng lo ngại là sự lệ thuộc kinh tế Trung quốc (TQ) quá nặng nề. Đặc biệt gia tăng quá nhanh trong vòng 10 năm nay. VN bị lệ thuộc trên mọi mặt. Nhập siêu từ 9 tỷ năm 2012 lên 29 tỷ năm 2014, nhập siêu TQ chiếm 90% tổng nhập siêu của VN.

5-Về viện trợ kinh tế

Viện trợ kinh tế phần lớn dưới dạng ODA. Số tiền viện trợ tăng nhanh trong 10 năm trở lại đây. Tồng cộng đến năm 2008 là 12 tỷ mỹ kim, đến 2012 là 50 tỷ.

Viện trợ kinh tế từ hai nguồn: từ một số quốc gia và từ các cơ quan quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Á châu, Quĩ tiền tệ quốc tế. Có một số nhược điểm lớn từ viện trợ quốc tế:
-Lạm dụng viện trợ cho nhiều dự án không ưu tiên như đường  xe lửa, cảng
-Hiệu quả xử dụng tiền vay nợ thấp
-Nhiều thế hệ phải trả nợ cho việc xài phung phí và chiếm đoạt bòn rút viện trợ.

II. NHỮNG VẤN NẠN KINH TẾ NGHIÊM TRỌNG TỒN TẠI

30 April 2015

30/4/1975 – Ngày Giải phóng?

Thời trung học, tôi cũng quen dùng từ "giải phóng" một cách vô thức như bao người. Song từ lúc vào đại học, do ngán ngẩm lối giáo dục đầy dối trá, tôi bắt đầu tự tìm hiểu sự thật lịch sử để trang bị lại kiến thức cho mình và nhờ đó nhận ra sự lố bịch của hai chữ "giải phóng".
 Luật sư Lê Công Định
Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Nhiều người Việt sau 1975 còn giữ thói quen dùng từ “giải phóng” trong các cụm từ “giải phóng Sài Gòn”, “ngày giải phóng”, “trước giải phóng”, “sau giải phóng”, “quân giải phóng”, v.v…, đó cũng là cách gọi có chủ đích tuyên truyền của chế độ này sau khi Bắc Việt thôn tính toàn bộ miền Nam.

Từ trước đến nay, chính quyền cộng sản vẫn luôn lập luận rằng nước Việt Nam là một dải thống nhất từ Bắc chí Nam, tạm thời bị chia cắt tại vĩ tuyến 17 do kết quả hội nghị Geneva 1954, đồng bào miền Nam gánh chịu ách nô lệ và áp bức của “Đế quốc Mỹ xâm lược” và “ngụy quyền tay sai”; do vậy, quân dân miền Bắc có nhiệm vụ “giải phóng” miền Nam, thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, lập luận nêu trên tự mâu thuẫn và hiển nhiên bị bác bỏ bởi các sự kiện lịch sử hiện đại mà chúng ta đều đã biết. Dưới đây là một số nhận định xung quanh cái gọi là “giải phóng” nhân dịp chính quyền đang khơi gợi quá khứ, mà chính họ luôn hô hào gác lại, bằng các buổi lễ kỷ niệm và diễu binh chướng mắt trên các đường phố Sài Gòn.

Sau khi đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ, chính ông Hồ Chí Minh và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới áp lực của Trung Quốc, đã đồng ý ký kết Hiệp định Geneva 1954 chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền, trong lúc đại diện của chính phủ quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng hoàn toàn bác bỏ sự phân cắt đó. Nói cách khác, những người cộng sản đã góp tay vào việc chia đôi đất nước, nên việc tự trao cho mình nhiệm vụ thống nhất đất nước chỉ là hành động đạo đức giả, che đậy ý đồ chính trị và quân sự riêng.

