Showing posts with label Nguyễn-V-Nhiệm. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn-V-Nhiệm. Show all posts

04 May 2011

Biên khảo, trích từ tác phẩm sắp xuất bản "Con Đường Văn Hóa Việt"

 Quê hương giàu đẹp qua ca dao

Nguyễn Văn Nhiệm

Triết lý lưỡng hợp thái hòa vuông tròn đã thấm sâu vào tiềm thức cộng thông dân tộc được biểu hiện qua ca dao, là tiếng nói văn học bình dân. Nếu hình tròn biểu tượng cho thời gian thì hình vuông là biểu tượng cho không gian. Hai hình ảnh này giao thoa cho ra nét cong vừa đẹp hài hòa ( Mỹ ), vừa đúng ( Chân ) như hình sin của toán lượng giác, mà nếu xét trong một chu kỳ thì lại tương tự như chữ S của hình thể nước Việt Nam . Nếu chữ S đó được đặt trong vòng tròn thì lại có hình ảnh của đồ Thái cực, cũng là hình ảnh bọc trăm trứng.

Nếu ca dao đã thể hiện phong phú quan niệm thời gian của người bình dân thì về không gian, ca dao cũng cho thấy qua hình thể có hình cong như chữ S, có bờ biển chạy dài trên ba ngàn cây số, một quê hương Việt Nam mến yêu vừa đẹp vừa trù phú với biết bao hứa hẹn. Những địa danh chứa đựng ý nghĩa của tên gọi từng vùng đất, từng làng đã nói lên tính cách triết lý nhân sinh hướng vọng về một quê hương giàu đẹp, ấm no, hạnh phúc:
“Đất Phú Mỹ, chữ Mỹ là đẹp,
Đất Đa Lộc, chữ Lộc là giàu,
Em đến đây muốn cho đẹp trước giàu sau.
Lửa hương càng đượm, càng lâu càng bền.”
Cái đẹp và giàu đó lại được tô điểm bằng văn hóa có truyền thống hàng ngàn năm, biểu hiện rõ nét qua Thăng Long, Hà Nội là đô thành “nghìn năm văn vật”:
“ Thăng Long Hà Nội đô thành,
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ.
Cố đô rồi lại tân đô,
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây.”
Cái tên Thăng Long có ý nghĩa lịch sử: Tháng bảy năm Thuận Thiên (1010), vua Lý Thái Tổ dời kinh đô về La Thành, vì đất Hoa Lư chật hẹp. Khi tới La Thành, nhà vua nói thấy rồng vàng xuất hiện, nên mới đổi tên ra Thăng Long. Trong kinh Dịch, quẻ Kiền , hào cửu ngũ có viết: “Phi long tại Thiên, lợi kiến đại nhân”: Rồng bay trên trời, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi (Theo Kinh Dịch - Đạo của người quân tử - Nguyễn Hiến Lê). Quẻ Kiền tượng trưng cho người quân tử với bốn đức nhân, lễ, nghĩa, trí đi với nguyên, hanh, lợi, trinh. Rồng là biểu tượng cho sức cường kiện của quẻ Kiền, đồng thời cũng là biểu tượng quyền lực của nhà vua.

Vì thành đô là chốn “nghìn năm văn vật ”, cho nên Thăng Long chẳng những “đẹp đất, đẹp người ” mà còn là nơi có “ kiến trúc tuyệt vời ”:
“Đền đô kiến trúc tuyệt vời,
Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm.”
Đất Thăng Long và các vùng phụ cận có nhiều đền đài cổ tích, lịch sử ghi nhớ công ơn dựng nước, giữ nước của Tổ tiên:
“ Ai lên Phú Thọ thì lên,
Lên non cổ tích, lên đền Hùng Vương.
Đền này thờ tổ Nam phương,
Qui mô trước đã sửa sang rõ ràng...”
**
“ Bàn Cờ, Trảm Tướng, Cao Tung,
Mũi Cày, Đụn Rạ trùng trùng non cao.
Sóc Sơn là ngọn núi nào,
Có ông Thánh Gióng bay vào trời xanh.
Sông Cà Lồ phía Nam quanh,
Uốn quanh trăm khúc như tình đôi ta.”
***
“ Cổ Loa là đất đế kinh,
Trông ra lại thấy tòa thành Tiên xây.”
**
“ Ai về thăm huyện Đông Ngàn,
Ghé thăm thành ốc rùa vàng Tiên xây.
Căm hờn Giếng Ngọc tràn đầy,
Máu pha thành lũy ngàn cây bóng tà. “
Đền thờ các bậc anh hùng dân tộc rất được trân trọng, đó là một phần di sản văn hóa nên được xây cất phối hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc với phong cảnh đẹp của địa phương:
“Đống Đa ghi để lại đây,
Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc Am.”
(Đống Đa là địa danh lịch sử, nơi vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh)
Phong cảnh của những đền lăng thờ được các nhà thi sĩ bình dân tô điểm qua những hình ảnh, biểu tượng mang đầy tính cách Triết lý Việt như “con rồng...uốn cong “, ”con thiên mã đang lồng về Nam“:
“ Non xanh nước biếc hữu tình,
Lúa đồng bát ngát rung rinh bốn mùa.
Đền lăng thờ đức vua Lê,
Ngắm nhìn núi Côi khác chi con rồng.
Vờn thêm một dải uốn cong,
Kìa con thiên mã đang lồng về Nam.
Một dòng nước nhỏ xanh lam,
Một ngôi chùa nhỏ nằm ngang lưng đồi.”
Khung cảnh của bức tranh quê hương sống động, ngoài cái vẻ đẹp “non xanh nước biếc hữu tình“, sự trù phú của vùng đất phì nhiều “lúa đồng bát ngát rung rinh bốn mùa” , lại còn được tô điểm thêm ”một ngôi chùa nhỏ nằm ngang lưng đồi”. Điều này đã biểu lộ rõ bản sắc văn hóa dân tộc là Triết lý lưỡng hợp thái hòa, luôn luôn có sự quân bình giữa đời sống vật chất và tâm linh, giữa đời và đạo. 

Bản sắc của kinh kỳ Thăng Long bao hàm trong sự tương phản giữa cảnh núi non hùng vĩ và cánh đồng xanh bát ngát của sông Nhị, làm nổi bật lên tính “nhất lịch, nhất sắc” một kinh đô của dân tộc có hàng ngàn năm văn hóa:
“Đồng xanh sông Nhị chạy dài,
Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long.”
**
“ Nhất cao là núi Ba Vì,
Nhất lịch, nhất sắc kinh kỳ Thăng Long.”
Cảnh đẹp Hồ Gươm, Tháp Rùa hài hòa giữa với mái chùa Ngọc Sơn:
“ Hồ Gươm in bóng Tháp Rùa,
Ánh đèn soi tỏ mái chùa Ngọc Sơn.”
Cảnh Tây Hồ thơ mộng:
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏ làn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.”
Những hình ảnh, âm thanh “cành trúc la đà “, “mặt gương“ “tiếng chuông“, “canh gà“, “nhịp chày" đều hòa hợp với nhau.

Nhiều phong cảnh đẹp miền Việt Bắc khiến mọi người say mê, cho nên “Mảng vui quên hết lời em dặn dò“, cũng giống như trong truyện “Hồng Bàng Thị“ có ghi: “Đế Lai chu lưu khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình thể, trông thấy kỳ hoa dị thảo, trân cầm dị thú...ái mộ quá, nên quên cả ngày về”:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Em lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.
Tay cầm bầu rượu nắm nem,
Mảng vui quên hết lời em dặn dò.
Gánh vàng đi đổ sông Ngô,
Đêm đêm mơ tưởng đi mò sông Tương.
Vào chùa thắp một tuần hương,
Miệng khấn, tay vái bốn pương chùa này.”
Từ Hà Nội vào Nghệ An hay ngược lại, đường đi "loanh quanh ”, uốn khúc “như tranh vẽ rồng", cái vẻ đẹp nghệ thuật mang màu sắc triết lý lưỡng hợp hài hòa giữa vuông và tròn như đã nói:
“Đường vô xứ Nghệ loanh quanh,
Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng.”
Cảnh vật hiện ra với màu sắc “ như tranh họa đồ”:
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Nghệ thì vô.”
_________________________
Ghi Chú:

Đến đây xin tạm ngưng... Quê hương miền nào cũng tiềm tàng cái vẻ đẹp, sự trù phú và đầy ắp tình người, mà ca dao đã ghi lại:
“ Ca dao Bình Định thật hay,
Câu thơ như giọt rượu cay ấm lòng.
Quê hương trái đất nửa vòng,
Ngày thương đêm nhớ như mong mẹ về.”
Con đường văn hóa Việt Nam qua ca dao còn nhiều chương với những tiết mục có nội dung của Triết lý nhân sinh:

Chủ đề quê hương giàu đẹp vẫn còn tiếp...Ngoài ra còn có các chủ đề khác như:
Đất nước và con người.
Đất nước, làng xã, đình chùa, lăng miếu, đồng quê, bến đò...
Con người, đặc tính, mẫu người anh hùng, dựng nước, giữ nước.
Luân lý, đạo đức, tín ngưõng.
Triết lý: nhân sinh, lưỡng hợp thái hòa hướng đến Hạnh phúc con người, bao gồm cả hai lãnh vực thành công và thành nhân. 

Nền tảng gia đình, đạo vợ chồng hòa hợp và lý thú nhất là sinh hoạt của trai gái ở nông thôn: làm việc đồng áng, hò hát, câu đố, tỏ tình... Tất cả đều biểu lộ nếp sống phong phú của một dân tộc có văn hóa ở trình độ Minh triết.

Tác giả sẽ xuất bản và giữ bản quyền.
Chân thành cảm ơn quý đọc giả, quý thân hữu đã theo dõi đọc, chia sẻ cảm nghĩ trong thời gian qua.

