Showing posts with label HùngBi. Show all posts
Showing posts with label HùngBi. Show all posts

05 February 2014

Tản Mạn Xuân Giáp Ngọ 2014

MẤY BUỔI SÁNG XUÂN

Tôi cứ nghĩ là phàm việc gì mới chớm thì hấp dẫn người ta hơn bởi khi đó ta tha hồ mường tượng sự việc theo ý mình. Giả như vừa chớm yêu, đóa hoa chớm nở hay khoảng thời gian chớm Tết…

Kể từ khi tôi có ý thức, cứ cho bắt đầu từ lúc cắp sách tới trường để học vỡ lòng đi, tính đến giờ đã hơn sáu mươi lần niềm háo hức trong những ngày chớm tết vẫn còn mới keng như lúc mới tập biết mặt chữ cái đến nay như chưa hề cũ đi bao giờ.

Đương nhiên là gần tết ai ai cũng bận rộn. Lo giải quyết cho xong những công việc còn tồn đọng trong năm cũ, lo dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ ngăn nắp, mua thức ăn dự trữ, bánh mứt và các thứ linh tinh khác để chuẩn bị đón mừng năm mới… Món tiền thưởng cuối năm cho phép người ta xài sang một chút. Không khí những ngày nầy thật nhộn nhịp rộn ràng và đầy niềm vui, lan tỏa trên gương mặt và cử chỉ tất cả mọi người chung quanh. Tôi thì lại kẹt chút chuyện nên quả tình không có cả thời gian cần thiết cho chuyện ăn ngủ hàng ngày nên những ngày chớm tết thì niềm háo hức chờ đón Nàng Xuân cũng quên biết tôi luôn!

Sáng ba mươi thì đường phố đã thưa thớt hẳn do hầu hết mọi người đã về quê sum họp gia đình trong những ngày đầu xuân. Tranh thủ chút thời gian trống ít ỏi sau một đêm gần như thức trắng, tôi đến quán cà phê vỉa hè quen thuộc kiếm tách cà phê nóng đầu ngày cho tỉnh táo. Mặt trời đã ló dạng phía đàng đông leo qua khỏi ngọn hàng cây phía xa xa. Nhưng tiết trời năm nay ở đây dường như lạnh hơn nhiều, màn sương mai vẫn còn mù mịt khói bay nên ông mặt trời chỉ như cái lòng đỏ trứng vịt muối (điều nầy hiếm thấy trong buổi bình minh mà thường chỉ có vào lúc hoàng hôn đã sậm màu) nên nhìn rất thú vị, nhưng không có thời gian thong thả để chiêm ngưỡng cho thỏa vì vẫn phải hoàn tất công việc còn lại một cách khẩn trương. Tôi đã quên hẳn cái thú vui đi chọn cho mình hai chậu cúc vàng mang về đặt hai bên cửa đón xuân, kế thừa từ Ba tôi như một cách tưởng niệm đơn sơ về sở thích của người trong những ngày đầu xuân.

Chiều ba mươi tết với những nỗ lực cuối cùng thì cũng hoàn tất được sản phẩm mà tôi ấp ủ bấy lâu nay. Nhưng than ôi! Chợ đời đã vãn…

Tôi dong xe ra đường để nhìn ngắm những tàn phai năm cũ còn rơi rớt lại. Ngang qua những chỗ bán hoa thấy còn lại cũng khá nhiều, nhưng phần lớn không được đẹp lắm nên khách hàng không chọn cũng phải. Những tay lái buôn giàu kinh nghiệm hẳn đã xử lý chúng từ chiều, chỉ còn lại bên vệ đường những khuôn mặt héo hon đen sạm dãi dầu mưa nắng của những nông dân tập tành buôn bán vì không muốn công sức của mình bị người khác chiếm đoạt một cách dễ dàng, ngồi chờ nhặt nhạnh những vận may nhỏ bé từ những người lao động có cùng số phận như họ đợi tới tối ba mươi đi mua rẻ những chậu hoa bị dạt để có cái mà vui mấy ngày xuân với thiên hạ. Họ ngồi đó giương đôi mắt vời vợi ngóng chờ những khuôn mặt no đủ thản nhiên phớt ngang qua mà rát ruột vì biết mấy đứa nhỏ đang trông ngóng mình từng phút ở nhà. Nhưng anh ơi! Cái gì cũng có cái giá của nó! Tôi chắc là thâm tâm anh đang nghĩ: Thôi! Năm tới chả thèm, cứ mặc cho bọn lái buôn xử sao thì xử cho khỏe!

Đêm ba mươi đường phố vắng tanh, chỉ còn tôi và đám lá vàng vừa rơi xuống bị những cơn gió lạnh cuối năm cuốn đi lông lốc. Tôi chợt nhớ tới câu hát mà cười một mình: “Anh đến thăm em đêm ba mươi, còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi… (vui cái khỉ gì đâu, sao tôi không thấy?) Anh nói với người phu quét đường, xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em… (nàng nào tin vào cái bằng chứng đó thì thiệt là dại dột! Yêu chi một anh chàng nghèo kiết xác, chỉ có chiếc lá vàng làm bằng chứng mà còn phải đi xin xỏ mới có nữa đấy!). Con tuấn mã của tôi như được sổ chuồng, mặc sức bay lượn trên đường phố thênh thang như để bù lại cả năm dài bị gò bó trên mặt đường lúc nào cũng đông ken người xe.

Đi chán cũng phải về thôi. Rồi giao thừa cũng lặng lẽ trôi qua trong khói nhang trầm mặc cùng những lời khấn vái cầu xin một năm mới tốt lành theo phong tục của người Á Đông.

Sáng mùng một tết thì những con đường của Sàigòn-Chợ Lớn vắng ngắt thật sự, tịnh không một bóng người qua lại trừ mấy ông già ngồi lặng lẽ nhâm nhi ly “cà phê ghiền” không bỏ được ở những quán cóc vỉa hè. Chắc cũng như tôi thôi, năm mới chẳng thể làm lay động những tâm hồn già cỗi mỏi mệt vì thời gian. Tôi ra đường không phải để xuất hành hướng tốt lấy hên hay thưởng xuân chi cả mà cần phải đi thôi. Lại chúi đầu vào công việc vì một yêu cầu từ đêm ba mươi. Tôi lại không biết ngày đầu một năm đã trôi qua ngoài ngõ thế nào? Mây trắng có rủ nhau bay về hân hoan? Đàn én có chao liệng chào đón mùa xuân? Gió xuân có mơn man những đôi má hồng những thiếu nữ thanh xuân hồn đang thơm ngát?