Gắp lửa bỏ tay người

Thoạt đầu, sau năm 1954, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế và giúp huấn luyện các đơn vị vũ trang của chính quyền Sài Gòn với mục đích tái lập trật tự xã hội sau chiến tranh với Pháp. Đến khi chiến sự leo thang do Bắc Việt lén lút chuyển quân vào Nam, Hoa Kỳ mới chính thức can dự quân sự từ năm 1965. Tuy nhiên, sự tuyên truyền về “Đế quốc Mỹ xâm lược” đã được những người cộng sản tung ra ngay từ lúc Hiệp định Geneva còn chưa ráo mực, tức có sự hoạch định cố ý từ trước nhằm chuẩn bị nguyên cớ phát động chiến tranh. Một hành động “gắp lửa bỏ tay người” không hơn không kém của giới lãnh đạo Bắc Việt lúc ấy.

Cần lưu ý, gần mười năm trước khi Hoa Kỳ gửi quân sang chiến đấu chống cộng sản tại miền Nam, quân đội Trung Quốc đã hiện diện ở miền Bắc. Sau đó lần lượt Liên Sô và Bắc Triều Tiên cũng cử quân nhân sang trực chiến. Vậy nếu sự kiện Mỹ đưa quân tham chiến, dù được sự chấp thuận của chính quyền Sài Gòn, bị xem là “xâm lược”, thì hành động của Trung Quốc, Liên Sô và Bắc Triều Tiên nên gọi là gì? Phải chăng giới lãnh đạo Bắc Việt đã thiếu sáng suốt trong nhận định về "địch ta" hay vì lý do nào khác?

Hòa đàm Paris 1973 mở đường cho 'hòa bình' và Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng chỉ hai năm sau, miền Bắc đã 'giải phóng' miền Nam bằng biện pháp chiến tranh.

Trong giai đoạn từ 1955 đến 1974, Trung Quốc đã liên tiếp xác lập chủ quyền và chiếm đóng các hải đảo thuộc Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, nhưng vì lý do nào hành động của Trung Quốc lại không được bộ máy tuyên truyền Bắc Việt đương thời gọi là “xâm lược”? Cuộc chiến tranh “giải phóng dân tộc” vì sao chỉ tập trung vào miền Nam mà bỏ qua mục tiêu giải phóng các hải đảo, vốn cũng là một phần lãnh thổ thiêng liêng và quan trọng của tổ quốc? Chiến thắng đang được ca ngợi thiết nghĩ hãy còn dang dở, và liệu có thể hãnh diện với một chiến thắng như vậy?

Đặt ngược vấn đề

Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chính trị và hành chính hợp pháp trên phương diện công pháp quốc tế, tương tự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi hành động chính trị và quân sự của bất kỳ nhà nước nào đều phải đặt trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, nên việc tự trao nhiệm vụ “giải phóng miền Nam” không đương nhiên biện minh quyền sử dụng vũ lực xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền khác. Đặt ngược lại vấn đề, nếu cách hành xử của Bắc Việt là đúng, thì đương nhiên quân đội Sài Gòn cũng có quyền tương tự là mang quân xâm chiếm miền Bắc? Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không hành xử như vậy, không phải vì thiếu khả năng, mà do họ tôn trọng luật pháp quốc tế.

Ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đương thời đã có nhiều tiếng nói phản đối chiến tranh và đề xuất giải pháp hòa bình hợp tác giữa hai miền Nam Bắc. Lịch sử thế giới hiện đại cũng cho thấy sự thống nhất nước Đức bằng con đường thương lượng ôn hòa đã mang lại kết quả tốt đẹp cho dân tộc Đức. Tuy vậy, chủ trương hòa bình trong Đảng Cộng sản bị dập tắt, phe chủ chiến thắng thế và muốn tiến hành chiến tranh bằng mọi giá. Và cái giá phải trả để thống nhất đất nước bằng giải pháp chiến tranh là sinh mạng của hàng triệu người Việt ngã xuống vô nghĩa, nỗi đau ấy vẫn còn đến tận ngày nay.