Trân trọng kính chào,
Nguyễn Văn Nhiệm
____________
Thay mặt bạn đọc, xin chân thành cảm tạ tác giả Nguyễn Văn Nhiệm đã chia sẻ những suy tư và tìm hiểu của mình về kho tàng quý giá, đa dạng và mênh mông của Dân Tộc Việt. Tác phẩm của ông chắc chắn sẽ góp phần trong việc bảo vệ văn hóa của chúng ta.
TTR

14 April 2011

Con Đường Văn Hóa Việt


Hòa thời qua ca dao

(Trong "Con Đường Văn Hóa Việt", sắp xuất bản)
 Nguyễn Văn Nhiệm

Hòa thời là đặc trưng của tính lưỡng hợp, lưỡng nhất trong nền văn hóa truyền thống Việt Nam, có thể được tóm lược qua đẳng thức:
Gian thời + Siêu thời = Hòa thời
Đẳng thức này cũng đã nói lên ý nghĩa của tính lưỡng hợp và quân bình. Đẳng thức lưỡng hợp tính về thời gian cũng đi song song với đẳng thức lưỡng hợp tính về tâm thức:
Ý thức + Tiềm thức = Thần thức
Hòa thời như vậy có tính tương đối. Đặc tính của Hòa thời là con người tuy sống trong Gian thời mà không hoàn toàn bị thời gian cuốn trôi, con người còn muốn thoát khỏi thời gian máy móc, lạnh lùng của chiếc đồng hồ bằng mối chung tình trước cũng như sau:
“Đồng hồ còn có khi sai,
Chung tình với bậu trước hoài như sau.”
Hai câu ca dao trên đã tóm tắt lộ trình của Hòa thời:
Ở Gian thời thì thời gian như chiếc đồng hồ cứ chạy “ tích ta tích tắc “ mãi, nếu có chính xác, ích dụng theo tinh thần khoa học thì cũng có lúc sai:
“ Đồng hồ liệt máy vì bởi sợi dây thiều.
Anh xa em vì bởi cuộn chỉ điều se lơi.”
Ý thức thời gian ở gian thời là cảm thấy nó cứ trôi chảy mãi:
“ Thời giờ thấm thoát thoi đưa,
Nó đi đi mãi không chờ đợi ai.”
Do ý thức về thời gian như vậy mà có những thái độ sống khác nhau:
Thái độ hoài nghi,thiếu tin tưởng:
“ Một năm một tuổi một già,
Ba năm một tuổi chi mà đợi anh.”
Thái độ sống vội vàng:
“ Ai ơi chơi lấy kẻo già,
Măng mọc có lứa, người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
Cái già sòng sọc nó thì theo sau.”
Thái độ lo âu, xao xuyến:
“ Một mình lo bảy lo ba,
Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.
Còn duyên kẻ đón người đưa,
Hết duyên đi sớm về trưa một mình.”
Rồi người ta động lòng trắc ẩn:
“ Thương thay thân phận con tằm,
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.
Thương thay hạc lạnh đường mây,
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.”
Do ý thức về thời gian như thế nào thì sẽ có quan niệm về hạnh phúc như thế ấy:
“ Cao cao, cao tít mù xanh,
Tuy cao mù tít vẫn quanh quẩn gần.
Dữ lành cân nhắc đồng cân,
Mà cơ hạnh phúc chuyển vần chẳng sai.
Hiện tiền, quá khứ, tương lai,
Như vòng vòng dính, như quay quay tròn.”
Tuy ở trong Gian thời có phân biệt “Hiện tiền, quá khứ, tương lai“, nhưng vẫn có luật tuần hoàn, luật nhân quả là những luật thường hằng, cho nên con người vẫn còn niềm tin và hy vọng, là suối nguồn của sự sống:
“ Hết cơn bỉ cực tới hồi thái lai “
“ Có công mài sắt có ngày nên kim “
Từ niềm tin và hy vọng, con người quyết tâm thoát thời gian bằng tập trung nổ lực, chuyên chú vào từng hành động có ý nghĩa trong cuộc sống, Nho gia gọi là “đốc hành “ :
“ Thời gian vùn vụt qua nhanh,
Gắng công đèn sách đua tranh với người.”
“ Ví dầu ngày tháng thoi đưa,
Bao năm chinh chiến anh chưa thấy về.
Điểm tô son phấn, em thề đợi anh.”
Thông thường, người chinh phụ khi vắng chồng thì buồn bã, biếng ăn, biếng ngủ,còn nói chi đến việc trang điểm. Nhưng ở đây việc “điểm tô son phấn “đi đôi với lời thề sắt son “em thề đợi anh“ là do niềm tin và hy vọng cao. Việc “điểm tô son phấn “ dĩ nhiên theo sau những công việc khác nhằm bảo đảm cho mọi sinh hoạt trong gia đình được ổn định, mà còn bảo vệ sức khỏe, dung nhan. Nỗ lực đó giúp quên thời gian.

19 March 2011

Biên khảo: Con Đường Văn Hóa Việt

Quan niệm về thời gian qua ca dao
(đi đôi với không gian)

Nguyễn Văn Nhiệm

Theo tài liệu Wikipedia thì hiện tượng sấm khai nguyên không phải là vụ nổ trong một không gian có sẵn, mà là sự xuất hiện của vật chất, không gian và thời gian cùng chung với nhau từ một đơn biệt tính nguyên thủy ( Der Urknall bezeichnet keine” Explosion “ in einem bestehenden Raum, sondern die gemeinsame Entstehung von Materie, Raum und Zeit aus einer ursprünglichen Singularität ). Điều đó có nghĩa là thời gian, không gian và vật chất xuất hiện đồng thời.

Ý nghĩa của tiếng sấm khai nguyên đã được ca dao nhắc nhở bằng những cuộc vui múa cờ, múa trống, múa lân vào dịp xuân, là lúc Âm Dương giao hòa, dân chúng vui chơi với biết bao hy vọng vào ngày mùa sắp tới, đồng thời cũng để tưởng nhớ đến tiếng sấm sáng tạo thuở ban đầu:
“ Mỗi năm vào dịp xuân sang,
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân.
Múa cờ, múa trống, múa lân,
Nhớ ai trong hội có lần gọi em.”
Trong ba ngày Tết, ngoài tiếng trống múa lân, tiếng pháo nổ cũng có ý nghĩa tương tự, hỗ trợ cho tiếng trống:
“ Vui gì bằng lễ nghinh ông,
Đèn hoa pháo nổ ngập song ánh trời.
Cuộc vui nhiều khách đến chơi,
Giàu nghèo hỉ hả ăn chơi ba ngày.”
Từ đó, không riêng ba ngày Tết, hội xuân, mà có lẽ hội ăn mừng nào cũng có gióng trống vang lừng:
“ Làng ta mở hội ăn mừng,
Chuông khua trống gióng vang lừng bốn bên.”
Đối với nhà nông, sấm chớp là hiện tượng thiên nhiên mang lại niềm tin và hy vọng:
“ Lúa chiêm đứng nép đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.”
Lúa chiêm trồng vào mùa đông, đến đầu xuân ấm áp, có sấm chớp thì lúa bắt đầu trổ mạnh.
Tục ngữ cũng nói:
“ Sấm động gió tan “
Do đó người bình dân hầu như không khiếp sợ Thần Sấm quá đáng, họ tin Thiên Lôi chỉ ra tay trừng phạt những kẻ gian ác như ở câu “ Sấm động gió tan “ ( Gió là bão tố, cuồng phong dữ tợn ). Cho nên khi xuất trận tiêu diệt giặc cướp nước, chiến sĩ nghĩa quân thường gióng trống khua chiêng vừa làm hiệu lệnh thúc giục vừa nêu cao khí thế:
“ Tiếng trống rống ngàn quân “
Người ta cũng thường nói “giáng cho giặc cướp nước những đòn sấm sét“. Như vậy, nếu tách riêng câu:” Hãy nghe tiếng sấm phất cờ mà lên “ cũng có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, nghe tiếng sấm lệnh thì hãy nổi dậy phất cờ khởi nghĩa tiêu diệt giặc với sự phù trợ của Thần Sấm. Nghĩa thứ hai cũng nằm trong ý phù trợ, làm cho lúa trổ mạnh, đem lại ấm no cho muôn dân.

