Showing posts with label 04- Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label 04- Lịch sử. Show all posts

04 September 2025

Những Ngộ Nhận Phổ Biến Về Nhân Vật Lưu Vĩnh Phúc Trong Lịch Sử Thời Kháng Pháp Của Việt Nam

LÊ NGUYỄN

Trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tác động của sách báo được thực dân Pháp phổ biến mà không ít sách giáo khoa và phương tiện truyền thông của người Việt đã đưa ra nhiều sự kiện thiếu chính xác về nhân vật Lưu Vĩnh Phúc trong diễn biến lịch sử nước ta từ thập niên 1860 đến thập niên 1880, đồng thời cũng bỏ qua mối quan hệ của họ Lưu với nhiều chí sĩ Việt Nam hoạt động trên đất Tàu vào đầu thế kỷ XX. 

Viết về buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều người đã đồng hóa hoạt động của các đạo quân Cờ Đen, Cờ Trắng và Cờ Vàng và dành cho chúng các danh từ thảo khấu, thổ phỉ, giặc cướp … Nhận định này phù hợp với thực tế lịch sử những năm giữa thập niên 1860, nhưng đã không hoàn toàn chính xác kể từ năm 1868 trở đi, khi mà đạo quân Cờ Đen đã thần phục triều đình và hoạt động như một lực lượng cơ hữu của người Việt Nam.  Song, trước hết, xin nhắc qua nguyên nhân về sự hiện diện của các đạo quân này tại Việt Nam. 



I) THÁI BÌNH THIÊN QUỐC VÀ SỰ XUẤT HIỆN CÁC ĐẠO QUÂN THỔ PHỈ


Vào những năm cuối thập niên 1840, đất nước Trung Hoa rơi vào loạn lạc, nhiều nơi dân lâm vào cảnh đói kém, một số người nhân cơ hội này đứng lên, vận động quần chúng, xây dựng thế lực, chống lại triều đình. Đáng kể nhất là cuộc nổi dậy của Hồng Tú Toàn cùng một số thuộc hạ ở Quảng Tây.

Trong những năm tháng đầu tiên, lực lượng nổi dậy thắng lợi tại nhiều tỉnh thành, họ chiếm lấy Nam Kinh, đổi tên thành Thiên Kinh, kinh đô của Thái Bình Thiên Quốc trong “triều đại” của họ. Tình trạng giằng co giữa triều đình nhà Mãn Thanh và Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn kéo dài đến những năm đầu thập niên 1860. Mãi đến năm 1864, lực lượng triều đình dưới quyền các danh tướng Tăng Quốc Phiên,  Lý Hồng Chương mới đánh bại được Thái Bình Thiên Quốc, Hồng Tú Toàn tự tử.

Tuy nhiên, với một lực lượng quần chúng lên đến hàng triệu người tồn tại gần 15 năm, hậu quả của chiến tranh không thể giải quyết trong một ngày, một bữa, nó còn kéo theo nhiều hậu quả lâu dài. Dù thất bại, song nhiều đạo quân dưới quyền Hồng Tú Toàn vẫn tiếp tục hoạt động chống phá triều đình nhà Thanh. Họ lui dần về phía Nam và một lực lượng khá lớn dưới quyền tướng Ngô Côn đã xâm nhập vào hẳn lãnh địa Việt Nam, đáng kể nhất là các đạo quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh, Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị, và Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc.


Họ đã sử dụng miền Bắc Việt Nam làm nơi ẩn tránh sự truy đuổi của triều đình nhà Mãn Thanh, đồng thời nuôi quân, củng cố lực lượng bằng hình thức cướp bóc tại các địa phương họ trú đóng hay đi qua. Để chống lại giặc cướp có hiệu quả, triều đình Huế kêu gọi nhà Thanh cử quân sang phối hợp. Đây là chi tiết khiến có sự nhầm lẫn rằng nhà Thanh cử quân sang xâm chiếm nước ta vào thập niên 1860, tranh giành quyền lợi với thực dân Pháp. Người được Bắc Kinh cử sang nước ta phối hợp lâu dài trong việc tiễu phỉ là Đề đốc tỉnh Quảng Tây Phùng Tử Tài.
      Vào khoảng cuối năm 1867, đầu năm 1868, quân triều đình đạt được một thắng lợi quan trọng khi chấp nhận sự hàng phục của đạo quân Cờ Đen dưới quyền Lưu Vĩnh Phúc, một thủ lãnh quân sự mới hơn 30 tuổi (sinh năm 1837). Trách nhiệm đầu tiên mà triều đình giao cho họ Lưu là tiêu diệt hai đạo quân Cờ Trắng và Cờ Vàng. Ngay vào tháng 1 âm lịch năm 1868, ông ta đã nhận được lệnh tấn công đạo quân Cờ trắng của Bàn Văn Nhị tại Tuyên Quang.

Đây là bước ngoặt quan trọng của thủ lãnh quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc trong quá trình sát cánh cùng quân đội Việt Nam chống lại các đạo quân thổ phỉ khác, đồng thời góp phần gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề. Nó tách hẳn đạo quân Cờ Đen ra khỏi hàng ngũ của hai đạo quân thổ phỉ kia, song trong một thời gian dài, nhiều tư liệu lịch sử vẫn đồng hóa cả ba lực lượng trên như một.

Điều này phát xuất chủ yếu từ nhận định thiếu chính xác của các cây bút phương Tây về một lực lượng đã gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề. Cho dù trước năm 1868, Lưu Vĩnh Phúc và đạo quân Cờ Đen của ông ta từng có những hoạt động tác tệ, song không thể vì thế mà phủ nhận những đóng góp của họ trong quá trình hàng phục và hợp tác với quân triều đình.

Tháng 3 AL năm 1869, với sự phối hợp của đạo quân nhà Thanh do Phùng Tử Tài chỉ huy, quân triều đình và quân Cờ Đen đã đại thắng quân Cờ Vàng trong một trận đánh lớn tại Lào Cai và đánh bật họ ra khỏi căn cứ địa Hà Giang.

Dù hết lòng phục vụ triều đình nhà Nguyễn, song trong bước đầu, không phải họ Lưu đã nhận được sự tín nhiệm của vua Tự Đức và quần thần. Phải chờ sau một thời gian dài, ông ta mới được tin tưởng và giao nhiều trọng trách, cũng như nhận lấy nhiều ân sũng.


II) LƯU VĨNH PHÚC – NGƯỜI CÓ CÔNG HAY KẺ TỘI ĐỒ?

Như đã đề cập ở phần trên, triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự qui hàng của đạo quân Cờ Đen và sử dụng họ như một lực lượng cơ hữu của mình, song nhiều quan lại vẫn tỏ ra e dè, hoài nghi thiện chí hợp tác của họ. Tháng 10.1869, đã có chủ trương đưa đạo quân của Lưu Vĩnh Phúc qua khỏi biên giới Việt-Trung, trở về lãnh thổ Trung Quốc.

Tháng 8.1870, Đề đốc Phùng Tử Tài đề nghị cho Lưu Vĩnh Phúc về nước, Phúc sợ bị nhà Thanh truy sát, xin ở lại châu Bảo Thắng (tỉnh Lào Cai) để khai thác tài nguyên và hợp tác đánh giặc. Vua Tự Đức cho rằng “dùng người Man đánh người Man là một việc cần, Vĩnh Phúc vốn thù nhau với Hoàng Anh, nên khéo khích để dùng …”.

Đúng như lời nhà vua phán, nửa năm sau khi quân Cờ Đen được tiếp tục sử dụng, vào tháng 2 AL 1871, có tin Lưu Vĩnh Phúc đã giết chết Hoàng Sùng Anh, thủ lãnh đạo quân Cờ Vàng. Tỉnh thần Hưng Hóa đề nghị thưởng phẩm hàm cho Phúc, song tin chính xác cho hay, họ Hoàng chỉ bị thương trong trận đánh. 

Vị quan lại cao cấp của triều đình tại khu vực phía Bắc lúc bấy giờ là Lạng Bằng Ninh Thái Thống đốc quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm. Họ Hoàng rất tín nhiệm Lưu Vĩnh Phúc, vào tháng 9 AL 1873, đã đề nghị triều đình cử họ Lưu làm Phòng ngự sứ (tòng ngũ phẩm), song vua Tự Đức không chấp thuận, chỉ đồng ý xuất bạc kho ra để ban thưởng.

Tháng 11.1873, một sĩ quan cao cấp Pháp là Đại úy Francis Garnier được cử ra Bắc với danh nghĩa bề ngoài là dàn xếp những rắc rối do tên lái buôn Jean Dupuis (Đồ Phồ Nghĩa) gây ra, kỳ thực nhằm thực hiện ý đồ tấn công thành Hà Nội, mở đường cho việc đánh chiếm các tỉnh miền Bắc.

Ngày 20.11.1873, Garnier ra lệnh tấn công thẳng vào thành, quân triều đình dưới sự chỉ huy của Khâm mạng đại thần NguyễnTri Phương chống trả quyết liệt, song trận chiến cũng sớm kết thúc trong ngày. Thiệt hại về phía Việt Nam khá nặng nề: cụ Nguyễn Tri Phương bị thương nặng và mất sau đó, con trai cụ là phò mã Nguyễn Lâm tử trận…Thiệt hại của phía Pháp không đáng kể, và điều này cho thấy thực lực về quân sự giữa hai bên có sự chênh lệch quá lớn. 

Tuy nhiên, có một điều mà thực dân Pháp đã không ngờ tới. Hơn một tháng sau khi đánh chiếm thành Hà Nội, ngày chủ nhật 21.12.1873, Francis Garnier dẫn một toán lính Pháp 12 người truy đuổi một nhóm quân Cờ Đen khiêu khích và chạy trốn tại khu vực Ô Cầu giấy thuộc phủ Hoài Đức. Không ngờ ông ta lọt vào ổ phục kích của địch. Garnier té vào một hố sâu đào sẵn, trong khi lính Cờ Đen ào tới. Ông ta rút cây súng lục bắn đến viên đạn cuối cùng, rồi chịu chết. Ngay lập tức, đầu của Garnier bị quân Cờ Đen cắt rời và mang đi 

Cái chết của viên sĩ quan từng lập nhiều công trạng này gây chấn động cả nước Pháp. Hàng chục năm sau, nhiều tượng đài, công trình tưởng niệm Francis Garnier được xây dựng trên khắp Đông Dương, và cả trên đất Pháp. Điều đó chứng tỏ sự tổn thất về nhân sự của Pháp là rất to lớn. Cùng tử trận với Garnier còn có một trung úy và một thiếu úy Pháp nữa 

Chiến công này của quân Cờ Đen dưới quyền Lưu Vĩnh Phúc đã giải tỏa phần lớn mối nghi ngờ của vua Tự Đức và triều thần đối với họ Lưu. Tháng 2 AL 1874,  nhà vua “chuẩn cho Lưu Vĩnh Phúc được nhắc bổ làm Phó Lãnh binh quân thứ ấy. Đoàn quân ấy từ quản đội trở xuống thưởng cho thăng 3 trật và thưởng tất cả binh dõng đi trận ấy bạc lạng và tiền (bạc 345 lạng, tiền 3.000 quan), là xét công đánh trận ở Cầu Giấy”. Với chức danh Phó lãnh binh, hàm tòng tam phẩm, từ thời điểm này, Lưu Vĩnh Phúc đã chính thức trở thành một quan lại trung cao cấp của triều đình Huế.