Tuy chiến tranh diễn ra khốc liệt, song những đô thị miền Nam vẫn luôn duy trì sự phát triển phồn thịnh. Điều đó một mặt nói lên rằng chính quyền Sài Gòn đã duy trì bộ máy quản lý quốc gia rất tốt về phương diện dân sự, bất chấp hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác, liệu có thể tin rằng đoàn quân đói rách đến từ vùng đất nghèo nàn hơn về kinh tế lại mang sứ mệnh “giải phóng” xứ sở phồn thịnh hơn? Tình huống đó lẽ ra nên gọi là “cướp” hoặc “chiếm đoạt”, thì thích hợp hơn. Tất nhiên, chẳng ai tin, trừ phi bị lừa dối, và chính các chiến sĩ Bắc Việt đã ngây thơ nghĩ rằng đồng bào miền Nam đang rên xiết ngày đêm trong cảnh nghèo đói và nô lệ (!).
Sự lố bịch của giải phóng

Kẻ “được giải phóng” lẽ ra phải hàm ơn người "giải phóng", nhưng ngoại trừ những gia đình sống bám hoặc kiếm tiền nhờ vào chế độ cộng sản, khó tìm thấy thường dân nào ở miền Nam đang chật vật mấy bữa cơm hàng ngày cảm thấy mang ơn đoàn quân “giải phóng” mỗi khi có dịp nhắc lại biến cố bi thảm đó. Đấy là chưa nói, nhiều năm sau 1975 hàng triệu kẻ “được giải phóng” đã phải tự giải phóng mình một lần nữa bằng cách vượt biên, gây nên thảm cảnh thuyền nhân nhức nhối trong lòng dân tộc. Vậy sự ly tán của các gia đình Việt Nam tưởng đã chấm dứt khi chiến tranh kết thúc, nhưng lại vẫn tiếp diễn một cách đáng buồn vì "giải phóng".

Nhiều khẩu hiệu, áp phích chào mừng 'Đại thắng Mùa Xuân' 1975 và 'Giải phóng Miền Nam' lại được chính quyền trưng ra trong dịp này.

Giải phóng bao hàm sự bao dung đối với bên thua cuộc, nhưng thay cho chính sách hòa giải dân tộc là các trại cải tạo mọc lên như nấm sau cơn mưa để giam cầm không qua xét xử hợp pháp các quân nhân và công chức của chế độ Sài Gòn. Mang hận thù và chia rẽ đến giữa lòng dân tộc thì giải phóng ai và vì cái gì? 40 năm sau biến cố "giải phóng", xã hội ngày càng trở nên vô đạo đức nghiêm trọng, vậy phải chăng con người đã bị giải phóng khỏi đức hạnh và văn minh để quay trở về thời kỳ hoang dã?

Thời trung học, tôi cũng quen dùng từ "giải phóng" một cách vô thức như bao người. Song từ lúc vào đại học, do ngán ngẩm lối giáo dục đầy dối trá, tôi bắt đầu tự tìm hiểu sự thật lịch sử để trang bị lại kiến thức cho mình và nhờ đó nhận ra sự lố bịch của hai chữ "giải phóng".

Tất nhiên, lịch sử không có chữ nếu, nhưng giá mà không có cái gọi là "giải phóng" ấy từ năm 1954, rồi 1975, hẳn đất nước không trì trệ và lạc hậu như ngày nay, mà thay vào đó người Việt ở các giai tầng xã hội khác nhau đã cùng nắm tay đưa con thuyền tổ quốc đến bến bờ mới của nền thịnh trị và xã hội thịnh vượng từ lâu.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một luật sư, cựu tù nhân lương tâm, đang chịu quản chế ở Sài Gòn. Bài viết được gửi đến cho BBC sau khi BBC mời độc giả, nhà nghiên cứu, nhân chứng chia sẻ bài viết, thông tin, hình ảnh, cảm tưởng nhân tròn bốn mươi năm sự kiện 30/4.
Chia sẻ tin này Về mục Chia sẻ.