13 February 2011

Tìm Về Mái Nhà

Tìm về mái nhà   
Nguyễn Văn Nhiệm 
      
đợt cơ cấu tuy đã đơn giản, nhưng vẫn còn dùng số độ, hình tượng, sấm ngữ, nguyên ngôn để diễn tả những nguyên lý cơ bản, nghĩa là không nhiều thì ít vẫn còn dính dấp tới ý niệm, ý hệ, nghĩa là còn cần đến trung gian. Văn hóa chân thật đòi hỏi cái biết bằng trực giác tiếp nhận Minh triết, tức là những tia sáng lóe lên từ tâm thức của chính mình, từ nguồn năng lực vô biên của chính mình, là Minh đức, là Tính Việt. Việt lý hướng dẫn con người tìm về Minh triết để đạt đến đợt Thể. Đạo Việt với Minh triết chân thật giúp con người suy tư về Tính Mệnh, sống thuận theo Tính Mệnh (Suất Tính), nghĩa là con người trong cuộc sống hiện thực tự thể nghiệm ngay ở bản thân mình để làm sáng tỏ Nhân Tính, tức là Tính Thể của con người. Đạt được như vậy thì đắc Đạo, nói bóng là “ nhập ư thất “.
Con đường tìm về mái nhà không đơn giản, mà đầy chông gai, cho nên cũng dễ lạc lối. Con người phải lần lượt vượt qua giai đoạn bái vật đồng nhất, ý hệ dị biệt rồi mới tới tâm linh thông hội.
     Việt lý, Việt Đạo quan trọng ở chữ Việt, ở hàng ngang thế giới hiện tượng có nghĩa là vượt qua, ở hàng dọc tâm linh có nghĩa là siêu vượt lên. Ở giai đoạn bái vật, con người phải siêu vượt qua trạng thái đồng nhất, tinh thần bầy đoàn. Biết phân biệt tốt xấu, lành dữ là bước tiến vượt bực để thoát khỏi trạng thái hỗn mang ban sơ, nhưng nếu tưởng nhầm đây là đỉnh cao của tâm thức, rồi ra sức duy trì, củng cố thành ra ý hệ thì lại giam hãm con người trong ngục tù đối tượng, đối kháng hàng ngang ( duy tâm, duy vật ). Con người cần phải siêu vượt nữa để thoát khỏi ý hệ nhị nguyên dị biệt để tiến đến đợt tâm linh thông hội. Tục ngữ, ca dao phản ảnh ra sao con đường tìm về mái nhà?
     Việt lý hay Triết lý Việt mang tính lưỡng hợp, cho nên mái nhà có ý nghĩa vật chất cụ thể trong cuộc sống hiện thực mà cũng có ý nghĩa tâm linh. Việt lý là Triết lý nhân sinh, cho nên cứu cánh của nó là Hạnh phúc và tiêu chuẩn  để xác định cho mọi giá trị cũng là Hạnh phúc. Mái nhà là cái nôi Hạnh phúc đó:
   “ Mắm trước, đước sau, tràm theo sát
      Sau hàng dừa nước mái nhà ai?“    
      Nhóm chữ  “ mái nhà ai? ” buông lơi đó, tuy không xác định, nhưng lại rất có ý nghĩa.
      Ở Triết lý nhân sinh thì vai trò của con người rất quan trọng, không như triết học trục vật lấy sự vật độc khối, vô tri làm đối tượng :
   “ Tiếc thay hoa nở bên rừng,
     Thơm cay ai biết, ngọt lừng ai hay?”   
Đóa hoa chỉ thật tươi thắm, rạng rỡ khi đối diện với con người như một tâm hồn đối diện với một tâm hồn.  Mái nhà đàng sau hàng dừa nước không phải là mái nhà vô chủ lạnh tanh, mà là mái nhà của ai đó có bếp lửa hồng ấm cúng, đầy ắp tình nghĩa yêu thương.  
     Mái nhà là thể hiện Triết lý lưỡng hợp thái hòa, mà tình nghĩa vợ chồng khắng khít như vô số nuộc lạt ở mái nhà:
   “ Ngó lên nuộc lạt mái nhà,
     Bao nhiêu nuộc lạt thương mình bấy nhiêu.”
     Liên hệ keo sơn gắn bó đó ở cả hàng ngang lẫn hàng dọc như ý tưởng của câu châm ngôn sau đây:
   “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm.”
     Xây nhà là sinh hoạt ở đời, đó là chức năng của đàn ông, là phần hiển hiện thuộc Dương , hàng ngang, vòng ngoài. Xây tổ ấm là chức năng của đàn bà, là phần ẩn sâu nơi tâm linh, do đó đàn bà cũng có năng khiếu nắm bắt ánh sáng Minh triết hơn hết.  Ca dao đã có nhận xét rất sâu sắc và cho lời khuyên quý báu:
   “ Vợ chồng chớ cãi nhau hoài,
     Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.”  
     Cấu trúc mẫu nhà Việt Nam là nhà ba gian hai chái ứng với  cơ số 3-2 như đã nói ở phần cơ cấu: quân bình giữa trong và ngoài theo tỉ lệ 3-2 chứ không như theo mô hình kim tự tháp 1-4.
     Cái nhà là một cấu trúc hòa hợp trong liên hệ hỗ tương, chứ không phải là vật độc khối:
   “ Có cây mới có dây leo,
     Có cột, có kèo mới có đòn tay.”    
     Nhà có hai mái tựa trên hệ thống khung  gồm rui, mè, đòn tay, kèo và hai trụ cột chính ở hai đầu của vì kèo. Hai trụ cột chính này cũng như hai mái nhà là hình ảnh vòng Âm Dương của Dịch. Để đỡ hai mái nhà, ngoài hai trụ cột chính còn có bốn trụ cột nữa ở bốn gốc của một hình vuông (hay chữ nhật) là hình ảnh Tứ Tượng. Thêm bốn cột nữa của hai chái thành ra có tám cột, ứng với Bát Quái của Dịch.
     Đạo Việt có tính lưỡng hợp, cho nên nếu mái nhà hướng Thiên thì nền nhà hướng Địa; nếu cột trụ, mái nhà vững chắc thì nền móng cũng phải vững chắc tương xứng. Tục ngữ có nói:
   “ Nhà dột từ nóc dột xuống
     Điều này có nghĩa là dột từ đợt căn cơ, từ nóc như Thái cực bao gồm hai yếu tố Âm Dương : hai mái nhà dột nát. Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ cho thấy nguyên do và hậu quả của thảm trạng đó:
   “ Nhà dột bởi đâu? Nhà dột nóc,
     Nếu nhà dột nóc, thế chon von.”
     Bọn trộm, cướp thường xuyên rình rập, lợi dụng cảnh bất hòa của vợ chồng chủ nhà, chờ thời cơ trổ nóc nhà, đào ngạch, khoét vách xông vào nhà vơ vét tài vật của cải.
     Người ta thường nói đến từ ngữ kép “ dại dột “ có lẽ do liên hệ căn do, nhân quả, hễ dại thì sẽ đưa đến cảnh dột nát:
   “ Nhất là vợ dại trong nhà,
     Nhì thời nhà dột, thứ ba nợ đòi.
     Xem đi xét lại mà coi,
     Nhà dột không sợ, nợ đòi không lo.”
     Nói như thế là do ảnh hưởng tư tưởng Hán Nho trọng nam khinh nữ, cái gì tiêu cực thì gán cho đàn bà, còn đàn ông thì sao, nhất là giới quân tử trong làng Nho, mà  giới phụ nữ thường cảnh giác qua ca dao:
   “ Chớ nghe quân tử ì òn,
     Mà rồi có lúc ẵm con một mình.”
     Thật ra theo tinh thần lưỡng hợp của Việt lý thì liên hệ vợ chồng được đưa lên thành Đạo vợ chồng, lấy sự  hài hòa, hòa hợp, hòa thuận làm chủ đạo, chứ không chủ trương cãi nhau, tranh chấp thua hơn. Chủ trương sau, một khi phân hóa đến cực độ, sẽ đưa tới một mất một còn, gia đình tan rã, đường ai nấy đi. Như vậy trách nhiệm xây dựng  hạnh phúc gia đình, thành tựu hay đổ vỡ  là chung đối với cả vợ lẫn chồng, chứ không riêng ai cả. Từ mái nhà gia đình đến mái nhà của quốc gia    ( Tổ quốc ) cũng  có những liên hệ tương tự như thế, trách nhiệm xây dựng và giữ gìn là chung của cả toàn dân thành một khối đoàn kết, chứ không riêng một giới nào, dòng tộc nào, phe nhóm nào cả:
   “ Cái nhà là nhà của ta,
     Ông cố ông cha làm ra.
     Cháu con phải gìn giữ lấy,
     Muôn năm nhớ nước non nhà.”   
     Như vậy, bắt đầu từ việc thông thường như vợ chồng xây dựng mái nhà gia đình lại là vấn đề rất nền tảng, rồi mới mở rộng ra xã hội, quốc gia cho đến cả thế giới, vũ trụ bao la như ý tưởng của câu nói ở sách Trung Dung: “ Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ; cập kỳ chí giã, sát hồ thiên địa.” Xem thế đủ thấy tầm mức quan trọng của Đạo vợ chồng, tuy thông thườngkhông tầm thường, trái lại là vấn đề hệ trọng của nhân sinh thuộc đợt căn cơ là làm sao cho các đối cực do phân ly thông hội lại với nhau. Ca dao, tục ngữ thường dùng hình ảnh con sông để chỉ sự phân ly, ngăn cách đôi bờ và hình ảnh chiếc cầu như phương tiện đưa đến sự gặp gỡ, thông hội.
     Hình ảnh chiếc cầu nói lên biết bao ý nghĩa của Triết lý nhân sinh qua nét chấm phá độc đáo gọi là
lý qua cầu “ :
   “ Thương nhau hát lý qua cầu,
     Quê em Ninh Quới nặng câu ân tình.
     Thương ai cách một cánh đồng,
     Dẫu xa cho mấy mà lòng vẫn thương.”
    “ Lý qua cầu ” là triết lý siêu việt của Giao Chỉ, triết lý giao duyên  “ nặng câu ân tình “, cho nên       “ dẫu xa cho mấy “, “ cách một cánh đồng “,” mà lòng vẫn thương “.
     Nói là lý như lý qua cầu, lý đò đưa, lý con sáo...nhưng  thật ra ở đây không duy lý chút nào, mà lý, tình quyện lấy nhau xoắn xuýt. Đó là nét đặc biệt của Việt lý.                   
     Sau đây là một số ca dao giới thiệu nội dung của “ lý qua cầu“:
  “ Ai đưa con sáo sang sông,
     Để cho con sáo sổ lồng bay cao.
     Bay cao thời mặc bay cao,
     Lưới trời lồng lộng thoát nào đặng đâu.”
     Đây là hình thức của “ lý con sáo “ liên hệ với “ lý qua cầu “để “đưa con sáo sang sông “. Sang sông đã là bước đầu vượt qua sự ngăn cách đôi bờ, rồi lại được “ sổ lồng bay cao “ vào bầu trời tự do. Cái lồng là biểu tượng của những thứ do con người tạo ra như tập quán, lề luật khắc khe như nhà tù giam hãm con người. Sổ lồng là có tự do, nhưng đừng nghĩ rằng đó là tự do tuyệt đối,phóng túng, mà phải hiểu là tự do trong vòng trật tự, trong khuôn khổ của qui luật tự nhiên là “ lưới trời “ không thể thoát ra ngoài được . Nói như vậy không có nghĩa là chủ trương hủy bỏ tất cả mọi lề luật của con người, mà chỉ nhắm vào những lề luật quá cực kỳ khắc khe, phi lý kìm hãm con người. Lề luật như thế nào để có thể vừa hợp nhân tính, mà cũng không đi ngược với qui luật tự nhiên. Nói cách khác giữa tự do và lề luật phải có sự quân bình. Quan sát quá trình phát triển của con người từ  tuổi thơ cho đến trưởng thành vào lứa tuổi khoảng chừng mười tám, đôi mươi thì thanh niên, phụ nữ bắt đầu có thể được  “ sổ lồng “, cất cánh bay cao. Từ đó họ có quyền tự do bay nhảy, nhưng đồng thời phải chứng tỏ tinh thần tự lập, tự chủ, tự cường, có tinh thần trách nhiệm đối với bản thân, với tha nhân, với đoàn thể, xã hội. Đó là tinh thần của Triết lý lưỡng hợp thái hòa của Đạo Việt.
     Bắc cầu sang sông là hình ảnh nói lên sự kết duyên lứa đôi:
   “ Xin anh hãy cứ yên tâm,
     Trước sau rồi cũng bắc cầu đẹp duyên.”
     Sang sông có nghĩa là đi lấy chồng, đi theo chồng:
   “ Ai kêu, ai hú bên sông,
     Mẹ kêu con dạ, thương chồng phải theo.”
hay:
   “ Vai mang khăn gói sang sông,
     Mẹ kêu con dạ, thương chồng phải theo.” 
     Đạo vợ chồng là Đạo hòa hợp tình nghĩa như sự tích trầu cau, nếu không thì coi như  “ gãy nhịp cầu sang sông “:
   “Áo cưới chưa hết nếp tà,
     Cô dâu xách nón về nhà cô dâu.
     Phải chăng cau đã chán trầu,
     Đôi bờ đã gãy nhịp cầu sang sông.”
     Trước khi trở thành vợ chồng, trai gái trải qua giai đoạn hẹn hò, tình tự, ước hẹn gắn bó: 
   “ Thương anh cởi áo trao tay,
      Về nhà dối mẹ, gió bay qua cầu.
    - Gió bay cầu thấp cầu cao,
     Gió bay cầu nào, nói lại mẹ nghe.”                                                                                                                                                                                       Trai gái tán tỉnh, tỏ tình nhau là đề tài rất phong phú khắp mọi miền quê còn để lại dấu vết qua ca dao, mà ở đây đặc biệt nói về “ lý qua cầu “:
   “Ở gần sao chẳng sang chơi,