Điều trớ trêu là cái chết gây chấn động của Francis Garnier lại xảy ra trong lúc Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình, và Đại úy hải quân Philastre, đại diện phía Pháp đang trên đường ra Hà Nội để dàn xếp mọi việc. Nghe được tin này, Philastre giận dữ, vỗ bàn và đùng đùng đòi quay trở lại.

Trước thái độ của viên quan Pháp, Nguyễn Văn Tường đã trổ tài biện luận sắc bén của ông để thuyết phục ông ta. Ông thong thả nói rằng “…trả lại thành (Hà Nội) để sớm định điều ước, là lệnh của quý tướng; lấy lại thành rồi sau mới nghị hòa là mệnh lệnh của vua nước tôi; bọn chúng ta chỉ biết theo mệnh lệnh ấy. Còn như Hà Nội giết An Nghiệp, cũng như An Nghiệp giết Nguyễn Tri Phương, đó đều là do sự không ngờ, cũng không phải là bọn chúng ta làm ra … sao bằng đưa thư ngay cho Hà Nội … hoặc được hỏi rõ duyên do An Nghiệp bị chết, rồi sau sẽ báo, há chẳng càng ổn ư”. 

Lý lẽ của ông Tường khiến Philastre dịu lại và đồng ý tiếp tục hành trình…

III) QUÂN CỜ ĐEN VÀ SỐ PHẬN CÁI ĐẦU CỦA ĐẠI TÁ HENRI RIVIÈRE

Nhờ tài biện giải khéo của Nguyễn Văn Tường, sự đổ vỡ đã không xảy ra, ông và Philastre tiếp tục hành trình ra Bắc để theo dõi tình hình tại chỗ. Cuối cùng hòa ước Nhâm Tuất 1874 ra đời, chủ yếu nhằm chính thức hóa một thực tế đã diễn ra từ năm 1867, đó là công nhận quyền kiểm soát của Pháp trên toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh. Mặt khác, Pháp trả lại các thành trì đã chiếm đóng tại miền Bắc và được tự do thông thương trên thủy lộ sông Hồng.     

Vào lúc này, đạo quân Cờ Đen dưới quyền Phó lãnh binh Lưu Vĩnh Phúc tiếp tục truy kích đạo quân Cờ vàng của Hoàng Sùng Anh. Tháng 8 AL 1874,  họ Lưu được nhà vua thăng Lãnh binh, hàm chánh tam phẩm. Hai tháng sau, vua y lời tâu của Thống đốc đại thần Hoàng Tá Viêm, thăng Lưu Vĩnh Phúc lên chức Đề đốc, hàm tòng nhị phẩm, ngang với Tham tri (Thứ trưởng), Tuần phủ (Tỉnh trưởng tỉnh nhỏ). 

Có thể nói vào thời điểm này, Lưu Vĩnh Phúc là cánh tay phục vụ đắc lực bậc nhất của Hoàng Tá Viêm tại nhiều tỉnh miền Bắc. Song song với việc tìm diệt đạo quân Cờ vàng, quân Cờ đen còn có những hoạt động khiến thực dân Pháp lo lắng. Họ kiểm soát dọc theo sông Hồng, dùng vũ khí ngăn chặn hay uy hiếp tinh thần nhiều người Pháp thông thương trên thủy lộ này khiến cho Soái phủ Nam kỳ rất bức xúc.

Trong tình thế đó, Thống đốc dân sự đầu tiên của Nam Kỳ là Le Myre de Vilers quyết định dùng áp lực quân sự để phá thế bế tắc giữa hai bên. Ông ta cử Đại tá Henri Rivière  dẫn vài trăm quân đi tàu ra Bắc vào đầu tháng 4.1882. Việc tiếp xúc giữa Rivière và các quan chức Việt Nam đứng đầu là Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu không dẫn đến kết quả mong muốn, viên Đại tá Pháp cho rằng phía Việt Nam không có thiện chí giải quyết vấn đề và quyết định tấn công thành Hà Nội vào ngày 25.4.1882. Thêm một lần nữa, chỉ sau mấy tiếng đồng hồ chiến đấu, thành lại rơi vào tay giặc. 

Gần một tháng sau, lịch sử lại tái diễn. Ngày 19.5.1883, Đại tá Pháp Henri Rivière cũng bị quân Cờ Đen khiêu chiến và phục kích sát hại tại Ô Cầu giấy, nơi Đại úy Francis Garnier đã gục ngã cách đó 10 năm. 

**

Cũng như Garnier, sau khi bị tử thương tại Ô Cầu giấy, Đại tá Henri Rivière bị quân Cờ Đen cắt mất cái đầu cùng với 29 sỹ quan, binh lính Pháp, bỏ vào giỏ treo nơi công cộng cho mọi người chứng kiến và sau đó đem vùi lấp ở đâu không thấy các tài liệu lịch sử Việt Nam nói đến . 

Mãi về sau, người ta mới phát hiện trong hồi ký của Bonnal, nguyên công sứ Pháp tại Hà Nội, một đoạn mô tả chi tiết quá trình khai quật đầu và thi thể của Henri Rivière. Đoạn hồi ký này là phần phụ lục của tác phẩm Correspondance politique  du commandant Rivière au Tonkin (Avril 1882 – Mai 1883) (Thư từ chính trị của viên tư lệnh Rivière tại miền Bắc, từ tháng 4.1882 đến tháng 5.1883) do André Masson tập hợp, chú thích và xuất bản cùng lúc tại Hà Nội và Paris năm 1933.

Ngày 17.9.1883, tức gần 4 tháng sau ngày Rivière tử trận, Bonnal được lệnh chứng kiến cuộc khai quật tử thi đầu tiên với tư cách viên chức hộ tịch. Theo sự chỉ dẫn của một số giáo dân Thiên chúa giáo khu vực phủ Hoài Đức, họ đã đến làng Ké Mai thực hiện cuộc đào tìm. Chỉ sau vài nhát cuốc, họ phát hiện một chiếc hộp bằng cây sơn đen tình trạng còn tốt. Viên bác sĩ Masse trong đoàn khai quật đã tự tay bật nắp chiếc hộp và những người chứng kiến nhìn thấy giữa lớp đất sét đỏ là một chiếc đầu người đã thối rữa một phần thịt. 

Căn cứ vào những lọn tóc dài đã ngã màu hoa râm, họ nhận ra đúng là chiếc đầu của Rivière. Trong hộp cây, còn có những đốt xương bàn tay, chứng tỏ 2 bàn tay của Rivière cũng bị chặt đứt, bỏ chung với đầu lâu. Sau đó, đoàn khai quật moi tìm từ lớp sình của một khu ruộng, tìm được 28 chiếc đầu lâu khác đã bị quân Cờ Đen vứt đi sau thời gian trưng bày.     

20 ngày sau, Bonnal tiếp tục cho tìm phần thi thể còn lại của H. Rivière. Trong biên bản ngày 8.10.1883, ông ta mô tả khá tỉ mỉ kết quả khai quật và một dấu hiệu cho phép khẳng định đã tìm được thi thể của Rivière, đó là 2 chữ H.R. thêu trên tấm vải che ngực và những cánh tay đã bị cắt mất bàn tay. Tất cả được cho vào một chiếc quan tài bằng cây rất dày, phủ vôi bột và chở về Hà Nội 

Sau một buổi lễ  được tổ chức tại nhà thờ tạm của đoàn truyền giáo Pháp tại Hà Nội, đầu cùng thi thể của H. Rivière và của các sĩ quan, binh sĩ dưới quyền được cải táng ở nghĩa trang dành cho người Pháp ở thành phố này.

 
IV) TỪ ĐỈNH VINH QUANG ĐẾN BI KỊCH, CON ĐƯỜNG KHÔNG XA

Phải khách quan thừa nhận rằng trong hai trận đánh ở Ô Cầu giấy năm 1873 và năm 1883 có công lao rất lớn của quân Cờ Đen. Tổ chức này đã chuyển mình từ những thổ phỉ trong thời gian đầu mới trốn sang Việt Nam thành một đội quân tinh nhuệ dưới quyền điều động của quan binh Việt Nam và đã làm quân Pháp lắm phen mất ăn mất ngủ.

Từ thời điểm này, mọi nghi ngờ của vua Tự Đức và triều thần đối với Lưu Vĩnh Phúc đã tan biến hẳn. Sau khi đạo quân Cờ Đen  của họ Lưu loại trừ được viên đại tá Pháp, “ Tin thắng trận tâu lên. Vua mừng lắm, thưởng Vĩnh Phúc thăng thụ Đề đốc, cho mũ áo Chánh nhị phẩm, gia thưởng một cái kim có chữ ‘trung dũng’…”. Hai tháng sau, nhà vua lại ban cho họ Lưu tước Nghĩa Lương nam.

Tuy nhiên, đúng 2 tháng sau sự kiện tiêu diệt H. Rivière, ngày 19.7.1883, vua Tự Đức qua đời, việc triều chính bắt đầu rối nát do sự phân hóa trong hàng ngũ triều thần và sự lộng quyền của hai Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Người được vua Tự Đức chỉ định kế vị là ông hoàng Dục Đức chỉ ở ngôi mấy ngày, chưa kịp làm lễ tấn tôn; người kế vị tiếp theo là vua Hiệp Hòa cũng bị bức tử sau 4 tháng làm vua.

Trong thời gian vua Hiệp Hòa còn tại vị, ngày 25.8.1883, hai phía Việt-Pháp đã ký Hòa ước Quý Mùi (còn gọi là Hòa ước Harmand, theo tên viên chức đại diện phía Pháp). Hòa ước có 27  khoản,  đặc biệt khoản 23 ghi rõ “…Nước Pháp sẽ một mình mang lấy trách nhiệm  đuổi quân Cờ đen ra khỏi Bắc Kỳ và dùng các biện pháp để bảo đảm an ninh và tự do trên sông Hồng Hà”. Điều này cho thấy thực dân Pháp kiêng dè quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đến mức nào!

Song, việc triều đình Huế đặt bút ký hòa ước có điều khoản trên có nghĩa là họ mặc nhiên chấp nhận từ bỏ việc sử dụng quân Cờ Đen như một lực lượng cơ hữu của mình. Họ không thể công khai điều động lực lượng này, song cũng giống như trường hợp hòa ước Nhâm Tuất 1862 và sự tồn tại của tổ chức kháng chiến Trương Định, triều đình tiếp tục nuôi dưỡng và hỗ trợ đoàn quân của Lưu Vĩnh Phúc.

Một năm sau, ngày 6.6.1884, hai phía Việt-Pháp lại ký Hòa ước Giáp Thân, mở đường cho việc thuộc địa hóa toàn diện đất nước Việt Nam. Hòa ước này không nhắc đích danh quân Cờ Đen, song điều thứ 15 cũng ghi rõ là quân Pháp được đóng binh ở bất cứ nơi nào xét thấy cần (Nguyễn Phương – sđd – trang 220). 

Trong thời gian này, những cuộc đụng độ trực tiếp giữa quân Pháp và các lực lượng chính quy do nhà Thanh phái đến nhằm phối hợp với triều đình Việt Nam trong việc tiễu phỉ trở nên ngày một nghiêm trọng. Cuộc xung đột được giải quyết bước đầu bằng Hòa ước Fournier ngày 11.5.1884 chỉ bao gồm 5 điều khoản ngắn ngủi, không đủ để đảm bảo một sự hòa giải đích thực. Các trận đánh lớn tiếp tục nổ ra, dẫn đến việc Pháp đánh chiếm Phúc Châu, thủ phủ của tỉnh Phúc Kiến, và bao vây đảo Đài Loan của Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là chiến tranh giữa hai phía đã được đẩy ra khỏi biên giới Việt Nam, xâm nhập vào đất Tàu.