Ls Lê Công Định
(Nguồn BBC Tiếng Việt)

31 March 2015

Chứng rối loạn nhân cách

"Ra khỏi chiến tranh chúng ta chưa tỉnh. Tức là đang có tình trạng người trong cuộc không nhìn ra bệnh của mình, cứ tưởng mình vẫn đang bình thường như những người khác.”
Vương Trí Nhàn

Những năm trước sau 1970, tôi mới học tiếng Nga và chưa tiếp xúc nhiều với văn học xô viết. Trong khi đó thì anh Phan Hồng Giang đã học Lomonosov từ đại học và biết rất nhiều chuyện dân nghiên cứu văn học ở Liên xô bàn tán, nó là những chuyện người ta nói với nhau  để xả hơi,  khi trong quá trình sống có những điều quan sát thấy mà không bao giờ được viết trên mặt giấy.

Hồi đó trong giới nghiên cứu văn học Nga cũng như VN đang bị thống trị bởi quan niệm cho rằng văn học phải có nhiệm vụ xây dựng những nhân vật tích cực. Một trong những mẩu chuyện anh PHGiang kể  có liên quan tới vấn đề trên. Tóm tắt như sau.

Nhà nghiên cứu văn học nọ có một người bạn là một bác sĩ tâm lý. Khi anh kể lại những phẩm chất của các nhân vật tích cực mà cấp trên yêu cầu anh ta phải lý giải  để áp đặt cho các nhà văn, thì anh bạn bác sĩ kia liền nói: “Đây là  phẩm chất của những thằng điên”.

Tôi chợt nhớ lại mẩu chuyện trên khi đọc trên mạng một tài liệu của giới y học nói về sự rối loạn nhân cách. Sau đây là mấy thói quen tâm lý  mà người ta cho là của người mắc loại bệnh này hay mắc phải:

1.    Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)
2.    Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…
3.    Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất
4.    Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ
5.    Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng
6.    Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.
7.    Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.
8.    Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình
9.    Có thái độ, hành vi kiêu căng.

Tôi không phải dân chuyên về tâm lý học và y học nên không dám nói rằng các tiêu chuẩn trở thành kẻ rối loạn tính cách như trên đã đầy đủ chưa, thậm chí “về căn bản” đã chính xác chưa. Chỉ thấy nó đúng với nhiều người quanh mình. Nó nằm trong tâm trí nhiều người từ chiến tranh trở về và lao vào cuộc tìm kiếm  một chỗ đứng vinh quang trong thời hậu chiến. Tức có nghĩa nó là quy tắc sống của các anh hùng thời đại. 

Nó bộc lộ qua các nhân vật của thứ văn hóa đại chúng tiêu biểu thời nay là các chương trình TV mà người mình hiện nay coi như một hiện thực còn thực hơn chính họ. Và nó được người ta tin tưởng  tới mức thường có mặt trong những lời khuyên mà các bậc cha mẹ ngầm nói với con cái hàng ngày.

Trên tôi vừa nói đó là những phẩm chất mà con người từ chiến tranh trở về thường có, vì theo chỗ tôi nhớ, nhiều điều trong đó là những điều trong chiến tranh chúng tôi ở Hà Nội đã được dạy dỗ.

Ví dụ với những bài thơ của Tố Hữu của Chế Lan Viên mà không chỉ học trò phải học, dễ thấy là chúng tôi luôn luôn được nhồi vào đầu những tư tưởng mà các điều 1, 3, 4 trên đây đã mô tả. Về tầm vóc vĩ đại của thời đại mình. Về sứ mệnh vinh quang nhân loại giao phó cho cộng đồng mình vv..

Còn các điều 2 và điều 6?  