     Để anh hái ngọn mồng tơi bắc cầu.
  -  Bắc cầu em chẳng sang đâu,
     Chàng về mua chỉ bắc cầu em sang.
     Chỉ xanh chỉ tím chỉ vàng,
     Đủ ba thứ chỉ em sang được cầu.”
hay:
   ” Gần nhà mà chẳng sang chơi,
     Để em hái ngọn mồng tơi bắc cầu.
   - Mồng tơi chẳng bắc được đâu,
     Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang.”
     Bên cạnh loại “ lý qua cầu “ có tính cách trêu ghẹo, bỡn cợt, bông đùa, ỡm ờ kiểu “ mồng tơi bắc cầu “ còn có loại đứng đắn, chắc nịch như  kiểu “ xẻ gỗ cho dày “ có liên kết với thẩm quyền, lễ giáo như  sự hiện diện của ” thầy mẹ “ :
   “ Anh về xẻ gỗ cho dày,
     Bắc cầu sông cái cho thầy mẹ sang.
     Thầy mẹ sang, em cũng sang theo,
     Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.”
     Câu chót ” Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo “ nói lên tình trạng bế tắc thông thương, biện minh cho sự cấp thiết phải bắc cầu sang sông. Nghĩa bóng là do nhị nguyên thuyết ngăn cách đôi bờ, cho nên cần phải bắc cầu, phải siêu vượt qua nó để có sự thông hội.
     Ở một bài ca dao khác cũng lại có câu “Đò dọc... đò ngang “:
   “ Bồng bồng mẹ bế con sang,
     Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.
     Muốn sang thì bắc cầu kiều,
     Muốn con hay chữ phải yêu kính* thầy.”
( *Có bản: Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy )
    Việc học của con cái rất quan trọng, phải nổ lực vượt qua bao nỗi khó khăn để tầm sư học Đạo. Trong việc học Đạo, cái tôn chỉ đầu tiên là “ Tiên học lễ, hậu học văn “, cho nên người học trò tốt lúc nào cũng lấy việc “ yêu kính Thầy “ làm đầu. Tục ngữ có nói:
   “ Kính Thầy mới được làm thầy
     Hơn nữa việc học cao nhất trong truyền thống văn hóa Việt là học Đạo, cho nên phải thể hiện cho được Tính Việt là siêu vượt qua khỏi nhị nguyên để có thể đón nhận ánh sáng Minh triết lóe lên từ sự giao thoa, thông hội giữa những đối cực như Thiên Địa, Âm Dương, Hữu Vô ngay tự thâm tâm của mình. Đó là cái học “ cách vật trí tri “, “ triêu văn Đạo “ vậy.
     Qua cầu không phải dễ dàng theo cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Ngày xưa chưa có những cầu hiện đại như bây giờ, mà ở thôn quê chỉ có cầu tre không lấy gì làm chắc chắn:
   “ Cầu tre lắt lẻo, anh thắt thẻo ruột gan,                                                                                                               
     Sợ em đi chửa quen đàng,
     Rủi em có mệnh hệ, lỡ làng duyên anh.”
    Cũng vì thế mà có những câu tục ngữ như sau:
   “ Ai có qua cầu mới hay
hay:
   “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay
Lý qua cầu “ không phải chỉ có tính cách một chiều, chỉ nói lên mặt tích cực, mà còn phảng phất đó đây đôi nét tiêu cực của tình đời:
   “ Qua cầu ngả nón trông cầu,
     Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu.”
   “ Qua sông anh đứng anh chờ,
     Qua cầu anh đứng ngẩn ngơ vì cầu.”
   “ Nhớ khi gánh nặng anh chờ,
     Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên!”
   “ Qua cầu lột ván tháo đinh,
     Người thương ở bạc với mình không hay.”
“ Qua cầu lột ván tháo đinh “ là thái độ tệ hại chẳng khác nào lối suy nghĩ nhị nguyên ngăn cách đôi bờ. Nhưng cũng may, thái độ này chỉ lẻ tẻ như vài giọng ca lạc điệu trong một đại ban hợp xướng, không đủ làm mất đi tính chủ hòa của bản nhạc đồng ca. Thật vậy, là người ai lại không có ít nhiều lương tri, lòng trắc ẩn tiềm ẩn bên trong .  Hãy để giây phút lắng nghe tiếng nói của lương tâm, tiếng gọi của Đạo, mà người bình dân chất phác nào cũng đã tâm niệm và thể hiện qua lời kêu gọi:
   “ Ai ơi! Thương lấy lúc ni,
     Nhịp cầu kẻ đứng người đi sao đành.”
     Nói chung thì việc qua cầu khó, cho nên cũng cần có sự dẫn dắt:
   “ Ví dầu cầu ván đóng đinh,
     Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
     Khó đi mẹ dẫn con đi,
     Con đi trường học, mẹ đi trường đời.”
     Con đường đi học, mà lý tưởng là học Đạo khó như vậy, cho nên giai đoạn đầu cũng phải nhờ trường học để tiếp thu kiến thức, giai đoạn tiếp theo là trường đời, tự rút kinh nghiệm chuyển hóa vào hướng tâm linh, để hướng đời về với Đạo bằng nổ lực siêu việt, nói một cách hình ảnh là “ qua cầu “, là “ bắc cầu “để không còn ngăn cách đôi bờ nhị nguyên nữa.
   “ Qua cầu “ khó  như vậy, nhưng quyết tâm tập luyện thì mới xứng đáng là kẻ nam nhi:
   “ Phải chi lấy được vợ vườn,
     Tập đi cầu khỉ thêm đường dọc ngang.”
   “ Đò dọc, đò ngang “, hay vắn tắc: “ dọc ngang “ là những từ ngữ chỉ cặp phạm trù thời gian, không gian, mà những ai có khả năng xuyên suốt qua đó mới thỏa chí làm trai:
  “ Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
     Nợ tang bồng vay trả, trả vay
  ( Chí làm trai - Nguyễn Công Trứ )
Ngang chỉ không gian, đất; dọc chỉ thời gian, trời. Đây là cách biểu tượng đơn giản, chứ riêng không gian cũng đã chiếm ba chiều rồi. Vượt qua cây cầu khỉ ở đời đã khó, mà vượt qua cây cầu như vậy ở trong tâm mình lại càng khó hơn. Nguyên do là vì cầu khỉ, cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh, còn cái tâm thì theo kinh Phật cũng như con vượn chuyền cây. Thế cho nên phải giữ luật quân bình, tránh chao đảo, sao cho đi trên cầu khỉ mà cũng ung dung như đang đi trên mặt đất bằng phẳng.
   “ Lý qua cầu ” cũng có liên quan đế huyền thoại: Ngưu Lang, chàng chăn trâu, lấy được cháu gái của Trời là Chức Nữ, cô thợ dệt. Sau khi đã thành vợ chồng, Chức Nữ lười biếng việc canh cửi, nên bị phạt, lấy sông Ngân ngăn cách, chỉ cho phép mỗi năm gặp nhau một lần nhờ những con quạ bắc cầu Ô Thước vào đêm Thất Tịch ( mồng bảy tháng bảy ):
   “ Khi xưa ai biết ai đâu,
     Bởi chim Ô Thước bắc cầu sông Ngân.”
   “ Vị vì một giải sông Ngân,
     Làm cho Chức Nữ chẳng gần Ngưu Lang.”
     Bắc cầu Ô Thước mỗi năm chỉ một lần như vậy là quá ít ỏi, con người vẫn còn ngăn cách đôi bờ vì còn luẩn quẩn trong vòng nhị nguyên đầy mâu thuẫn, đầy đau khổ, chia ly. Ước vọng của con người đã được tỏ bày qua hai câu ca dao sau đây:    
   “Ước gì sông hẹp vài gang,
    Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.”                                                                                                       
Từ ước mong sẽ chuyển qua hiện thực bằng hành động nổ lực. Một khi đã siêu vượt khỏi nhị nguyên rồi thì không còn phân chia cách trở nữa, mọi sự đều hanh thông:
   “ Tìm em chẳng thấy em đâu,
     Lội sông chẳng tới, qua cầu lại xa.
     Bây giờ trông thấy em ra,
     Lội sông cũng được, cầu xa lại gần.”
     Từ trước tới giờ chỉ mới lo thắng vượt nỗi bất hạnh là đôi bờ ngăn cách ở “ lý qua cầu “, chừng nào qua cầu rồi mới có thể nói đến cái lý “ nhập ư thất “:
   “ Cô kia bới tóc đuôi gà,
     Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?
   - Nhà tôi ở dưới đám dâu,
     Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua.
     Ngó qua đám bắp trổ cờ,
     Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông.” 
     Ngôi nhà bên kia cầu là ngôi nhà Hạnh phúc có đủ cả lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ, nào là bắp trổ cờ, dưa trổ nụ, cà trổ bông...
     Phải vượt qua sông. Ở kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa có câu thần chú như sau:
   “ Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha “: Độ, độ, độ khắp cả, độ sang bến bờ bên kia, khắp độ tất cả sang bờ bên kia, giác ngộ!                                                                           
     Vua Trần Thái Tông ( 1225- 1258 ), vị vua anh hùng, một học giả, một nhà đạo đức, chẳng những bảo vệ, xây dựng thành công việc nước, mà còn vận động người dân tu học thành một phong trào sống lành mạnh, có đạo đức rộng lớn, để con người có thể vừa thành công vừa thành nhân:
   “ Khuyên mời Đức Phật khắp thời không
     Chư vị Bồ Tát, Thánh, Hiền, Tăng
     Mở lòng từ bi rộng vô cùng
     Chứng kiến chúng sinh sang sông “   
( Thiền học Trần Thái Tông- N. Đ. Thục )
     Kế quả là nước Đại Việt sau những năm chiến tranh chống ngoại xâm đã thực sự trở nên thanh bình, thịnh trị như cõi Phật, mà Trạng nguyên Huyền Quang Lý Tải Đạo đã diễn tả như sau trong bài phú  vịnh chùa Vân Yên:
   “ Phen những ôi!
     Tây Trúc dường nào
     Năm châu có mấy
     Non Linh Thứu ai đem về đây
     Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đáy
     Vào những cõi thánh thênh thênh
     Thoát rẽ lòng phàm phây phấy
 ( Toàn tập Trần Nhân Tông- L.M. Thát )
     Ca dao kêu gọi đồng bào, những công dân cùng chung một bọc huyền sử, anh em cùng một khí huyết hãy noi theo truyền thống văn hóa của Tổ tiên:
   “ Anh em một khí huyết phân,
     Cũng như người có tay chân khác gì.
     Ai ơi lấy đấy mà suy,
     Có câu đường lệ trong thi để truyền.”
     Đường lệ là lề luật trong gia đình, nhưng “đường lệ trong thi “ có ý nhắc đến ý nghĩa của hoa đường lệ trong Kinh Thi:
   “Đường lệ chi hoa, thiên kỳ phản nhi. Khởi bất nhĩ tư, thất thị viễn nhi.
     Tử viết: Vị chi tư giã. Phù hà viễn chi hữu?”
( Luận Ngữ. chương IX: Tử Hãn, tiết 29 )
Ý nghĩa: Cây đường lệ đơm bông. Hoa lay động qua lại (*). Há chẳng tưởng nhớ ai đó sao. Ngặt vì nhà ở xa mà không tới thôi.
     Đức Khổng Tử bèn nói: Như vậy là chưa thật tưởng nhớ đó. Nếu thật tưởng nhớ thì có xa gì đâu?
(*)Hoa đường lệ nở trước, búp sau, khác với các hoa khác thường búp trước nở sau. Hiện tượng đó, nói tổng quát là tác động một mở, một đóng theo nhịp điệu căn cơ của Dịch: “ nhất hạp nhất tịch”.
 Quên mất “ phản “ mà chỉ có “ thiên “, có qua mà không có lại, có mở mà không bao giờ biết đóng, thì làm sao có mở nữa để cho sự vật luôn luôn mới mẻ, khởi sắc. Chỉ có đi mà không có về, thì làm sao không trở thành người vô gia cư, cả đời không tìm thấy được mái nhà Hạnh phúc (Chân lý thật sự không theo đường thẳng, chỉ có hoặc mở , hoặc đóng, mà vừa có mở, vừa có đóng theo như dạng hình sin ).  
 “ Vị chi tư giã “: Chưa thật tưởng nhớ, tức là chưa thật sự suy tư vì còn luẩn quẩn trong vòng danh lý nhị nguyên, chọn một, bỏ một. Chữ “ thiên ” trong “ thiên kỳ phản nhi “ có nghĩa là nghiêng lệch về một bên, mất quân bình. Chữ  “ phản “ là quay về, ý nói từ bỏ lối thiên về một chiều, mà bao gồm cả hai yếu tố đối nghịch để có quân bình. Hệ Từ nói: “ Nhất âm nhất dương chi vị Đạo “. Âm dương giao thoa, hòa hợp thì mới đạt Đạo, đạt Nhân tính. Như vậy, chỉ khi nào quay về  với nguyên ngôn đầy tính viên dung nhất quán thì mới  thật sự có suy tư , lúc đó mới thấy nhà đâu có xa. Khi đầu mối âm dương giao thoa, thông hội với nhau ngay tận thâm tâm con người thì đạt Đạo, nói bóng là “ nhập ư thất “.