Cuối cùng, vào ngày 9.6.1885, triều đình nhà Thanh phải đồng ý ký với Pháp một hòa ước lâu dài có tên là “Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Thương mại”, gọi tắt là Hòa ước Thiên Tân, lấy tên nơi ký kết văn kiện này. Ngay điều khoản thứ nhất của hòa ước này đã ghi rõ là Pháp giành quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để giải tán hay tống xuất các băng nhóm cướp bóc để đảm bào sự trị an. Về phần mình, nhà Thanh cam kết giải tán và trục xuất các băng nhóm đang trú ẩn ở các biên giới giáp với Việt Nam, không được gửi quân qua biên giới với Việt Nam 

Điều này có nghĩa là nhà Thanh phải từ bỏ mọi sự hỗ trợ hay hợp sức với đạo quân Cờ Đen trong việc chống Pháp. 



V) LƯU VĨNH PHÚC VÀ CÁC NHÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Khi trở về Trung Quốc, Lưu Vĩnh Phúc bỏ lại đạo quân Cờ Đen cho các thuộc tướng. Đó cũng là lúc mà cuộc xuất bôn của vua Hàm Nghi khỏi kinh thành Huế (5.7.1885) và  hịch Cần vương đã làm khởi phát nhiều cuộc khởi nghĩa của Tạ Hiện, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao … 

Các lãnh tụ Cần vương tìm cách liên lạc với đạo quân Cờ đen để gây thêm thanh thế, song mất Lưu Vĩnh Phúc, họ như rắn mất đầu, một số lấy việc cướp bóc để tồn tại và đó là thời điểm mà đạo quân này bị lên án mạnh nhất. Theo bộ sách của Pháp “Histoire militaire de l’Indochine française ”, đến ngày 23.3.1887, trong các cuộc hành quân tại Cao Bằng, Pháp vẫn còn ghi nhận sự hiện diện của các toán quân Cờ Đen.

Về phần Lưu Vĩnh Phúc, sau khi trở về Trung Quốc, ông được nhà Thanh cử làm Tổng binh Quảng Châu. Năm 1894, khi cuộc chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, ông đang là Tổng binh đảo Đài Loan. Chiến tranh kết thúc một năm sau đó, thắng lợi nghiêng về phía Nhật Bản, nhà Thanh phải chấp nhận ký hòa ước Mã Quan (Shimonoseki) ngày 17.4.1895 giao đảo Đài Loan cho Nhật. Tuy nhiên, người đứng đầu đảo này là Đường Cảnh Tùng không tuân thủ hòa ước, công bố nước Cộng hòa Đài Loan với Lưu Vĩnh Phúc là Phó Tổng thống. Song trước sự tấn công mãnh liệt của quân Nhật, thế yếu, Lưu Vĩnh Phúc đã phài cải trang làm một người phụ nữ và trốn khòi Đài Loan.

Quay lại đại lục Trung Hoa, Lưu Vĩnh Phúc trở thành chỗ tựa cho các nhà cách mạng Việt Nam hoạt động trên đất Tàu. Trong bài viết dài hơn 100 trang có nhan đề “Quelques précisions sur une période troublée de l’histoire d’Annam”, cây bút Pháp A. Delvaux có nhắc đến chi tiết vào tháng 3.1888, Lãnh sự Pháp tại Quảng Đông phát hiện Đề đốc Trần Xuân Soạn có mặt tại nhà Lưu Vĩnh Phúc. 

Năm 1900,  một nhà cách mạng Việt Nam là cụ Phan Bội Châu mưu tính tập hợp các nhà trí thức yêu nước trong một phong trào chống Pháp, với sự hỗ trợ của Lưu Vĩnh Phúc. Năm 1905, cụ đi gặp họ Lưu. Cụ cho rằng nếu không có Lưu “dân tộc chúng ta sẽ không có được một giọt máu nào để rửa cổ giặc”.

Nhà Lưu Vĩnh Phúc không chỉ là nơi tiếp đón cụ Phan Bội Châu, mà cả cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Thiện Thuật (hay Nguyễn Thuật). Riêng cụ Thuật là người ở lâu dài trong nhà họ Lưu.

Tháng 1.1907, sau khi từ Nhật về, cụ Phan Bội Châu lại đến nhà Lưu Vĩnh Phúc, nơi đây, cụ vạch ra kế hoạch Đông Du, đưa thanh niện Việt Nam sang Nhật du học. Thất bại trong việc thành lập một đạo quân chống Pháp, cụ Phan muốn biến người từng lãnh đạo đạo quân Cờ đen và các đồng chí của ông thành những nhân tố của một cuộc cách mạng chính trị.     

Cụ Phan Bội Châu là một trong những nhà cách mạng khả kính, vì vậy những gì cụ viết về Lưu Vĩnh Phúc là điều cần được chúng ta lưu tâm. Trong hồi ký “Phan Bội Châu niên biểu”, cụ Phan đã có những dòng sau đây về Lưu Vĩnh Phúc: “Thượng tuần tháng 8 đến Quảng Đông, thăm chào ông Lưu Vĩnh Phúc, nhân gặp được cụ Tam Tuyên tán lý xưa là cụ Nguyễn Thuật. Lưu tuổi gần 70 mà dung mạo quắc thước, khi vừa gặp chúng tôi, nói tới người Pháp thì vỗ tay trên án mà nói rằng: ‘Tả! tả! tả!’     
“Tôi nhân đó mà nhắc lúc quân Tây hai lần lấy thành Hà Nội, nếu không có quân Lưu đoàn, thì chắc quân ta không được giọt máu nào rơi ở cổ người giặc. Ôi, Lưu đoàn chẳng phải là một bậc anh hùng hay sao? Tôi lúc bấy giờ, cái lòng sung bái anh hùng hết sức dốc đổ vào Lưu …”

Sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911, Lưu Vĩnh Phúc được cử làm Tổng trường dân đoàn Quảng Đông, tiếp tục công tác cho chế độ dân quốc đến ngày qua đời vì bệnh năm 1917.

Căn cứ vào các tư liệu trên, có thể thấy rằng vai trò của Lưu Vĩnh Phúc trong lịch sử kháng Pháp của Việt Nam thay đổi qua từng thời kỳ; thời kỳ trước năm 1868 là một kẻ cầm đầu thổ phỉ, thời kỳ từ 1868 đến 1885 là một quan lại triều đình Việt Nam, lập nhiều chiến công, được vua Tự Đức phong đến chức Đề đốc, hàm nhị phẩm, và thời kỳ từ 1885, bị hất ra khỏi guồng máy chiến tranh Việt-Pháp, quay về Trung Quốc, góp phần cải thiện đời sống xã hội của nước ông vào những thập niên 1890-1900 -1910.

Từ những thập niên qua, nhiều nhà viết sử Việt Nam đi theo lối mòn của các cây bút Pháp, vốn hận thù đạo quân Cờ đen từng sát hại hai sĩ quan ưu tú của họ, nên đã có những miêu tả và nhận định không công bằng đối với một người như Lưu Vĩnh Phúc. Đặt họ Lưu đúng vào vị trí đích thực của ông trong cuộc kháng chiến lâu dài của người Việt chúng ta là cách mang lại sự công bằng lịch sử, phù hợp với đạo lý do cha ông truyền lại.


LÊ NGUYỄN 

02 April 2025

Hình đã cũ: Nỗi nhục vẫn đau

Bức ảnh thể hiện một tư thế của người trí thức Việt Nam hiện nay


Trên đây là tư thế nhận giải Nobel Y Học từ Quốc Vương Thụy Điển của Giáo sư Yamanaka, 50 tuổi, người Nhật Bản tại Stockholm ngày 10/12 vừa qua

Còn dưới đay là bức ảnh tiến sĩ, kiến trúc sư Nguyễn Tiến Thuận cúi khom đến gập nửa thân người ôm lấy bàn tay ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi lễ trao giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật ngày 27/5/2012 tại Nhà hát lớn Hà Nội. (Nhấn chuột vào hình để phóng lớn)



23 February 2024

Xã Hội Sa Đoạ

TTR: Tập Hồi Ký có bài trích dưới đây, xuất bản tại California năm 1990, nhưng tác giả viết ra có thể sớm hơn nhiều. Những suy nghĩ của ông về cuộc sống trong xã hội Việt Nam - thời kỳ đổi mới, thập niên 80 - đã được diễn tả thấu đáo nhưng súc tích. Đọc là thấy, rõ ràng, thẳng thắn, không kiêng nể, không úp mở rào đón. Những nhà văn uy dũng như ông dưới chế dộ cộng sản không có bao nhiêu, đáng buồn. Còn buồn hơn nữa là thảm trạng mà ông viết ra từ trong lòng chế độ đến nay sau gần 50 năm, vẫn nguyên vẹn, nhiều khi mức tệ hại còn tăng lên gấp trăm lần, nghìn lần. Mức tham nhũng xưa kia tính theo cây vàng, nghìn đô-la nay có thể là trăm cây vàng, từng triệu đô-la. Không cần dẫn chứng, cứ theo dõi tin tức luồng chính trong nước cũng đã đủ.

Cây cỏ cộng sản đã được gieo trồng chung quanh hang Pắc-bó hơn nửa thế kỷ trước đã lan tràn bao phủ khắp đất nước. Còn hy vọng nào chăng?

**

 Hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Hồi ký Nguyễn Hiến Lê do Nxb Văn Nghệ in lần đầu ở California năm 1990 là bản nguyên do gia đình cố học giả gửi sang. Sau đó với cao trào “Đổi Mới”, trong nước lần lượt tái bản các sách cũ của Nguyễn Hiến Lê và cả hồi ký. Tuy nhiên bản in của Nxb Hồng Đức, Nxb Văn Hoá-Thông Tin và Nxb Văn Học là bản bị kiểm duyệt. Nhiều chương hồi ký bị cắt bỏ như chương Xã Hội Sa Đọa.

Đặc biệt, chính tay Nguyễn Hiến Lê viết “hồi kí” chứ không viết “hồi ký” như cách viết thông thường ở miền Nam. Với đa số dân Nam, cách viết này là cách viết sau 75 của miền Bắc. Tại California, Nxb Văn Nghệ của ông Võ Thắng Tiết đã tôn trọng lối viết ấy của tác giả. Ngược lại, trên các bìa sách của Nhà Hồng Đức hay Nxb Văn Học ở phường Trúc Bạch quận Ba Đình thì ghi “Hồi ký”. 

[Trần Vũ]

Điều đáng ngại nhất là sa đọa về tinh thần, tới mất nhân phẩm

Tham nhũng

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu … Cái tệ đó còn lớn hơn tất cả các thời trước.

Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bênh vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đọa thêm chứ để chúng mau sụp đổ”.

Có những ông trưởng ty uống mỗi ngày một ve Whisky (tôi không biết giá mấy trăm đồng), hút 2, 3 ba gói thuốc thơm 555 (30 đồng một gói). Bọn đàn em của họ cũng hút thuốc thơm, điểm tâm một tô phở 6 đồng, một ly cà phê sữa 4 đồng, sáng nào như sáng nấy mà lương chỉ có 60-70 đồng một tháng.