Bạn  hãy thử quan sát một vài nhân vật gọi là thành đạt trong thời hậu chiến. Đầy ảo tưởng. Tham lam dối trá điên loạn. Dám làm tất cả để phục vụ bản thân... 

Chắc bạn không phản đối nếu tôi bảo đó là những điều các anh hùng thời nay thường tự nhủ. Những cái đó làm cho họ trở nên mạnh mẽ, như rượu đã làm cho Chí Phèo trở nên mạnh mẽ.

“Có phải anh định nói rất nhiều người quanh ta đang trong tình trạng rối loạn nhân cách?”

“Thú thực đúng là tôi nghĩ thế. Tôi muốn dùng nó để giải thích tình trạng hỗn loạn hiện nay.

Nhưng trước hết tôi muốn mọi người cùng ngẫm nghĩ về cái tâm lý hậu chiến chi phối con người 40 năm nay. Tôi cảm thấy chiến tranh đã làm sai lạc cả bản chất con người VN như chúng ta vốn có trước 1945. Ra khỏi chiến tranh chúng ta chưa tỉnh. Tức là đang có tình trạng người trong cuộc không nhìn ra bệnh của mình, cứ tưởng mình vẫn đang bình thường như những người khác.”

Khi một căn bệnh đã trở nên bệnh thời đại thì việc gì ta còn phải ngạc nhiên khi thấy những biểu hiện của nó kể cả những biểu hiện phi nhân bản, phi nhân tính nhất.

Cái ác hiện nay là tập đại thành của cái ác đã tích lũy trong lịch sử cộng đồng cả mấy trăm năm nay. Và nó trở nên phổ biến, được phát triển tới quy mô mà các tiền bối của nó trong lịch sử chưa bao giờ làm nổi.

VTN

Mấy ý lạc đề

28 March 2015

Viễn Cảnh Việt Nam Trong Cục Diện Chính Trị Thế Giới Đổi

Nguyễn Cao Quyền

Nền móng quyền lực của các quốc gia đang thay đổi nhanh chóng khi con người bước vào thiên niên kỷ thứ ba. Chúng ta đang giáp mặt với một kỹ nguyên hoàn toàn khác lạ trong đó tài nguyên quan trọng nhất cho sự phát triển đất nước lại không thuộc loại tài nguyên có thể cảm nhận bằng thị giác hoặc súc giác.

Thật vậy, đất đai ngày nay không còn quan trọng bằng trí tụê. Tư bản, nhân công hay những kho hàng đầy ắp không quan trọng bằng lưu lượng của những thứ đó qua thời gian. Vào thời điểm chúng ta đang sống , các quốc gia phát triển không tranh nhau ngôi vị bá chủ thế giới nữa mà chỉ phấn đấu làm sao để có được khần chia lớn nhất của tổng sản lượng toàn cầu.

Một loại quốc gia mới đang xuất hiện trên trận đồ thế giới, được mệnh danh là quốc gia thực quyền (virtual state). Loại quốc gia này phát triển trên cơ sở của những dòng chảy càng ngày càng mạnh của tư bản và nhân công trên khắp mặt địa cầu, cũng như trên cơ sở của khả năng thông tin chớp nhoáng mà khoa học kỹ thuật hiện đại đã trang bị cho nhân loại. Họ đã hoàn toàn thoát ly khỏi đất đai và đang thu hẹp đối đa kích thước của các xí nghiệp để có thể tập trung vảo các khâu thiết kế sản phẩm, cải tiến kỹ thuật quản lý, khai thác hướng di chuyển và sự thăng trầm của lưu lượng tư bản quốc tế.

Mẫu hình rõ rệt nhất của loại quốc gia kiểu mới này là tiểu quốc Tân Gia Ba. Xét về phương diện đất đai quốc gia này chỉ là một tỉnh nhỏ không có dầu khí, quặng mỏ hoặc qúy kim, vậy mà trong mấy thập kỳ gần đây Tân Gia Ba đã phát triển lẫy lừng nhờ trí tuệ. Cùng với Hương Cảng và Đài Loan, Tân Gia Ba đã trở thành những tấm gương phát triển sáng chói cho toàn thể thế giới noi theo.