Đã quá nửa đêm ngày mùng một mà việc vẫn chưa xong. Thôi cứ gác lại đó mai “về quê” thắp nhang cho Ông Bà Cha Mẹ cái đã. Quê ở đây không phải là quê nhà mà là nhà quê. Cuộc sống trôi nổi không cho phép tôi có thể nhang khói cho song thân hàng ngày nên đành phải giao phó cho cô em ở nhà quê lo liệu. Chí ít thì bổn phận con trai ngày đầu năm và đám giỗ tôi cũng phải về mà thắp lên nén nhang tưởng nhớ chớ!

Mất tới ba tiếng đồng hồ chạy xe nên phải đi cho sớm. Trời vẫn lạnh căm với những ngọn gió xuân thổi về se sắt. Quang cảnh chung quanh vẫn mờ ảo trong màn sương sớm như Đà Lạt,  khói sóng bốc lên từ mặt sông đầy như trộn lẫn với những hạt sương mai cho trở thành một thể đồng nhất trên sông Sàigòn.

Đến phà Cát Lái thì trời đã sáng hẳn với những tia nắng chiếu rọi qua rìa cánh mây thật đẹp! Muốn chụp tấm hình nhưng người xe trên phà đông quá nên không thể. Lúc nầy những ngọn gió xuân thổi tới chỉ đủ sức mơn man làn nước khe khẽ nên không có dịp nhìn thấy những giọt nắng chấp chới trên sông. Theo tôi, cảnh vật chung quanh trong sáng vui vẻ hay xám tối u buồn là đều do tâm thức của người cảm nhận. Với riêng tôi bây giờ thì chúng lướt qua một cách nhạt nhòa, không vui mà cũng chẳng buồn. Dấu hiệu của tuổi già mệt mỏi chăng?

Rừng cao su kéo dài ngút mắt hai bên vệ đường đã trở nên thưa thớt vì đang mùa thay lá. Những chiếc lá non màu đo đỏ chẳng mang lại chút ý niệm nào về nhành lộc biếc mùa xuân. Một nét chấm phá thú vị làm tôi nhớ lại khoảng đời trẻ thơ. Một chú bé con xúng xính trong bộ quần áo mới đang lom khom bên vệ đường rình bắt những con cào cào dành cho chú chim nhỏ thân yêu của mình. Tết thì tết với bao nhiêu điều hấp dẫn nhưng anh bạn chú vẫn phải ăn chứ! Trẻ con bây giờ thông minh hơn tôi ngày xưa nhiều, chúng biết lấy bao nylon cuộn miệng lại tạo thành một cái vợt mini để chụp những chú cào cào dễ dàng hơn là bắt bằng hai ngón tay. Tiếc cho những chú bé trai chưa từng có dịp trải qua cái thú chơi nầy.

Tập quán truyền thống của người Việt Nam trong mấy ngày đầu xuân vẫn được lập lại với hai chậu cúc hoặc vạn thọ vàng tươi đặt hai bên cửa như để khuyến dụ nàng xuân ghé lại nhà, nó làm sáng hẳn ngôi nhà trong nắng xuân tươi.

Cây mai vàng vốn phù hợp với phong thổ và thời tiết ấm áp ngày xuân của miền đất phương nam. Nhưng năm nay, tiết xuân không còn trong sáng như xưa nữa mà đột nhiên trở lạnh khiến những nụ hoa hình như bị “nín” lại. Ngang qua sân nhà ai suốt dọc đường đi hầu như chỉ có những cây mai giương cành khẳng khiu với vài cái hoa vàng nhỏ xíu rụt rè góp vui với thiên hạ. Niềm háo hức ngày xuân đã bị hụt hẫng một mảng lớn. Những vườn điều chừng như cố tỏa cho bằng hết cái hương thơm nồng nàn của mình để bù lại phần nào chút màu sắc nhạt phai của những cây mai. Đi dưới tán những cây điều cổ thụ ngát hương, bóng nắng xuyên qua cành lá nhảy nhót trên vai như cố nhảy một điệu pasodope sôi động giúp lôi kéo tôi trở lại nhịp điệu tưng bừng của ngày xuân.

Theo lời yêu cầu của các người bạn phương xa còn nặng lòng với quê hương, sáng mùng 3 tôi lò dò tới Vườn Ông Thượng để tập tành làm nhiếp ảnh gia cố mà chớp cho được vài cái hoa mai của Hội Hoa Xuân tết Giáp Ngọ để gởi tặng người xa.

Cũng tuân theo lời dặn là nên có mặt ở đó khoảng 8:30 sáng thì còn ít người đi tham quan và đã có nắng lên rồi cho dễ chụp, tuy tôi thừa biết tiết trời năm nay vào thời khắc đó thì còn mù mờ lắm. Đúng y như rằng, lúc chạy xe ra đường tới đó thì trời còn âm u và khá lạnh. Gởi xe rồi và mua vé vào cửa, quả thật người còn thưa thớt lắm bởi chẳng ai dại gì đi chơi khi trời chưa đủ ấm. Lần tới khu vực trưng bày các chậu mai bonsai tham dự triển lãm thì thiệt tình là các nghệ nhân quả có tay nghề cao nên đã chọn đúng thời điểm cho mai trổ bông đúng dịp. Đẹp lắm!

Nhưng ông trời cứ âm u mãi, không chịu hé một chút nắng nào nên khu vực trưng bày giống như nằm lọt dưới tán lá cây trong rừng sâu thì làm sao mà chụp hình? Đứng vẩn vơ chờ nắng hút tàn mấy điếu thuốc nhưng tình hình vẫn không mấy khả quan hơn.

Càng ngày thì khách kéo tới càng đông, nhưng trời vẫn chưa chịu có nắng. Tôi chớp đại vài “pô” nhưng khi xem lại thì coi mòi không xong. Nếu để flash thì hình không ra gì.

Phụ nữ già trẻ sao mà đẹp đến thế trong mấy ngày tết! Đương nhiên là họ đã trang điểm kỹ hơn, chọn quần áo đẹp hơn đi đến đây để chụp hình kỷ niệm một-thời-son-sắt(?). Nhìn vẩn vơ một hồi tôi lại quên mất nhiệm vụ chính của mình mà cứ chăm chú vào đám hoa di động đang lượn lờ ngang qua. Nói phải tội chớ mấy khi có dịp được nhìn gần nhiều phụ nữ đẹp đến thế! Không nhìn thì…phí của giời! Có một “đấng phụ nữ” chắc cũng tầm U.50 cứ láng cháng gần chỗ tôi đứng đỏng đảnh đạo diễn để đứa con chụp hình cho mình, giọng nói cứ như một cô thiếu nữ đôi mươi đang làm dáng (tôi hồ nghi là nàng đang single quá, chắc là muốn bắn đi tín hiệu chi đây cho anh chàng chỉ đứng có một mình. Nhưng “qua” đang làm nhiệm vụ, không có hứng thú em ơi!)

