Showing posts with label A-6b Lịchsử. Show all posts
Showing posts with label A-6b Lịchsử. Show all posts

02 April 2022

Năm 1933 Staline Tàn Sát 7 Triệu Người Ukraine

Trọng Đạt

Mùa đông năm 1932-33, Ukraine, quốc gia nhỏ bé phía tây nước Nga đã trải qua một nạn đói khủng khiếp khiến cho bẩy triệu người chết thê thảm,  đây là cuộc đại tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhân loại do Staline ra tay trừng trị nước chư hầu này vì đã dám đòi độc lập và chống lại Sô viết. Mặc dù con số người bị giết khổng lồ như thế nhưng trang sử ghê tởm nhất của Sô Viết đã không được nhân loại biết tới trong suốt 70 năm. Người ta khen Staline đã khéo dấu kín tội ác tầy trời này trước mắt cả thế giới, cho tới nay cuộc diệt chủng này cũng ít được biết tới, nó còn được gọi là The forgotten Holocaust, có thể người ta tưởng nó chỉ là chuyện nội bộ của Liên bang Sô Viết.

Dưới thời Lenine.

Ukraine diện tích bằng nước Pháp, một đất nước có nhiều ruộng nương mầu mỡ đã bị Nga hoàng cai trị 200 năm. Năm 1917 Nga Hoàng sụp đổ trước cuộc cách mạng vô sản do Lénine lãnh đạo, Ukraine lợi dụng thời cơ đòi tự trị, tuyên  bố độc lập, thành lập nước Cộng hòa nhân dân, thủ đô Kiev . Thế nhưng nền tự trị này quá ngắn ngủi, cuối 1917 Lénine tuyên bố các lãnh thổ xưa do Nga hoàng cai trị nhất là Ukraine mầu mỡ đều phải nằm trong Liên bang Sô Viết. Trong 4 năm liên tiếp Quân đôi Quốc gia Ukraine phải chiến đấu chống Hồng quân Bolshevik, chống lực lượng Bạch Vệ trung thành với Nga Hoàng và cả quân xâm lược Đức và Ba Lan .
 
Staline và Lenine năm 1919

 Năm 1921 Sô Viết thắng, Tây Ukraine chia cho Ba Lan, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc. Sô Viết vơ vét thóc gạo về cứu đói Moscow và các thành phố lớn bên Nga. Kế đó tự nhiên Ukraine lại bị một trận hạn hán gây nạïn đói khiến người dân căm phẫn Lénine và Sô Viết. Lénine bèn nới tay để xoa dịu nhân dân Ukraine , thôi lấy thóc gạo, khuyến khích tự do buôn bán. Nhân đó người dân Ukraine muốn tự do, độc lập, khôi phục văn hóa nghệ thuật, phong tục cũ.


Cuộc chiến kỳ lạ

Lénine mất năm 1924, Staline kế vị, nhà lãnh đạo này được coi là một trong vài tên đợc tài khát máu nhất của thế kỷ.  Bộ Lenine Tuyển Tập có  ghi  lại một bức thư của Lénine, ông ta đã nhắn nhủ “chúng ta không nên dùng đồng chí Staline, đồng chí Staline là một người thô bạo” 

Staline không chấp nhận phong trào đòi độc lập của Ukraine , ra lệnh đàn áp thẳng tay y như đường lối áp dụng tại Nga. Năm 1929 Staline cho bắt giam 5,000 trí thức, các nhà khoa học gia Ukraine,  kết tội phản loạn đem xử bắn hoặc đầy đi Tây Bá Lợi Á. Đầu thập niên 30, Staline thực hiện kế họach hợp tác xã nông nghiệp để tiến lên làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa trong đó tư sản bị lọai bỏ. Ngày nay đường lối canh tác tập thể này được coi như tồi tệ nhất nhưng hồi đó Sô Viết ép dân theo vì lý thuyết Marx bắt phải như vậy. Giới phú nông Ukraine mà họ gọi là Kulaks chỉ chiếm từ  4% tới 5% dân số, phú nông được định nghĩa có từ 24 hoặc trên 24 mẫu đất và có thuê người làm và được coi thành phần nguy hiểm.
 
Trẻ em đào khoai
trong nông trường tập thể.

Ngày 1-5-1930 Đảng Cộng Sản Nga bắt đầu thực hiện Hợp tác xã nông nghiệp, một phần của Kế họach ngũ niên , nông dân Nga ít chống đối vì họ đã có truyền thống canh tác cộng đồng từ lâu, đất đai thuộc về làng xã  không thuộc về cá nhân như tại Ukraine nên họ dễ thích hợp với Hợp tác xã của Cộng Sản. Ngày 30-7-1930 nhà nước hủy bỏ làng xã. Vùng Ukraine trái lại người dân làm ăn cá thể, 80% dân chúng tại thôn quê có ruộng đất riêng từ xưa nên họ chống đối Hợp tác xã ra mặt, Moscow mới đầu tạm thời  nhượng bộ. Người Ukraine giết gia súc, ngựa, heo, cừu …dần dần trước khi gia nhập hợp tác xã khi ấy nhà nước ra lệnh tử hình ai giết gia súc. Những người chống đối Hợp tác xã bị lưu đầy, chính quyền Sô viết mở tuyên truyền kêu gọi nhân dân Ukraine ủng hộ chính quyền cách mạng nhưng thất bại, mặc dù dọa nạt khủng bố nhưng nông dân Ukraine vẫn chống đối, phá hoại, đốt nhà không đầu hàng, họ lấy lại nông cụ, gia súc mà Hợp tác xã đã chiếm trước đây, ám sát các viên chức Sô Viết.

Trung ương đảng Nga đưa mật vụ quân đội sang đàn áp cuộc nổi dậy nhưng kháng chiến quân Ukraine vẫn tiếp tục chống đối, họ muốn làm ăn cá thể như xưa. Nông dân Ukraine thách đố Staline.

Việc chống gia nhập Hợp tác xã chỉ là một nguyên do, Ukraine còn chống đối về mặt chính trị, họ muốn đòi độc lập, tự do. Staline trước hết cho thanh toán hành quyết hàng nghìn trí thức Ukraine , nhà văn nhà báo, nhà lãnh đạo. Âm mưu đòi độc lập cho Ukraine không phải chỉ ở làng xã mà mà ngay cả ở Trung ương đảng Cộng Sản Ukraine . Sô Viết cho thanh trừng dữ dội, nhiều người tự tử, nhiều nhà văn, đảng viên cũng tự tử.

Cuộc chống đối của Ukraine với Sô Viết y như trứng chọi đá, cuộc chiến giữa người nông dân với cuốc xẻng và Hồng quân, mật vụ Nga vũ trang súng ống tối tân. Làng mạc bị bao vây, tấn công bằng đại bác xe tăng, máy bay ném bom bắn phá khiến một Đại tá công an Nga sô phát khóc nói với một ký giả, ông cho biết mình đã chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân chống Bạch Vệ thời nội chiến bây giờ được lệnh bao vây tấn công những người dân vô tội.

Hatayevich, một đảng viên cao cấp Sô viết cho biết cuộc chiến đấu ác liệt giữa Sô Viết và nông dân Ukraine đang diễn ra, một cuộc chiến sinh tử, năm 1933 là thử thách giữa sức mạnh của Đảng CS Nga và sự chịu đựng của nông dân, họ sẽ nếm mùi đói để xem ai làm chủ nơi đây. Cuộc chiến 1932-33 một cuộc chiến kỳ lạ nhất lịch sử, sau đó Staline thay đổi chiến lược.

Thảm kịch mùa đông 1932-1933.

09 April 2020

Việt Nam Tự Do: Phép lạ hiện đại

Trung tướng John W. O'Daniel
Trần Quốc Việt dịch

Tháng Ba 1959

Vào ngày 3 tháng Sáu, 1958, trong cuộc viếng thăm 30 ngày miền Nam Việt Nam Tự Do, tôi đi đến thị xã Bạc Liêu cách Sài Gòn 160 cây số về hướng đông nam. Cùng với các viên chức viện trợ người Mỹ và người Việt, tôi chứng kiến cuộc chuyển giao khoảng 240.000 mẫu Anh đất từ những đại điền chủ sang những tá điền, khởi đầu chương trình cải cách điền địa. Chính phủ Việt Nam mua đất của những đại điền chủ rồi bán lại mỗi lô khoảng bảy mẫu Anh cho những nông dân nhỏ.

Viện trợ Mỹ đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho chương trình có ảnh hướng lớn lao này trở thành hiện thực. Người Việt nghiên cứu kế hoạch cải cách điền địa cùng với các chuyên viên của chúng ta và sự ủng hộ tài chánh của chúng ta.

Chương trình này cuối cùng sẽ tạo ra sinh kế đủ sống cho ba triệu người Việt dựa trên tư hữu ruộng đất, và cho họ hưởng lợi ích thật sự trong tương lai và trong nền độc lập của quốc gia họ.

Đây chỉ là một phần của phép lạ hiện đại đang diễn ra ở Đông Nam Á, tại Việt Nam Cộng Hòa, tiền đồn của Thế giới Tự do trên tuyến đầu của cuộc đấu tranh toàn thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc cộng sản.

Quốc gia can trường này, ngay lúc giành độc lập vào 1954 sau cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, đã phải đối mặt với có lẽ là những trở ngại đáng sợ nhất mà một quốc gia mới độc lập từng đương đầu. Những trở ngại này là những vật cản đường cực kỳ lớn mà người Việt Tự do phải vượt qua để vẫn tồn tại:

1. Sự tàn phá của cuộc chiến tranh tám năm giữa thực dân Pháp và Việt Minh do cộng sản lãnh đạo.

2. Chế độ thực dân và trước kia chế độ phong kiến Phương Đông truyền thống đã áp đặt tình trạng cô lập bắt buộc với những lợi ích của khoa học và kỹ thuật hiện đại.

3. Khu vực cộng sản ở miền Bắc công khai đe dọa xâm lăng, kết hợp với tất cả những kỹ thuật lật đổ và phá hoại mà đặc trưng cho mối đe dọa cộng sản từ bên trong đối với bất kỳ quốc gia mới nào.

4. Dòng người gần một triệu người Việt tỵ nạn ở miền Bắc chạy trốn vào Việt Nam Tự do sau Hội nghị Geneva vào 1954. Với dân số 11 triệu người ở miền Nam, điều này giống như Hoa Kỳ nhận vào cả toàn bộ dân số Canada trong vòng chưa đầy một năm.

5. Cuộc phiến loạn vũ trang của các giáo phái chính trị được thiết lập dưới chế độ thực dân Pháp và lực lượng quân đội của họ đã gia nhập cuộc đấu tranh chống cộng sản nhưng về sau, qua giấc mơ của đế quốc, đã tiến hành cuộc nội chiến chống lại chính quyền mới.

6. Mối đe dọa kinh tế suy sụp do hậu quả chiến tranh; thiếu kỹ nghệ (hầu như tất cả các nhà máy và hầm mỏ của Việt Nam đều ở miền Bắc cộng sản); thiếu nghiêm trọng các nhà chuyên môn, nhà quản lý và thương gia; và sự rút vốn nhanh chóng của người Pháp.

7. Tinh thần chủ bại hiện diện khắp nơi trong Thế giới Tự Do: hầu như tất cả các "chuyên gia" đều tiên đoán sự diệt vong mau chóng của Chính phủ Việt Nam Tự Do, mà vào lúc đầu, chỉ có thể trông chờ vào sự ủng hộ nhỏ nhoi của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên Việt Nam Tự Do vẫn tồn tại và thịnh vượng. Vì sao phép lạ này đã có thể xảy ra? Là người đã quan sát trực tiếp và kỹ càng trong thời gian khai sinh và phát triển của Việt Nam Tự Do, tôi biết rõ ràng những nhân tố đã chứng tỏ là những nhân tố quyết định.

Những nhân tố này là:

1. Lòng can đảm, sức mạnh và sức sống của nhân dân Việt Nam. Vì họ đã chịu đựng bao hậu quả tai hại của chính sách khủng bố của cộng sản và bất công của thực dân, nên tình yêu tự do mãnh liệt của họ sống mãi và đấy ý nghĩa. Họ đã hy sinh rất nhiều mới giành được tự do; họ sẵn sàng cứu tự do khỏi ách chuyên chế của Mạc Tư Khoa hay Bắc Kinh.