Nghiên cứu hiện tượng này, người ta thấy loại quốc gia lý tưởng nói trên đều là những quốc gia thương mại (trading states). Vào thập niên 1960, khi thương phẩm dễ lưu động hơn tư bản và nhân công thì việc xuất cảng càng hóa được coi là thượng sách cho mục tiêu phát triển, nhưng từ khi người ta thấy rằng tư bản cũng dễ di chuyển chẵng thua kém gì thương phẩm thì vấn đề xuất cảng đã tụt xuống hàng thứ yếu để nhường chỗ cho những vụ đầu tư trực tiếp tại những địa phương có nhân công giá rẻ.

Những đoạn viết sau đây sẽ triển khai quá trình hình thành và thăng tiến của các quốc gia thực quyền để từ đó rút ra những nhận xét hữu ích cho công cuộc đấu tranh dân chủ đang tiến hành.

Từ mục tiêu chiếm cứ đất đai đến mục tiêu thương mại

14 March 2015

Cướp có văn hóa và văn hóa cướp XHCN

J.B Nguyễn Hữu Vinh 

 Mới đây, sau vụ cướp "lộc thánh" tại đền Gióng thuộc Hà Nội kinh hoàng bởi hàng chục thanh niên với thanh gỗ dài thẳng cánh choảng nhau bạt mạng mà báo chí đưa cả video lẫn hình ảnh, thì ông Phó ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Phan Đăng Long tuyên bố rằng đó là "Cướp có văn hóa". Sau trận "cướp có văn hóa" này, báo chí cho biết nhiều người phải vào bệnh viện.

Ngay sau đó là cướp lộc trong lễ phát ấn đền Trần ở Nam Định. Báo VietnamNet cho biết: "Đến 23h30 phút, ngay sau thời khắc khai ấn của các bô lão dòng tộc họ Trần tại phường Lộc Vượng - TP Nam Định, hàng ngàn người dân, khách hành hương đã đổ xô vào cung Thiên Trường chen nhau giành lộc đức Thánh Trần. Một cảnh tượng xô đẩy hỗn loạn đã diễn ra khiến nhiều người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em bị mắc kẹt".

Ở đây không bàn đến việc những vở bi hài kịch cứ diễn đi diễn lại đầy bạo lực hàng năm đã làm nhiều người phải lo ngại về tính bạo lực của một số lễ hội và sự bát nháo của các lễ hội ngày nay. Vấn đề này, chúng tôi đã nói đến trong bài viết trước đây. Ở đây, chúng ta bàn đến một khái niệm, định nghĩa mà Phó ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Phan Đăng Long gọi là "Cướp có văn hóa".

Sự hình thành thói quen cướp bóc trong xã hội Cộng sản Việt Nam

"Cướp", theo Từ điển tiếng Việt, trong các nghĩa của động từ này, có 2 nghĩa gắn liền với vật chất như sau: - Lấy cái quý giá của người khác bằng vũ lực hoặc thủ đoạn. Hoặc: Tranh lấy, giành lấy một cách trắng trợn ỷ vào một thế hơn nào đó.

Như vậy, cũng theo Từ điển Tiếng Việt, thì trong từ cướp, không có định nghĩa nào có khái niệm "văn hóa" hoặc đồng nghĩa với cái gọi là văn hóa. Bởi theo nguyên tắc đạo đức xã hội Việt Nam ngàn đời nay - trước khi có Cộng sản - cướp chưa bao giờ được gắn liền hoặc được coi như một hành động có văn hóa.