Mà ông trời sáng nay cũng chơi khăm cứ không chịu nắng. Thôi đành phải cuốn gói hẹn ngày mai trở lại coi tình hình có khả quan hơn không? Mặt khác, tôi cũng muốn “bảo quản” cái mỏ mình trong mấy ngày xuân, không muốn bị cảnh “cái miệng ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc”, chớ cứ đứng đó mà nhìn vợ con bồ bịch người ta một hồi thì đố khỏi tai họa không rơi xuống đầu mình.

Sáng mùng 4 tết, rút kinh nghiệm tôi đi trễ hơn để chờ nắng. Tới nơi khoảng 9:00. Bữa nay thì ông trời lại “chơi” tôi lần nữa.


Trời trong xanh từ sáng sớm, nắng xuân đã tràn ngập trên đầu cây ngọn cỏ làm không khí ấm áp hẳn lên. Lũ chim chóc và ong bướm đã trổi giọng tưng bừng bay lượn khi tôi tới đó. Và cũng hỡi ơi luôn khi khách tham quan đã ùn ùn kéo tới đầy kín khắp các lối đi. Trời sinh chi những người nữ phô diễn hết cái đẹp hình thể để tâm trí tôi phải khốn đốn thế? Người đông vầy thế nầy thì làm sao có khoảng trống để chụp hình đây trời? Cứ đang nâng máy lên săm soi vật mẫu để chọn góc độ và ánh sáng thì thấy trong màn hình một cái đầu tổ chảng xuất hiện.

Những mái đầu xanh thì coi như tuổi trẻ họ vô tình đi, nhưng thi thoảng vẫn xuất hiện những mái tóc bạc để dài theo kiểu các nhà làm văn hóa ở đây hay rập khuôn làm tôi khựng lại rồi tự hỏi: “Thế cái dân tộc bốn ngàn năm văn hiến sáng nay đã biến đi đâu mất rồi để tôi cứ phải bắt gặp nhiều người mất lịch sự đến thế?”. Các gốc mai bonsai trưng bày được một vòng dây nylon trắng rào chắn tách biệt kèm theo tấm bảng “Không sờ vào hiện vật”, nhưng các nàng cứ leo qua để “tay vin cành lộc biếc” mà chụp hình, hết người nầy tới người kia nối tiếp nhau như trong một phòng chờ của bác sĩ khám bệnh. Đợi mãi không được đành chán nản lảng đi chỗ khác.

Khu vực Hoa Sứ quả thật là muôn hồng nghìn tía với nhiều giống lạ tôi chưa từng được thấy bao giờ. Nhưng thôi, đó không phải là nhiệm vụ của tôi hôm nay bèn lần ra phía cổng vào.

Một ban nhạc với các nhạc cụ dân tộc đang giúp vui bằng những làn điệu dân ca quen thuộc. Một phụ nữ tầm ngoài ba mươi bước lên cây đàn t’rưng đôi của tây nguyên chơi bản nhạc Sài gòn đẹp lắm! Sài gòn ơi…Sài gòn ơi…của nhạc sĩ Y Vân với sự phụ họa của ban nhạc rất sôi động làm không gian ngày xuân rộn rã hẳn lên.

Trở lại khu vực hoa mai coi có thu hoạch thêm được gì không? Lúc nầy tuổi già đã thấm mệt nên lòng hơi chùng xuống.

Nhìn những cánh mai vàng mỏng manh rơi dưới gốc, cánh cúc vàng rực rỡ trong nắng đã bắt đầu nhợt nhạt, hồ như trong tâm hồn tôi đã nghe được câu giã biệt thì thầm buồn bã trên bến chia ly: Xuân phai…

HÙNG BI
Xuân Giáp Ngọ 2014

17 June 2013

MỘT HOÀI NIỆM VỀ BA TÔI

Nhân Ngày của Cha, những hoài niệm ngày cũ cứ tràn về. Tôi muốn gởi đến các bạn đôi dòng tản mạn về Ba tôi.

Số là ngày hôm qua, tôi nhận được một cái thư của bạn Quê Hương gởi qua có một link dẫn nói về Tình Cha do giọng đọc của Bích Huyền diễn đạt. Nhưng do đang có chút việc tôi chưa mở ra nghe.

Sáng nay vừa thức dậy mở hộp thư ra thì nhận được một thư nữa của bạn Song Kim nói về Ngày của Cha. Tôi quay lại mở thư của bạn Quê Hương coi Bà Bích Huyền nói gì ở trỏng. Chỉ một đoạn đầu thôi đã nhắc tới câu nói của một văn hào đã viết: “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới nầy là căn phòng của Cha nó…”. Với tôi, nghe bao nhiêu đó cũng đã đủ dậy lên trong tâm hồn tôi những hoài niệm về Ba của mình. Tôi tắt máy.

**

Dù đã có chủ định, nhưng sáng nay trời bỗng rơi lất phất mấy hạt mưa nhỏ nhưng cũng đủ làm ướt áo. Nhìn về phía Bình Dương nơi chôn nhau cắt rốn của Ba tôi thì cả một bầu trời đầy mây xám u ám mịt mù nên cứ lần khân ngồi ở quán cà phê.
“Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào rồi cũng phải xa nhau…”
Câu thơ của ai đó thiệt hợp tình hợp cảnh với tôi trong một buổi sáng tháng sáu nầy. Dùng dằng nửa ở nửa đi rồi cuối cùng cũng phải nhổ neo thôi.

Cứ mưa nhỏ rồi lại tạnh làm tôi phải dạt vào hiên nhà người ta đụt mưa tới mấy lần. Sáng chủ nhựt được nghỉ làm mà trời lại mưa lâm thâm nên những người có thói quen dậy sớm cứ chôn chân ở quán cà phê, còn những người thích ngủ nướng chắc là còn đang quấn mền trong căn phòng ấm cúng nên dọc đường đi tương đối vắng vẻ. Quang cảnh đó dễ khiến nỗi cô quạnh cùng những hoài niệm trong lòng cứ lớn dần thêm theo những vòng xe lăn.

Ngang qua Bình Nhâm vẫn còn nghe hương bưởi hương cau thoang thoảng bay theo những cơn gió sớm ôm ấp những xúc cảm tươi nguyên đầu ngày của mình, tuy rằng bây giờ hầu hết các miền quê đã bị đô thị hóa không còn nhìn thấy được những cành bưởi trĩu những bông hoa trắng vươn mình ra tới tận lề đường lả lơi với khách đường xa bằng mùi hương thơm ngát của mình như rất nhiều năm đã xa trước kia.
“Hương cau còn ngát trên môi lụa…”
Tôi tự hỏi những đôi môi lụa ngày nào biết có còn không hay đã bị phấn son che lấp cho hợp thời?