     Xin lập lại bài ca dao đã nói ở đoạn trước, hai câu đầu:
   “ Tìm em chẳng thấy em đâu,
     Lội sông chẳng tới, qua cầu lại xa.”
cho thấy khi chưa có sự gặp gỡ, giao hòa thì cái gì cũng xa cách, ngược lại khi đã có thông hội rồi thì xa hóa ra gần:
   “ Bây giờ trông thấy em ra,
     Lội sông cũng được, cầu xa lại gần.”
Cái nhà ở ngay bên kia sông, “ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua “, vậy mà không dễ gì vào được, là vì  khuynh hướng  chạy theo lượng, trục vật loanh quanh ở vòng ngoài thuộc đợt Dụng độc chiếm tâm hồn người ta, không còn biết chi đến phẩm ở đợt Thể ngay trong nội tâm. Khuynh hướng chạy theo lượng là do lòng tham dục của con người không bờ bến, cho nên dễ đưa đến thiên lệch, nếu biết quay trở lại thì mới lấy lại quân bình như người xưa đã khuyên:
   “ Nhân dục vô nhai, hồi đầu thị ngạn
     Thử quan sát và nhận xét tương quan giữa phẩm và lượng của loài động vật:
   “ Chim với phượng kể loại hai chân,
     Thú với kỳ lân kể loại bốn vó.”
   “ Con cua tám cẳng hai càng,
     Một mai, hai mắt rõ ràng con cua.”
     Loài chim, nhất là chim phượng có hai chân, so với loài thú bốn chân, loài cua tám cẳng, là loài mà văn hóa Việt xem là cao quý. Cho nên người Việt nhận mình là dòng giống Lạc Hồng, Khi tu Tiên đắc Đạo thì huyền thoại gọi là Vũ hóa, nghĩa là mọc cánh thành Bạch Hạc.
    Vật có bốn chân cho dù được xếp vào vật linh như kỳ lân, rùa ( qui ) cũng đứng sau chim về phẩm:
   “ Thiếp gặp chàng như Ngưu Lang gặp hội,
     Chàng gặp thiếp như hạc độ lưng qui.”
     Hạc hai chân đứng trên lưng rùa bốn chân cho thấy tương quan lượng- phẩm nói trên: loài hai chân cao quý hơn loài bốn chân. Bây giờ thử so sánh những con số trên ( số chân cẳng của loài vật ) với số độ các vòng của Dịch. Có thể nói rằng tám cẳng ứng với vòng Bát Quái, bốn chân ứng với vòng Tứ Tượng, hai chân ứng với vòng Lưỡng Nghi. Rồi Lưỡng Nghi lại nằm trong Thái Cực và Thái Cực bao gồm Lưỡng Nhi, cho nên có thể nói hai mà là một, một mà là hai. Như vậy là càng ra vòng ngoài bao nhiêu, càng trở nên phồn tạp bấy nhiêu . Đó là đợt Dụng nghiêng về lượng và tâm thức thì thu hẹp ở đợt Tiểu ngã. Càng đi vào vòng trong, thì càng trở nên đơn giản, phẩm nẩy nở ở đợt Thể và tâm thức mở rộng đến vô biên gọi là “ vũ trụ chi tâm “. Ngạn ngữ triết có nói: “ Nội hàm càng nhỏ, ngoại hàm càng to “, nghĩa là càng vào nhỏ bao nhiêu, sức bao quát càng mở rộng bấy nhiêu. Nếu đi vào cùng cực đến trống không, thì sức bao quát sẽ gồm thâu vũ trụ:
   “ Anh muốn trông, anh lên Ba Dội anh trông,
     Một Dội anh ngồi, hai Dội anh trông .
     Trống thu không ba hồi điểm chỉ,
     Anh ngồi anh nghỉ, thở ngắn than dài.
     Trúc nhớ mai thuyền quyên nhớ khách,
     Quan nhớ ngựa bạch, bóng lại nhớ câu.
     Anh nhớ em đây biết bao giờ được,
     Đạo vợ chồng chẳng trước thời sau.
     Trăm năm xin chớ quên nhau.”           
     Ngày xưa, đến gần tối quân lính phòng vệ đi khắp trong thành kiểm soát, khi biết chắc không có kẻ gian trà trộn vào trong thì mới ra hiệu cho đánh ba hồi trống thu không để báo cho mọi người biết là đã tới lúc đóng cửa thành. Thu không ý nói trong thành không có gì bất an, nguy hiểm cả, mọi người sẽ có một đêm yên nghỉ an lành.
     Cái trống tự nó đã có ý nghĩa là rỗng, là không rồi, là biểu tượng của Tâm không, không còn vương vấn tư dục, ý hệ, thành kiến, cho nên tiếng trống ( do người gióng lên ) vang dội cùng khắp, thông hội cả Thiên Địa. Ba Dội, Ba hồi trống  chỉ Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân.                                                               
     Trong Đạo vợ chồng, nếu mỗi người đều tự giác kiểm soát, giữ tâm thanh tịnh, tánh thường rỗng lặng, không để sót một vết vẩn đục nào, cũng như trong thành ban đêm không có kẻ gian tế rình rập, thì sẽ bảo đảm trăm năm hạnh phúc. 
     Thử bàn thêm về đề tài “ nhà trống “:
   “ Gió vào nhà trống
     Thông thường thì nhà trống trơn là nhà nghèo khó, chỉ tình cảnh không may, cho nên mới nói:
   “ Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống
     Nhưng  lúc có giặc ngoại xâm thì ngôi nhà trống lại trở thành thế chiến lược độc đáo. Gió là luồng gió dữ, chỉ giặc xâm lược hung bạo khi tràn vào “ nhà trống “ thì sẽ ngỡ ngàng vì không có gì để cướp phá, do đó có sách lược “ tiêu thổ kháng chiến ”, “ vườn không nhà trống “.
     Bên cạnh ý nghĩa triết lý của cái trống, ba hồi trống thu không, nhà trống, ca dao còn nêu lên thắc mắc vì sao gọi lá trầu là trầu không?:
   “ Bánh cả mâm sao em kêu là bánh ít ?
     Trầu cả chợ sao em gọi là trầu không ?” 
     Trầu không do sự tích trầu cau: Thời xưa có hai anh em họ Cao giống hệt nhau, rất thương nhau,người anh tên Tân, người em tên Lang. Cha mẹ chết sớm, hai anh em sang học, ở trọ nhà thầy là đạo sĩ Lưu Huyền. Họ Lưu có người con gái tên Liên, sau đó kết duyên với người anh, tình ái mặn nồng. Từ đó, người em nhận thấy cách đối xử của anh mình không được như xưa, lại thêm có sự nhầm lẫn của Liên do sự quá giống nhau của hai anh em, nên người em buồn bã bỏ nhà ra đi. Đến một bờ suối lớn, người em ngồi than khóc đến chết, hóa thành cây cau. Người anh đi tìm em, đến bờ suối cũng chết, biến thành tảng đá vôi ngay dưới gốc cây cau. Rồi người vợ sau đó cũng đi tìm chồng, thấy chồng chết, cũng chết theo, hóa thành dây trầu không bò quấn quýt trên tảng đá vôi. Họ Lưu thương con đi tìm, đến đó khóc lóc, rồi lập đền thờ, người qua lại mến gương anh em hòa thuận, vợ chồng tình nghĩa, nên đền thờ luôn có nhan khói ấm cúng.
     Vua Hùng Vương một hôm đi tuần hành qua đó, dừng lại nghỉ chân, tránh nắng, hỏi ra mới biết sự tình. Nhà vua sai hái trái cau bổ ra và vài lá trầu dâng lên cho Ngài. Sau khi nhai thấy có vị thơm ngon, nhổ lên tảng đá vôi thấy hiện ra sắc đỏ tươi biết là những vật quý có đầy đủ ý nghĩa Đạo lý, nên nhà vua  sai đem về gây dựng và truyền bá trong dân gian. Từ đó có tục ăn trầu.
     Liên có ý nghĩa là liên hệ, như lá trầu không quấn quanh tảng đá vôi và cây cau, liên kết Kim với Mộc thành Đạo Thái Hòa biểu thị qua sắc đỏ thắm đầy tình nghĩa nhân bản, tức là vươn tới Đạo Huyền ( Lưu Huyền ), Đạo huyền vi vô sắc, vô thanh, vô xú ( vô khứu ), tức là Đạo của Tánh Không.
Ngoài ra, mặc dầu có lần nhầm lẫn trong sự nhận diện chồng, khi hai anh em đi rẩy về, nhưng Liên không hề có ý tà dâm, tâm của nàng không hề vẩn đục. Có lẽ đó là ý nghĩa siêu hình của lá trầu không.
     Bây giờ xin nói đến  hình ảnh những đóa hoa:
   “Ở đời chi tốt bằng sen,
     Quan yêu dân chuộng rã bèn cũng .”
     Rã bèn cũng hư : Cánh hoa rồi cũng khô héo, rụng  khỏi đài hoa. Với cái nhìn phiến diện, đặt trọng tâm ở vẻ đẹp hình sắc của đóa hoa, thì khi cánh hoa héo tàn, rơi rụng gọi là hoa hư, rồi coi đời như tuồng ảo hóa, nhưng thật ra quá trình sống của cây hoa có hư đâu? Cánh hoa với màu sắc tươi đẹp ứng với vòng ngoài, đợt Dụng, còn nhụy ở vòng trong với cặp nhụy đực, nhụy cái ứng với  cặp Lưỡng Nghi hòa hợp. Cánh hoa có héo tàn, có rơi rụng mới chuyển đổi qua thời kỳ kết quả thành gương sen. Hoa và quả liên hệ với nhau như hình với bóng , cho nên mới gọi là luật nhân quả và hoa sen cũng gọi là Liên hoa. Phật giáo có kinh Pháp Hoa hay Diệu Pháp Liên Hoa, mượn Liên hoa để tỉ dụ diệu lý thanh tịnh, do dụ mà biết bổn tâm Diệu Pháp. Hoa sen cao quý vì mọc nơi chốn bùn lầy, mà vẫn trong sạch thơm tho:
   “ Trong đầm gì đẹp bằng sen,
     Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
     Nhị vàng bông trắng là xanh,
     Gần bùnchẳng hôi tanh mùi bùn.”
     Hoa sen mọc lên từ ngay nơi bùn lầy, nước đọng, tỏa hương thơm ngát mà không chút hôi tanh mùi bùn, cũng như Đạo pháp sáng ngời ngay trong thế gian chứ ở đâu xa. Phật giáo Đại Thừa chủ trương: “ Phật pháp bất ly thế gian pháp “, còn Tiểu Thừa chủ trương: “ Vạn pháp giai không “ xem cuộc đời là tuồng ảo hóa. Đến đây, xin lập lại tương quan giữa hai chữ “ thiên “ và “ phản ” ở hoa  đường lệ: Thiên là nghiêng lệch, mà nghiêng về bên ngoài là khuynh hướng lượng, là đa tạp, cho nên phải biết “ phản “, quay vào trong, hướng về phẩm, hướng về đơn giản đến không. Nhưng nếu chấp vào không, coi không như tuyệt đối, chỉ có vào mà không có ra, thì lại cũng rơi vào “ thiên “rồi, từ đó có thái độ tị thế. Thật ra chân không không phải là không có gì hết, mà chỉ là tâm không, tâm giác ngộ, không bị ràng buộc bởi tư dục, thành kiến, ý hệ, thông hội với cái Đức, là nguồn năng lực vô biên của Trời Đất, cho nên gọi là Chân Không Diệu Hữu. 
     Ca dao phản ảnh tính cách nghệ thuật và triết lý truyền thống Việt hơn hết qua tiết điệu căn cơ, sự vật không rơi vào thế cô đơn, độc khối, mà luôn luôn có liên hệ với nhau, nhứt là mối liên hệ đó gắn bó với tâm tình của con người, cho nên sự vật trở nên sinh động:
   “ Đêm qua hoa nở nhụy vàng,
     Sáng ngày thiếp thấy bóng chàng áo xanh.”
     Hoa nở là thể hiện sự thành tựu của Tạo Hóa, là tặng vật trang nhã cho cuộc đời:
   “ Chữ rằng: “ Thiên hữu tứ thời “,
     Ngày thời hoa nở, tối trời hoa thơm.”
     Hoa nở là thể hiện ý tưởng siêu hình của Đạo Việt, là Đạo Thái Hòa, hòa hợp Thiên- Địa, Âm- Dương, cho nên việc sanh đẻ gọi là “ khai hoa nở nhụy “:
   “ Trái bồ hòn trong tròn ngoài méo,
     Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi.
     Anh ngồi trường học nghĩ tới chuyện nhà,
     Mẹ anh thì già, con anh thì dại.
     Vợ lại nghén thai,
     Mai kia nhụy nở khai hoa,
     Miếng cơm bát nước biết ai cậy nhờ.”
     Nói về chữ Thời thì hoa nở quan trọng ở Hòa Thời, chứ không phải ở Gian Thời có phân biệt trước sau, Xuân Thu, mà do thời tiết ôn hòa, không quá lạnh, cũng không quá nóng. Nếu chưa rõ cái lý đó thì sẽ thắc mắc:
   “ Hoa khoe hoa nở lúc xuân,
     Cớ sao cúc lại muộn màng mùa thu?”
     Theo thiển ý, hỏi ở đây là gợi ý chứ không phải hẳn là thắc mắc.
     Hoa nở phải đúng thời (đúng thì ), cho nên con người cũng phải hành sử đúng thời, không được quá sớm:
   “ Rừng hoang sóc nhảy tưng bừng,
     Hoa chưa nở nhụy, bướm đừng lao xao.”
cũng không được quá muộn màng:
   “ Tay cầm nhánh dứa, lệ ứa hai hàng,
     Hồi thuở xuân xanh sao anh không kết bạn,
     Để hoa nở nhụy tàn mới làm bạn với em.”
     Chữ Thời quan trọng lắm thay! Vậy tiết mục chữ Thời trong ca dao sẽ được giới thiệu riêng tiếp theo sau đây.