Ăn cắp

Như vậy thì tất phải có những vụ ăn cắp của công (Kho một trung tâm điện lực nọ cứ 4, 5 tháng lại mất trộm một lần mà không tra ra thủ phạm; rất nhiều bồn xăng bị rút cả ngàn lít xăng rồi thay bằng nước…), thụt két, ôm vàng trong ngân hàng để vượt biên, có khi lại tạo ra những vụ kho bị cướp, bị cháy v.v.  Y tá ăn bớt thuốc của bệnh nhân rồi tố cáo lẫn nhau, giám đốc biết mà không làm gì được. Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi. Vì vậy chúng càng hoành hành, ăn cắp, ăn cướp giữa chợ, công an làm lơ, còn dân chúng thì không dám la, sợ bọn chúng hành hung. Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

Con người mất nhân phẩm

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà Nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà 3 người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi đưa họ, họ đăng, nhưng ký tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ 4 năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long Xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân Sơn Nhất 2 năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và 60 lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên 10 người khi họ ra Vũng Tàu chờ ghe đưa ra khơi. Đa số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Bản in bị kiểm duyệt trong nước
của Nxb Hồng Đức

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc chỉ  điểm đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Để cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám thêm bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0.8 đồng ở tỉnh (5). Nhưng ở Long Xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn thứ đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2,000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng săng tống tiền: quốc doanh định 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì săng mới được ghép lại kỹ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không cho dân đủ sống, dân phải xoay xở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa một xã hội nào phi lý như vậy. Vì biết mình phi lý nên có nơi chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép cả giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Đồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp, có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế. Ông Hồ Chí Minh có lần nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người vẫn là quan trọng hơn cả. Có chế độ tốt, chính sách tốt mà không có con người tốt thì cũng hỏng hết. Ai cũng phải nhận rằng tinh thần, tư cách đại đa số cán bộ càng ngày càng sa sút, hủ hóa mà xã hội chủ nghĩa mỗi ngày một lùi xa. Ông Hồ đã thấy trước cái mòi suy vi đó khi ông thốt ra lời trên chăng?

Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kỹ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc … cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!

Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai. Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là với nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?

NHL

Chương Kết Quả Sau 5 Năm, Hồi ký tập 3, NXB Văn Nghệ, California 1990

13 February 2024

235 năm Vua Quang Trung đại phá quân Thanh


 QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH
(Emperor Quang Trung's Victory over Chinese Invaders in 1789)  
*
Oil on canvas, 24 x 48 in. (61 x 122cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**

Sử Việt
13/02/2024 Mồng 4 tháng Giêng năm Giáp Thìn

Mùng 5 Tết  âm lịch:
kỷ niệm 235 năm (1789-2024) 
ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh xâm lược. 

Ảnh bên phải: Internet.
Tranh vẽ quân Thanh 
ồ ạt tiến vào nước ta

Tại Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho quân lính cướp bóc, đốt nhà, giết người rất tàn bạo. Lê Chiêu Thống được nhà Thanh phong là "An Nam quốc vương" , thực ra chỉ là vua bù nhìn. Hàng ngày, y tìm cách trả thù, báo oán rất tàn ngược. Người dân Thăng Long nói vói nhau: "Nước Nam từ khi có đế có vương đến nay, chưa bao giờ thấy ông vua nào luồn cúi đê hèn như vậy".
(Hoàng Lê nhất thống chí).

Đêm trừ tịch (30 tết), quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy.

Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyết và đồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn.

 Dụ hàng đồn Hà Hồi, áp sát Ngọc Hồi

Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng.

Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình.

Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long.

Diệt đồn Đống Đa

Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân Chính và Khương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.

Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay)[24].

Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm 2: một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tựvẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát[25].

Nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã làm bài thơ Loa Sơn điếu cổ có câu:

Thánh Nam thập nhị kình nghê quán
Chiến điệu anh hùng đại võ công
Dịch:
Thánh nam xác giặc mười hai đống
Ngời sáng anh hùng đại võ công

Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa.

Tiến vào Thăng Long

Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết:

"Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết... Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được..."

Đại Nam chính biên liệt truyện viết:
 
"Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được."

Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên nhà Thanh:

"Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả"[26],[27].

Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang.

Trận Ngọc Hồi

Sáng mồng 5 Tết, khi đô đốc Long tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, Quang Trung hạ lệnh đánh đồn Ngọc Hồi. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, đồn này được Sĩ Nghị quan tâm phòng thủ nhất, có phó tướng Hứa Thế Hanh đích thân ra chỉ huy. Đồn có hỏa lực mạnh, xung quanh có địa lôi và chông sắt. Để phá hỏa lực địch, Quang Trung làm sẵn 20 tấm mộc đỡ đạn có tẩm rơm ướt dàn đi trước.

Theo Lê quý kỷ sự và Việt sử Thông giám cương mục, mờ sáng mùng 5, 100 voi chiến Tây Sơn tiến lên. Ngựa quân Thanh sợ voi lui lại, giẫm lên nhau, lùi về đồn. Quân Thanh không dám ra nữa, cố thủ trong đồn bắn ra. Quang Trung chia tượng binh làm hai cánh, một cánh vòng qua sau đồn Ngọc Hồi, đóng phía đông đê Yên Duyên để chặn đường địch rút; cánh kia dùng mộc tẩm rơm ướt tiến lên hãm đồn. Đại bác quân Thanh bị vô hiệu lực. Quân Tây Sơn tiến vào đồn hỗn chiến. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, quân Thanh không chống nổi chạy tản ra tứ phía, lại giẫm phải địa lôi chính mình đặt từ trước nên bị chết rất nhiều. Đồn Ngọc Hồi bị quân Tây Sơn thiêu cháy.
 
Quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi chạy tới đê Yên Duyên, trông thấy phục binh Tây Sơn chặn đánh, phải chạy theo đường Vịnh Kiều[28] trốn về Thăng Long. Nhưng chạy tới nửa đường thì gặp cánh quân đô đốc Bảo đánh tới từ làng Đại Áng. Quân Thanh phải chạy lên làng Quỳnh Đô[29] định trốn vào đầm Mực. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân đô đốc Bảo tiến vào đầm Mực tiêu diệt toàn bộ quân Thanh còn lại chạy từ Ngọc Hồi về đây.

Như vậy toàn bộ hệ thống đồn do Tôn Sĩ Nghị thiết lập để phòng thủ ở nam Thăng Long đều bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận.

Khải hoàn

Cũng theo Thánh vũ ký, đạo quân Vân Nam – Quý châu đóng ở Sơn Tây được tin các đồn thất thủ, tướng Ô Đại Kinh không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người Việt là Hoàng Văn Đồng dẫn đường chạy về Trung Quốc.

Chiều mồng 5 tết (tức 30 tháng 1 năm 1789[30]), Quang Trung và đô đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân, đô đốc Long ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo bào của Quang Trung sạm màu khói súng.

Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ, bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên giới chỉ có khoảng 50 người.

Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người.

 Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn đã khải hoàn ở kinh thành.

Ngô Ngọc Du là một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt đó của Tây Sơn trong một bài thơ:

Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
"Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta"

Các đồn bị hạ

Gián Khẩu
Yên Quyết
Nhật Tảo
Hà Hồi
Ngọc Hồi
Đống Đa
Nam Đồng

Tế quân Thanh

Sau cuộc chiến, Quang Trung ra lệnh thu nạp và nuôi dưỡng hàng vạn tù binh Mãn Thanh[31]. Ông sai thu nhặt xương cốt quân Thanh tử trận, chôn thành những gò đống, lập đàn cúng tế và sai Vũ Huy Tấn soạn văn tế, biểu thị sự thương xót với những quân, dân Trung Quốc chết xa nhà. Bài văn có đoạn:

Nay ta
Sai thu nhặt xương cốt chôn vùi
Bảo lập đàn bên sông cúng tế
Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc
Xuất của kho mà đắp điếm đống xương khô
Hồn các ngươi không vơ vẩn ở trời nam, hãy lên đường mà quay về nơi hương chí
Nên kính ngưỡng ta đây là chủ, chan chứa lòng thành
Nhưng mong sao đáp lại đạo trời, dạt dào lẽ sống[32].

**

20 May 2023

TRỐN, hồi ký

TRỐN
(Biến cố Ban mê Thuột: 10/3/1975)

Riêng cho Mai, các con, cháu và bạn hữu.
nguyễn ngọc vỵ

Tác giả là cựu Phó Tỉnh trưởng Hành Chánh tỉnh Darlac vào thời gian quân cộng sản tấn công Ban Mê Thuột, tháng 3 năm 1975. Trước đó Ông từng giữ các chức vụ: Quân trưởng Bình Khê, Bình Định 1966, Phó Tỉnh trưởng Quảng Đức 1967, Phó Thị trưởng Cam Ranh 1968-1971, và cuối cùng là Phó Tỉnh trưởng Darlac 1972-1975.
Ông là người làng Bác Trạch, Kiến Xương, Thái Bình. Di cư vào Nam 1954, theo học các trường Chu Văn An, Luật và Quốc Gia Hành Chánh. Ông tốt nghiệp khóa 3 sĩ quan hiện dịch Đồng Đế, Nha Trang. Cha Ông bị đấu tố chết trong tù năm 1955. Một năm sau Mẹ chết vì buồn khổ và bệnh, nhưng mãi 25 năm sau Ông mới biết.

Ông cho biết nội dung bài viết của Ông hoàn toàn thực 100%: “không phải là nhà văn, càng không phải là sử gia, tôi không coi đây là một tài liệu quan trọng hay một bài viết có tính cách văn chương mà thực tế chỉ là một bài viết ghi lại những gì thực sự tôi biết, tôi nghe, tôi chứng kiến, đúng nhất là tôi đã… lãnh, đã gánh chịu. Tôi viết để sau này cho con cháu biết chuyện mà thôi”.

Sau 35 năm ra khỏi nước, giờ đây, ngồi trên đất Hoa Kỳ...ghi lại đôi giòng về biến cố “Ban mê Thuột” (3/75), khởi sự cho cái nhục: 'thất thủ Miền Nam', nghĩ tới lời ai đó: “Cao nguyên là miền đất chiến lược, ai chiếm được 'Cao nguyên' sẽ … kiểm soát cả Việt Nam”, thấy không sai! 

Không biết ba chữ 'Buồn muôn thuở' (BMT) nó có trực tiếp vận vào người dân xứ Ban mê Thuột (BMT) hay không mà …Giữa lúc mọi người đang vui hưởng cuộc sống thanh bình, yên vui, điển hình là trong thành phố, những nơi thờ phượng như Nhà thờ, Đền đài, Chùa, Miếu, lúc nào cũng đông đảo tín hữu lui tới cầu nguyện, cúng bái. Chợ búa, trường học, tấp nập người lớn, trẻ con, ngày đêm chen chân buôn bán, làm ăn, học hành hăng say, tích cực, xa xa ngoài buôn, ấp, nương rẫy, những đoàn người xả sức cày sâu, cuốc bẫm, liên tục vun xới, tưới trồng, háo hức trông đợi một mùa mới thành công, gia đình quây quần quanh bữa cơm chiều, bên ngọn đèn ấm cúng, chan hoà hạnh phúc, thì hung tín tràn về: Việt cộng sắp đánh … Ban mê Thuột!

BMT sẽ khốn khổ ...? Đời...BMT vốn chỉ 'ẩm áo bởi mưa phùn, sương sa', không lẽ...sẽ 'ướt đẫm, tơi tả vì cuồng phong, bão tố'? Phải chăng: 'Hoà bình sẽ đi và chiến tranh sắp...đến' ?