Khu trái cây nổi tiếng một thời Cầu Ngang của Lái Thiêu bây giờ cũng đã biến đổi ít nhiều. Dọc mé sông hơn nửa cây số đã được chỉnh trang gọn gàng, người ta đã lắp một dãy hàng rào thấp bằng sắt chặn lại, lề đường được lát gạch con sâu rất sạch sẽ. Hiện người ta đang mở Lễ Hội trái chín ở đây với những kiosque dã chiến khung bằng sắt và mái lợp tấm phủ bằng nhựa có in hình những viên ngói vảy cá truyền thống với nhiều màu sắc pha trộn nên trông cũng hay hay. Còn sớm quá vả lại đang mưa nên chưa thấy ai đem sản phẩm của mình ra trưng bày.

Lên tới Thủ Dầu Một, tôi ghé ngang tiệm hủ tiếu Cây Me để ăn một tô hủ tiếu với dầu-chấu-quảy cho đủ bộ trong những hoài niệm về Ba tôi mặc dù tôi biết hương xưa không còn nữa. Vẫn chiếc xe hủ tiếu bằng gỗ truyền thống với những tấm kiếng tráng thủy vẽ những hoạt cảnh trong truyện Tam Quốc đã gây biết bao nỗi tò mò thích thú trẻ con ngày xưa còn đó, nhưng cái thì đã bị nứt rạn được dán lại bằng băng keo, cái thì bể lớn quá nên đã bị tháo bỏ và thay thế vào đó bằng một tấm cạt-tông ám khói úa vàng như tuổi thơ của tôi đã tàn phai.

**

Xin trở lại câu chuyện của tôi. Một điều chắc chắn đối với tất cả những người con, không ai là không có những niềm tự hào về Ba của mình dù ít dù nhiều. Nhứt là bây giờ người ta lại phát hiện cái gien di truyền gọi là DNA nên ai cũng cố mà tìm những ưu điểm của Ba mình để soi rọi lại bản thân, càng có nhiều mình càng tự hào. Có phải thế không các bạn?

Ba tôi là một người trắng trẻo, nho nhã, đẹp trai (cái vụ nầy thì tôi chẳng hưởng được chút tẹo nào di truyền), biết làm thơ, viết văn hay, vẽ đẹp, thích một cuộc sống giang hồ nay đây mai đó, nói chuyện thu hút người khác…nhất là đối với phụ nữ!?!? Ngắm nghía lại mình, tôi xém ẵm “trọn bộ huy chương” chỉ thiếu cái vụ đẹp trai. Nhưng tôi lại nghe có câu: “Đẹp trai không bằng chai mặt”.

Nhân câu đọc của Bà Bích Huyền ở trên, gợi nhớ đến cái nơi chốn an toàn của người Cha đối với đứa trẻ, tôi xin kể chuyện của mình cho các bạn nghe.

Trước năm 1962, nhà tôi nằm trên sát Quốc Lộ 13 đường đi Bến Cát. Đó là một ngôi nhà thôn quê có phần đất thổ cư chung quanh rất rộng trồng toàn những cây ăn trái rất rậm rạp. Ông Nội tôi đã xây lên ở trên đó một cái nhà to lớn rất kiên cố, nhưng phong trào tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh đã biến thành một đống gạch vụn. Đến lượt ba tôi trở về dựng lên một cái nhà mới khá lớn rồi mở trường dạy học cho bà con chòm xóm cùng những đứa trẻ trong phong trào Bình Dân Học Vụ thời Ngô Đình Diệm. Cuộc sống thôn quê nhàn nhã và bình lặng không níu được cánh chim giang hồ, Ba tôi đi làm công chức một thời gian rồi đổi lên Banmêthuột. Dân Nam Bộ thời đó mà chịu lên chốn rừng thiêng nước độc cũng thiệt “gan cùng mình”.

Vậy là anh em tôi cũng phải đi theo Ông, để nhà lại cho một mình ông Anh hai đang học dỡ dang ở Bình Dương trông coi. Tôi nhớ những năm đó, cứ mỗi dịp nghỉ hè Ông lại cho tôi về ở với Anh Hai cho vui. Hơn mười tuổi mà dám một mình đi xe đò lên xuống Sài Gòn-Banmêthuột cũng “gan cùng mình” phải không?

Thời đó Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mới thành lập nên cũng muốn phô trương lực lượng. Khổ nỗi nhà tôi lại nằm hơi gần đồn Bảo An và ngay trục lộ giao liên giữa Phú Hòa Đông-Củ Chi và mật khu ở Dương Minh Châu. Thấy tận mặt người sống kẻ chết hàng ngày và nghe tiếng súng nổ đạn bay hàng đêm. Còn con nít, nhưng tôi hiểu rất rõ sự nguy hiểm của mũi tên hòn đạn nên chẳng đêm nào có thể ngủ yên giấc, trong khi ông anh tôi nằm kế bên thì cứ ngáy khò khò, đến nổi thỉnh thoảng tôi phải bóp mũi ổng lại cho ổng cựa quậy để mình yên tâm chút đỉnh. Nhưng điệp khúc ấy cứ tiếp tục mãi. Mới đầu hai anh em còn nằm trên bộ ván gõ, sau sợ quá tôi bàn nên nằm xuống đất ngay cạnh mép hầm trú ẩn. Rồi cũng chưa thiệt yên tâm, tôi lại bàn nên lấy lá dừa đan lại thành một tấm đệm lót dưới hầm rồi chui xuống đó ngủ luôn cho…chắc ăn. Được vài bữa, hơi đất ẩm làm sinh ra những con mạt trên lá dừa cắn ngứa không chịu được đành trồi lên mặt đất. Thiệt là một khoảng thời gian kinh khủng đối với tuổi thơ tôi vì sợ và thiếu ngủ.

Đâu hơn một tháng sau nhân có dịp đi công tác về Sài Gòn, Ba tôi ghé thăm hai thằng con coi sự tình ra sao. Đêm đó, tôi được ông cho nằm trong lòng ông trên bộ ván gõ mà ngủ.

Thiên đường ở tận nơi đâu và đẹp tới cỡ nào tôi không biết, nhưng được nằm trong lòng Ba tôi ngủ một mạch tới sáng không một chút lo âu quả thiệt tôi đã thấy thiên đường!

HÙNG BI

02 May 2013

TRAO TRẢ TÙ BINH

Thông thường, mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 ở đây thì cờ xí rợp trời với những biểu ngữ ca tụng ngày chiến thắng lịch sử giải phóng hoàn toàn miền nam tiến tới thống nhất đất nước, nhưng nó ít khi tác động đến tâm tình của tôi lắm vì nó cứ diễn đi diễn lại hàng năm nên đâm ra…nhàm!

Sáng hôm qua ngồi quán cà phê vỉa hè nhấm nháp ly cà phê đầu ngày, tay vơ lấy tờ nhật báo kế bên thấy có một bài viết về chuyện trao trả tù binh sau khi bốn bên ký kết Hiệp định Pa-ri. Đọc vài dòng đột nhiên chuyện cũ dưng không quay về trong đầu óc nhưng quả tình tôi không hề mong muốn như vậy.