2. Quan trọng nhất đối với sự sinh tồn của Việt Nam Tự Do là sự lãnh đạo khôn khéo, quả quyết và nhìn xa trông rộng của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Thật là vô cùng may mắn cho Việt Nam và cho toàn thể Thế giới Tự do là trong thời khắc nguy cấp nhất Việt Nam Tự do đã sản sinh ra một nhà lãnh đạo rất năng động. Tổng thống Ngô Đình Diệm từ lâu đã nổi tiếng trong dân chúng là người quên mình vì tự do. Ngay từ năm 1932 ông đã từ bỏ chức vụ cao trong chính quyền vì nhà cầm quyền thực dân từ chối cho phép ông đưa ra những cải cách rất cần thiết cho nhân dân ông. Ông cũng đã cự tuyệt một cách khinh bỉ những lời đề nghị của quân đội chiếm đóng Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế chiến. Nhưng ông cũng nổi tiếng không kém là cương quyết chống lại cộng sản mà đã giam cầm ông và giết anh ông. Tuy nhiên Tổng thống Ngô Đình Diệm và nhân dân Việt Nam Tự do tự mình không thể nào tồn tại nếu không có sự ủng hộ mạnh mẽ và hào phóng của Chính phủ Hoa Kỳ và nhân dân Mỹ.

Khi Ngô Đình Diệm về Việt Nam vào năm 1954, nước ông gần như là vô chính phủ. Mặc dù ông là người yêu nước liêm khiết rất nổi tiếng, nhưng nhân vật lãnh đạo cộng sản đầy mờ ám, Hồ Chí Minh, đang hiện ra to lớn hơn nhiều trên chính trường Việt Nam.

Hơn nữa, Ngô Đình Diệm không phải là người có sức lôi cuốn lớn đối với đám đông. Do bản tính và ý thích, ông không bao giờ có thể dùng công cụ của những kẻ mị dân. Cho đến ngày nay, những bài diễn văn của ông có vẻ thuyết trình hơn là diễn thuyết. Ngô Đình Diệm nghiêm khắc dạy nhân dân ông hãy làm việc cần cù hơn và nhắc cho họ nhớ về thực tại ở đây-và-bây giờ, chứ không phải về viễn cảnh tươi đẹp của thiên đường không tưởng.

Hơn bất kỳ người nào khác mà tôi đã từng gặp, Tổng thống Ngô Đình Diệm biết nhân dân ông và quốc gia ông. Hầu như trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình, ông đã đi khắp nơi từ thung lũng rất nhỏ đến núi cao và cao nguyên mênh mông. Ông thậm chí trò chuyện với bộ tộc miền núi bán khai bằng tiếng của họ.

Trong chuyến thăm viếng Việt Nam gần đây nhất của tôi, một người Mỹ kể cho tôi nghe chuyện một kỹ sư Mỹ trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm xem xét đồ án tổng quát cho hệ thống dẫn thủy nhập điền tại một vùng hẻo lánh của Việt Nam. Các chuyên gia có tài năng đã mất nhiều tháng trời để thực hiện các địa đồ này. Tổng thống nhìn chăm chú các địa đồ, ngẫm nghĩ một lát, rồi chỉ vào bàn đồ, nói: "Ông sẽ phải chuyển hồ chứa nước từ thung lũng này đến thung lũng đó vì chưa từng bao giờ có mưa ở thung lũng đầu tiên."

"Nhưng, thưa Tổng thống " viên kỹ sư nói, "xây hồ chứa nước ở thung lũng đầu tiên sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc, mà cũng chỉ cách nơi Tổng thống gợi ý có vài cây số. Làm sao Tổng thống có thể biết chỗ ấy không có mưa?"

"Tôi đã đến đấy," Tổng thống nói và trong mắt ông hơi ánh lên vẻ thích thú. "Còn ông đến chưa?"

"Chưa," viên kỹ sư đáp. "Các địa đồ của chúng tôi được vẽ từ các bản đồ không ảnh."

"Vậy bây giờ hãy đi đến đấy," Tổng thống nói xong liền quay trở lại làm việc.

Và người bạn Mỹ bảo tôi, "Ông biết không, Tổng thống hoàn toàn đúng. Khi kỹ sư ta đến đấy ông ấy mới phát hiện ra rằng thung lũng ấy đã không có mưa trong nhiều đời."

Nói không ngoa rằng đây là một con người phi thường. Và phải cần người phi thường để đối phó với những thử thách đặt ra trong năm độc lập đầu tiên của Việt Nam.

Ngô Đình Diệm đã đấu tranh một cách can đảm ngoan cường chống lại các giáo phái đánh thuê lần lượt từng giáo phái một và đến đầu năm 1956 quyền lực của họ bị đập tan. Nơi nào cần ngoại giao và mưu chước thì Ngô Đình Diệm dùng đến những cách thức này. Nhưng khi chọn lựa duy nhất là lực lượng vũ trang, ông không ngần ngại thử thách lòng tin của ông vào quân đội quốc gia mới của Việt Nam bằng cách dàn trận đánh nhau với quân đội của các giáo phái.

Sau những thắng lợi quan trọng đầu tiên của Ngô Đình Diệm chống lại các giáo phái, Hoa Kỳ đồng ý viện trợ cho ông trực tiếp thay vì thông qua Pháp. Vào tháng Hai, 1955, Nhóm Cố vấn Trợ giúp Quân sự Hoa Kỳ, mà tôi vinh hạnh chỉ huy, bắt đầu giúp đào tạo Quân đội Việt Nam. Đến cuối năm ấy viện trợ Mỹ ủng hộ Việt Nam Tự do trên phạm vi lớn, chủ yếu để xây dựng quân đội hùng mạnh và tái định cư người tỵ nạn.

Vào thánh Sáu năm này, 1958, tôi thấy những tân binh luyện tập thiện xạ. Họ tài giỏi không thua kém bất kỳ ai tôi từng thấy ở bất kỳ đâu. Việt Nam hiện nay có mười sư đoàn bộ binh được huấn luyện kỹ, hầu hết họ đều đã qua thử thách chiến đấu.

Nhưng Ngô Đình Diệm không dừng lại ở đấy. Để chứng tỏ sự tận tâm của ông với độc lập và tự do, Ngô Đình Diệm kêu gọi trưng cầu dân ý toàn quốc vào ngày 23 tháng Mười. 1955 để chọn Quốc Trưởng. Trong cuộc bầu cử tự do phổ thông lần đầu tiên ở Việt Nam, Ngô Đình Diệm đánh bại Hoàng đế Bảo Đại với số phiếu hơn 98 phần trăm. Ba ngày sau ông tuyên bố Việt Nam là nước cộng hòa và trở thành vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam.

Vào tháng Ba, 1956, cuộc tổng tuyển cử được tổ chức để chọn các dân biểu cho Quốc Hội để thảo ra hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, mà được công bố vào tháng Mười sau đấy. Hiên pháp này chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hiến pháp Hoa Kỳ.

"Hạn chót" Geneva nổi tiếng sẽ diễn ra vào tháng Bảy,1956. Hai năm trước, ở cuộc đàm phán Geneva, bất chấp sự phản đối đáng lưu tâm của phái đoàn Việt Nam Tự Do và Hoa Kỳ, những người tham dự hội nghị đã đề nghị hai miền Nam Bắc Việt Nam đàm phán về một hiệp định thống nhất hai miền qua cuộc tổng tuyển cử. Họ đề nghị bầu cử diễn ra vào tháng Bảy, 1956. Với sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, người Việt Tự do từ chối tham gia cho đến khi nào có thể thực hiện bầu cử thật sự tự do ở miền Bắc mà có dân số lớn hơn miền Nam.

Khi Tổng thống Ngô Đình Diệm củng cố sức mạnh, ông càng ngày càng được dân chúng mến mộ. Đến 1956, cộng sản với mối đe dọa quân sự của một quân đội lớn gấp mấy lần lực lượng 150.000 người của Việt Nam Tự Do bắt đầu tấn công Việt Nam Tự Do trên mặt trận ngoại giao bằng những cuộc đả kích nặng nề Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhưng dần dần Thế giới Tự Do chuyển sang ủng hộ Tổng thống Ngô Đình Diệm, và công nhận ông. Ngay cả Ấn Độ và Miến Điện trung lập cũng bắt đầu quan hệ thân hữu với Việt Nam Tự Do.

Rồi cộng sản phát động cuộc tấn công lớn về kinh tế kết hợp với những chiến dịch tuyên truyền và khủng bố tàn bạo. Số vốn khổng lồ của Nga và Trung Cộng đã đổ vào Bắc Việt (nhiều ước tính là lên tới hai tỷ đô la) để biến miền Bắc thành "tủ kính trưng bày chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á." Cùng với chiến dịch đàn áp và bây giờ tập thể hóa, họ đang xây dựng khu kỹ nghệ liên hợp ở Bắc Việt mà tất yếu khiến hầu hết mọi người Châu Á khâm phục.

Ngược lại, Tổng thống Ngô Đình Diệm và người Việt Tự do đã đặt cược chính quyền họ vào sáng kiến cá nhân. Chính tự do kinh doanh được hiến pháp Việt Nam bảo đảm. Vào tháng Ba,1957 Tổng thống đã làm một việc chưa từng có trong lịch sử cho Châu Á khi tuyên bố chính sách mới nhằm khuyến khích cả kinh doanh cá nhân và tư bản ngoại quốc ở Việt Nam Cộng Hòa. Trong vòng một năm rất nhiều kế hoạch đầu tư ngoại quốc cá nhân đã được Chính phủ chấp thuận với vốn từ Nhật, Pháp, Trung Hoa Dân Quốc, Hoa Kỳ và nguồn vốn từ cá ngân và chính phủ Việt Nam.

Như chính Tổng thống Ngô Đình Diệm là người đầu tiên thừa nhận, phương pháp này tự nhiên chậm hơn những phương pháp của cộng sản dựa trên vũ lực và kiểm soát nhà nước. Nhưng đấy là sự chọn lựa có ý thức và khó khăn có lợi cho tự do hơn nhưng thiệt thòi, ít ra trong thương lai gần, cho sản xuất lớn. Nhưng Việt Nam Tự Do đang trong cuộc đua với địch thủ cộng sản cho nên họ không thể nào bị bỏ rơi quá xa ở phía sau. Hơn nữa Bắc Việt lại được ưu đãi hơn rất nhiều với quặng mỏ và nguyên liệu mà kỹ nghệ hóa có thể dựa vào. Miền Nam chủ yếu là nông nghiệp nhưng được may mắn là có nhiều ruộng đất và mưa cho nên đói kém không phải là vấn đề quan trọng.

Những tiến bộ Việt Nam Tự Do đã đạt được trong hai năm qua thật là phi thường. Hầu hết tất cả mọi người tỵ nạn từ miền Bắc đều có công việc sản xuất ổn định, hầu hết ở những vùng đất mới khai hoang ở miền trung. Viện trợ Mỹ đã góp phần đạt được điều này trong vòng chưa đầy hai năm.

Một lần nữa cũng với sự giúp đỡ của viện trợ Mỹ, hàng chục ngàn người Việt khác từ những vùng quá đông đúc đang được tái định cư ở Cao nguyên dọc theo biên giới Cao Miên. Tổng thống Ngô Đình Diệm, lại không nghe theo lời khuyên của các cố vấn thân cận, nhấn mạnh rằng công việc tái định cư này là một nhiệm vụ phi thường. Điều này tựa như thể toàn bộ phong trào khai khẩn của Mỹ đến định cư ở những vùng miền Tây của chúng ta đã bị rút xuống chỉ còn trong hai hay ba năm. Xe ủi đất và máy kéo do ICA cung cấp đang san bằng những khu vực rừng rậm rậm rạp và, ngay khi đất vừa vỡ hoang xong thì máy bay liền chở các gia đình đến. Khoảng 40.000 người đã được tái định cư trong những khu vực này trong năm đầu tiên. Hy vọng đến cuối năm thứ hai sẽ có 50.000 người khác đến.