Ngày 9 tháng 3 năm 1975 là ngày Chúa nhật, chuông nhà thờ vẫn đổ như mọi Chúa nhật quanh năm, nhưng...không biết có phải vì tâm hồn xao động mà tiếng chuông vang nghe khác hẳn: Chậm rãi, yếu ớt! Không mạnh mẽ như mọi khi! 

Thật ra, liên tiếp những ngày trước đó, nhiều tin xấu đã dồn dập lan tràn trong dân chúng, khiến lòng người hoang mang, lo sợ. Hình ảnh sống động của Thị xã Ban mê Thuột, một đơn vị xã hội đầy sức sống, đang vươn lên bằng chính tâm, sức của mình, bỗng một sớm một chiều, tan biến đi một cách nhanh chóng, oan uổng! Tâm trạng người dân lúc ấy, sao mà … nhìn đâu cũng thấy kẻ thù!

TRỐN, hồi ký (tiếp theo và hết)

TRỐN
(Biến cố Ban mê Thuột: 10/3/1975)

Riêng cho Mai, các con, cháu và bạn hữu.
nguyễn ngọc vỵ


- Mẹ ơi, Ba... Tôi nhận ra là tiếng thằng con đầu của tôi. Đúng thằng Vinh, tôi cũng la:

- Vinh phải không? Ba đây, Thằng bé mở cửa xông ra ôm chầm lấy tôi, mừng quá, cha con cứ ôm nhau đứng đó, Bỗng nghe có người hỏi:

- Nhớ Bố nhiều không? Thằng bé nhìn Quân không đáp, sợ, tôi vội nhắc:

- Chào...ông đi con, Rồi hỏi tiếp:

- Mẹ và các em đâu? Cậu Khải nữa, có nhà không?

Một đám đông gồm nhà tôi, chị Tiểng(chủ nhà), các con chị và các con tôi cùng ùa ra mừng rỡ. Chứng kiến cảnh đoàn tụ hi hữu này, Quân cười nói:

- Trốn mãi bây giờ mới dám ra phải không?

Tất cả cùng cười, riêng chị Tiểng (phu nhân cựu Tỉnh trưởng Darlac) lại thật thà:

- Sợ là đến bắt chúng tôi đấy chứ!

Chị Tiểng mời Quân vào nhà. Sau khi tôi giới thiệu từng người với Quân, chủ khách phân định xong, Quân ngó tôi nói:

- Tôi nghĩ là anh nên đi tắm, lâu không tắm chắc khó chịu lắm.

Cám ơn Quân và nhờ chị Tiểng và nhà tôi tiếp khách, tôi đi tắm. Khoảng nửa giờ sau, tắm xong, tôi trở ra thấy Quân đang ôm thằng Vinh, con trai lớn của tôi trong lòng, cằm tỳ trên đầu nó, thỉnh thoảng lại đưa tay vuốt tóc thằng bé xem ra rất âu yếm. Trực giác bảo tôi: Anh này vẫn còn tình cảm con người? Mình phải khai thác tí ti mới được.

- Anh Quân à, anh có gia đình chưa?

- Cám ơn anh, tôi cưới vợ và đẻ đứa con đầu lòng được 6 tháng thì vào Nam, nay cháu cũng bằng tuổi thằng cu này.

- Vậy là anh vào Nam 11 năm? Cháu Vinh hơn 11 tuổi rồi đó.

- Gần gần...thiếu mấy tháng...

- Khi ra đi, anh có tính bao giờ thì về không?

- Không, chuyện đó đảng lo, bao giờ cách mạng thành công thì về.

Thường thì gặp trường hợp nghe nói thế, tôi hay đùa một câu: Lỡ cách mạng không thành công thì sao? Nhưng đây thì không, tôi hỏi:

- Lỡ khi ấy anh lại không muốn về thì sao?

- Làm gì có chuyện ấy, đi, ở hay về cũng như mọi chuyện khác, đảng và nhà nước sáng suốt, quyết định hết cho mình.

Tin tưởng kiểu này...hết nói rồi! Tôi muốn biết thêm:

- Thế lâu nay anh vẫn được tin gia đình chứ?

- Hai năm đầu thì có thư của nhà tôi, sau thì không.

- Lo phục vụ nên cũng bớt nhớ nhà phải không anh?

- Cũng nhớ chứ, nhưng phải chấp nhận.

- Anh có nghĩ khi ngoài quê có chuyện, một mình chị lo nổi không?

- Không sao, đảng hứa là giúp hết mọi chuyện, mình cứ yên tâm phục vụ.

Nói năng thì thế chứ nét mặt, cử chỉ...không phải thế, chắc chắn là Quân vẫn còn nhớ vợ, thương con. Trước khi kết thúc cuộc tra tấn tình cảm này, tôi thử nhắc tới Phụ Mẫu của Quân xem anh ta biểu lộ cách nào:

- Sức khoẻ hai Cụ Thân sinh anh thế nào ? Tốt chứ ạ?

- Thầy tôi thì mất ngay sau khi tôi thoát ly được một năm, Mẹ tôi thì trong thư cuối cùng cách đây 7, 8 năm, nhà tôi cho biết, hay yếu đau. Đôi lúc hình dung thấy nhà tôi phải nuôi con dại lại thêm phụng dưỡng Mẹ già, chắc là....vất vả lắm!

Chỉ nói được bấy nhiêu, Quân ngưng và gục mặt xuống đầu thằng bé, thở dài! Thế là rõ lắm rồi. Để xua đi giây phút xúc động, nặng nề ấy, tôi nói thật chậm cốt cho anh ta nghe từng lời của tôi:

- Ở hiền thì gặp lành anh Quân à, xa cách ngàn dặm mà anh vẫn nhớ đến Mẹ, vẫn nhớ vợ, thương con, ăn ở hiếu thảo với Cha Mẹ như vậy, thế nào đời anh chẳng gặp lành, gặp may. Hồi trưa anh bảo là quê Thái Bình, thế Huyện nào? Xã nào vậy?

- Đẻ ở Thanh Nê, anh biết xã Thanh Nê ở đâu không? Từ tỉnh lỵ đi Tiền Hải, Qua khỏi Quận Kiến Xương độ 3, 4 cây số, nó nằm ngay ngã ba giữa quốc lộ và lối rẽ vào Cao Mại đó.

- Vậy thì cùng Huyện với tôi rồi, tôi ở Bác Trạch, Kiến Xương, anh có biết gì về Bác Trạch không?

Tôi và Quân còn nói nhiều chuyện liên quan đến vùng Bác Trạch, Thanh Nê, Cao Mại thuộc Huyện Kiến Xương, rất nhiều điểm cả hai cùng biết trước kia. Đang vui chuyện thì Quân đứng dậy, cáo lỗi ra về. Dĩ nhiên là tôi phải tự động xách giỏ quần áo đi theo Quân về địa điểm “quản thúc”. Ra tới cửa, Quân quay lại:

- Anh ở lại nhà với chị và các cháu được đấy, tôi về .

Mới nghe thì mừng, nhưng chợt nghĩ: Cộng sản thường hay chơi cái trò “Quan tha, Nha bắt' lắm. Tôi nói ngay:

- Anh Quân à, anh cho ở nhà thì cám ơn anh nhưng sợ đêm nay lỡ có toán an ninh nào đi tuần tiễu, kiểm soát, họ vào nhà khám xét, tôi không ra trình diện mà họ bắt gặp thì mang tội trốn tránh mà ra thì có gì chứng minh là được anh cho ở nhà đâu, Họ dẫn đi đường dây nào thì làm sao liên lạc được với anh mà can thiệp. Thôi, tôi đi với anh.

Nghe tôi trình bày, Quân nhìn tôi:

- Có chuyện đó nhỉ...nhưng chắc không sao đâu, tôi ở ngay trụ sở, có gì thì Uỷ ban Quân quản Tỉnh cũng phải cho tôi biết, tốt nhất là anh đừng đi đâu, được không? Thôi cứ vậy đi, tôi về.

Quay vào nhà, tôi phải tường thuật đầy đủ mọi chuyện cho chị Tiểng, nhà tôi cùng các con và các cháu con chị nghe những gì đã xảy ra cho tôi trong thời gian bị bắt, tiếp đó là được ăn bữa cơm ngon, có canh chua sau nhiều ngày chỉ có cơm và nước muối, tôi lại phải ngồi yên cho thằng Thành (con trai chị Tiểng) cạo bộ râu xồm ngay, cả buổi tối, mấy đứa nhỏ cứ ngó tôi cười hoài.

Đang say giấc (1:00 sáng) tiếng gọi lạc giọng:

- Chú phó, chú phó ơi...dậy mau, mau đi...chết rồi em ơi!

03 December 2022

Thành quả hỗ tương: Ấn Quang-Cộng sản - (quan điểm)

Cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh

Người ta có thể tóm lược rất nhiều thành quả trong cuốn sách của cộng sản Việt Nam nhận cuộc đấu tranh của phật giáo từ 1963 làm thành quả của “đảng ta”. Ví dụ, cuốn “Phong Trào Tranh Đấu Chống mỹ Của Giáo Chức, Học Sinh, Sinh Viên Sài Gòn” của Hồ Hữu Nhật do nhà xuất bản “thành phố Hồ Chí Minh”  phát hành năm 1984:
“Dưới trào Ngô Đình Diệm:

“Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hậu thuẫn vững chắc của nhiều tổ chức: Gia đình Phật tử, Sinh viên Phật tử, Học sinh Phật tử, Thanh niên Phật tử. Năm 1962 gia đình Phật tử tập hợp được 200 trăm ngàn người, năm 1964 có 400 ngàn . Đảng đã có cơ sở trong các tổ chức đó. Các chùa, trường Bồ Đề, Viện Hóa Đạo, trở thành trung tâm đấu tranh và phát xuất những cuộc mít tinh biểu tình chống ngụy quyền (trang 88-89)”.

“Sau khi Diệm đổ:

“Cuộc đấu tranh chính trị sôi sục và quyền chủ động phần nào trong tay Phật giáo, nhưng đảng ta đã chỉ đạo cơ sở kịp thời tham gia hỗ trợ, nâng khí thế phong trào lên với qui mô toàn quốc (trang 98)”.

“Ngoài ra ta cũng nắm được ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh (nhiệm khóa 1966-1967). Chủ tịch Hoàng Tiến Dũng, Tổng thư ký Phan Long Côn, một trung tâm công khai, có uy tín trong sinh viên Phật tử và đồng bào Phật tử cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Đối với tổ chức cấp cao nhất của Phật giáo, đảng ta đã mời Hòa thượng Thích Thiện Hoa ra tranh cử và Hòa thượng đã đắc cử Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất." (trang 106).
HT Thích Thiện Hoa
“Nhân Lễ Phật đản 5.5.1966, tại Viện Hóa Đạo, học sinh, sinh viên cắm một băng giấy trên chiếc xe Mỹ bị họ đốt cháy: “Đây, kết quả 13 năm viện trợ Mỹ !”, nhiều tấm bảng dựng trước Viện Hóa Đạo vẽ hình châm biếm Tổng thống Mỹ Giôn Xơn, khẩu hiệu chống khủng bố trong cuộc đấu tranh ngày 20.5.1966: “Mạng người Việt Nam không thể đổi bằng đô la và bom đạn Mỹ - Rút ngay quân đàn áp ra khỏi Đà Nẵng …”.

Bên ngoài, từ ngày 3 đến ngày 10.6.1966, Phong trào Bàn thờ phật xuống đường, gây cản trở giao thông, làm rối sào huyệt cuối cùng của địch, 10 xe Mỹ bị đốt trong đợt này (trang 130)”.