        ( còn tiếp ) 
___________
 Cước chú:                                                                                                                                                  
Nguồn sưu tầm ca dao, tục ngữ :                                                                                                                                 - Tục Ngữ Phong Dao của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc.                                                                                       - Tự điển điện tử Ca dao Tục ngữ của Hà Phương Hoài.


19 January 2011

Trích từ một tác phẩm sắp xuất bản


Sấm ngữ - Nguyên ngôn
( Tục ngữ, ca dao )        
     
Cơ  khởi  đầu từ sự giao thoa các đối cực như Thiên Địa, Âm Dương, Hữu Vô, ... rất tế vi khó thấy. Cơ cũng  xuất phát từ nơi gặp gỡ của trục Thời Không, là đầu mối của Hòa Thời, Việt Thời.
    
Sấm ngữ :    
    Ở Thời này Tiềm thức giao thoa với Ý thức thăng hoa thành Thần thức. Dịch truyện có viết: “ Trí dĩ tàng vãng, thần dĩ tri lai “ : Thần thức biết được cái sắp đến, trí thức chứa ( biết ) sự đã qua. 
     Theo Nho Việt thì Tiềm thức 3, Ý thức 2. Tiềm thức là mảnh đất phì nhiêu nuôi dưỡng, tích lũy Minh triết, khi đạt đúng liều lượng thì Tiềm thức phát ra thông điệp gởi lên cho Ý thức để hướng dẫn, chỉ đạo cuộc nhân sinh, mà Hệ Từ Thượng gọi là “ Hà xuất đồ, Lạc xuất thư “, trong đó Hà , Lạc là tượng trưng cho Tiềm thức sâu thẳm, lưu ly như dòng sông bất tận, còn đồ, thư là thông điệp gởi lên cho Ý thức.
     Theo “  Thiền Uyển  Truyền Đăng Tập Lục “, vua Lý Nhân Tông có bài kệ truy tặng Thiền sư  Vạn Hạnh (?- 1025 ) như sau:
   ” Vạn Hạnh dung tam tế,
     Chân phù cổ sấm ky.
     Hương quan danh Cổ Pháp,
     Trụ tích trấn vương kỳ.”
Vạn Hạnh thông quá khứ, hiện tại, vị lại ba cõi,
Chân thật phù hợp với lời sấm cơ xưa.
Quê hương có tên la Cổ Pháp,
Chống gậy nhà Phật để bảo vệ đất nước.
( Dịch nghĩa: Nguyễn Đăng Thục- Thiền của Vạn Hạnh tr. 141 )
     Cái Tâm Thiền giác ngộ không còn phân biệt đối tượng cũng giống như cái Tâm Chí Thành của Nho Việt hợp nhất Ý, Tình, Chí, cho nên rất vi diệu: “ Chí thành như thần “ ( TD 24 ) và do đó có khả năng dung hợp, thông suốt cả ba cõi quá khứ, hiện tại, tương lai, nghĩa là có khả năng tiên tri, nói lên lời sấm cơ.  
     Vạn Hạnh đã vận dụng khả năng này để  giúp đất nước. Về sau có sấm Trạng Trình và trong dân gian cũng có  lưu truyền sấm ngôn. Sau đây là một vài  ví dụ:
   ” Bao giờ ngựa đá qua sông,
     Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi.”  
hay :
   ” Bao giờ thạch mã quá giang,
     Tử Kỳ, Vinh lại nghênh ngang công hầu.”
     Đối chiếu với sấm Trạng Trình:
   ” Bao giờ ngựa đá sang sông,
     Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.”
     Ngựa đá và những sự kiện, biến cố được tiên tri không phải là liên hệ căn do, nhân quả, nên lý trí không thể thẩm định được. Khả năng đó thuộc về những cá nhân có thần thức hiếm có, nói lên lời sấm bí ẩn mà người bình dân sưu tập, lưu truyền , còn ứng nghiệm hay không thì khó quả quyết.
    Đối với Tiềm thức, ngựa đá là “ Tượng “, một trạng thái thuần túy kinh nghiệm, như ng đối với Ý thức thì ngựa đá là vật vô tri thì theo lý lẽ làm thế nào nó có thể qua sông được? Nếu ngựa đá qua sông được thì quả thật là một biến cố cực kỳ quan trọng có tính cách đổi đời, làm đảo lộn cả cục diện theo như truyện Kiều: “ Trải qua một cuộc bể dâu “, biển rộng hóa ra ruộng dâu ( thương hải biến vi tang điền ). Văn hóa Việt là nền văn hóa nhân chủ, cho nên những câu sấm ngôn nói trên ngoài việc tiên tri, rất chú trọng phần Đạo đức nơi con người: “Đức năng thắng số “. Con người theo nghĩa nhân chủ là  con người toàn diện bao gồm, thống nhất cả ba phương diện: Ý, Tình, Chí cho nên thay vì nhận nguyên lý căn do lạnh lùng như ở luận lý hình thức thì văn hóa Việt nhận qui luật nhân quả có thưởng, có phạt theo ý nghĩa Đạo đức.  