Những nỗ lực cải cách điền địa đang được ủng hộ bởi những đề án của chính quyền nhằm cải thiện những phương pháp làm nông nghiệp, chăn nuôi và ngư nghiệp; bởi sự du nhập những phương tiện tiếp thị và tín dụng; bởi các chương trình về y tế, xóa mù chữ, và các dịch vụ xã hội khác. Hoàn cảnh của nhân dân Việt Nam với hơn 80 phần trăm sống bằng nghề nông, đang thăng tiến ngoạn mục về mọi phương diện-mà chính mắt tôi đã nhìn thấy "trước và sau".

Vì nhiều lý do khác nhau sự phát triển trong lĩnh vực kỹ nghệ lại không nhanh chóng bằng. Trước tiên, bản thân người Việt hầu như không có vốn và kỹ năng quản lý cần thiết cho những công ty thương mại như thế. Họ cũng không có truyền thống đầu tư lâu dài. Thứ hai, có thể hiểu là họ do dự về sự đầu tư của Pháp, nguồn vốn khả thi nhất. Tuy nhiên sự đột phá đã diễn ra vào mùa đông qua.

Thứ ba, Chính phủ chúng ta đã không có điều khoản về giúp đỡ đầu tư lâu dài và đòi hỏi tất cả các công ty kỹ nghệ phải là tư nhân, cho dù không có nguồn vốn nào khác có sẵn. Rồi Quốc hội cũng đặt ra nhiều hạn chế về chương trình viện trợ đến nỗi những người ở thực địa thiếu sự linh hoạt để hoạt động nhanh hơn thường lệ. Những điều luật của Quốc hội thường yêu cầu những thủ tục và tiêu chuẩn mà không thực tế đối với quốc gia mới xuất hiện như Việt Nam Tự Do. Và những quan tâm thuần túy về kinh tế thắng thế.

Cuối cùng, tư bản tư nhân Mỹ đã không thật sự vội vàng đổ xô đến Việt Nam với túi tiền căng phồng. Dù sao, người Việt Nam vẫn hy vọng thu hút tư bản từ Hoa Kỳ, và họ coi công dân Mỹ là bạn hữu chứ không phải là kẻ bóc lột. Thật vậy, vào tháng Mười Một vừa qua, người Việt đã ký một loạt hiệp ước với Hoa Kỳ để bảo đảm tất cả đầu tư của tư nhân Mỹ không bị sung công và quốc hữu hóa, rủi ro chiến tranh và phong tỏa tiền tệ.

Một nguy cơ nghiêm trọng đối với sự phát triển vũng vàng ở Việt Nam là sự gia tăng khủng bố và cướp bóc gần đây ở những khu vực ngoại ô. Rõ ràng cộng sản đứng đằng sau những biến cố này và các gián điệp cộng sản từ Bắc Việt, Lào và Cao Miên đang xâm nhập qua biên giới để cung cấp tiền bạc và vũ khí cho những nhóm cướp và một vài người bất đồng chính kiến. Cộng sản thậm chí xúc tiến một chiến dịch nhằm tái nhóm các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo trên cơ sở quân sự thuần túy. Việc cộng sản đã từ bỏ những phương thức thuần túy chính trị để chọn khủng bố và phá hoại chứng tỏ rõ ràng sự thành công và ổn định của chế độ Ngô Đình Diệm.

Một vài các quan sát viên ngoại quốc (nhiều người có mục đích giấu kín) đã chỉ trích chính quyền Ngô Đình Diệm là không tiến bộ đủ nhanh trong lĩnh vực các quyền tự do dân sự. Sự chỉ trích này chứng tỏ một sự ngây thơ về chính trị đáng kinh ngạc khi ta nhận thức rằng Việt Nam hầu như không có truyền thống về các thể chế dân chủ và rằng cách đây bốn năm chẳng một ai tiên đoán quốc gia này sẽ còn tồn tại. Và như Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ ra, " Chúng ta đang trong tình trạng chiến tranh. Cộng sản đã thề tiêu diệt chúng ta và chúng đang tập trung trên biên giới chúng ta. " Tạm thời, Tổng thống Ngô Đình Diệm không thể nào đánh liều với những người bất đồng chính kiến những người mà chứng tỏ rằng quyền lợi duy nhất của họ là quyền lực cá nhân và ai trả giá cao nhất thì có thể mua được lòng trung thành của họ.

Nhưng trên hết, trong cuộc đấu tranh toàn lực chống lại mối đe dọa cộng sản này, chúng ta nợ bản thân, con cháu và nhân loại cho nên chúng ta phải chiến đấu cho đến khi thắng trận. Việt Nam Tự Do, bất chấp bao khó khăn tưởng chừng như không thể nào vượt qua được, đang làm tròn vai trò của mình là một đồng minh khí phách và là thành trì của Thế giới Tự Do ở Đông Nam Á.
_____________
Cựu Trung tướng quân đội Mỹ John W. O'Daniel là Chủ tịch hội American Friends of Vietnam. Ông từng là Tùy viên Quân sự ở Mạc Tư Khoa (1948-50); Chỉ huy Quân đoàn Một ở Triều Tiên; Chỉ huy Quân đội Thái Bình Dương (1952-54); và Chỉ huy Nhóm Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ ở Việt Nam (1954-55). Ông góp phần quan trọng xây dựng nên Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
_________________
Nguồn: Dịch từ tạp chí Mỹ The American Mercury số tháng Ba 1959.

07 January 2020

Nhân dân không còn cam phận

Ngô Đình Diệm
Trần Quốc Việt dịch
Lời người dịch: Nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm sang thăm Hoa Kỳ vào ngày 7 tháng 5, 1957. Ông được tiếp đón trọng thể và đầy đủ danh dự dành cho bậc thượng khách của chính phủ Hoa Kỳ. Thành công của Tổng thống Ngô Đình Diệm trong công cuộc xây dựng nước Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ, đặc biệt trong việc tái định cư thành công hơn 800 ngàn người tỵ nạn từ miền Bắc, đều được các báo uy tín hàng đầu của Mỹ coi là "phép lạ". Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower đã đích thân ra đón ông tại phi trường, và vợ chồng Tổng thống Eisenhower đã dự tiệc chiêu đãi được tổ chức tại tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington.
Trong thời gian thăm viếng Hoa Kỳ, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã có vinh dự phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ. Bài diễn văn của ông "tuy ngắn nhưng đầy xúc động" đã nhận được nhiều tràng pháo tay hoan hô của các vị dân biểu Mỹ.
Bài diễn văn đã được đăng toàn văn trên tờ báo New York Times vào ngày hôm sau. Toàn bộ tựa đề và các tiêu đề là của tờ báo này. Những phần trong ngoặc là từ biên bản của Quốc hội Hoa Kỳ. Và người dịch chân thành cảm ơn Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ đã gởi cho biên bản về bài diễn văn của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
**
Thật là một vinh dự hiếm có cho tôi khi hôm nay có cơ hội phát biểu với quý vị. Phát biểu với quý vị trong tòa nhà Quốc hội này, nơi đã hun đúc nên số phận của một trong những quốc gia lớn trên thế giới.

Tôi tự hào mang đến quý vị dân biểu lỗi lạc của nước Cộng hòa Hoa Kỳ cao quý những lời chúc huynh đệ tốt đẹp nhất từ nhân dân Việt Nam. Tôi cũng mang đến đây sự bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam về sự giúp đỡ tinh thần và vật chất của nhân dân Hoa Kỳ. Nhân dân chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng rất lớn lẫn ý nghĩa sâu sắc của sự trợ giúp này.

Kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh vừa qua, khi Châu Á phá tung xiềng xích, lương tâm của thế giới cuối cùng đã bừng tỉnh trước sự phát triển sâu sắc và tất yếu- sự ra đời của Châu Á độc lập. Từ đấy, nhận thức này đã đưa đến sự lên án bằng những lời lẽ cụ thể nhất chế độ bóc lột cũ mà, trong quá khứ, đã chi phối quan hệ giữa Đông và Tây.

Hiện nay thay thế vào đấy là những nỗ lực bền bỉ nhằm xác lập phương thức hợp tác quốc tế mới, thích hợp hơn với những nhu cầu thực sự của thế giới và với triết lý mới của Châu Á.

Chính cuộc chiến đấu giành độc lập, chính ý thức càng ngày càng sâu sắc của các dân tộc thuộc địa rằng nguồn gốc của sự nghèo khổ của họ là sự cản trở một cách có hệ thống sự phát triễn kỹ thuật, cùng với tinh thần dân tộc và xã hội ngày càng cao, tất cả đã kết hợp lại để tạo ra sự thay đổi toàn diện sâu sắc trong tâm trạng Châu Á và tất cả điều này đã cho dân chúng Châu Á sự năng động không thể nào cưỡng lại được.

Nhân dân không còn cam phận

Nhân dân Châu Á - vốn đã tủi nhục từ lâu trong nguyện vọng dân tộc của mình, nhân phẩm của họ đã bị tổn thương - giờ đây không còn cam phận và thụ động như trong quá khứ. Hiện giờ họ háo hức bồn chồn. Họ khao khát giảm bớt sự lạc hậu quá lớn về kỹ thuật. Họ đòi hỏi mạnh mẽ sự phát triễn kinh tế cấp bách và nhanh chóng, nền tảng tốt đẹp duy nhất cho sự độc lập chính trị dân chủ.

Các nhà lãnh đạo Châu Á - dù ý thức hệ của họ là gì chăng nữa- tất cả đều đối mặt với sự cấp bách bi kịch của những vấn đề xã hội và kinh tế. Dưới áp lực mạnh mẽ của nhân dân mình, họ buộc lòng chấp nhận kế hoạch kinh tế. Kế hoạch như thế nhất định gây ra những hậu quả chính trị nghiêm trọng.

Chính vì lý do này chủ đề chính của các cuộc tranh luận chính trị trong nước ở các quốc gia Châu Á đều tập trung vào mức độ kế hoạch cần thiết, phương pháp cần phải có để tạo ra những kết quả thực tế cấp bách.

Phải chăng mọi thứ nên được kế hoạch? Hay sự kế hoạch chỉ nên giới hạn vào các khu vực thiết yếu? Phải chăng nên chấp nhận những phương pháp dân chủ hay những phương pháp toàn trị tàn bạo?

Chính trong cuộc tranh luận này-ở tại nhiều nước không may bị ảnh hưởng bởi những lời hứa hẹn giả dối nhưng quyến rũ của chủ nghĩa Phát xít và chủ nghĩa cộng sản-những nỗ lực đang nhằm gìn giữ nền dân chủ tự do qua viện trợ từ các nước công nghiệp Tây phương đóng vai trò rất quan trọng. Vì danh dự của con người, Hoa Kỳ đã đóng góp quan trọng nhất vào mục đích này.

Kính thưa quý vị trong Quốc hội, qua những điểm chính và khái quát chung, những điều này là những vấn đề các nước Châu Á đang đối mặt. Những điều này là những mục tiêu phải đạt được và là những phương cách phải được đề xuất. Những điều này cũng là những áp lực và cám dỗ trong nước mà các nhà lãnh đạo Châu Á đối mặt.

Khu vực nhạy cảm

Ở lục địa Châu Á rộng lớn, Việt Nam nhận thức mình ở khu vực nhạy cảm nhất. Mặc dù Việt Nam đối mặt với những vấn đề chung của các nước Châu Á khác, nhưng do vị trí địa lý chính trị nhạy cảm của mình những vấn đề của Việt Nam nghiêm trọng hơn rất nhiều.

Nằm ở một trong những điểm tiếp cận chiến lược những nguyên liệu quan trọng của Đông Nam Á-sở hữu những nguyên liệu này mang tính chất rất quyết định- bị cản trở phát triễn bởi một trăm năm đô hộ nước ngoài, bị cạn kiệt bởi mười lăm năm chiến tranh và tàn phá, nửa miền bắc của lãnh thổ Việt Nam lại rơi vào tay Cộng sản, Việt Nam tự do hiện ở trong hoàn cảnh bị đe dọa và nghiêm trọng hơn các nước Châu Á khác.