14 October 2022

Tưởng niệm biến cố 01-11-63, đọc tác phẩm "La République du Việt-Nam et les Ngô-Đình" của Ngô Đình Quỳnh, Ngô Đình Lệ Quyên & bà Jacqueline Willemetz

Trần Phong Vũ


Tác phẩm La République du Việt-Nam et les Ngô Đình –Nền Cộng Hòa Việt-Nam và dòng họ Ngô-Đình do hai người con của ông bà cố vấn Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Quỳnh, Ngô Đình Lệ Quyên (cô Lệ Quyên qua đời do một tai nạn xe năm 2012) và bà Jacqueline Willemetz đứng tên đồng tác giả. Nguyên tác viết bằng Pháp ngữ do nhà xuất bản L’Harmattan ở Paris, Pháp ấn hành năm 2013. Cho đến này chưa thấy có bản dịch Việt ngữ. Tác phẩm chính thức ra mắt độc giả hải ngoại nhân lễ tưởng niệm 50 năm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị thảm sát kéo theo sự sụp đổ của nền Đệ Nhật Cộng Hòa Việt Nam. Buổi ra mắt được tổ chức ở Giáo Xứ Việt Nam, Paris Pháp quốc hôm 02-11 năm 2013.

Một cách tổng quát, tác phẩm có 246 trang, chia làm ba phần chính.

* Phần đầu hơn 70 trang gồm 4 chương:

Chương I.- trình bày về thân thế giòng họ Ngô Đình, bao gồm cả gia tộc bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân.

Chương II.- Thuật lại cách tóm tắt sự ra đời của nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam. Hai mốc điểm quan trọng là cuộc trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Đại ngày 23-10-1955 và một năm sau, ngày 26-10-1956 công bố nền CHVN. Trong chương này, tác giả đưa nguyên văn lá thư thứ nhất viết ngày 20-4-1956 và lá thư thứ hai không đề ngày, nhưng qua nội dung cho thấy viết vào khoảng sau Tết năm 1962 của ông Ngô Đình Nhu gửi người bạn đồng môn của ông là bà Jacqueline Willemetz tại Ecole des Chartes, Paris.

Chương III.- Cuộc chính biến ngày 01-11-1963 dẫn tới cái chết thảm khốc của TT Ngô Đình Diệm, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, và sự cáo chung của nền Đệ Nhất CHVN.

Chương IV.- Trình bày một số những sự kiện quan trọng liên quan tới biến cố cần được nhìn lại. Lá thư thứ ba của ông cố vấn Ngô Đình Nhu viết ngày 02-9-1963 (chẵn hai tháng trước khi hai anh em Tổng Thống bị thảm sát) gửi bà Jacqueline Willemetz được đưa vào chương này. Trong một chú thích nơi trang 65 cho biết nguyên văn cả ba lá thư viết tay của ông Nhu hiện được lưu trữ tại văn khố École des Chartes. Nội dung mỗi lá thư chứa đựng những suy tư của vị cố vấn TT đầu tiên của Việt Nam ứng vào những vấn đề thời sự trong từng giai đoạn với những tình huống khác nhau.

* Phần thứ hai 29 trang là những hình ảnh mô tả dòng họ Ngô Đình. Trước hết là chân dung cụ Ngô Đình Khả, hình ghép cụ bà và sáu người con trai, từ ông Ngô Đình Khôi, Giám mục Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Cẩn, một số ảnh chân dung cố Tổng Thống, ông bà Ngô Đình Nhu và mấy tấm hình ghi lại những hoạt động của bà Nhu.

* Phần thứ ba là một đoạn Hồi Ký của bà Ngô Đình Nhu chiếm phân nửa tác phẩm với tiêu đề "Le Caillou Blanc" – tạm địch là "Viên Sỏi Trắng".

Ngoài ra là những trang cuối in lại bút tích của chính ông Ngô Đình Nhu trong ba lá thư ông viết cho đồng môn của ông ở Ecole des Chartes, Paris..

Xuyên qua nội dung tác phẩm "La République du Việt Nam et les Ngô Đình", người đọc ghi nhận một vài nét đặc biệt, đáng chú ý sau đây.

Hẳn không phải ngẫu nhiên khi trình bày vể thân thế giòng họ Ngô Đình, tác giả đã bắt đầu chương này với mốc lịch sử nước nhà ở thời điểm 939, năm chấm dứt thời Bắc thuộc để bước vào thời tự chủ với Ngô Quyền, vị vua đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Phải chăng các đồng tác giả muốn nhấn mạnh tới sự kiện Ngô Vương Quyền, người đánh đuổi quân Nam Hán, khai mở đế chế, đặt nền móng cho nền độc lập nước nhà sau 1000 năm bị người Tàu đô hộ? Từ đấy gợi cho người đọc mhớ tới hơn một nghìn năm sau –năm 1956- một người cũng thuộc giòng họ Ngô –Chí sĩ Ngô Đình Diệm- có công loại bỏ mọi tàn tích của thời phong kiến và 100 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp cùng với mưu toan nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam của cộng sản để mở đường cho dân tộc đi vào một kỷ nguyên mới? (Tiếc rằng, lịch sử đã diễn ra theo hướng khác, khiến cho tác giả Trung tá Nguyễn Văn Minh, nguyên chánh văn phòng của ông Ngô Đình Cẩn viết tác phẩm "Dòng họ Ngô Đình, Ước Mơ chưa đạt"!)

Ngoài những nét lớn ghi dấu sự ra đời và cáo chung của nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, trong chương thứ tư phần thứ nhất, tác giả đã nêu bật lên một số sự kiện cụ thể nhằm phản bác những luận cứ của phe chống đối chế độ, bao gồm nhóm Phật Giáo Ấn Quang. Về điểm cho rằng cố TT Ngô Đình Diệm vì là tín đồ Công giáo nên có tinh thần kỳ thị Phật giáo, tác giả đã đưa ra nhiều chứng minh đầy tính thuyết phục để phản biện lại luận cứ này. Thí dụ như ở trang 63, tác giả cho hay: trong số 18 tổng bộ trưởng trong nội các thời ấy chỉ có 5 vị có tín ngưỡng Công giáo. Trong khi ấy, tỉ lệ số tướng lãnh trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ có cùng niềm tin với vị lãnh đạo quốc gia cũng chỉ là thiểu số so với những vị có tín ngưỡng khác, bao gồm Phật giáo.

Trả lời luận cứ cho rằng chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa kìm hãm sự phát triển của Phật Giáo, tác giả đã chứng minh: chỉ dười thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có tới 1275 ngôi chùa mới được xây dựng. Riêng với chùa Xá Lợi, một ngôi chùa danh tiếng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở thủ đô Sàigòn thời ấy, Ngô Tổng Thống đã tự mình quyết định trích ra 600 ngàn đồng giúp vào việc kiến thiết. Đấy là chưa kể hàng ngàn ngôi chùa khác đã được chính quyền giúp đỡ phương tiện trùng tu.

(Về điểm này, có lẽ cũng cần phải nói tới bài viết mới đây của nhà văn Trần Trung Đạo được đăng trên mạng Đàn Chim Việt Info.

Đại cương nhà văn họ Trần cho biết, mới đây ông đọc được trên mạng một bài viết thuật lại lời Đức Đạt Lai Lạt Ma cho hay đầu thập niên 60 thế kỷ trước, hàng chục ngàn tín đồ Phật giáo Tây Tạng theo chân ngài tị nạn qua Ấn Độ đã phải trải qua những năm tháng gian nan khổ ải, thiếu ăn thiếu mặc. Giữa cảnh ngộ khó khăn ấy, ngài đã được Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm gửi hàng trăm tấn gạo qua cứu trợ. Sau bản tin này, tác giả Nguyễn Kha trong nhóm Giao Điểm đã viết mỗt bài phản bác với tiêu đề mang nặng tư tưởng mạt sát: "Đức Dalai Lama, ông Ngô Đình Diệm và mặc cảm tội lỗi của nhóm ‘hoài Ngô’".

Nhưng may thay, nhờ những tài liệu còn lưu trữ trong văn khố của chính quyền New Dehli do Hoà Thượng Thích Như Điển viện chủ chùa Viên Giác ở Đức cung cấp, nhà văn Trần Trung Đạo đã trích dẫn lời của thủ tướng Ấn, ông Shri Jawaharlal Nehru, trong cuộc phỏng vấn ngày 19-12-1960, cho hay: "Các chính phủ Úc, Mỹ và Tân Tây Lan đã viện trợ 10 lakhs Rupees, 4,75,000 Rupees, 2,63,920 Rupees theo thứ tự để chính phủ Ấn chi dùng cho các chương trình tỵ nạn Tây Tạng. Riêng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng 1300 tấn gạo". Ngoài ra, tài liệu còn cho hay, Bộ Trưởng Ngoại Giao Ấn Shrimati Lakshmi Menon cũng xác nhận, trong lần thứ hai chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm còn gửi thêm 200 tấn gạo để giúp đỡ dân tị nạn Tây Tạng.

Nhà văn Trần Trung Đạo nhấn mạnh:

"Như vậy, việc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa giúp đỡ tín đồ của Đức Đãt Lai Lạt Ma không chỉ một lần mà hai lần và cũng không chỉ vài ngàn mà hàng trăm ngàn tấn gạo là chuyện thật".)

Ngoài ra, cũng trong chương này, ba đồng tác giả Ngô Đình Quỳnh, Ngô Đình Lệ Quyên và Jacqueline Willemetz còn nhắc lại việc phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới Việt Nam từ ngày 24-10 đến 03-11-1963 để điều tra về lời tố cáo của Ủy Ban Liên Phái Phật giáo là chính quyền Đệ Nhất Cộng Hỏa kỳ thị và đàn áp Phật giáo. Điều đáng tiếc là bản báo cáo của phái đoàn phi bác hầu hết những lời tố cáo chỉ được đưa ra sau cuộc chính biến 01-11-63 và đã bị người ta cố tình quên lãng.

Sau hết, chúng tôi nghĩ rằng việc các tác giả đưa hồi ký của bà Ngô Đình Nhu vào tác phẩm có những ưu điểm rất đáng chú ý.

Tập hồi ký có tên là Le Caillou Blanc – Viên Sỏi Trắng, chiếm phân nửa tác phẩm, chính xác là 122 trang, không kể nguyên bản ba lá thư với bút tự của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu gửi bạn đồng môn của ông ở École des Chartes. Như trong lời mở đầu buổi giới thiệu tác phẩm ở Paris hôm 02 tháng 11 năm 2013 của đồng tác giả Ngô Đình Quỳnh, nội dung cuốn hồi ký của thân mẫu ông mang nhiều tư tưởng thần bí. Trang đầu hồi ký ghi lại lời Kinh Thánh sau đây:

"Ai có tai, thì hãy nghe Lời Thánh Thần Thiên Chúa nói với các Giáo Hội: Kẻ thắng, Ta sẽ ban cho man-na được giấu kín; Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên đó khắc một tên mới; chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lãnh nhận" (Apocalyse 2, 17). Và thêm lời Thánh sử Luca : "Ai là người nhỏ nhất trong anh em, thì kẻ ấy là người lớn nhất" (Luc 9, 48).