Nhân đây, tôi muốn ghi lại vài dòng về sự kiện lịch sử đó bằng một câu chuyện của người thật việc thật hầu các bạn.

Tôi cứ phân vân không biết mình sẽ ghi lại bằng hình thức nào đây? Đó chẳng phải là một bài tường thuật vì như thế sẽ không được phép bỏ sót một sự kiện nào đã diễn ra. Nếu là một bài hồi ký thì phải có yếu tố văn chương trong đó. Nếu là ghi chép thì phải có tính thời sự và nóng hổi mới có giá trị. Còn nếu hiểu như một bài mô tả sự kiện thì nó lại không đúng như ý tôi. Suy đi nghĩ lại với ít nhiều phân vân, cuối cùng tôi chọn cái cách mà tôi cho là đúng nghĩa nhất: Kể chuyện. Bởi tôi nghĩ trong một câu chuyện kể lại thì có thể là nó đã xảy ra trăm năm trước hay mới vừa đây thôi. Có thể trong đó xác suất của sự sai lệch sẽ được người ta châm chế đôi phần. Có thể người kể bỏ sót điều nầy điều nọ hay nhớ không chính xác những sự việc đã xảy ra, nhưng tựu trung câu chuyện được kể lại tuy không hoàn chỉnh nhưng cũng làm người nghe hiểu hết được.

Mùa hè năm 1972 là một mùa hè “đỏ lửa” nhất như tiền bối Phan Nhật Nam của tôi đã đặt tên. Nhưng ngọn lửa ác liệt nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam đã được manh nha từ trước Tết Âm Lịch. Tôi đã phải dẫn Trung Đội của mình dãi nắng dầm sương từ rất lâu quanh quanh vành đai phòng thủ Sài Gòn. Mỗi đêm nằm phục kích ngoài bờ bụi hứng sương ướt đầm cả tấm poncho như bị xối nước mà ngước mắt nhìn về phía ánh đèn đô thị dội lên mờ tỏ những đám mây đêm lang thang vô định rồi ngẫm nghĩ mà xót thương cho thân phận trai trẻ của mình. Đó không phải là một cuộc sống với những hy vọng vào ngày mai sáng lạn mà chỉ là một cuộc chờ đợi miên viễn hàng đêm. Chúng tôi chờ đợi bão lửa trút xuống đầu mình, chờ đợi những đầu đạn nhọn hoắt nóng bỏng căm thù ghim vào thân thể mình, chờ đợi tiếng xung phong đầy nặng căm thù tràn ngập phòng tuyến, chờ đợi những mũi lưỡi lê AK bằng Inox nhọn hoắt xuyên thủng tim mình, chờ đợi dòng máu chảy tuôn tràn, chờ đợi một sự banh thây… Chúng tôi đơn độc quá với sự sợ hãi triền miên trong bóng đêm mịt mùng. Chẳng có một ánh hào quang nào lóe sáng trong những buổi tối tháng chạp gần giáp Tết ấy. Và tôi nghĩ những người tuổi trẻ ở phía bên kia chắc cũng cùng tâm trạng như chúng tôi.

Dẫn quân lang thang lếch thếch mấy tháng dài, tôi được lệnh triệu hồi về hậu cứ rồi thảy ngay ra tiền phương trong đêm để chuẩn bị cho những trận đánh lớn đã được dự báo. Chẳng có một sự bất ngờ nào trong chiến tranh cả như người ta vẫn hô hào và ca tụng về lối đánh thần tốc táo bạo gì gì đó vì hai bên ai cũng thủ miếng từng đường đi nước bước của nhau. Bộ Tổng Tham Mưu có một phòng tên gọi Trận Liệt Đồ. Ở đó, họ có đầy đủ thông tin những lực lượng đối phương đang tập kết ở đâu với quân số bao nhiêu và đang chuẩn bị điều gì? Và họ sẽ đề nghị điều phối lực lượng chống trả theo sự ước đoán tình hình của họ. Khoản nầy thì mấy tay phóng viên chiến trường của Đài Phát Thanh BBC là số một. Những ước đoán của họ được phát đi trên sóng phát thanh hàng ngày đều diễn tiến chính xác. Tuy vậy, nghi binh vẫn là một trong những chước học được của người xưa mà nhân vật điển hình là Khổng Minh Gia Cát Lượng khi đấu trí với Châu Do. Hiệu quả đến nổi trận chiến Xích Bích thời Tam Quốc còn để lại câu nói cảm thán không phai mờ theo thời gian dù biết bao thiên niên kỷ đã trôi qua: “Trời đã sinh Do sao còn sinh Lượng?”.

Chúng tôi đã quay cuồng như những thằng điên suốt một năm ròng với lửa đạn. Sự lợi hại của chúng tôi khiến tọa độ tiền phương của đơn vị trở thành một cái gai nhọn nhức nhối cần phải nhổ bỏ nhanh gọn. Bằng chứng là 2 trận pháo hỏa tiễn 122 li đổ xuống đầu đơn vị chúng tôi chính xác đến từng xăng-ti-mét. Khá khen thay cho những anh đề-lô của phía bên kia! Chẳng cần phải tốt nghiệp loại ưu từ trường Sĩ Quan Pháo Binh Dục Mỹ, họ chấm điểm pháo quá tuyệt vời! Nhưng như tôi đã từng nói, trong chiến tranh hay hổng bằng hên. Ngay quả hỏa tiễn đầu tiên đã rơi đúng điểm tập họp điểm danh hàng ngày của chúng tôi không sai một li. May mà chúng tôi vừa tan hàng trước đó khoảng 10 phút, không thì chẳng còn sót một móng. Bão lửa đã cày xới tan nát cả một vùng. Ai đã từng hứng chịu một trận pháo hỏa tiễn 122 li mới biết đến tiếng kêu hú của Thần Chết ghê rợn thế nào khi một quả hỏa tiễn quá tầm bay ngang trên đầu. Chung quanh chúng tôi trống hoác, chỉ có những ngọn cỏ hoang xơ xác trong mùa khô cằn cỗi phất phơ. Bản năng sinh tồn biến chúng tôi thành những con chuột chui rúc xuống những rãnh thoát nước hay những ống cống bằng tôle của Mỹ mà giữ cái mạng con sâu con kiến của mình. Cũng may là sau trận pháo cấp tập ấy, đơn vị chúng tôi gần 150 người không hề bị một trường hợp thương vong nào. Khi im tiếng pháo ló đầu lên quan sát thì tất cả đã tan nát. Đúng là một bãi chiến trường.