06 December 2010

Tác phâm sắp xuất bản

Con Đường Văn Hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Nhiệm
(  tiếp theo )


HÌNH ẢNH
     

Hình ảnh ở đây có ý nói đến tượng của vũ trụ quan Dịch, thuộc về Cơ còn rất tế vi, chưa có chủ đề rõ rệt. Hệ từ truyện giải thích:
   ” Tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hóa hiện hỹ “: Ở trên trời là tượng, tức hình ảnh, ở dưới đất là hình, tức hình thể, biến hóa hiển hiện ra vậy. Biến hóa từ cái bản thể cơ bản duy nhất, phổ biến đại đồng là nguyên lý của vũ trụ mà biểu hiện ra vạn vật có thiên hình vạn trạng qua hình ảnh tương tự là tượng. Như vậy tượng là môi giới giữa thế giới hữu hình (Địa ) và thế giới siêu hình
( Thiên ). Do đó hình ảnh giới thiệu nơi đây mang ý nghĩa triết lý hơn ở bình diện văn chương, phải là những gì có tính cách tiêu biểu nhất:
     Tiên- Rồng: Tiên- rồng là hình ảnh biểu tượng nguyên lý Âm- Dương phổ biến cho đến Đạo vợ chồng, là việc tuy thông thường, như ng lại rất cơ bản, dẫn đến cùng cực thì quán thông Thiên Địa như Trung Dung đã nói: “ Quân tử chi Đạo, tạo đoan hồ phu phụ, cập kỳ chi giã, sát hồ Thiên Địa ”:
  ” Tờ giấy hồng anh găm chữ thọ
     Gửi thư nầy cả họ bình yên
     Đầu rồng mà gối tay tiên
     Ước chi đầu ấy gối lên tay nầy
     Như chim loan phượng ấp cây ngô đồng
     Một mai nên vợ nên chồng
     Như gặp nước, như rồng gặp mây
.”
     Đạo ấy dẫn đến sự hoà hợpnhư chim loan phượng ấp cây ngô đồng ”: tình nghĩa vợ chồng gắn bó, ” như cá gặp nước, như rồng gặp mây ”: phát triển đến cùng cực “ như cá gặp nước “ là lặn sâu đến tận Địa giới, “ như rồng gặp mây “ là vươn lên đến tận Trời cao.
     “ Như rồng gặp mây “ là ứng với Hào 5 của Quẻ Kiền: “ Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân “: Rồng bay lên Trời, ra mắt kẻ Đại nhân thì lợi. “ Như cá gặp nước, như rồng gặp mây “ là tổng hợp, hoà hợp cả hai nhịp điệu đóng- mở,  lên- xuống, động- tĩnh, tức là “ hợp nội ngoại chi Đạo “ ( TD 25 ). Nói về chữ Thời thì đó là Hòa Thời.;Nếu tâm hồn của những đôi nam nữ hòa hợp trong Hòa Thời một cách chân chánh, thì  mọi sinh hoạt, cái gì cũng tỏa ra cái vẻ đẹp, chứa chan hạnh phúc:
   ” Anh dệt cửi, em kéo hoa
     Rồng bay phượng múa ai mà chẳng khen
.”
     Ngược lại, nếu ỷ vào tài mà Tâm bất chánh thì hãy coi chừng:
   ” Bên hữu con thiên lý mã,
     Bên tả con vạn lý vân,
     Hai bên nhắm cũng cân phân,
     Lòng anh muốn cỡi một lần đủ đôi.
    - Thiên lý mã sải như tên bắn,
     Vạn lý vân chạy tế giống rồng bay.
     E khi anh cỡi chẳng tài,
     Sa cơ một chút ngàn ngày lại đau
.
; Còn ở Hào 1 của Quẻ Kiền hay sơ cửu thì có ghi: “ Tiềm long vật dụng “: Rồng còn ẩn náu, chưa dùng được còn phải chờ thời. Trong thời gia này con người cần phải kiên nhẫn, lo tu tâm, dưỡng tánh, vượt qua mọi thử thách, nghịch cảnh:
   ” Rồng nằm giữa biển rồng than,
     Trách con cá đối nằm ngang mình rồng
.”
hay:

26 November 2010

Sưu khảo

Bài biên khảo sau đây trích từ một tác phẩm sắp xuất bản của tác giả, cuốn Con Đường Văn Hóa Việt. Xin hân hạnh giới thiệu cùng quý anh chị. (TTR)
Phần I: Ca dao- Tục ngữ
    ( tiếp theo )

     Những dấu vết còn lưu lại dọc “ Con đường văn hóa “:
     Dấu vết đầu tiên còn ghi lại trong tục ngữ, ca dao là tính trọng văn khinh võ:
   “ Quan văn thất phẩm thì sang,
     Quan thất phẩm phải mang gươm hầu
.“
     Đó là một trong những đặc tính quan trọng để phân biệt hai nền văn hóa nguyên thủy chính của loài người và đặc biệt ở khu vực Á Đông. Văn hóa nông nghiệp: Đề cao mẫu quyền, thiên về tình cảm, chuộng văn, hiếu hòa, chủ trương nhân trị, vương đạo, truyền hiền...Trong khi đó, văn hóa du mục: Đề cao phụ quyền, thiên về lý trí, trọng võ, hiếu chiến, thích chinh phục, chủ trương pháp trị, bá đạo, thế tập...
     Dấu vết tiếp theo là chuộng việc học hành, khuyến khích văn chương chữ nghĩa:
   “ Thầy mẹ sinh em phận gái giữ đạo cương thường
      Anh lui về học lấy văn chương
      Nghìn thu em vẫn đợi, không vấn vương nơi nào
.“ 
     Việc học hành đó không chỉ ngừng lại ở phương diện văn chương, mà còn phối hợp cả việc tập tành lễ nghi và nhất là học đến chỗ rốt ráo là “ cách vật trí tri “, là cái học đến tận cùng căn để,“ tận kỳ tính “ của  Nho Việt:
   “ Dạy con từ thuở tiểu sinh
     Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
     Học cho “ cách vật trí tri
     Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông
.“
     Đã chuộng văn chương chữ nghĩa thì đương nhiên phải trọng con nhà văn học:
   “ Hò ơ...Bạc với vàng con đen, con đỏ
     Nhưng sợ giọng rỗi, giọng tuồng.
     Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng
     Nhưng sợ ảnh hay dằn, hay thúc.
     Hò ơ...Mấy lời trong đục, chẳng dám nói ra.
     Có thầy giáo tập ở làng ta
     Hay khuyên, hay điểm, hay dạy, hay răn.
     So đức hạnh ai bằng
     Lại con nhà văn học
     Sử kinh thầy thường đọc
     Biết việc thánh hiền.
     Hò ơ...Gặp nhau em kết nghĩa liền, không chờ, chẳng đợi...“
     Những câu hò như tiếng vọng từ tiềm thức thâm sâu, tận đáy lòng của người bình dân vang lên nguyện ước của người con gái mong có được người bạn đời lý tưởng thật nho nhã:
   “ Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ
     Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu
     Anh về anh học chữ Nhu
     Mấy trăng em cũng đợi, mấy thu em cũng chờ
.“
     Chữ Nhu đó chính là nguyên Nho của Việt tộc từ ngàn xưa còn để lại ấn dấu trong thâm tâm người bình dân mộc mạc ở thôn quê chưa bị xuyên tạc bởi văn hóa nô dịch của đế quốc, tà thuyết ngoại lai. Nguyên Nho là Nho Việt đã có mặt trên địa bàn Việt tộc cổ cho tới vùng núi Thái Sơn :
   “ Công cha như núi Thái Sơn
     Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
     Một lòng thờ mẹ kính cha
     Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con
.“
     Ngoài dấu tích cột mốc biên giới cực Bắc của Việt tộc, bài ca dao còn cho biết Đạo Việt là Đạo Thờ Cúng Ông Bà, Tổ Tiên, là Đạo Hiếu, đặc trưng của Nho, mà những nhân vật như Phục Hy, Thần Nông thuộc Viêm Việt đã có công đặt nền móng. Nếu so sánh niên đại, Thần Nông: 3320-3080 tr. CN, Hồng Bàng: khoảng 2879 tr.CN, Hoàng Đế của Hoa tộc khoảng 2697 tr. CN thì họ Hồng Bàng của nước Văn Lang, tức nước Việt Nam khi xưa còn trước cả Hoàng Đế  gần 200 năm. Chính vì vậy mà  sách sử mới nói rằng nước Việt Nam có trên bốn ngàn năm văn hiến, nghĩa là một đất nước có truyền thống văn hóa tốt đẹp lâu đời. Chỉ nội cái tên nước Văn Lang cũng đã nói lên cái ý thức của dân tộc về văn hiến ngay trong thời kỳ lập quốc rồi.
     Những mầm văn hóa truyền thống dân tộc được truyền dạy bao đời từ trong mỗi đơn vị gia đình với  lời ru con ngọt ngào, sự vỗ về của cha mẹ qua tiếng ca dao:  
   “ Bông bần rụng trắng ngoài sân,
     Lấy chồng xa xứ khó mong ngày về.
     Xa xưa con ở dựa kề,
     Bên ba, bên má vỗ về ca dao
.“
     Ca dao là chất liệu dinh dưỡng nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, cho nên được phổ biến ra cho toàn dân : sĩ, nông, công, thương. Mọi người lo phát huy nghề nghiệp chuyên môn của mình tạo cuộc sống ấm no cũng như lấy ca dao tô điểm sinh hoạt văn hóa  khiến cho cuộc sống trở nên đẹp đẽ, hòa hợp trong cảnh thái bình:
   “ Ai ơi giữ phép nước ta,
     Ai ơi thương lấy dân nhà một tông.
     Có hậu dưỡng mới phú phong,
     Kẻ cày người cấy, sống trong thái bình.
     Kẻ Nho lo việc học hành,
     Mai sau chiếm bảng nức danh trên trời.
     Kẻ buôn thì được lắm lời,
     Tàng vương chi thị tứ thời bán buôn.
     Kẻ công ai cũng tranh đua,
     Làm nghề chạm vẽ: phượng, rùa, long, ly.
     Tứ dân mỗi nghiệp mỗi nghề,
     Nhờ trời đều được gặp khi thái hòa.
     Toàn dân vang khúc dao ca
.“
     Đến khi vua Lý Thái Tổ ( 1010-1028 ) lên ngôi, dời đô về Thăng Long vào tháng bảy năm 1010, thì đất nước mới thật sự bước vào thời kỳ độc lập tự chủ vững chắc, lâu dài.                                                        
     Vua Thái Tổ sáng lập triều đại nhà Lý lúc nhỏ đã có một tiểu sử khá ly kỳ, bí mật. Khi ông lên ba tuổi, bà mẹ đem ông giao cho nhà sư Lý Khánh Vân trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi, nên được đặt tên là Lý Công Uẩn. Vì vậy, trong dân gian đã lưu truyền lời ca dao:               
   “ Con ai đem bỏ chùa này,
     A Di Đà Phật, con thầy thầy nuôi.“                                                                                                               
   Vì nhà vua xuất thân từ cửa Phật, nên Phật Giáo được khuyến khích mở mang, trong khi đó Văn Miếu cũng được thiết lập để dạy Nho học  và các khoa thi Tam Giáo được mở ra để tuyển chọn nhân tài . Từ đó nền văn hóa Lạc Hồng càng được thắm tươi:
   “ Tiếng chuông lay bóng Bồ Đề,
      Con chim trắng cánh bay về Tây Thiên.
      Mong sao dân tộc bình yên,
     Đạo lành che chở dân hiền thương yêu.
     Dù cho đất sập trời xiêu,
     Lòng tôi vẫn nhớ những điều giá gương.
     Khắp nơi đồng ruộng phố phường,
     Nhớ  lời Phật dạy phải thương nhau cùng.
     Đạo vàng điểm núi tô sông,
     Xây nền văn hóa Lạc Hồng thắm tươi
.“
     Có lẽ lâu đời hơn nữa còn có hai câu ca dao rất phổ biến trong dân gian:
   “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
     Người trong một nước phải thương nhau cùng
.“
     Mệnh đề “ phải thương nhau cùng “ ở bài ca dao trên và hai câu ca dao dưới không phải ngẫu nhiên trùng hợp, mà tất yếu phải có của một nền văn hóa đạt Minh Triết. Văn hóa chủ Nhân, còn Văn minh thì chủ Trí.