Ngoài phần mở đầu, nội dung hồi ký thuật lại những kỷ niệm thời thơ ấu của bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân. Bà sinh năm 1924 trong một gia đình quyền quý, theo học trường Pháp. Năm 17 tuổi gặp ông Nhu, hai người yêu nhau và được chính ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng Thống tương lại của Việt Nam Cộng Hòa, với vai trò quyền huynh thế phụ, tác thành đôi lứa cho hai người vào năm 1943.

Đọc trang cuối, người ta biết bà kết thúc hồi ký "Viên Sỏi Trắng" ngày 22-8-2010 tại nơi cư ngụ mang tên Tịnh Quang Lâu ở ngoại ô kinh thành Rôma, Ý.

Xuyên suốt nội dung hồi ký, người đọc bị hút vào những tư tưởng bí nhiệm với những trích dẫn trong Thánh Kinh, nhất là ở phần cuối. Tuy vậy, với tư cách là phu nhân của ông Cố vấn Chính trị Ngô Đình Nhu, em dâu vị Tổng Thống VNCH trong suốt 9 năm, bà đã hé mở cho người đọc thấy được nhiều góc cạnh khuất lấp về tình hình chính trị đương thời, bao gồm cuộc sống riêng tư của bà sau khi kết hôn với ông Nhu, mà chỉ những người trong cuộc mới biết rõ.

Bà kể lại những tháng ngay cô đơn, lo lắng vì chồng thường vắng nhà, hai người anh, một bị giết (ông Ngô Đình Khôi) cùng với con trai, một bị Hồ Chí Minh bắt giữ, sau đó được thả (ông Ngô Đình Diệm) trong khi ông Nhu phải trốn tránh, cho đến ngày ông Diệm về nước chấp chánh tháng 7 năm 1954. Tác giả hồi ký đã thuật lại những biến cố quan trọng trước khi nền Đệ Nhất CHVN ra đời, trong đó có bóng dáng sự can thiệp của bà. Hơn một lần bà công khai lên án bàn tay nhám của thực dân (được hiểu là người Pháp) và đế quốc (ám chỉ người Mỹ) nhúng vào nội tình chính trị miền Nam trong những cuộc đảo chánh dẫn tới cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Chính bà là tác nhân khiến không chỉ tướng Hinh, con trai nguyên thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, vốn được người Pháp đỡ đầu bị truất quyền, mà cả phó thủ tướng Nguyễn Văn Xuân cũng phải từ chức, thời gian ông Diệm mới về nước chấp chánh.

Theo nhận định của tác giả hồi ký thì sau cuộc trưng cầu dân ý thành công ngày 23-10-1955 và sự khai sinh nền CHVN một năm sau, người Pháp vẫn nuôi ý định trở lại Việt Nam bằng cách tạm thời lánh qua Căm Bốt. Vẫn theo bà nhu, vụ TT Diệm bị ám sát hụt tại Ban Mê Thuột năm 1957 có vai trò của Lê Văn Kim vốn là một tay sai của Pháp khi trước. Trong những cuộc đảo chính bất thành đầu thập niên 60, bà đã công khai nói thẳng với CIA rằng "chúng tôi không trông chờ được coi là đồng minh (là bạn) của Mỹ mà chỉ mong Hoa Thịnh Đốn đừng can thiệp vào nội tinh Việt Nam". Lời tuyên bố thẳng thừng này của người được coi là Đệ Nhất Phu Nhân VN khi ấy, đã khiến Nhà Trắng quan tâm. Sau đó, do áp lực của cả Pháp và Mỹ bà phải phải rời Sàigòn qua Hoa Kỳ trong ba tháng với lý do được hiểu ngầm là để tránh sự can thiệp của bà vào việc ổn định nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Thời gian này bà có dịp học thêm Anh ngữ.

Sau khi trở thành dân biểu, năm 1958 bà trình lên Quốc Hội Dự Luật về Gia-Đình với mục tiêu tối hậu là giải phóng phụ nữ về mặt pháp lý -một vợ một chồng, nam nữ bình quyền trong mọi lãnh vực, bao gồm cả việc quản trị, sử-dụng và phân chia gia sản, thừa kế di sản…-. Vì trước đó bà kể lại việc chồng bà –ông cố vấn Ngô Đình Nhu- đề ra thuyết Nhân Vị đề cao tính siêu việt của con người, cho nên có thể hiểu việc đệ trình Dự Luật Gia Đình như một hình thức đưa thuyết Nhân Vị vào thực tế sinh hoạt xã hội lúc bấy giờ. Có điều sau này những người am hiểu hoàn cảnh Việt Nam cho rằng: những việc làm của ông bà Nhu tuy xuất phát từ một viễn kiến đáng trân trọng nhưng nó được đưa ra công khai quá sớm nên đã bị dư luận đương thời phê phán.

Hồi ký cũng nhắc tới việc bà thành lập Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới (PT/PNLĐ) với mục tiêu khích lệ và trợ giúp nữ giới bước ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, tham gia vào những công tác xã-hội, từ thiện, kể cả chính trị. Với tư cách người sáng lập Phong Trào, bà tích cực khơi gợi lòng yêu nước của chị em phụ nữ. Một trong những hoạt động nổi của PT/PNLĐ là thành lập lực lượng Phụ nữ bán quân sự vào khoảng tháng 10 năm 1961. Việc gia nhập được tiến hành theo tinh thần tự nguyện. Chị em được huấn luyện sử-dụng vũ khí và thực hành tác vụ y tế, cứu thương thường thức. Để làm gương, bà cho trưởng nữ Lê Đình Lệ Thủy gia nhập lực lượng này ngay từ khi cô mới 16 tuổi.

Nếu việc khai sinh thuyết Nhân Vị của ông Cố Vấn Chính Trị được bà gán cho một sứ mạng thiên sai theo Phúc âm Thánh Mát Thêu, thì tính cách linh thiêng của sự ra đời PT/PNLĐ khi ấy cũng được nhìn thấy qua sáng kiến gói ghém trong huy hiệu cây đèn dầu của các Trinh Nữ trong Thánh Kinh.

Trong vụ Phật giáo, bà Nhu đưa ý kiến là cần có đại diện các đảng phái và các tổ chức xã-hội dân sự trong Ủy Ban Liên Phái, nhưng TT Ngô Đình Diệm không thuận vì không muốn có sự hiện diện của bà. Nhưng trước khi công bố Thông báo, trong đó Phật giáo đã ký thuận, ông Nhu trao cho bà đọc để hỏi ý kiến. Bà thấy lạ vì hầu hết những đòi hỏi của Phật giáo đều chưa bao giờ bị cấm, do đó bà đề nghị phía chính phủ ký nhưng ghi thêm mấy chữ là những đòi hỏi trong Thông báo chung chưa hề bị cấm. Ông Cố vấn trình bày lại nhận định của bà khi đem Thông cáo chung đến buổi họp nội các, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu làm thinh trong khi Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ mỉa mai: "Họ uống trà có sâm còn mình uống trà thường khiến mình trở thành kẻ ngu". Theo nhận định của bà, câu nói của ông Thơ đã khiến ông Mẫu cạo đầu từ chức để bày tỏ thái độ chống đối.

Ngày 12-9-1963, bà Nhu và trưởng nữ Ngô-Đình Lệ-Thủy lên đường đi "giải độc" ở Âu châu và Hoa-Kỳ. Trong thời gian ở Mỹ, trước khi anh em Tổng thống bị sát hại, bà và con gái được bảo vệ cẩn mật, nhưng sau đó gần như bị bỏ rơi khiến một Linh mục phải nhờ một gia đình người địa phương giúp đỡ mẹ con bà cho đến khi qua Rome.

Ở trong nước, trước ngày xảy ra đảo chánh, ông Nhu lo liệu cho ba người con lên Đà-Lạt và dặn dò trưởng nam là cậu Ngô Đình Trác nếu có chuyện gì xảy ra phải đưa 2 em trốn vào rừng sau nhà. Nhờ thế các con bà đã được trực thăng tiếp cứu khi có biến và ít ngày sau tới Rome an toàn.

Ngày 15-11-1963, bà và con gái rời Los Angeles để đi Rome sinh sống. Bị đế quốc bỏ rơi, nhưng ở phi trường đầy phóng viên báo-chí và truyền hình. Trong hồi ký, bà ghi lại tình cảnh bà bị đế quốc bỏ rơi và hầu như bất cứ ai, kể cả những ký giả có ý bênh vực bà sau đó đều bị ám hại.

(Nhân đây, người đọc xin mở dấu ngoặc để nêu lên một thắc mắc: tại sao khi viết hồi ký có rất nhiều điều tôi cho là rất quan trọng bà từng trả lời cuộc phỏng vấn của chương trình "Vietnam: A Television History – lịch sử Việt Nam bằng truyền hình" tại Roma ngày 02-11-1982 đã không được đề cập tới. Thí dụ như những câu hỏi liên quan tới cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, những luận điệu xuyên tạc về nhân cách ông cố vấn Ngô ĐìnhNhu khi họ nêu lên những đồn đại là ông nghiện thuốc phiện và về chính bà, khi người Mỹ mệnh danh bà là "Dragon Lady – Rồng Cái, Bà Chằng", nhất là chuyện Đệ Nhất CHVN toan tính "nói chuyện" với Hànội.

Xin ghi lại vài chi tiết sau đây:

"Thưa bà Nhu, bà ‘’tham chính’’ giữa thời kỳ 1954 đến 1963. Bà có thể nói cho chúng tôi biết một chút về con người TT Diệm không? Bà có thể phác họa tính cách của ông, và cho biết ông có thay đổi trong suốt giai đoạn chín năm đó không?

Bà Nhu trả lời: Tuyệt đối, ông không bao giờ thay đổi. Để mô tả tính cách của Tổng Thống, tôi có thể nói rằng ông là người công chính –Công chính như trong Thánh Kinh-. Điều ấy có nghĩa là ông có thể phạm sai lầm, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng phục thiện. Cho nên đó là lý do tại sao tôi cho rằng phương tây đã phạm tội ác khi lên án ông, thậm chí giết ông mà không cho ông cơ hội để trả lời….

Khi người phỏng vấn nêu câu hỏi về chính vai trò của bà khi ấy, và về điều người Mỹ mệnh danh bà là "Rồng Cái", bà Nhu nói: "Vai trò của tôi ư? Nói chính xác điều ấy thật là khó. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi được Thiên Chúa túm cổ như con mèo nhỏ, rồi quẳng vào một đấu trường có những con sư tử. Nhưng tôi tin rằng chỉ vì tôi cầm tinh sư tử nên tôi tin mình có thể giao hòa hoặc đương đầu với chúng…. Riêng họ gọi tôi là "Rồng Cái", vì họ thấy rằng tôi có vẻ không tỏ ra khiếp nhược. Chồng tôi, ông rất không hài lòng với một đàng là người anh Tổng Thống của ông, đàng khác là vợ ông. Ông xem cả hai chúng tôi là ngây thơ! Vâng, trong vô thức, chúng tôi không biết được thực tế rằng muốn nhảy vào trận đấu mà lại không hoặc chẳng biết rằng mình đang chiến đấu với những con thú hung dữ. Nên ông từng nói với ông anh TT của mình: ‘’Anh à, anh chỉ nên làm thầy tu, và em nữa (nói với tôi), em nên ở nhà làm người nội trợ thầm lặng là hơn.’’ Nhưng tôi nói, tất nhiên, nếu được phép làm điều mình muốn, tôi sẽ lập tức nghe lời khuyên của chồng tôi là trở về nhà để đan, may và nấu nướng. Đó thật sự là những điều duy nhất mà tôi thích trong đời. Nhưng, khi tôi ở đất nước của tôi, người ta tìm đến tôi và yêu cầu tôi làm chuyện này, chuyện nọ.