Sáng sớm tinh mơ ngày 27 tháng 1 năm 1973, đang còn nằm lơ mơ trên tấm ván ép của Mỹ thì lại hứng thêm một trận pháo hỏa tiễn 122 li nữa. Chúng tôi hoàn toàn mù tịt không biết là cuộc Hội đàm Pa-ri kéo dài mấy năm đã kết thúc bằng một Hiệp định ngưng bắn, nhưng dường như đây giống như “vớt cú chót”, chúng tôi đã lãnh đạn gấp hai lần trước. Mấy chiếc máy bay đậu gần đó đã trúng hỏa tiễn tan nát phần đầu. Tôi lăn xuống đất bò về phía một rãnh thoát nước trong khi khung lều của tôi bị tiếng mảnh hỏa tiễn găm vào giống tiếng mưa đầu mùa dồn dập. Rồi cũng chẳng thằng nào bị làm sao cả ngoài những vết trầy xước do vướng phải kẽm gai thôi. Riêng mấy chàng không quân chui vào một conex tưởng là tránh được mảnh pháo, nhưng ai dè lãnh trọn một trái hỏa tiễn banh xác không còn một ai. Không nơi nào che chở sinh mạng con người hiệu quả bằng đất. Đất đã nuôi dưỡng ta rồi che chở cho ta thoát khỏi những hiểm nguy. Châm ngôn trong chiến tranh đấy!

Rồi ngọn lửa mùa hè khốc liệt ấy cũng tàn phai. Rút về hậu cứ một thời gian ngắn, tôi nhận được một Sự Vụ Lệnh ký từ Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định làm nhiệm vụ đi trao trả tù binh. Một nhiệm vụ nghe lạ hoắc. Nhưng suy cho cùng, bất kỳ tấn tuồng nào cũng phải có đào có kép mới đủ bộ sậu. Có kép mùi, có kép độc, có đào thương, có đào lẳng, có mấy thằng hề…và tôi được quân đội khoác cho cái áo thằng hề trong tấn tuồng nầy. Có mặt cho có tụ vậy thôi chớ chẳng mang ý nghĩa chi.

Xách Sự Vụ Lệnh xuống Quân Vận Khu chờ phương tiện mấy ngày mới có chuyến bay đi Phú Quốc. Chúng tôi được đưa đi bằng một chiếc vận tải cơ C7 Caribou của Úc Thòi Lòi. Thằng nầy thì tôi đã nhảy dù với nó rồi nên chẳng còn lạ lẩm gì. Tôi mò lên phòng phi hành đoàn để coi cái củ khoai Phú Quốc nó hiện lên màn hình ra-đa chơi. Chúng tôi đáp xuống sân bay quân sự dã chiến An Thới nằm sát mép biển được làm bằng những tấm vỉ sắt của Mỹ kết lại đặt trên nền cát trắng. Kéo nhau vào một cái nhà gỗ dã chiến gần đó là chỗ nghỉ tạm của khách chờ máy bay về đất liền giăng võng nghỉ ngơi. Phía trong xa là trại giam tù binh lớn bậc nhất vào lúc đó. (“Lấy củi đậu nấu đậu”. Chính cái trại giam tù binh khổng lồ ấy sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 là nơi giam giữ các sĩ quan trình diện cải tạo được chuyển ra từ đất liền bằng tàu vận tải mà chủ yếu là ở trại Long Giao-Long Khánh. Chắc thời gian ở trại Phú Quốc nếm quá nhiều cay đắng nên khi tập trung tất cả lại ở Bù Gia Mập-Phước Long thì số trốn trại phần lớn xuất thân từ trại giam tù binh Phú Quốc). Và những chàng Quân cảnh mới ra trường đều phải dạo chơi ở đây 2 năm mới được vào đất liền. Đêm nằm tòn teng trên võng nghe gió biển gầm rú ngoài kia, nhìn chòm ánh sáng mờ ảo hắt lên nền mây từ bên phía đảo chính Dương Đông mà ao ước được đặt chân qua để nghe mùi nước mắm nhĩ cá cơm nổi tiếng. Khung cảnh chung quanh đìu hiu quá!

13 April 2013

ĂN CẮP CỦA MÌNH

Mùa mưa năm 1978.

Mưa đã già lắm rồi sâu trong rừng già Phước Long. Khởi đầu tiếng hạt mưa rơi nhẹ trên mái nứa của lán chúng tôi như tiếng thầm thì khêu gợi của một người con gái trong đêm khuya tĩnh lặng mời gọi một cuộc sum vầy ân ái. Quả thật chúng tôi còn trẻ lắm, mới quá nửa tuổi hai mươi chớ mấy! Sinh lực vẫn còn tràn trề trong những tấm thân ốm đói. Tiếng gọi như từ thiên thu vọng về vẫn chập chờn trong những giấc mộng vật vã hằng đêm, và thỉnh thoảng vẫn gặp những cơn mơ bùng nổ mạnh mẽ giải thoát cho những ức chế tình dục trong những tấm thân trai trẻ. Giật mình tỉnh dậy với cái cảm giác bàng hoàng, mở mắt nhìn vào bóng đêm mông lung dầy đặc bao phủ quanh mình và các bạn say ngủ cạnh mình, cơn sảng khoái bất chợt dịu nhẹ dần xuống trong một nỗi hoang mang nghĩ đến ngày về. Không biết bao giờ mới tới cái ngày ấy đây nhỉ? Thôi thì cứ đành để số phận mình trôi theo dòng đời đầy bất trắc trong nỗi đày đoạ tâm hồn.

Rồi nương theo gió rừng già sâu thẳm, những giọt mưa ngày càng nặng hạt. Mưa xối xả đến mịt mù trời đất. Những hạt mưa li ti lách qua khe hở của mái nứa lọt vào chỗ nằm của chúng tôi như một màn sương mỏng. Thôi cũng đành chịu trận chớ biết sao giờ.

Mưa sầm sập đổ xuống hết ngày nầy qua ngày khác. Đường rừng đất đỏ trơn như mỡ nên những chuyến tiếp tế hiếm hoi từ thị trấn đã lâu rồi không còn ghé lại chỗ chúng tôi. Chắc cũng hơn 3 tháng rồi. Thực phẩm đã cạn kiệt từ lâu, ngay cả đến những hạt muối cần thiết cũng đã là một món hàng khan hiếm.

Lúa rẫy thì chúng tôi trồng và thu hoạch chất đầy “khẳm ben” trong mấy cái kho để ven rừng, mỗi cái chứa được chắc khoảng 10 tấn. Kho được làm theo kiểu nhà sàn của người Thượng để tránh ẩm mốc và chuột bọ.

Hơn tháng nay, suất ăn hằng ngày của chúng tôi khi thì vài trái bắp còi cọc, khi thì vài củ khoai mì bằng cổ tay nhạt thếch. Hoàn toàn không có những hạt muối đậm đà. Tay chân đã bắt đầu run rẩy không kiểm soát được. Khát muối đến độ nếu vét được vài hạt muối hột còn sót lại, nhấm nháp với mấy củ khoai mì mà tôi nghe cái vị ngọt ngào của nó thấm đến tận cổ họng. Kỳ diệu thật!