12 November 2010

Sưu khảo

Bài biên khảo sau đây trích từ một tác phẩm sắp xuất bản của tác giả. Xin hân hạnh giới thiệu cùng quý anh chị. (TTR)
Ca dao - Tục ngữ


Tiếng ca dao trong đêm:

Trước ngày viễn du vào miền xa lạ, tôi quyết định về sống nơi quê vợ một thời gian ngắn ngủi còn lại. Nói là để làm rể lại, vì từ ngày cưới vợ chưa có lần nào tôi có dịp ở lại quê vợ cả, nói như vậy không đúng hẳn. Thật ra tôi muốn khắc ghi vài kỷ niệm mến yêu nơi đồng nội, mà trong thời gian sắp tới, nơi xứ lạ quê người làm sao mình có thể tìm thấy được. Tôi muốn ôm ấp, khắc ghi vài mẫu ký ức sống vào tâm khảm như hành trang duy nhất.

Trên đường từ Long Điền đến Đất Đỏ, về phía trái có cái hồ nước lớn gọi là Bàu Thành. Ba vợ của tôi đã kể lại, rằng lúc xưa khi vua Gia Long tạm dừng chân, đóng quân nơi đây, đã cho đào cái bàu này để tắm voi của nhà vua, cho nên mới có cái tên như vậy. Sau đó chẳng bao lâu, quân Tây Sơn đến đánh đuổi, quân nhà Nguyễn thua chạy thoát thân, bỏ lại một số cung nữ. Những cung nữ này đã lẫn lánh vào trong dân chúng, được bảo bọc, sau lập gia đình và đã chính thức trở thành dân địa phương . Ở làng An Ngãi, khoảng giữa Long Điền, Đất Đỏ có đền thờ tướng công Châu Văn Tiếp của nhà Nguyễn và trường Trường Trung Học Phổ Thông của Thị xã Bà Rịa tỉnh Phước Tuy một thời cho đến năm 1975 có tên của vị tướng công này. Học sinh trường Trung Học Châu Văn Tiếp thời đó thường về thăm viếng đền thờ này,qua đó tìm hiểu về vị tướng quân, mà trường học của mình đang mang tên. Đám con trai nói chung lại thích đến Bàu Thành hơn, ngồi bên bờ hồ thả cần câu cá, mà mắt mơ màng nhìn vào cõi xa xăm. Thật khó mà tin rằng có đứa con trai nào đó đến đây, ngồi hàng giờ thả hồn vào dĩ vãng để chỉ gợi lại hình ảnh những chú lính tắm voi tầm thường. Không, tôi không tin như vậy, mà chủ đề trầm tư có thể là hình ảnh các nàng cung phi, các nàng công chúa vừa có tính cách hiện thực lịch sử, vừa có tính cách mơ mộng huyền thoại. Rồi còn biết bao chủ đề khác liên quan tới di tích Bàu Thành như luận về anh hùng và thời thế, anh hùng tạo thời thế và thời thế tạo anh hùng, trường kỳ chiến đấu và tốc chiến tốc thắng, thống nhất đất nước và sự phân tranh, công cuộc mở mang bờ cõi và sự việc dâng đất, rừng, hải đảo cho giặc, công đánh đuổi ngoại xâm với tội “ cõng rắn cắn gà nhà”, sự thành- bại, chính nghĩa với phi nghĩa, độc lập với lệ thuộc, tự do với nô lệ, thu phục nhân tâm với thất nhân tâm... Trí tưởng tượng, sự mơ mộng là suối nguồn sáng tạo của con người, giờ đây đã biến đi đâu mất, chỉ còn chút ít sức lực dồn hết vào đôi chân, để nhấn vào cặp bàn đạp của chiếc xe đạp cũ kỹ thời học trò, cố lên cái dốc quá dài từ nhà thương cho tới chợ Đất Đỏ. Dốc cao thì mặc dốc cao, trời nắng thì mặc trời nắng, đã có mái nhà nằm ngay trong lòng thì dường như mình được thêm sức, chân đạp mạnh hơn, và tiếng nói của đứa con thơ sáu năm chưa thấy mặt văng vẳng trong lòng như luồng gió mát làm quên đi cái nóng bức.

“Đã tới nhà rồi!” Tôi reo lên không thành tiếng. Vứt chiếc xe đạp trước sân, tôi chạy ngay vào nhà. Mọi người mừng rỡ trong đoàn tụ. Không thấy người mà tôi mang ơn, đã cưu mang, đùm bọc vợ con tôi trong thời gian qua, tôi ngó qua gian nhà thờ ông bà rồi nhìn xuống nhà dưới. Vợ tôi như hiểu ý, nắm tay dắt tôi vào gian nhà trong. Tôi chưa kịp nói lời nào, thì ba vợ tôi đã lên tiếng:

“ Từ sáng tới giờ, tao lui cui với bốn cái chân giường này. Lỏng mộng hết rồi, tao sửa hoài mà không được, đành kiếm đinh ốc vặn cho chắc chắn ”. Chú Út vừa bước vào, nghe như vậy liền nói: ” Anh Tám thật khéo lo thì thôi! Thằng Tư bây giờ, nó ốm nhom, ốm nhách như con cò ma, nặng bao nhiêu mà sợ sập giường chớ! Thôi! Anh ra đây, tôi có đem hai con gà mái dầu qua cho con Tư, gọi là có chút ít đóng góp cho buổi cơm đoàn tụ gia đình...

Buổi chiều hôm đó, cả đại gia đình kéo nhau đi làm cỏ rẫy, tôi theo ba vợ thăm ruộng lúa gần đó. Tối lại, mọi người đều về nhà, riêng vợ chồng chúng tôi ở lại rẫy, để sáng sớm hôm sau có thể tưới kịp hết các loại bầu, bí, mướp...trước khi mặt trời lên khỏi ngọn cây.

Ngày là đời sống của con người, đêm là đời sống của vạn vật. Ngày thì làm việc, đêm thì yên nghỉ, nhưng ở hoàn cảnh của chúng tôi thì làm sao mà không thao thức, biết bao điều tâm sự cứ nối tiếp nhau không dứt. Bên ngoài trời tối đen như mực, thỉnh thoảng loé lên vài đốm sáng của đom đóm lập loè bên cành cây, ngọn cỏ, vài ánh sao sẹt xuống lưng chừng trời, ngoài ra không còn nhìn thấy gì nữa cả. Ánh sáng nhường chỗ cho âm thanh: tiếng ếch, nhái, ễnh ương từ bên ruộng vọng lại, tiếng côn trùng nỉ non bên rẫy, tiếng cú rúc trong bụi rậm, tiếng vạc kêu bạn trong đêm...

Bên trong túp lều tranh cũng chỉ còn nghe có âm thanh: tiếng kêu lách tách của lửa than trong bếp, tiếng muỗi kêu vo ve ngoài mùng, tiếng thổn thức của con tim...Rồi tiếng trẻ con của ai khóc ở rẫy bên kia, giọng ru con thật là ngọt ngào của người mẹ, mà lâu lắm mình mới được nghe lại. Những câu ca dao ru con ” Ầu ơ, ví dầu ”...có tác dụng kỳ diệu như bầu sửa mẹ nuôi dưỡng tuổi thơ, đưa trẻ vào giấc mơ thần tiên. Tôi lắng nghe cho đến khi tiếng ru tan biến trong màn đêm. Tiếng ru con này gợi cho tôi nhớ giọng ru con của mẹ tôi, lúc tôi còn nhỏ, không bằng ý thức, mà bằng tiềm thức u linh, man mác. Rất tiếc là tôi không được may mắn nghe chính giọng ru con của vợ tôi, vì tôi phải xa nhà. Lời ru con của các bà mẹ Việt bao đời đã là sự đóng góp lớn lao, tạo nên sự phì nhiêu cho mảnh đất tiềm thức, tâm linh của bao thế hệ, là cơ sở phát huy trí tuệ.

Tôi cứ tưởng tiếng đêm đã đến lúc ngưng nghỉ, nhường lại cho những tiếng không thành tiếng để đi vào giấc ngủ, ai ngờ hết tiếng ru con của người vợ, lại trổi lên lời ca dao của người chồng. Trong bóng đêm, mọi năng lực đều qui về một quan năng cảm giác là thính giác, tôi nghe rõ mồn một như vầy:
“ Đêm nằm nghe vạc trở canh,
Nghe Sư gõ mõ, nghe anh vỗ nàng. ”
Nếu lời ru con của người mẹ đã lôi cuốn tôi vào vùng hoài niệm thời ấu thơ, thì tiếng ca dao của người chồng đang gây chấn động tận tâm can của tôi, kéo tôi về với thực tại. Ai mà lại thấu rõ được nỗi lòng mình như vậy kìa? Hay là một sự tình cờ? Hỏi ra mới biết cái chòi ở rẫy bên kia là của hai vợ chồng thằng Tánh, con của chú Năm Đức ở hàng xóm. Thì ra Tánh là người, mà sau bửa cơm mừng đoàn tụ, đã nói với tôi một câu ngắn ngủi mà hết sức chân tình: ” Ráng lên nha anh Tư! ”

Tiếng ca dao thật ấn tượng, cho mãi đến ba mươi năm sau, khi ngồi viết lại hai câu này, tôi có cảm giác như còn nghe văng vẳng lời ca dao kỳ diệu của Tánh trong đêm hôm đó. Thật là hàm súc! Chỉ vỏn vẹn có hai câu, mà chứa đủ cả những phạm trù chính yếu như thời gian, không gian ( vạc trở canh trong khung cảnh nào?: nơi đồng nội, thôn quê ), tôn giáo, nhân sinh. Rồi từ những phạm trù đó, các chủ đề khác cũng được dẫn xuất ra, như phạm trù nhân sinh thì thật là phong phú trong đời sống ca dao! Chính vì vậy, hai câu trên được chọn để mở đầu cho phần nghiên cứu về ca dao , tục ngữ trong ” Con đường văn hóa Việt Nam ” về bố cục cũng như ý tưởng.

Tính Minh triết của ca dao, tục ngữ:

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...