Nên tôi thấy rất rõ rằng, nếu tôi không làm những điều ấy thì chẳng có ai làm. Vì thế tôi tổ chức mọi thứ để giao (chúng) lại ngay cho họ vì tôi không muốn và chẳng thích tí nào cuộc sống như thế vào lúc ấy. Nên người ta gọi tôi là "Rồng Cái" vì thấy rằng tôi hoàn toàn quyết tâm là không có gì có thể ngăn cản tôi. Điều duy nhất họ có thể làm, nếu họ muốn ngăn cản tôi, là họ phải giải thích cho tôi là tôi sai. Nếu họ không giải thích được thì tôi bất cần. Vì thế, họ thấy rõ rằng tôi chẳng sợ gì cả… Giới báo chí đã mời tôi đi. Đầu tiên, họ nói: ‘’Ông Nhu, Gia đình Nhu, không có ông bà Nhu, tin tốt lành.’’ Họ phải rời khỏi nước tôi nên họ mời tôi đi giải thích tại các bục diễn thuyết của Mỹ về vị thế của tôi. Quý vị thấy giới báo chí làm như thế đó. Khi tôi rời nước tôi, vừa đến đó, ở Belgrade vào thời điểm ấy, tôi được Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết rằng tôi không nên đến Mỹ vì sự an toàn cho tôi không được bảo đảm!

Thì ra họ mời tôi chỉ với mục tiêu cách ly tôi khỏi nước tôi. Nhưng, ngay sau khi tôi rời Việt Nam, thì họ nói: ‘’đừng có đến!’’ Tôi nói tôi đã rời khỏi nước tôi chỉ để đi đến đó và Chính phủ Mỹ sẽ chứng minh cho thế giới thấy họ có khả năng bảo vệ một người phụ nữ yếu đuối ngay trên lãnh thổ của họ hay không?... Vào thời điểm ấy, họ mời tôi và, sau khi tôi rời đất nước của tôi, họ nói với tôi như vậy. Tất nhiên, tôi đã bị lừa gạt."

Về câu hỏi, có dư luận cho rằng ông Nhu độc quyền, là người cuồng trí và nghiện bạch phiến, bà trả lời:

"Vâng, họ nói rất nhiều điều để chống lại chồng tôi. Thậm chí họ còn moi nhiều chuyện khác tương tự… Tôi tin ở nhân cách chồng tôi là người luôn trung thành với Thiên Chúa…. Năm này qua năm khác, cái chết của chồng tôi, tôi có thể chấp nhận nó, nhưng hạ thấp nhân cách của ông thì tôi không thể chịu đựng nổi…"

Khi người phỏng vấn yêu cầu bình luận về lời đồn là vì chồng của bà cảm thấy bị phản bội bởi người Mỹ nên đã toan tình thương lượng với Hànội, bà nói:

"Những cuộc thương lượng với CS sao? Như tôi đã có lần giải thích, chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Nếu chúng tôi không thắng cuộc chiến thì không bao giờ Chính phủ Mỹ nhảy vào Việt Nam! Chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Người cộng sản đã không dám leo thang chiến tranh. Họ chỉ có một trong hai lựa chọn: hoặc leo thang! Điều này họ không dám! Do đó, chính họ phải gửi người của họ đến với chúng tôi. Vì sao? Giản dị vì chồng tôi đã tìm ra giải pháp chống lại cuộc chiến tranh phá hoại (Bà muốn ám chỉ sự thành công của việc xây dựng Ấp Chiến Lược tại nông thôn). Giải pháp đó cho phép người dân miền Nam sống trong chiến tranh, chống lại chiến tranh, dù có chiến tranh. Và, vì vậy, người cộng sản không có chọn lựa nào khác hơn là gửi người của họ đến nói chuyện với chồng tôi. Cho nên, sự việc này đã bị người ta xoay ngược qua hướng khác để chống lại chồng tôi bằng cách gán cho ông là người đi bước đầu. Xin thưa đây hoàn toàn là một sự dối trá.,,

Vào lúc ấy, chúng tôi chỉ mới bắt đầu nói chuyện với họ để biết họ muốn gì! Họ đến, và muốn biết về điều kiện cho Chương Trình Vòng Tay Mở Rộng (Open Arms Program) của miền Nam là gì?... Thực ra, Chiêu Hồi là sự trở về, sự trở về của người anh em hoang đàng. Vì vậy, chúng tôi nói với họ chúng tôi sẽ giết -nói sao đây?-, le veau gras (tiếng Pháp là con bê béo) là cho anh, vâng, cho người con hoang đàng… Người ta làm thịt bê, quý vị gọi con bê béo như thế nào? Nhưng chúng tôi nói với họ chúng tôi sẽ giết con bê béo. Qua cách diễn tả như thế để đối lấy sự trở về của đối phương, tôi nghĩ rằng người Mỹ cảm nhận rằng họ sẽ là con bê béo. Có lẽ thế, nếu không, tôi chẳng giải thích được tại sao họ đã làm điều họ đã làm?!"

Lý giải cho câu hỏi của người phỏng vấn là tại sao năm 1963 lại dẫn tới một màn kết thúc bất hạnh như thế cho miền Nam Việt Nam, sau khi tự hỏi "biết nói sao đây?", bà nói, giọng tự tin, quyết đáp:

"Tất cả là do lòng kiêu ngạo! Chính phủ Mỹ tin rằng họ có chân lý nên họ tự cao, khinh miệt vì... họ quá duy vật không thể hiểu được... Thậm chí tôi không thể buộc tội họ hay là gay gắt với họ bởi vì tôi phải nói rằng ngay cả người dân của chúng tôi cũng đã không hiểu gì hết!!! Nhiều người không hiểu, vì duy vật, chỉ nhìn bên ngoài để tin rằng chồng tôi là người cuồng trí, giản dị vì ông coi thường tất cả sức mạnh vật chất và kiên trì gắn bó với giải pháp của ông. Nhưng đó chỉ là sự hiểu lầm do lòng kiêu ngạo của một bên và hầu như là sự thiếu khả năng suy nghĩ của bên kia. Với người Mỹ, tôi tin rằng đó là lòng kiêu ngạo. Và với người dân của chúng tôi, tôi tin rằng đó chỉ vì thiếu khả năng lập luận, chưa trưởng thành.")

Hẳn có người nêu lên câu hỏi về mục tiêu của bà quả phụ Ngô Đình Nhu viết cuốn hồi ký này? Để có được giải đáp rốt ráo cho câu hỏi này quả thật không dễ dàng. Muốn hiểu được phần nào điều tác giả muốn gửi gấm trong hồi ký, theo tôi, trước hết chúng ta nên đọc lại những lời trần tình mang đôi chút bí nhiệm phảng phất niềm tin tôn giáo trong hơi văn của chính tác giả ở phần mở đầu trang 112:

"Trong những năm tháng cuối đời, sau nửa thế kỷ im hơi lặng tiếng, tôi thấy có trách nhiệm phài ghi lại những gì cần biết. Đấy là cách giải thoát cho tất cả mọi người. Cũng không phải chỉ để thỏa mãn thị hiếu của quần chúng, nhưng chính là để trả lại những gì định mệnh đòi hỏi "kẻ bé mọn nhất" của Thiên Chúa, vào thời điểm của họ. Tôi khởi sự viết cuốn hồi ký này để giúp mọi người hiểu được những đòi hỏi của một chuỗi dài đời sống đã được lập trình, và để nhận ra rằng cuộc sống không bao giờ vận hành ngược lại với ý muốn con người, trái lại, luôn luôn như là phải như vậy".

Sau hết, người đọc không thể không quan tâm tới nội dung ba lá thư ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu gửi bà Jacqueline Willemetz, đồng môn của ông ở École des Chartes, Paris. Những lá thư này được gửi vào ba thời điểm khác nhau: Lá thư đầu ghi ngày 20-4-1956; Lá thư thứ hai không đề ngày tháng, nhưng nội dung cho thấy vào dịp trước Tết 1963 và lá thư cuối cùng viết ngày 02-9-1963, chẵn hai tháng trước ngày tác giả và bào huynh của ông –TT Ngô Đình Diệm- bị thảm sát.

Như đã nói trong đoạn trên, nội dung mỗi lá thư chứa đựng những suy tư của vị cố vấn chính trị của vị Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam ứng vào những vấn đề thời sự trong từng giai đoạn với những tình huống khác nhau. Từ đấy nó mang giá trị chứng từ về một giai đoạn lịch sử quan trọng liên quan tới Việt Nam thời cận đại. Riêng lá thư thứ ba, xuyên qua ngôn ngữ và những biến động xảy ra vào giai đoạn cuối của Đệ Nhất CHVN, một không khí u uất, ảm đạm phủ bóng trên từng con chữ.

Để hiểu rõ vị trí quan trọng của ông Ngô Đình Nhu, người ta không thể không chú ý tới ảnh hưởng của ông trong chính giới Pháp nhờ những hào quang do ông tạo được với tư cách một người xuất thân từ École des Chartes. Trên trang mạng Dân Làm Báo ngày 07 tháng 10 năm 2010, người ta đọc được một tài liệu cho hay:

"Năm 1970, tức là 7 năm sau khi chế độ Diệm-Nhu sụp đổ, ông Trần Kim Tuyến, một người bạn và sau này là cộng sự thân thiết của ông Nhu, cho biết: ông Nhu có bằng cử nhân văn học ở Sorbonne rồi học tiếp École de Chartes. Trong một tài liệu khác thì nói rõ ông Nhu học ngành cổ tự học lưu trữ (archiviste palégraphe).

Ông Tuyến cho biết trường này rất kén chọn, sinh viên phải qua hai năm dự bị ở một trường rất danh tiếng là Henry Đệ Tứ rồi mới được nhập học, mỗi lớp chỉ có 20 học viên, sử dụng tiếng Latin rất nhiều, và chỉ có hơn một nửa số học viên này tốt nghiệp (link này cho thấy năm 1938 chỉ có 13 người trong danh sách luận văn). Do đó có từ "Chartistes" để chỉ các sinh viên tinh hoa của École des Chartes. Năm 1961, khi ở đỉnh cao quyền lực, ông Nhu có qua Paris và gặp gỡ cá nhân với ngoại trưởng Pháp là Couve de Murrville, đại sứ Pháp ở Việt Nam và Étienne Manach phụ trách Châu Á của bộ ngoại giao Pháp. Cũng theo ông Tuyến thì nhờ hào quang của trường Chartes nên các cuộc gặp gỡ tuy chỉ mang tính cách cá nhân mà ông Nhu đã giúp làm ấm lại quan hệ Pháp Việt. Sau khi có được sự ủng hộ của Pháp, ông Nhu bắt đầu có lập trường cứng rắn hơn với Mỹ, dẫn đến việc Mỹ quyết thay thế Tổng Thống Diệm và ông Nhu."

Từ trích đoạn trên, người ta hiểu được ba lá thư của ông Nhu gửi bà Jacqueline Willemetz, một trong những "Chartistes" bạn đồng môn của ông, không chỉ mang ý nghĩa giao tế bình thường.

Trump Không Biết Làm Thế Nào Để Kết Thúc Cuộc Chiến Với Iran

Thomas L. Friedman,   “ Trump Has No Idea How to End the War With Iran ”   The New York Times Chuyển ngữ:  Lương Định Văn Tôi đến Tehran lần...