Bằng sự hy sinh to lớn của con người và nhờ vào viện trợ từ nhân dân Mỹ hào phóng, trong thời gian kỷ lục, Việt Nam tự do đã khắc phục thành công những hỗn loạn do chiến tranh và hiệp định Geneva tạo ra. Sự kiến thiết và ổn định quốc gia mà đã đạt được ấy đã giúp hội nhập hơn 860.000 người tỵ nạn vào nền kinh tế của 11 triệu người khác ở Việt Nam tự do và đã giúp thông qua những cải cách chính trị và kinh tế quan trọng.

Tuy nhiên, vào lúc tất cả Châu Á đang chuyển từ nền văn minh này sang nền văn minh khác, vào thời điểm khi tất cả các vấn đề quan trọng đều nảy sinh cùng một lúc đối với các nhà lãnh đạo và đều dường như đòi hỏi giải quyết cấp bách, vào lúc khi tất cả đều phải được thực hiện trong bầu không khí căng thẳng cách mạng ngày càng cao, hơn các quốc gia khác, Việt Nam càng thấy cần thiết phải thông qua một số nguyên tắc, đường lối chỉ đạo hành động nào đấy, không chỉ để bảo vệ mình khỏi những cám dỗ toàn trị mà còn, trước hết, để giúp cho mình đạt được độc lập thay vì hỗn loạn, để bảo vệ hòa bình mà không hy sinh độc lập, để đạt được tiến bộ kinh tế mà không hy sinh các quyền tự do của con người.

Trích dẫn học thuyết năm 1956

Chính vì những lý do này - dựa vào các cội nguồn văn hóa Châu Á, và trong truyền thống dân chủ Việt Nam của chúng tôi - tôi đã có danh dự định rõ học thuyết này trong thông điệp đọc trước Quốc hội Lập hiến vào ngày 17 tháng 4 năm 1956. Tôi xin mạn phép trích dẫn từ thông điệp ấy những đoạn ý nghĩa nhất, vì chúng tạo thành nền tảng của hiến pháp chúng tôi.

Tôi trích:

"Trong hoàn cảnh những lực lượng trấn áp vật chất và chính trị quá mạnh thường xuyên đe dọa chúng ta, chúng ta cảm thấy, hơn các dân tộc khác, nhu cầu rất quan trọng đặt cuộc sống chính trị của chúng ta trên một nền tảng vững chắc và thúc đẩy một cách rất chính xác những bước kế tiếp trong hành động của mình theo những đường lối mà sẽ chắc chắn tạo ra mức độ tiến bộ dân chủ lớn nhất.

(Vỗ tay.)

"Điều này chỉ có thể là duy linh, đường lối ấy con người theo đuổi trong hiện thực mật thiết của họ cũng như trong cuộc sống cộng đồng của họ, trong nghề nghiệp của họ cũng như trong sự theo đuổi tự do sự hoàn thiện trí tuệ, đạo đức, và tinh thần.

"Vì thế, chúng ta khẳng định niềm tin của mình vào giá trị tuyệt đối của con người-nhân phẩm của họ có trước xã hội và số phận của họ lớn hơn thời gian.

(Vỗ tay.)

"Chúng ta khẳng định mục đích chính đáng duy nhất của nhà nước là bảo vệ quyền tồn tại, quyền phát triễn tự do cuộc sống trí tuệ, đạo đức và tinh thần căn bản của con người.

"Chúng ta khẳng định dân chủ không phải là hạnh phúc vật chất cũng không phải là quyền lực tối cao của thành viên. Dân chủ về cơ bản là một nỗ lực trường tồn nhằm tìm ra những phương tiện chính trị đúng để đảm bảo cho tất cả mọi công dân quyền phát triển tự do và quyền sáng kiến, trách nhiệm, và cuộc sống tinh thần cao nhất."

(Vỗ tay.)

Chủ đề phát triển

Chúng tôi tin chắc rằng với những nguyên tắc chỉ đạo này như là chủ đề trọng tâm cho sự phát triển các thể chế chính trị của mình, Việt Nam sẽ có thể tạo ra chế độ chính trị và kinh tế mà không phải là một hệ thống đóng kín nhưng là hệ thống mở, càng ngày càng mở rộng cho đến khi nào hệ thống đạt đến các phương diện tự do của con người.

Việt Nam Cộng Hòa, nền cộng hòa non trẻ nhất ở Châu Á, chẳng bao lâu nữa sẽ tròn hai tuổi. Nền cộng hòa của chúng tôi sinh ra từ trong vô vàn đau khổ. Nền cộng hòa ấy đang can đảm đương đầu với cuộc cạnh tranh kinh tế với những người cộng sản, cho dù hoàn cảnh khó khăn và nghiêm trọng, mà mỗi ngày lại càng trở nên phức tạp hơn.

Việt Nam, tuy nhiên, có lý do chính đáng để tin tưởng và hy vọng. Nhân dân Việt Nam thông minh, tháo vát và can đảm. Họ cũng có thêm được sức mạnh nhờ sự giúp đỡ vật chất và tinh thần họ nhận được từ thế giới tự do, đặc biệt sự giúp đỡ từ nhân dân Mỹ.

Trong hoàn cảnh căng thẳng quốc tế và áp lực cộng sản ở Đông Nam Á ngày càng gia tăng tôi không thể nào lập lại biết bao nhiêu lần cho đủ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam trước sự giúp đỡ của Mỹ và nhân dân Việt Nam ý thức rất cao về tầm quan trọng, ý nghĩa sâu sắc, và số lượng của sự giúp đỡ này.

Quả thực, chưa bao giờ lúc nào trong lịch sử những cuộc xung đột phát sinh giữa các dân tộc lại quan hệ cấp bách như thế đến nền văn minh như những cuộc xung đột ngày nay.

Sự đóng góp kịp thời của Hoa Kỳ

Chính qua những đóng góp kịp thời và đầy đủ cho sự kiến thiết cuộc sống kinh tế và kỹ thuật của chúng tôi-nhờ đấy tạo ra mức sống cao hơn-thế giới tự do, dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, đang khẳng định sự thành công của hệ thống hợp tác quốc tế mới.

Hành động này đã góp phần bảo vệ Đông Nam Á và ngăn cản những nguyên liệu trong vùng này không rơi vào tay Cộng sản.

Mặc dù nền kinh tế chúng tôi bị thiệt hại nặng nề do chiến tranh, tàn phá, và chủ nghĩa thực dân, nhưng bây giờ nhân dân Việt Nam đang tăng gia đóng góp vào quốc gia mình. Cách đây vài tháng Quốc hội Lập hiến đã bỏ phiếu thông qua nhiều thuế mới và cao hơn nhằm mang lại thu nhập cần thiết cho ngân sách quốc gia. Mới đây sắc lịnh quân dịch quốc gia đã được ban hành và cách đây hai tháng chúng tôi đã đưa ra bản tuyên bố toàn diện về chính sách nhằm mục đích khích lệ đầu tư tư nhân từ nước ngoài.

Chính trên bình diện đạo đức cao cả này chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ rộng rãi và quên mình mà chúng tôi đã nhận được từ nhân dân Hoa Kỳ. Chính trên cũng bình diện này quyền lợi của Việt Nam hoàn toàn giống với quyền lợi của nhân dân thế giới tự do.

(Vỗ tay.)

Chính trên bình diện này cuộc chiến đấu của các bạn và cuộc chiến đấu của chúng tôi đều chỉ là một và giống nhau. Chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản.

(Vỗ tay.)

Chính trong niềm xác tín này và chính trong sự ghi nhớ sâu sắc và không bao giờ phai nhạt trong lòng về việc nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ đã theo dõi những nỗ lực của chúng tôi với tất cả sự thấu hiểu cảm thông chí tình tôi xin kết thúc, và lần nữa tôi cảm ơn Tổng thống, Chủ tịch Hạ Viện và quý vị trong Quốc hội về vinh dự đã dành cho tôi và cảm ơn quý vị đã ân cần lắng nghe.

(Mọi người đứng lên vỗ tay.)

Nguồn:

1. New York Times ngày 10 tháng 5, 1957. Tựa đề của New York Times
2. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ- HeinOnline -103 Congressional Record 6699 1957 & 103 Congressional Record 6700 1957

(Via Dan Luan)

05 August 2015

Mối Tình Maneli

"Thế nhưng mười năm sau, nước Mỹ lại áp dụng y chang kế sách của ông Nhu, ..."


I. “Mối tình Maneli” nghĩa là gì?

Mối liên hệ giao thiệp thương thảo bí mật của em trai cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là ông Ngô Đình Nhu với Cộng Sản Hà Nội nhằm thúc đẩy hai miền Nam- Bắc của Việt Nam né tránh một cuộc xung đột ý thức hệ ngu xuẩn chỉ có lợi cho Trung Quốc được giới tình báo Hoa Kỳ tặng cho một cái tên là “Mối tình Maneli” ( “Maneli affair”)

Trong cuộc thuơng thảo này, Việt Nam Cộng Hòa đồng ý viện trợ kinh tế bao gồm lúa gạo, sản phẩm gia dụng và y tế cho Cộng Sản Hà Nội nếu Cộng Sản Hà Nội đồng ý tuyên bố đứng trung lập, không gia nhập khối Xã Hội Chủ Nghĩa và cùng với Việt Nam Cộng Hòa tham gia liên minh “Các Nước Không Liên Kết” của Ấn Độ. Việt Nam Cộng Hòa cam kết thuơng mại trao đổi với Cộng Sản Bắc Việt và sẽ cố gắng giúp Hà Nội thoát khỏi tình trạng đói kém do đang bị cô lập với thế giới bên ngoài và phải sống bằng viện trợ chu cấp mọi thứ bởi Bắc Kinh để đến nổi buộc lòng phải đi theo đường lối Đấu Tố của Mao Trạch Đông khiến hai trăm ngàn oan mạng bị giết chỉ trong vài năm.

Cộng Sản Hà Nội lưỡng lự trước nước cờ táo bạo này của ông Ngô Đình Nhu vì biết rõ những cam kết mà Việt Nam Cộng Hòa đưa ra rất thật lòng dựa trên sự ổn định phát triển kinh tế của miền Nam Việt Nam trong suốt gần chín năm sau hiệp nghị Geneve 1954.

Khi tình báo Hoa Kỳ liên tục gởi tín hiệu cho Washington biết về “mối tình Maneli” động trời này của hai anh em ông Diệm, Tổng Thống Kennedy vô cùng tức giận vì ông cho rằng, đây là một sự “phản bội tàn nhẫn.” Tòa Bạch Ốc từ đó quyết tâm loại bỏ hai anh em ông Diệm ra khỏi quyền lực bằng mọi giá.

Thế nhưng mười năm sau, nước Mỹ lại áp dụng y chang kế sách của ông Nhu, Henry Kissinger thất hứa với chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, đi đêm với Chu Ân Lai làm cho Việt Nam mất quần đảo Hoàng Sa và thất thủ hoàn toàn sau đó; dẫn đến cả triệu thuờng dân Campuchia bị Cộng Sản sát hại, trên hai triệu người Việt bị tan nhà nát cửa và tù tội để có được một hòa bình trong nhục nhã. Đây mới đúng là một sự “phản bội tàn nhẫn” như Tổng Thống Kennedy đã từng thốt lên trước đó.

II. Tại sao lại gọi là “mối tình Maneli”?

Maneli là họ của ông Mieczysław Maneli, một người Ba Lan được cho là sanh vào ngày 22 tháng Giêng năm 1922 tại Miechów và mất vào vào ngày 9 tháng Tư năm 1994 tại New York, Hoa Kỳ. Ông là đại diện cho Ba Lan trong Hội Đồng Giám Sát Hiệp Nghị Geneve 1954 về Việt Nam, có tên tiếng Anh là “the International Commission for Supervision and Control in Vietnam,” gọi tắt là ICC hay ICSC. Hội đồng này gồm ba quốc gia, một thuộc thế giới tự do là Canada, một thuộc khối Cộng Sản là Ba Lan và một thuộc khối Không Liên Kết là Ấn Độ.