Tất cả những rẫy bắp và khoai mì muôn trùng vây quanh chỗ chúng tôi đều tự tay mình phá rừng làm rẫy mới có được một màu xanh mướt trong mưa như bây giờ. Trong rừng già xanh thẳm thì không hiếm những thân cây ba bốn người ôm, nhưng chúng tôi chỉ được phát cho mỗi người chỉ có cái lưỡi rựa không. Đành lấy quần áo cũ quấn chuôi rựa lại mà phát mà chặt thôi. Dao rựa xài một thời gian đương nhiên phải cùn, nhưng lấy cái gì mà mài mà dũa? Cũng đành dang hết chút sức còm cõi ra. Hạ một cái cây rừng nếu trước đây chỉ cần 8 thành công lực thì nó sẽ đổ xuống, thì bây giờ ta xài luôn tới 12 thành công lực. Rồi cũng xong!

Làm A trưởng của một nhóm 15 “ông lớn”(sic), tôi thường phân công 12 tay đi trước để dọn dẹp sạch những cây nhỏ và cái đám dây leo chằng chịt cho rộng chỗ. Tôi và 2 tay “vạm vỡ” đi sau để thanh toán nốt những cây to còn lại. Chỉ tiêu cho mỗi đầu người là 600 mét vuông mỗi ngày. Sau khi đo đạc cắm mốc xong, tôi tính toán tiến độ làm việc như thế nào để buổi trưa chúng tôi vẫn có một giấc ngủ trưa trong rừng sâu dưới những tán cây râm mát. Đến buổi chiều khi nghe tiếng súng AK 50 nổ đoàng một cái, chúng tôi tập họp kiểm quân tại cửa rừng, anh chàng Đội trưởng đi quan sát lại phần đất được giao trong ngày. Hoàn thành chỉ tiêu rồi mới lếch thếch kéo nhau vể lán. Đố có ông vệ binh nào dám vác súng vào rừng để kiểm tra chúng tôi. Đã có trường hợp một vệ binh bị chém giật mất súng. Ngày hôm đó quả là một kỷ niệm hãi hùng với bọn chúng tôi.

03 March 2013

LAN MAN ĐẦU XUÂN, bút ký

Chẳng ai có thể ngờ sau Tết Nguyên Đán mà trời lại có mưa!

Đã bước sang “mền” rồi nên hầu như nhịp sống thường nhật đã khởi động trở lại. Tuy nhiên, dư vị mùa Xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đó trong xúc cảm của mọi người và cũng biết đâu đã có nhiều nụ hoa tình yêu của tuổi trẻ đã bắt đầu đơm bông kết trái sau một cái tết tưng bừng?

Với những người đã bó tay đầu hàng trước những đổi thay mới mẻ thì giả vờ phẩy tay coi nhẹ như không vì họ cho rằng mình đã trải qua cái tiết mùa đặc biệt ấy đã mấy mươi lần rồi và hầu như cuộc đời chẳng còn điều gì có thể làm họ phấn khích suy nghĩ và xao động tâm hồn nữa. Cũng bình thường thôi!

Nhưng ở đời thì có thiếu gì chuyện nằm ngoài cái sự bình thường? Tuổi già cũng có cái phơi phới riêng trong lòng đang tiết xuân ấy chứ, và tôi thì lọt ra ngoài “cái sự bình thường” đó một chút.

Cũng bởi vì:
“…Bốn mươi năm biển vẫn mừng
Gã giang hồ vặt lừng khừng rong chơi
Biển xanh thẳm rộng tay mời
Sóng xô tóc trắng tựa đời anh qua
Nha Trang bờ cát rất xa
Khi không biển gọi anh ra làm gì?…”
Cái tuổi của tôi bây giờ thật chẳng còn rỗi hơi đâu mà đi ngao du đây đó, hơn nữa điều cơ bản nhất là túi tôi đôi khi bỗng nhẹ không.

Biển gọi ra chẳng phải khi không mà là có việc đấy!

Tôi chọn một chuyến xe giường nằm ban ngày kèm theo con ngựa sắt thân yêu để đi về phía biển. Chao ôi! Bọn nhà xe nó chém đẹp, muốn đứt lìa cái cổ của tôi! May mà còn sót lại ít tiền lì xì hôm trước tết nên vẫn còn thoi thóp. Cũng chả có gì phải háo hức trước cảnh vật hai bên con đường mình đã đi qua không biết bao nhiêu lần nên cứ hững hờ nhìn nó lướt qua bên ngoài khung cửa sổ. Thực ra tôi đã mỏi mệt vì những công việc phải làm trước tết thậm chí leo sang những ngày còn mùng, hơn nữa đêm hôm trước đã phải thức đến 2 giờ sáng để viết những câu thơ nhăng nhít nên khá buồn ngủ. Nhắm mắt lim dim để đó trong khi tai lại phải nghe những câu chuyện hài hước rẻ tiền của cái đám “danh hài hải ngoại” Vân Sơn liên khúc mà nhà xe cống hiến cho khách đường xa nên chẳng thể nào an ổn trong đầu.

Đến Ngã ba Ông Đồn đoạn giáp ranh giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận thì phải ngồi dậy liếc ra bên ngoài vì nằm mãi cũng chán. Cảnh vật thì nghèo nàn xơ xác với cuộc sống khó khăn, bởi cho nên muốn cổ súy với những người bạn xa quê hương tình yêu đất nước thì với khung cảnh phơi bày trước mắt bảo sao mà họ chẳng hững hờ? Nếu có dành dụm được ít tiền để đi du lịch, tội gì họ không chọn những nơi đẹp đẽ hơn? Đó là một sự thật hiển nhiên tuy có chút phũ phàng. Xót xa thay cho đất nước tôi có những khoảng sống nghèo nàn như thế. Bản thân tôi còn thấy mình chưa thể yêu nổi thì còn mong chi người khác ở những đất nước xinh đẹp giàu có mở lòng yêu?

Nhìn dọc hai bên đường từ Hàm Tân đến thị trấn Lagi của Phan Thiết và hầu như suốt dọc vùng nông thôn của các tỉnh miền Trung toàn là những cái nhà chỉ lớn hơn hoặc có khi còn nhỏ thua cái phòng khách gia đình bên Tây bên Mỹ, nhưng được cái là không còn nhà tranh vách đất nữa mà là những cái nhà xây bé tí lợp ngói đã xỉn màu vì thời gian lướt qua với màu vôi vừa quét lại xanh vàng đủ kiểu để mừng năm mới tạo thành một bức tranh màu đầy vẻ ngô nghê của trẻ con.