Kể từ khi người Cộng sản giành phần thắng bằng việc cướp chính quyền năm 1945, hành vi cướp ở Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, một thời kỳ mới. Đặc biệt, những năm gần đây, văn hóa cướp đã có những nét đặc trưng mới mang danh nhà nước. Và đến nay, hình thành một khái niệm "cướp có văn hóa".

Thực ra, trên thực tế, một nhà nước được hình thành bằng cách cướp chính quyền, tồn tại và hành động dựa trên cơ sở của một chủ nghĩa lấy bạo lưc, cướp bóc làm động lực và lẽ sống, thì chuyện cướp trở thành nề nếp, thành văn hóa không có gì là lạ.

Trước hết, với cái gọi là "Ba cuộc cách mạng được tiến hành song song" để nhằm đưa đất nước đến một cái mơ hồ viển vông là Chủ nghĩa cộng sản - mà thực chất là kiếm chác tiền của, tài nguyên cho một nhóm người mang danh Cộng sản - Ở đó, cuộc "cách mạng quan hệ sản xuất" thực chất là một cuộc trấn cướp vĩ đại.

Điển hình là cuộc Cải cách ruộng đất được tiến hành những năm 50 của thế kỷ trước mà nỗi kinh hoàng còn đến tận hôm nay và di họa thì còn đến mãi mai sau. Trong biến cố đó, tất cả tư liệu sản xuất của những người nông dân ưu tú, có kinh nghiệm làm ăn và làm giàu đa bị cướp đoạt và phá hoại. Thậm chí những người đã nuôi nấng Cộng sản đã bị đưa ra giết thịt để làm lễ tế trong cái gọi là "cách mạng về quan hệ sản xuất" theo lý thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lenin và Chủ nghĩa Quốc tế vô sản.

Thế rồi, việc đưa quân vào miền Nam Việt Nam để tiến hành cái gọi là "giải phóng miền Nam" - cuộc chiến giữa hai ý thức hệ Cộng sản và tư bản chủ nghĩa. Hậu quả là hàng triệu người đã chết, đất nước nằm trọn dưới sự cai trị của những người Cộng sản. Hậu quả là một đất nước từng được chính Hồ Chí Minh ca ngợi là "Ở vào xứ nóng, khí hậu tốt. Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu. Nhân dân dũng cảm và cần kiệm"... đến ngày hôm nay lãnh thổ nằm dưới gót giày quân xâm lược, tài nguyên, khoáng sản đã khai thách triệt để, bán đổ, bán tháo, bán sạch cho nước ngoài, công dân đua nhau đi làm thuê, làm nô lệ, chấp nhận cho bọn "chó săn đế quốc" - theo định nghĩa của đảng CSVN"- bóc lột sức lao động. Đó cũng là hành động "cướp". Họ đã cướp đi quyền được tự quyết, được tự lựa chọn con đường ấm no, độc lập và hạnh phúc cho đất nước của những người dân Việt Nam.

Thế rồi, cũng chính khi những người cộng sản vứt bỏ không thương tiếc chiếc áo vô sản để tập trung tư liệu, nguồn lực sản xuất vào tay đảng phái mình, thì tất cả những miếng mồi, những lời nói, chính sách từ lý luận đến thực tiễn đã bị vứt bỏ. Họ sáng tác ra mớ lý luận về "đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh" hoặc "Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lenin" để gom tất cả những tài sản đất đai, tài nguyên của đất nước vào tay mình. Để thực hiện những điều đó, không có cách nào hơn, họ lại sử dụng động tác "Cướp".

Không chỉ là đất đai, tài nguyên của người dân, đã bị đảng thẳng tay cướp đoạt bằng các Quyết định, chính sách, dự án... Tất cả, sự thua thiệt, bị cướp đoạt chính là người dân mà quyền con người của họ cũng đã bị Đảng ngang nhiên tự xưng vĩ đại, sáng suốt, giành quyền lãnh đạo... để cướp đoạt không thương tiếc.