Chính phủ Cộng Sản tại Ba Lan hoàn toàn không có chủ định can thiệp sâu rộng vào nội tình chính trị của Việt Nam lúc bấy giờ nhưng vì Hà Nội cần Ba Lan làm cầu nối ngoại giao độc lập khỏi sự kềm tỏa của Trung Quốc để tìm hiểu thêm ý định chiến lược của hai anh em ông Diệm. Cho nên, Maneli chỉ ráng đóng vai trong của một sứ giả, truyền đạt những thông điệp cần thiết từ Hà Nội, từ Moscow đến với hai anh em ông Diệm-Nhu và ngược lại. Tuy nhiên, vòng xóay chính trị giữa Moscow- Hà Nội- Sài Gòn- Ấn Độ – Hoa Kỳ khiến ông Maneli ngày càng bị lôi cuốn sâu vào nội tình Việt Nam.

Hoa Kỳ theo dõi chặt chẽ các chuyến đi ngoại giao của Maneli tới Hà Nội Sài Gòn để biết hiểu rõ thêm ý đồ chiến lược của hai anh em Diệm Nhu. Từ đó , cái tên “mối tình Maneli” (“Maneli Affair”) được hình thành.

Kết cục của “mối tình Maneli” là Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Nhu điều bị giết sau vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Người bật đèn xanh cho cuộc đảo chánh dẫn đến cái chết của Tổng Thống Diệm là Tổng Thống Hoa Kỳ, John F. Kennedy, sau đó cũng bị ám sát bí hiểm không đối chứng trong cùng một tháng cùng năm. Tại Hà Nội, phe Lê Duẫn cũng lên thay thế quyền hành của Hồ, của Đồng và Tổng Bí Thư Đảng Liên Xô, Khrushchev, người ủng hộ lập trường Việt Nam trung lập của ông Diệm cũng bị truất phế bởi phe đầu đá Brezhnev ngay vào năm 1964.

Riêng Mieczysław Maneli, ông xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ vào thập niên 1980 và sống tại xứ sở này cho tới ngày ông mất.

III. Nội tình của bên trong “mối tình Maneli”

Không cách gì có thể trình bày hết được chi tiết và cũng không thể nào tóm gọn các chi tiết bên trong của “mối tình Maneli” chỉ qua một bài viết ngắn ngủi vì mỗi chi tiết điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng liên quan đến lịch sử bị đát của Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia coi trọng tình tự dân tộc lên trên mọi chủ nghĩa, mọi tôn giáo, dẫn đưa đến tính mạng của gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, kể cả tính mạng của Tổng Thống Kennedy, cũng như liên quan đến kế hoạch “phế mã tranh tiên” của Hoa Kỳ làm toàn bộ khối Cộng Sản bị sa lầy trong chiến thắng quân sự mà rồi bị kiệt quệ và chia rẽ dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn tại Âu châu.

Tuy nhiên, một điều quan trọng nhất tạo sửng sốt cho mọi nhân vật có liên quan và khiến không ai có thể ngờ tới được nếu biết rõ tình tiết của “mối tình Maneli” là đích thân Tổng Thống Ngô Đình Diệm cam kết sẽ trục xuất Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam ngay lập tức nếu Cộng Sản Bắc Việt chịu bãi binh và cùng đồng ý nắm tay với ông tham gia khối các nước Không Liên Kết do Ấn Độ chủ xướng.

Thái độ dứt khoát né tránh chiến tranh ý thức hệ tạo bởi hai siêu cường Liên Xô- Hoa Kỳ có Trung Quốc tham dự của Tổng thống Diệm làm sửng sốt không những Hà Nội mà ngay đến cả Moscow cũng bàng hoàng.

Moscow toan tính rằng việc trung lập hóa Việt Nam sẽ rất hay vì cùng một lúc xóa bỏ ảnh huởng vô cùng sâu rộng của Cộng Sản Trung Quốc lên Hà Nội và hất Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn mà không cần súng đạn. Việt Nam từ đó sẽ theo liên minh Ấn Độ vốn có đường lối ngoại giao cởi mở đối với Liên Xô. Từ đó, Liên Xô có thể gián tiếp ảnh huởng lên Việt Nam thông qua Ấn Độ; dù sao, Ấn Đô vẫn đáng tin cậy hơn là Cộng Sản Trung Quốc, theo cách nhìn của Khrushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô lúc bấy giờ.

Riêng về Cộng Sản Hà Nội, mở cửa qua lại kinh tế với Việt Nam Cộng Hòa là một điều không thể được vì cả miền Bắc vẫn còn đang rún sợ Đấu Tố và sẳn sàng ồ ạt bỏ Hồ Chí Minh nếu có thông thương với miền Nam Việt Nam. Cho nên, Cộng sản Hà Nội muốn kéo dài nổ lực trung lập Việt Nam của hai anh em ông Diệm để Hoa Kỳ có thì giờ loại bỏ ông Diệm ra khỏi quyền lực dù biết rằng Moscow ủng hộ đề nghị này. Hơn nữa, Cộng Sản Hà Nội trong đó có cả Hồ Chí Minh không đủ can đảm để qua mặt Bắc Kinh như ông Diệm cương quyết qua mặt Hoa Kỳ. Đối với ông Diệm, quốc gia vẫn là trên hết nhưng đối với Cộng Sản Hà Nội thì chủ nghĩa Mác Lê, thế giới đại đồng quan trọng hơn tương lai quốc gia.

IV. Hệ lụy của “mối tình Maneli”

Sau khi “mối tình Maneli” tan vỡ, dân tộc Việt Nam đã phải đổ máu cho chiến thắng tất yếu của chủ nghĩa cuồng Cộng Sản, của thiên đường mù Xã Hội Chủ Nghĩa. Kết thúc cuộc chiến tranh ý thức hệ phi lý vô nghĩa gây ra bởi Cộng Sản Bắc Việt, dân tộc Việt Nam chẳng còn gì ngoài câu nói đau thuơng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu : ” ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CỘNG SẢN NÓI MÀ HÃY NHÌN NHỮNG GÌ CỘNG SẢN LÀM !”

Thông qua “mối tình Maneli”, các sử gia sẽ thấy ngay được tấm lòng yêu nước của hai anh em ông Diêm. Đối với hai ông, “quốc gia là trên hết!” Hai ông đã cố ráng tìm đủ mọi cách để cho đất nước có hòa bình dân chủ và độc lập bất chấp hy sinh tính mạng. Việt Nam sau này sẽ lại quay về với con đường Việt Nam Cộng Hòa mà hai ông đã khởi xướng và nhìn lại hình ảnh của hai ông như là điểm tựa của một niềm tin, đó là tình thần quốc gia Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chết!

Tú Hoa
(Nguồn: Đàn Chim Việt)

Phụ chú:

Xin trình bày ba điện tín bí mật của Maneli gởi về cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Ba Lan (Spasowski) dịch ra bằng Anh ngữ như là một bằng chứng trong muôn ngàn bằng chứng hiện có về sự liên hệ của ông Ngô Đình Nhu trong “mối tình Maneli” khi qua mặt Hoa Kỳ thuơng thuyết với khối Cộng Sản cho hòa bình tại Việt Nam

03 August 2015

Kiểm Kê Thực Tế Để Lượng Định Tội Ác Của Cộng Sản

Nguyễn Cao Quyền

Lịch sử là một khoa học về sự bất hạnh của con người. Nhận xét này rất chính xác. Cho nên, không ai có thể phủ nhận là sự tàn bạo đối với con người trong thế kỷ 20 đã vượt xa những thế kỷ trước.

Chủ nghĩa cộng sản đã chiếm một địa vị nổi bật trong khung cảnh lịch sử đầy những thảm họa đó. Nhưng có một điều lạ là cho đến nay những tội ác của cộng sản vẫn chưa được lượng định một cách công bằng từ cả quan điểm lịch sử lẫn quan điểm đạo đức.

So sánh với chế độ Đức Quốc Xã đã giết hại khoảng 25 triệu người thì các chế độ cộng sản đã tàn ác và nguy hiểm hơn nhiều vì đã giết hai đến 100 triệu người.

Điều ngạc nhiên là mặc dầu vậy, hệ thống chính quyền cộng sản, mãi cho đến ngày nay, vẫn duy trì được tính chất hợp pháp trên trường quốc tế và vẫn còn tiếp tục nắm quyền cai trị ở một số quốc gia. Phải chăng điều này đã vượt quá tầm hiểu biết bình thường của nhân loại hay người ta đang né tránh một sự thật nào đó cần phải dấu. Những đoạn viết sau đây hy vọng sẽ mang lại được một chút ánh sáng nào đó trong việc trả lời câu hỏi nói trên. Xin mời qúy độc giả đọc tiếp.

Kiểm kê thực tế về chủ nghía Marx

Chủ nghĩa Marx có hai mũi nhọn tấn công chiến lược : chuyên chính vô sản và nhà nước tự tiêu vong. Theo lập luận của Marx thì chyên chính vô sản (CCVS) có mục đích chấn áp giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Như vậy, sự tồn tại của CCVS liên quan đến hai điều kiện : kẻ thù giai cấp và nhà nước tự tiêu vong.

Về điều kiện thứ nhất, khái niệm kẻ thù giai cấp là một khái niệm hết sức mơ hồ. Sau này cà Lenin và Stalin đều gặp khó khăn, không thể giải quyết, khi phải đối mặt với tính phức tạp cũa khái niệm này.

Theo sự dụ dỗ của Marx thì CCVS chỉ có tính cách tạm thời. Nhưng tạm thời lả bao lâu và làm thế nào để tránh sự lạm dụng của những kẻ nhân danh giai cấp vô sàn kéo dài quá mức cần thiết của CCVS. Kinh nghiệm này, rất nhiều dân tộc đã phải trả giá đắt trong đó có Việt Nam.

Theo thói thường, kẻ cầm quyền không bao giờ thiết tha với việc mở rộng dân chủ vì sợ mất địa vị và đặc quyền đặc lợi của mình. Đó là lý do giải thích tại sao ở các nước áp dụng CCVS, dân chủ đều vắng mặt.

Về điều kiện thứ hai, nếu sự thực chế độ tư hữu phát sinh ra “nhà nước” thì có thễ đồng ý rằng sự tiêu diệt chế độ tư hữu tất yếu sẽ dẫn đến sự tiêu vong của “nhà nước”. Thế nhưng, nếu “nhà nước” có một nguồn gốc độc lập không liên quan gì đến lãnh vực kinh tế thì việc xóa bỏ tư hữu để tập trung toàn bộ phương tiện và tư liệu sản xuất vào trong tay “nhà nước”, sẽ không làm cho “nhà nước” tiêu vong, mà ngược lại, sẽ làm cho “nhà nước” ngày càng bành trướng hơn. Kinh nghiệm này, ngày nay, nhiều dân tộc đã trải qua, và sự tiêu vong của “nhà nước” thật ra chỉ là một thủ đoạn lừa bịp.

Khôi phục bản chất của “nhà nước” tức là dân chủ hóa. Đòi hỏi phải xóa bỏ tính giai cấp của “nhà nước” là để “nhà nước” trở thành “nhà nước” của toàn dân. Đây là điểm cốt yếu trong đấu tranh dân chủ. Tin vào tính thánh thiện của giai cấp vô sản khi chúng nắm chính quyền thì chỉ có thể là sự ngây thơ của con nít.

Kiểm kê thực tế về chủ nghĩa Marx-Lenin và chiến thuật tạo phản

23 June 2015

Bàn về hai chữ: Giác ngộ (gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)

Bùi Tín

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là "sao mà ngu lâu thế !", nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm "cuộc kỷ niệm" độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài ) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người - gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

18 June 2015

Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

10 June 2015

Phải Phá Vỡ Những Ngụy Biện Về Hồ Chí Minh

Phạm Khánh Chương
Theo Trí Nhân Media

Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm "cuộc cách mạng Đông Dương... bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang", phát động cuộc "trường kỳ kháng chiến" kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

Tất cả lý luận để bênh vực Hồ Chí Minh chỉ là hình thức đánh lừa vị giác, hay nói cách khác, là tự đánh lừa mình. Biết là sai nhưng vẫn tự đánh lừa mình thì là ngu, nhưng dùng nó để đánh lừa cả người khác là bất lương, là tội ác.