Ngoài các tỉnh Cao Nguyên Trung Phần, các tỉnh ven biển miền trung dọc từ Quảng Trị trở vào đến Phan Thiết chưa nơi nào tôi chưa có dịp đặt chân đến. Ngoài những cuộc rong chơi ngắn ngày vì cuộc mưu sinh, vì những ngày chinh chiến thì Nha Trang là nơi có nhiều kỷ niệm thời tuổi trẻ đẹp tươi cộng thêm một chút buồn lòng thời tóc bạc thì Phan Thiết là nơi dung chứa số phận gió bụi của tôi dài nhất.

Nhìn những ngôi nhà bé tí ấy là không gian sống cho cả gia đình, thốt nhiên trong cái đầu lộn xộn của tôi chợt nẩy ra một ý nghĩ vu vơ nhưng rất thực tế tuy có thể gây khó chịu cho một vài người nghiêm túc khi đọc phải nó.

Tôi nghĩ mà thương cho thân phận đàn bà của những phụ nữ nông thôn Việt Nam. Trong cuộc sống vợ chồng, cái không gian nhỏ bé trống huơ trống hoác bốn bề trong căn nhà, làm sao mà họ có thể tận hưởng hạnh phúc trời ban cho những cặp vợ chồng? Với tất cả mọi phụ nữ nông thôn thì họ cho đó là chuyện bình thường và họ cam chịu cái số phận hẩm hiu ấy mà không dám nói ra những ao ước riêng mình. Thế thì có nên tội nghiệp cho họ không? Theo tôi là có đấy!

Gạt ra khỏi đầu óc cái suy nghĩ vẩn vơ kia, tôi đưa mắt quan sát những giàn bông giấy được trồng trước cửa nhà hay trước vòm cổng. Trong bức tranh ấy, không chỉ có những gam màu tối mà vẫn có những gam màu rực rỡ. Những sắc màu trắng, vàng, đỏ xác pháo, đỏ tím…đủ loại đã làm cho bức tranh hiu hắt bỗng trở nên vui mắt và sống động. Nhân nhìn những giàn bông giấy thắm tươi ấy, tôi chợt nhớ đến tâm sự của một phụ nữ còn nhỏ tuổi gặp trắc trở trong cuộc sống hôn nhân đã gây nên cảm xúc rung động và viết vội lại câu chuyện tình ấy bằng mấy câu thơ trên điện thoại của tôi. Mà cũng có thể đó là tâm sự của rất nhiều phụ nữ khác, nhưng nó được chôn giấu mãi mãi trong lòng.
NHỚ  GIÀN  HOA  CŨ                  

Thơ ngây mười tám tuổi tròn
Môi hồng má đỏ, gót son điệu đàng
Em xinh em đẹp như lan
Tỏa hương bát ngát bàng hoàng hồn ai
Em mơ một mối tình dài
Có chàng có thiếp, chẳng phai theo mùa
Ông Tơ Bà Nguyệt trêu đùa                    
Đưa chàng Hoàng tử thêu thùa tình si
Thắm tươi một thuở xuân thì
Tưởng duyên tơ tóc chẳng gì cách chia
Bỗng dưng sao phải chia lìa?
Bởi chưng giông bão ngoài kia ập về
Em đành lỗi hẹn câu thề
Trăm năm chẳng được gần kề một bên
Tiếc cho tình chớm chẳng bền
Trách trời cay nghiệt mà nên nỗi nầy
Phải đâu tham mớ trầu cay
Tham sang phụ khó, mê say bạc vàng
Nên em cất bước sang ngang
Bỏ người một bóng võ vàng nhớ thương
Thân em côi cút bên đường
Một mình đơn lẻ đành nương theo người
Hẩm hiu duyên phận trêu ngươi
Để em cam chịu với người không yêu
Gánh phần oan trái đủ điều
Khiến em buồn tủi sáng chiều một thân
Đành nhìn con tạo xoay vần
Cắn răng nuốt ngược mấy lần đớn đau
Sao mình không được có nhau?
Em thành tình phụ hư hao tháng ngày
Hay em đã có gì sai
Với người tình lỡ, trời đày thân em?
Ánh trăng dừng lại bên rèm
Trăng nghiêng góc tối không thèm sáng trong
Trách người chăn gối bên chồng
Nhưng còn tơ tưởng trong lòng ai kia
Gối đêm nước mắt đầm đìa
Đồng sàng dị mộng, ngoài kia gió về
Tưởng như mưa gió lê thê
Giúp em gột sạch não nề buồn thương
Sao lòng em mãi vấn vương
Chút tình thơ dại bên đường ngó sang?
Tiếc cho duyên phận lỡ làng
Em đành gởi gió buồn sang cho người
Nhìn giàn bông giấy xinh tươi
Hồng màu xác pháo em lười đưa tay
Quét gom cánh mỏng mỗi ngày
Sợ cơn gió thổi làm bay nỗi buồn
Ai hay nước mắt ngầm tuôn?
Em mang tâm sự vui buồn gởi hoa
Đành như chỉ có hai ta
Sống riêng một cõi trong nhà chồng thôi!
Nhớ người em nhớ bồi hồi
Yêu người cũng muốn một đôi lần liều
Tìm người cho trọn chữ yêu
Nhưng đời xô ngã liêu xiêu mấy lần
Mấy mươi năm cứ bâng khuâng
Lòng em ao ước được gần bên anh
Giờ thì tóc chẳng còn xanh
Yêu người cho lắm cũng đành chịu thôi
Thấy hoa em lại bồi hồi
Nhớ giàn hoa cũ, tan rồi ước mơ
Cuộc đời chẳng đẹp như thơ
Mối tơ duyên ấy đành chờ kiếp sau.

s@...
***


Đi hết con đường dốc dài đổ xuống từ miền đông Nam bộ đến Bình Thuận, xe bắt đầu chạy cặp theo ven biển. Những vườn thanh long nổi tiếng của đất Phan Thiết không còn xanh tươi dưới những trận mưa đang có vẻ úa vàng, đổi lại là những cánh đồng lúa nho nhỏ vì một bên là núi một bên là biển đang xanh mướt những đám lúa đương thì con gái. Gió xuân thổi về làm ngả nghiêng một chút những ngọn lúa xanh rờn làm khung cảnh rất sống động và đầy chất thôn dã. Ở miền nào cũng vậy, tôi rất yêu quý cuộc sống và con người nông thôn. Cuộc sống họ giản dị, tâm hồn họ chất phác và nhịp sống đời ồn ả bon chen chốn thị thành không chạm được tới tâm hồn họ. Cái bình lặng ấy tôi có đi mà tìm kiếm suốt cả đời cũng không sao tìm gặp. Dưng không, tôi bỗng thấy ngao ngán cho cái thằng tôi. Có người bảo đầu óc tôi sao phức tạp thế? Sao cứ muốn gậy sự với cuộc đời mãi thế? Sao không tập cách suy nghĩ đơn giản hơn cho khỏe đầu óc? Nếu thế thì đã không có những dòng chữ nầy xuất hiện dưới mắt các bạn.

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...