Không chỉ là những người nông dân, những nhà tư sản, mà tất cả các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo đều bị cướp nặng nề. Các cơ sở tôn giáo, thờ tự bị cướp để chia chác, để bán hoặc ít nhất là phá hoại, quyền tự do có niềm tin, tín ngưỡng bị cướp trắng trợn bởi chủ nghĩa vô thần được làm nền tảng xã hội. Dù ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của họ năm 1946 và trên môi miệng những kẻ truyên truyền thì "Nhà nước luôn đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân và nơi thờ tự được luật pháp bảo hộ". Chính nhà nước cộng sản dùng đúng định nghĩa: Lấy cái quý giá của người khác bằng vũ lực hoặc thủ đoạn. Hoặc: Tranh lấy, giành lấy một cách trắng trợn ỷ vào một thế hơn nào đó" - từ tay tôn giáo vào tay mình. Thực chất, không thể nói gì hơn, đó là hành động cướp.

Cướp trở thành "văn hóa"(!)

Hiện tượng "Cướp" đã diễn ra trên mọi mặt, trong mọi giai đoạn, mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp xã hội. Nó cứ diễn đi, diễn lại ngang nhiên, được thực hiện trên thực tế, được hỗ trợ bởi lý thuyết, chủ nghĩa vô sản bạo lực, được thực hiện bởi đội quân "Còn đảng, còn mình"... thì dần dần đã trở nên bình thường trong xã hội.

Và khi mọi việc trở nên bình thường trong xã hội thì nó thành nếp nghĩ, nếp sống, thành nếp sinh hoạt trong đời sống cộng đồng.

Từ chỗ cha ông ta chỉ dạy "Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan" cho đến lúc xã hội hỗn loạn. Còn nhớ, trước phiên tòa xử một thanh niên chặt tay cô gái để cướp xe ga, người nhà gào thét chửi bới cô gái rằng: Ai bảo mày mang vàng bạc và đi xe ga đẹp làm chi cho nó chặt". Xã hội đã đến lúc buộc phải sống chung với... cướp.

Không chỉ là kẻ cướp của, giết người man rợ như Lê Văn Luyện đã không còn lạ lùng ghê tởm với xã hội, mà những tiếng hò reo, cổ vũ tên tội đồ này của lớp trẻ, đã trở thành một hiện tượng riêng có ở thời Cộng sản.

Bởi, ngay cấp độ nhà nước, công quyền, người ta không chỉ cướp đất đai, quyền lực, chính quyền, mà ngày nay còn sản sinh ra những trò đốn mạt như cướp "vòng hoa tang", cướp phá những lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ chống xâm lăng... dưới sự tổ chức và bảo kê của công an, nhà nước.

Thế rồi, nó trở thành nét "văn hóa" của người Việt dưới thời Cộng sản tự lúc nào không hay.

Thời xa xưa, cha ông ta đã nói đến những hành động "cướp" với những sự khinh bỉ và ghê tởm, ngày nay, người Cộng sản coi là "văn hóa".

Ngày xưa, cha ông ta sống dưới chế độ phong kiến thối nát và lạc hậu, cả cộng đồng họp lại, bàn bạc thống nhất cách chống cướp. Thời Cộng sản, cướp trở nên phổ biến đến mức không có cách nào chống đỡ, bởi thuộc chính sách, luật pháp cộng sản đặt ra.

Và đất nước bốn ngàn năm, có lẽ chưa bao giờ chứng kiến hàng đoàn, hàng lũ, từng làng, từng xã, khắp cả nước người dân biến thành dân oan đi khiếu kiện trùng trùng điệp điệp hết năm này qua năm khác, hết đời cha sang đời con.

Đó chính là hậu quả của chính sách "cướp có văn hóa".

Và không chỉ là cướp có văn hóa, mà còn là cướp có chính sách, luật pháp và nhà nước hẳn hoi.
J.B Nguyễn Hữu Vinh 
(Nguồn: Trang RFA)

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...