Những kẻ biện hộ cho Hồ Chí Minh lý luận rằng ông ta ảnh hưởng tư tưởng Khổng Giáo nhiều hơn tư tưởng CS, rằng những việc làm của ông ta lúc trước là do biện pháp tình thế, ngoài ý muốn, do người khác làm, rằng nhận xết về Hồ Chí Minh phải khách quan về hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, v,v.... Tất cả những lý luận biện hộ đó đều là ngụy biện.

Hồ Chí Minh xuất thân bần nông, có khuynh hướng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề hơn dùng trí óc để tìm giải pháp. Chính vì thế, năm 1920, khi ông ta đọc được "Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa" của Lenin, ông ta hoàn toàn bị CS mê hoặc vì CS chủ trương đấu tranh bạo lực để giải phóng con người, giải phóng XH.

Nếu Cụ Phan Chu Trinh chủ trương nâng cao dân trí, hội nhập thế giới văn minh, rồi từ đó đấu tranh giành độc lập mà không cần dùng bạo lực hay cầu viện ngoại bang thì Hồ Chí Minh đã chọn con đường hoàn toàn trái ngược. Và ông ta đã đi theo, và chỉ theo con đường trái ngược đó cho tới khi chết.

Tuy bị mê hoặc bởi chủ nghĩa CS và đi theo CS, Hồ Chí Minh khi ấy cũng không hiểu rõ CS. Chính vì không hiểu CS là gì nên tại Hội Nghị Quốc Tế Nông Dân năm 1923, Hồ Chí Minh chỉ nêu ra vấn đề thuộc địa (thực chất là nêu ra vấn đề đàn áp nông dân tại thuộc địa) mà không quan tâm (hay không biết đến) những vấn đề khác của phong trào CS trên thế giới lúc bấy giờ như phong trào công nhân, phong trào đấu tranh ở thành thị, v.v... Điều này làm Stalin không hài lòng, gây khốn khổ cho Hồ Chí Minh đến mãi sau này, cho tới khi ông ta hiểu biết hơn về CS và "sửa sai tư tưởng" bằng phong trào Cải Cách Ruộng Đất tại VN.

Sự mơ hồ về chủ nghĩa CS của Hồ Chí Minh còn kéo dài cho tới khi Trần Phú về triệu tập Hội Nghị Trung Ương tháng 10-1930, đổi tên đảng CSVN thành đảng CS Đông Dương, nhấn mạnh phải lấy "giai cấp chống giai cấp" làm trọng tâm cho mọi đường lối đấu tranh chính trị của đảng.

09 May 2015

Quan hệ Việt – Trung: Thực tế bẽ bàng hơn nhiều

Đôi giòng:

Nguyễn Gia Kiểng là một trong những lý thuyết gia chủ lực của Tập hợp Dân chủ Đa nguyên.  Ông là tác giả của nhiều bài viết (và cả sách) với nhiều ý tưởng phong phú (có khi rất ‘lạ’ với những bạn đọc ưa tìm hiểu về lịch sử, chính trị, và xã hội VN; ông không hề thiếu kẻ yêu, người ghét!) đã từng gây tranh cãi rất nóng giữa nhiều bạn đọc. Dù dị ứng hay không với lối viết, cách nhìn trong sách cũng như những bài viết trước đây của ông, thiết nghĩ bài viết này cho thấy thêm một số khiá cạnh không hề đơn giản của quan hệ Việt – Trung, dưới mắt nhìn sắc cạnh của một người vẫn còn đam mê với những hoạt động chính trị, ở độ tuổi ngày xưa hiếm người đạt tới, mà ngày nay không hẳn nhiều người đã qua khỏi. (SĐ)


Quan hệ Việt – Trung: Thực tế bẽ bàng hơn nhiều

Nguyễn Gia Kiểng

Diễn tiến quan hệ Việt Trung

“…Nếu ở Việt Nam có một người không được quyền lên án bất cứ ai là tay sai Trung Quốc thì người đó chính là Lê Đức Anh…”

Giờ này, khi mà nhiều người nghĩ và tin rằng Việt Nam chỉ còn một chọn lựa là ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc và nhanh chóng tiến đến thế đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ và các nước dân chủ, chúng ta cần nhận định lại quan hệ Việt – Trung một cách chính xác hơn. Lý do là vì sự thực còn phũ phàng hơn nhiều người nghĩ. Và nếu quá khứ có khả năng tiết lộ những gì có thể sẽ tới thì chúng ta phải rất cảnh giác nếu không muốn hụt hẫng một lần nữa.

Cho tới nay, theo cái nhìn của nhiều người, Trung Quốc, sau khi thất bại trong chiến tranh biên giới 1979,  đã cố lôi kéo Việt Nam vào quỹ đạo của họ và đã thành công; Đại Hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã là một bước đổi mới đầy hy vọng không may bị khựng lại và đảo ngược; Nguyễn Văn Linh là con người của một cách canh tân dang dở; trong nội bộ ĐCSVN đã có đấu tranh giữa hai phe canh tân thân phương Tây và bảo thủ thân Trung Quốc và sau cùng phe bảo thủ đã thắng v.v. Nhưng sự thực rất khác.

Cái nhìn này không giải thích được một cách thuyết phục tại sao ĐCSVN đã có thể đổi hẳn chính sách đối với Trung Quốc từ thế tử thù sang thế chư hầu ngoan ngoãn mà không gây ra một chấn động lớn, bằng cớ là cho đến nay ít người có thể nói một cách quả quyết ĐCSVN đã quyết định thay đổi thái độ đối với Trung Quốc vào lúc nào, hay tại sao mặc dù Việt Nam hết sức chiều lòng Trung Quốc mà Trung Quốc lại cứ tiếp tục hạ nhục và chèn ép Việt Nam. Lý do là vì nó vẫn nằm trong một logic bình thường theo đó mọi chính quyền trước hết mưu tìm quyền lợi cho đất nước mình, họ có lầm lẫn hay không là chuyện khác. Logic này không đúng trong trường hợp của quan hệ Việt – Trung  như chúng ta sẽ thấy.

Nhìn lại quan hệ Việt – Trung đòi hỏi một phân tích thấu đáo những gì đã xảy ra, điều này không dễ vì sự đảo ngược quan hệ Việt Trung đã diễn ra một cách bí mật trong nội bộ của nhóm cầm quyền cao nhất trong đảng cộng sản, nghĩa là bộ chính trị (BCT) và ban bí thư (BBT), ngay cả tuyệt đại bộ phận đảng viên cao cấp cũng không biết. Hơn nữa nó lại chủ yếu được quyết định qua những thảo luận miệng trong tập đoàn lãnh đạo mà các biên bản hoặc không có hoặc vẫn còn được giữ kín. Trong hoàn cảnh đó ta chỉ có thể dựa vào hồi ký của những người trong cuộc cuối đời hoặc có những tâm sự muốn nói ra hoặc có những ân oán giang hồ muốn thanh toán.

Tập Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ là một tài liệu quí. Ít ai có điều kiện để theo dõi biến chuyển trong quan hệ Việt – Trung bằng ông. Ông chủ trì nhóm CP87 một nhóm nghiên cứu chiến lược đối ngoại của đảng vào giai đoạn chuyển hướng này. Ông cũng là thứ trưởng đặc trách vấn đề Campuchia, vấn đề gai góc nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc vào lúc đó. Ông đại diện Việt Nam đàm phán với đại diện Trung Quốc Từ Đôn Tín vào tháng 6-1990, cuộc đàm phán gay go cuối cùng trước khi chính quyền cộng sản Việt Nam thực sự đầu hàng, đúng ra là được Trung Quốc cho phép hàng phục. Quan trọng hơn, Trần Quang Cơ là một trong những người hiếm hoi có kiến thức về thế giới và bang giao quốc tế, một khả năng mà không ai trong số những lãnh tụ cộng sản cao nhất có. Tuy vậy ông Cơ chỉ là một người thừa hành ngoan ngoãn. Nếu đôi khi ông có những tâm sự u uất thì đó cũng chỉ là những trăn trở của một tôi trung. Trần Quang Cơ không có cái nhìn của người lấy quyết định, do đó ông quan tâm trước hết đến những gì thuộc phần nhiệm của mình. Vì vậy trong hồi ký này các sự kiện không được chọn lựa và sắp xếp theo tầm quan trọng đối với chính sách đối ngoại mà theo tầm quan trọng của chúng đối với cá nhân ông. Ông kể khá chi tiết những thảo luận về giải pháp Campuchia và những cuộc phỏng vấn của ông với các báo dù chúng chỉ có một giá trị rất tương đối nếu ta muốn tìm hiểu động cơ và não trạng của những người quyết định chính sách của Việt Nam vào lúc đó. Những điều Trần Quang Cơ kể lại vì vậy cần được hội nhập vào dòng thời sự của cả một giai đọan dài mới có giá trị giải thích và soi sáng.

Trước hết hãy nhìn lại một cách tổng quát quan hệ Việt -Trung.

23 April 2015

Ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn

Nguyễn Thị Ngọc Hải

Tuần báo Newsweek đã miêu tả về ngày 29-4 của Phạm Xuân Ẩn - người được đánh giá là “nhân vật của Thế kỷ XX” một “Điệp viên hoàn hảo”, một “Người Việt trầm lặng” sau này mới rõ dần chân dung ông. Còn ngày 29-4 ấy trong một biến động được miêu tả là “cuộc tháo chạy tán loạn”, là ”Sài Gòn sụp đổ “, thì ông Ẩn đã làm gì?

Tờ Newsweek viết về việc Phạm Xuân Ẩn đã cứu trùm cảnh sát mật vụ của chế độ Sài Gòn, bác sỹ Trần Kim Tuyến, đi được chuyến bay cuối cùng di tản khỏi Sài Gòn như thế nào? “Tuyến sẽ bị giết chết nếu ông ta còn ở lại”, Newsweek viết.

Khi ông Tuyến cuống cuồng gọi điện cho Sứ quán Mỹ tìm sự giúp đỡ của CIA thì được trả lời là tất cả đã đi hết. Quá hoảng sợ lo cho tính mạng, ông quay lại tìm người bạn thân Phạm Xuân Ẩn, một phóng viên báo Time nhiều quyền lực và có mối quan hệ rộng vào bậc nhất Sài Gòn.. Ông Ẩn vội đưa Tuyến lên chiếc xe của mình tới Tòa Đại sứ Mỹ kiếm tìm cơ hội cuối cùng nào có được.

21 April 2015

Phản biện bài viết về 30 tháng Tư trên BBC của Võ Văn Ái, tham khảo

Lữ Giang

Trong bài “Ba mươi Tháng Tư và Phật giáo VN” phổ biến trên BBC ngày 19.4.2015, ông Võ Văn Ái cho rằng từ 1975 đến nay, Phật Giáo là tổ chức đấu tranh rất kiên cường với Cộng Sản. Sở dĩ Phật Giáo bị đàn áp "Chỉ vì lập trường của Giáo hội không chấp nhận làm công cụ cho bất cứ một thế lực chính trị nào, và Giáo hội chỉ yêu cầu để Phật giáo được sinh hoạt độc lập trong khuôn khổ tôn giáo và pháp luật” (trích lời Hòa Thượng Huyền Quang). Ông dọa Đảng CSVN: “Người xưa nói, chở thuyền là nước, lật thuyền cũng là nước. Nước là nhân dân” (tức Phật Giáo).

Những luận điệu này hoàn toàn sai với lịch sử. Trong bài “Bằng chứng tự thú” phổ biến trên các diễn đàn và websites ngày 9.3.2010, khi trả lời Thông Tư số 07/VHĐ/VT ngày 7.1.2010 của Hòa Thượng Quảng Độ cho rằng Phật Giáo đang bị vu khống, chúng tôi đã đưa đầy đủ các tài liệu dẫn chứng rằng trong tiến trình lịch sử chiến tranh Việt Nam, Phật Giáo đấu tranh không những chỉ thân cộng mà còn yểm trợ CSVN một cách tích cực, bị cả Mỹ lẫn CSVN biến thành công cụ, xài xong rồi bỏ. Giáo Hội Ấn Quang đã bị bể tan thành nhiều mãnh. Từ đó đến nay, Hòa Thượng Quảng Độ không hề đưa ra một lời cải chính nào.

Chúng tôi đã thưa với Thưa Hoà Thượng rằng chẳng cần gì phải đi tìm các tài liệu trong hồ sơ giải mật của Hoa Kỳ để xác định GHPGVNTN và hàng giáo phẩm GHPGVNTN có dính líu đến Cộng Sản hay không. Chỉ cần đọc các tài liệu do chính các sử gia Phật Giáo công bố như bộ “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”“Hoa Sen Trong Biển Lửa” của Thiền Sư Nhât Hạnh, cuốn “Bảo Trước Cổng Chùa” của Hoà Thượng Mãn Giác, Bạch Thư của Hoà Thượng Thích Tâm Châu, hoạt động của một số tăng ni trong Giáo Hội, các tài liệu do chính GHPGVNTN công bố, những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo giáo hội như Hoà Thượng Trí Thủ, Hoà Thượng Huyền Quang hay của nhà cầm quyền CSVN, v.v., chúng ta cũng có thể xác định rằng trong chiến tranh Việt Nam, GHPGVNTN không những chỉ “dính líu” mà còn yểm trợ tích cực cho Đảng CSVN. Một số thành phần của GHPGVNTN chỉ bắt đầu chống lại Đảng CSVN sau khi âm mưu kết hợp với Phật Giáo miền Bác để tiến tới lãnh đạo toàn thể Phật Giáo Việt Nam, bị Đảng CSVN lật tẩy và gọi đó là “Phật giáo phản động” (tiết lộ của Hòa Thượng Huyền Quang). Còn ba nhân vật cao chấp nhất của Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã đem Giáo Hội này sát nhập vào Giáo HộI Phật Giáo Nhà Nước.

Chúng tôi xin tóm lược lại dưới đây một số đoạn chính nói về những diễn biến này. Nếu cần, chúng tôi sẽ trích dẫn thêm:

BỊ XÂM NHẬP NGAY TỪ ĐẦU

Tài liệu cho thấy rằng Phật Giáo đã dính líu với Đảng CSVN kể từ khi Mặt Trận Việt Minh mới thành lập. Năm 1932, Bác sĩ Lê Đình Thám đứng ra lập Hội An Nam Phật Học. Năm 1934, ông cùng với Thượng Tọa Thích Mật Khế lập Trường An Nam Phật Học ở Huế để đào tạo các tăng sĩ và đưa Hoà Thượng Thích Trí Độ từ Bình Định ra làm Giám Đốc trường này.

Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, Hoà Thượng Trí Độ được Việt Minh cử làm Chủ Tịch Trung Ương Hội Phật Giáo Cứu Quốc, một tổ chức vận động Phật Giáo của Việt Minh. Dùng ảnh hưởng của mình, ông đã lôi kéo các tăng sĩ tốt nghiệp ở Trường An Nam Phật Học và các đệ tử của ông đi theo Việt Minh. Trong danh sách các tăng sĩ đi theo Việt Minh, chúng ta thấy Thích Mật Thể giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc ở Thừa Thiên, Thích Thiện Minh ở Quảng Trị, Thích Trí Quang ở Quảng Bình, Thích Huyền Quang ở Liên Khu 5 (gồm các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú), Thích Pháp Dõng ở Gia Định, Thích Pháp Tràng ở Mỹ Tho, Thích Pháp Long ở Vĩnh Long, Thích Huệ Quang ở Trà Vinh, v.v…

Bác sĩ Lê Đình Thám tham gia Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc của Việt Minh tại Huế. Năm 1946, khi Pháp chiếm Huế, ông về Quảng Nam và được Việt Minh cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bộ ở Liên Khu V. Điều này cho thấy hai nhân vật cao cấp lãnh đạo Hội An Nam Phật Học và Trường An Nam Phật Học đều là cán bộ cao cấp của Cộng Sản.

Năm 1954, sau hiệp định Genève, Thượng Toạ Thích Trí Quang đang làm Hội trưởng Hội VN Phật Học ở Huế, đã lợi dụng cương vị này cùng với một số trí thức Phật Giáo lập Ủy Ban Việt Nam Bảo Vệ Hòa Bình. Nhiệm vụ của Ủy Ban là yểm trợ Việt Minh đòi hỏi hiệp thương để tiến tới bầu cử thống nhất hai miền trong thời hạn 2 năm. Thích Trí Quang và nhóm này đã được ông Ngô Đình Cẩn chiêu hồi và xử dụng.

LÀM CÔNG CỤ CỦA MỸ

19 April 2015

Việt Nam Hấp Hối (bài một)

Nguyên tác: Henry Kissinger
Trọng Đạt lược dịch

Lời giới thiệu

Năm 1956 Đại Tướng Henri Navarre, Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương (5/1953--6/1954) viết Agonie de l’Indochine, Đông Dương Hấp Hối, dầy 335 trang. Tác giả cho thấy tình trạng không thể cứu chữa được của Đông Dương khi mà người dân và chính phủ Pháp đã quá chán nản không muốn tiếp tục cuộc chiến. Cựu Tư lệnh bào chữa cho chính ông và quân đội Pháp về nguyên do thất thủ Điện Biên Phủ, qui trách nhiệm cho chính phủ Pháp đã đưa tới sự hấp hối sụp đổ cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất 1946-1954. Cách đây hai năm tôi đã dịch và lược dịch vài chương chính trong Agonie de l’Indochine để trình bày với quí độc giả về tình hình bi đát của Đông Dương những năm 1953, 1954.

Hơn hai mươi năm sau, Henry Kissinger, Cố vấn an ninh Tổng thống cũng kể lại tình trạng hấp hối của miền nam Việt Nam trong hồi ký của ông. Chiến tranh Việt Nam hay chiến tranh Đông Dương cũng là một vì hơn 90% cơn khói lửa đã diễn ra tại Việt Nam. Tại đây Henry Kissinger nói về sự khởi đầu của sụp đổ, thực trạng, nguyên do Việt Nam hấp hối vào năm 1969 trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.

Năm 1979 Kissinger viết hồi ký White House Years, Những Năm Tại Tòa Bạch Ốc dầy 1,500 trang khổ giấy lớn, tương đương cuốn sách 2,000 trang khổ giấy trung bình. Chương thứ VIII trong cuốn này: The Agony of Vietnam, Việt Nam Hấp Hối, dài 85 trang (226 -311) tương đương một cuốn sách trên 100 trang. Nó cùng tên gọi với cuốn hồi ký của Tướng Navvare kể trên, cùng mục đích diễn tả lại sự chán nản của người dân cũng như Hành pháp Mỹ.

Trên đống tro tàn quá khứ, Henry Kissinger quay lại khúc phim bi kịch miền nam VN năm 1969, dần dần những sự thật phũ phàng về cuộc chiến Đông Dương đã được tiết lộ. Henry đã làm sống lại cả một giai đoạn lịch sử mà quyết định sai lầm trầm trọng của tân Tổng thống Nixon và Nội các mới đưa tới thảm kịch mấy năm sau. Theo ông, người Mỹ đã sai lầm lớn khi nhượng bộ Hà Nội với hy vọng khai thông bế tắc tại cuộc hòa đàm Ba Lê. Trước hết cuối tháng 10-1968, Tổng thống Johnson đã cho ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt theo yêu cầu của Hà Nội và sau đó, năm 1969 tân Tổng thống Nixon đã nhượng bộ Hà Nội rút quân đơn phương. Henry Kissnger cho rằng cả hai nhượng bộ đều không được CSVN đếm xỉa tới, hòa đàm vẫn bế tằc cho tới khi địch thảm bại trong trận mùa hè đỏ lửa 1972 họ mới chịu nhượng bộ Mỹ nhiều điều khoản khai thông Hội nghị  vào tháng 9 và tháng 10-1972.

Riêng về trường hợp Nixon, Henry cho rằng tân Tổng thống đã thực hiện rút quân đơn phương về nước bắt đầu từ gần cuối 1969 nhằm hai mục đích chính:

-Thúc đẩy đàm phán tại Ba Lê tiến nhanh hơn, nhượng bộ Hà Nội cho rút quân không điều kiện.
-Xoa dịu dư luận chống đối trong nước

Nhưng ông nhận định cả hai mục tiêu trên đều không đạt được, trước hết tại cuộc hòa đàm phía Hà Nội không hề thay đổi lập trường. Yêu cầu của họ vẫn y như cũ, giống như những lời khắc trong đá: Mỹ rút quân không điều kiện, loại bỏ Thiệu, lập chính phủ Liên hiệp, cắt viện trợ VNCH… Sở dĩ địch cứng đầu vì họ nắm được cái tẩy của Hành pháp Mỹ đang bị Quốc hội và người dân chống đối mạnh.
Việc Mỹ rút quân để xoa dịu dư luận trong nước cũng hoàn toàn thất bại , tại Mỹ phong trào chống đối vẫn lên cao, người dân không bao giờ vừa ý. Sau này chính  Nixon phải công nhận trong hồi ký (No More Vietnạms) mặc dù đã đem lại hòa bình (1-1973) lấy tù binh, đưa quân về nước nhưng phong trào phản chiến vẫn ngoan cố tiếp tục chống đối mạnh, hết chống chiến tranh họ chuyển sang vụ Watergate.

Nhậm chức năm 1969, Nixon vừa phải tiến hành cuộc chiến tại Đông Dương, đương đầu với CSBV ngoan cố tại bàn Hội nghị,  nhất là phải xoa dịu Quốc hội và phong trào phản chiến. Nixon tứ bề thọ địch, phải chống đỡ tại mặt trận ngoại quốc cũng như đối chọi với mặt trận tại đất nhà mà mặt trận này xem ra còn khốc liệt hơn: Quốc hội thù nghịch chống đối, đảng đối lập Dân chủ nay bắt tay với phong trào phản chiến chống lại Hành pháp Cộng hòa ngày một rộng lớn. Thật là khôi hài, một nền Hành pháp, một chính phủ phải năn nỉ Quốc hội, xoa dịu người dân, đương đầu với chính tình hình trong nước, một chính phủ không có thực quyền như thế thử hỏi còn làm được gì?

Kissinger chỉ trích chương trình rút quân của Nixon cho là sẽ làm sụp đổ miền nam vì họ không đủ sức chống lại cuộc xâm lăng mấy năm sau. Tác giả Walter Isaacson trong cuốn Kissinger a Biography (trang 234-241) có đề cập nhiều về chương trình này, mà theo Walter do Bộ trưởng quốc phòng Laird đề nghị, Nixon chấp nhận, Kissinger chống đối nhưng không can ngăn được Nixon. Kissinger phản đối rút quân vì cho rằng nó sẽ làm mất thế mạnh tại bàn Hội nghị, tại đây có sự bất đồng ý kiến giữa các nhà lãnh đạo Hành Pháp. Laird đặt tên chương trình này là Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization) mà Walter Isaacson cho là nghe thì lịch sự nhưng tàn nhẫn, vô cảm, độc ác. Kế hoạch rút khỏi Việt Nam sinh ra một học thuyết mới: Thuyết Nixon (The Nixon doctrine) chủ trương không can thiệp vào nước khác (Interventionism) mà đứng biệt lập (Isolationism). Các nhà học giả Mỹ về chiến tranh VN cho rằng các danh từ hoa mỹ như Việt nam hóa chiến tranh, học thuyết Nixon chẳng qua chỉ là rút quân bỏ chạy trá hình.

Mặc dù phản đối chương trình này cho là sẽ nguy hại tới an ninh miền nam VN nhưng Kissinger không đưa ra một phương án cụ thể nào khả dĩ thay thế rút quân mà ông chỉ nói cần làm mạnh vào năm 1970, có nghĩa là oanh tạc mạnh CSBV bằng B-52 để lấy lợi thế. Các phụ tá của Kissinger đã nghiên cứu một kế hoạch quân sự:  phong tỏa Hải phòng, oanh tạc các cơ sở quân sự BV trong 4 ngày… để buộc CS đàm phán nghiêm chỉnh nhưng chính ông không dám đề nghị kế hoạch táo bạo này lên Nixon.

Trong phần kết luận chương này, Kissinger bi quan không tin tưởng vào kế hoạch, bằng giọng chán chường thất vọng, ông lấy làm tiếc đã không can ngăn được Tổng thống và Nội các khi họ đã lựa chọn giải pháp tàn nhẫn này. Kissinger nói ông đã tiên đoán trước sự thất bại của chương trình (rút): tại Ba Lê đối phương vẫn cứng đầu không chịu đàm phán, tại mặt trận đất nhà bọn phản chiến ngày càng ngoan cố, leo thang chống đối, cuối cùng miền nam VN sụp đổ vì không đủ lực lượng gánh vác toàn bộ chiến trường. Henry nói.

“Một khi tiến hành (rút) không quay lại, tôi biết là nó có thể là một con đường dài bi thảm và có thể đưa tới thất bại - mà tôi đã nhiều lần trình bầy sơ lược những những nguy hiểm của nó với Tổng thống (Nixon)”

Kissinger đã đặt cho Chương VIII này cái tên “cường điệu”  Viêt Nam Hấp Hối để lên án sự sai lầm trầm trọng và nguy hại của kế hoạch, dù sao đây cũng chỉ là quan điểm riêng của tác giả về chương trình này.

Quí vị có thể tham khảo thêm trong cuốn sách nổi tiêng Kissinger a Biography (từ trang 234 tới 241) của Walter Isaacson nói về đề tài này.

Và tôi xin lược dịch Chương VIII, The Agony of Vietnam trong White House Years, từ trang 226 tới 311.


****
Việt Nam Hấp Hối

Kissinger nói tôi không thể viết về Việt Nam mà không đau lòng. Khi chúng tôi tới nhận nhiệm sở (vào Bạch Ốc), hơn nửa triệu quân Mỹ đang chiến đấu cách xa nước Mỹ mười ngàn dặm. Chúng tôi chưa nghĩ tới việc rút quân , 31,000 người đã chết, năm 1969 uy tín và niềm tin vào cuộc chiến đã bị hủy hoại, cuộc chiến tranh của chúng ta không công khai và không được Quốc Hội, người dân, truyền thông ủng hộ. Năm 1969 người dân chống đối dữ dội, ngày càng tăng hơn, họ gồm bốn thành phần: Những người yêu hòa bình không muốn Mỹ tham gia cuộc bắn giết; nhóm thực tiễn không thấy kết quả tốt; nhóm biệt lập không muốn Mỹ can thiệp; nhóm lý tưởng kết án cuộc chiến dã man.

Hành pháp Nixon vào Tòa Bạch ốc, những người (Dân chủ) đã gây ra cuộc tham chiến tại VN, mới đầu họ trung lập sau quay ra chống đối. Họ buộc Nixon có trách nhiệm về cuộc chiến mà ông chỉ thừa hưởng, họ tấn công ông ta nhân danh những giải pháp mà chính họ đã không thực hiện khi còn cầm quyền.

Bắc Kinh 1971: 
Chu Ân Lai và Kissinger (bên phải)

Một siêu cường chấm dứt chiến tranh bỏ một nước nhỏ cho bọn bạo chúa là thiếu đạo đức và còn phương hại tới bang giao quốc tế. Người Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh, qua thăm dò và qua bầu cử cho thấy họ coi mục đích cuộc chiến là đáng trân trọng, họ không muốn Mỹ bị thua nhục nhã. Chính phủ phải quan tâm kính trọng những gia đình có con chết cho đất nước (US) và họ không muốn những hy sinh ấy là vô ích

Tôi nghĩ chiến tranh VN là một sự ngây thơ về lý tưởng, đất nước phải mắc nợ những hy sinh của những thanh niên Mỹ.

Tôi sa vào chỗ sa lầy

06 April 2015

Thường Đức: Trận đánh quyết định số phận của Miền Nam!

Lữ Giang   

Nói đến ngày 30.4.1975 và những ngày cuối cùng của Miến Nam Việt Nam mà không nói đến trận đánh Thường Đức là một thiếu sót rất lớn, vì đây là trận đánh quyến định số phận của Miền Nam Việt Nam.

Người Pháp, chính phủ Ngô Đình Diệm và người Mỹ đều thấy rất rõ rằng nếu không giũ được cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, Cộng quân sẽ từ vùng rừng núi cao ở Thừa Thiên đổ xuống Quảng Nam theo con đường 14 do Pháp thành lập dọc theo dãy Trường Sơn, rồi tiến đánh Cao Nguyên Trung Phần và toàn Miền Nam, do đó họ đã thiết lập và duy trì những căn cứ rất vững chắc ở Thường Đức, không cho Cộng quân đi lọt qua. Lúc đó, muốn đi vào Cao Nguyên hay miền Nam, Cộng quân phải làm con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rồi đổ xuống vùng Tam Biên hay Kampuchia. Đây là con đường rất dài, hiểm trở và không thể đặt ống dẫn dầu… nên khó chuyển quân và tiếp liệu nhanh để đánh lớn được.

Nhưng sau khi Mỹ đi rồi, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, không có tầm nhìn chiến lược nên coi thường cái chốt Thượng Đức. Các tài liệu được tiết lộ sau này còn cho thấy Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không quyết tâm giữ Thường Đức mà còn muốn bỏ mất cái chốt này để Cộng quân có thể đưa lực lượng xuống miền Nam, làm nhẹ áp lực quân sự tại hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, nơi ông đang có trách nhiệm bảo vệ!

SƠ LƯỢC KẾ HOẠCH CỦA HÀ NỘI

23 March 2015

Một vài câu nói để đời của ông Lý Quang Diệu

Về sự tự mãn: "Điều mà tôi sợ  là sự tự mãn. Khi công chuyện mỗi lúc một tốt đẹp hơn thì người ta có khuynh hướng làm ít mà đòi nhiều".

Về việc thay thế cách làm:  (Năm 1992, Singapore cấm bán kẹo cao su vì người dân vứt bừa bãi, dính bã kẹo lên bàn, ghế, gây hư hại các công trình văn hóa.)

"Nếu bạn không thể suy nghĩ khi không có thứ gì để nhai, hãy thử một quả chuối", Reuters trích lời ông Lý nói.

Về lãnh đạo:
"Chúng ta cần những nhà lãnh đạo là những người có tầm nhìn xa và rộng, có đầu óc minh mẫn và phóng khoáng, có khả năng nắm bắt cơ hội như chúng ta đã làm... Nhiệm vụ của tôi là tìm ra người kế nhiệm xứng đáng. Tôi đã tìm ra họ, và họ đang ở đây; bây giờ đến lượt họ phải tìm ra người kế nhiệm cho mình. Như thế cần có sự liên tục tìm kiếm và đào tạo những nhà lãnh đạo có năng lực, chân thật, tận tụy và tài năng, là những người làm việc không phải vì mình, mà vì nhân dân và đất nước."

Về việc xác dịnh mục tiêu: "Ngay lúc này, tôi, Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore, nhân danh nhân dân và chính quyền Singapore, tuyên bố rằng kể từ hôm nay, ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủ với đầy đủ chủ quyền, lập nền trên những nguyên lý của quyền tự do và công bằng hầu mưu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trong một xã hội tối hảo, công bằng và bình đẳng."

Về những gì bản thân làm cho đất nước: "Nếu Singapore là một đứa trẻ, tôi tự hào vì đã chăm sóc và nuôi dưỡng đứa trẻ ấy".

"Singapore luôn là mối quan tâm đến tận cuối đời tôi. Sao tôi lại không muốn Singapore tiếp tục thành công? Tôi không hối hận. Tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình để xây dựng đất nước này. Không có gì quan trọng hơn thế".

Về việc Nhật Bản đánh bại Anh, chiếm đóng Singapore năm 1942:
"Thời đại đen tối bất ngờ ập xuống chúng tôi, thật tàn khốc và độc ác. Khi nhìn lại, tôi cho rằng đó là bài học chính trị lớn nhất trong cuộc đời mình vì trong 3 năm rưỡi, tôi nhận ra ý nghĩa của quyền lực và tầm quan trọng của sự kết hợp giữa quyền lực, chính trị và chính quyền".

Về mô hình Singapore: "Chúng tôi biết rằng, nếu chúng tôi chỉ giống như những người hàng xóm của mình thì chúng tôi sẽ chết. Bởi vì chúng tôi không có gì để đưa ra trước những gì họ phải đưa ra. Vì vậy, chúng tôi phải tạo ra thứ gì đó khác biệt và tốt hơn của họ. Đó là không tham nhũng. Đó là tính hiệu quả. Đó là chế độ nhân tài. Và nó thực sự phát huy tác dụng".

Về đấu tranh chính trị: "Ai cũng biết rằng, trong túi tôi có một chiếc rìu và nó rất sắc. Nếu anh khiêu chiến với tôi, chúng ta sẽ đấu đến cùng".

Về nghệ thuật lãnh đạo: "Một người không thể kiểm soát được những người đi theo mình dù có hay không đưa ra lời đe doạ nào thì không thể nào trở thành nhà lãnh đạo".

Về thăm dò ý kiến: "Tôi chưa bao giờ quá nghi ngại hoặc bị ám ảnh bởi các cuộc thăm dò ý kiến hay trưng cầu dân ý. Theo tôi, một nhà lãnh đạo mà bị ám ảnh thì quá là yếu kém".

Về vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế: "Nếu bạn không tiến hành hoạt động mua bán quốc tế trong khi các đối thủ cạnh tranh làm điều đó thì tức là bạn đang tự loại bỏ mình khỏi hoạt động kinh doanh".

Về sự thẳng thắn: "Đừng đổi "không" thành "có". Đừng trở thành kẻ dại khờ. Nếu có một lý do chính đáng cho câu trả lời "không", nó vẫn phải được giữ nguyên, nhưng phải nói cho thật lịch sự".

Về sự riêng tư: "Tôi thường bị chỉ trích là can thiệp vào đời sống riêng tư của công dân. Đúng, nhưng nếu tôi không làm vậy, thì chúng tôi sẽ không có được như ngày hôm nay".

Về người vợ Kha Ngọc Chi: "Không có bà ấy, có lẽ tôi đã là một người đàn ông khác, sống một cuộc sống khác. Trong giờ phút chia tay cuối cùng này, trái tim tôi nặng trĩu buồn khổ và đau đớn".

Về việc giữ trung thực: "Ngay cả khi hấp hối trên giường bệnh, khi các bạn chuẩn bị hạ huyệt, nếu tôi thấy có điều gì đó sai, tôi sẽ đứng dậy".

Về người Mỹ: "Dân Mỹ là những thừa sai tuyệt hảo. Họ có nỗi thôi thúc khôn nguôi muốn chuyển hóa người khác"

(TTR góp nhặt)

27 February 2015

Pentagon Papers: Sau 40 năm bí mật được giải (tài liệu):

Có nên chỉ đổ trách nhiệm cho Mỹ thôi hay không? Hay phải trách cả chúng ta, những người mù lòa không nhận ra, thậm chí còn a dua theo đám tay sai Hà Nội, tay sai ngoại bang, cùng hò hét phá nát cơ đồ Miền Nam? Xin đừng ngồi đó than trách. Quá khứ cung cấp những bài học quý giá và nếu chúng ta học được có thể mọi sự vẫn chưa muộn. (TTR)
 **
Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng. Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói. Sau đó, National Security Archive ở  George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng.

Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay! Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.

Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này? Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ. Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ. Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.

Ông Daniel Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội. Ông từng là nhân viên của RAND Corporation. Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.

Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ. Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người. Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng. Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự. Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt. Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam. Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.

Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang . Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.” Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng. Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ. Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần. Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett. Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan.

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ. Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.

Lời Kết:

Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề.

Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.

Trở lại vấn đề Biển Đông, chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.

Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.

Nam Sơn
(Trang VNQDD)
______________________________
The Pentagon Papers
http://www.archives.gov/research/pentagon-papers/

Trump Không Biết Làm Thế Nào Để Kết Thúc Cuộc Chiến Với Iran

Thomas L. Friedman,   “ Trump Has No Idea How to End the War With Iran ”   The New York Times Chuyển ngữ:  Lương Định Văn Tôi đến Tehran lần...