Showing posts with label A-3 TùyBút. Show all posts
Showing posts with label A-3 TùyBút. Show all posts

19 December 2021

Tùy bút

Hình như thuở đó có một học sinh nghèo "ngoại đạo" mới vừa 16 tuổi, quê mùa nhút nhát, đang nuôi dưỡng một tình "yêu-hoa-cúc-mến-lá-sân-trường" với một cô bé làng bên cũng đang xa nhà trọ học ở Mỹ Tho như chàng. Vào một đêm Noel, quá bơ vơ buồn tủi, chàng thao thức lang thang trên khắp các nẻo đường phố vô tình, cuối cùng lạc bước vào một ngôi giáo đường khiêm nhường, ấm áp ở góc đại lộ Hùng Vương và Ngô Quyền. Chàng bỗng như chơi vơi chết đuối sững sờ bắt gặp một vùng trời ngát hương hiền dịu mộng mơ "gầy như vóc liễu, buồn như mùa thu" quá quen thuộc trong chiếc áo dài lụa trắng cao sang nửa nữ sinh nửa tiên đang quỳ cầu Kinh. Chàng rón rén khép nép lặng lẽ cố tìm một chỗ nhỏ bé nhưng cũng thoáng đủ để có thể "nuốt" được trọn vẹn tất cả bóng dáng yêu kiều thân thương kia rồi từ từ quỳ xuống thành tâm khấn nguyện cầu xin Chúa...


cho dù ngoại đạo cũng anh
cho dù áo vá sao đành sầu riêng
ngơ ngơ ngẩn ngẩn cũng duyên
nửa mê nửa tỉnh nửa ghiền nửa đeo
em như cám anh như bèo
trộn chung nước mặn cho heo chết thèm
chuông chùa sớm tối thân quen
cua đồng hoa dại gót phèn mộng mơ
xa nhà gác trọ bơ vơ
chưa quen phố nhỏ tình cờ hình như
người giấu thẹn kẻ tương tư
tóc thơm thánh lễ tình ru nắng vườn
thương mặt đường yêu giáo đường
trải hồn nâng gót mười thương vô tình
nghẹn ngào xin chúa hiển linh
cho dù không đạo con tin chúa rồi
thuyền sầu vượt sóng nổi trôi
bụi hồng chung bóng hoa cười trường thi
nơi nào người đứng người đi
con xin gửi tấm tình si đời đời
người như mộng mộng như môi
mênh mông trăng nhớ bồi hồi gió quên
lòng run đêm lạnh noel
lang thang thao thức lạ quen mơ hồ
hồn đau lạc bước rừng mơ
chưa hò hẹn bỗng thơ thơ giáo đường
chuông lành cao vút thiên hương
trắng dài áo xoá dấu buồn trắng tay
như cánh vạc vương cành mai
anh sương khói em mây bay nhiệm mầu
đời như đạo đạo như sao
mình ngoan biển điệu ta ao dâng tình…

LuânTâm

18 January 2021

Người bạn ...hoa bằng lăng!

Gửi Tôn Thất Tuệ

Theo thời gian cái hừng hực bớt nóng bỏng, cái đam mê bớt ngấu nghiến, cái bực bội chỉ còn là cái chép miệng thở dài,

Cũng may là cái đẹp người ta thích giữ, cái bực bội dễ quên. Có như vậy mới sống được. Sống vui. Vui mà sống. Những cái không vui thì "thây kệ". Trong "Trưa Nắng Nơi Tạm Dung"*, quần áo bám bụi, mồ hôi nhếch nhém, tưởng như cuộc đời chẳng còn gì. Ấy thế mà không ngờ vẫn còn một cành bằng lăng sắc hoa tim tím đang mỉm cười: không phải với gió? nhưng là với ta?

Người mẹ nào lòng cũng bao la. Mẹ thiên nhiên cũng vậy, luôn luôn tìm lời an ủi. Hoa bằng lăng chẳng phải vô tình đứng đó nhưng rõ ràng nhánh hoa được gửi xuống như một lời an ủi, vỗ về những người không còn biết tâm sự cùng ai ngoài chính mình. Nhánh bằng lăng đong đưa tươi vui như thế, vậy mà có người cứ đòi chặt bỏ. Thế mới biết lời an ủi không phải ai cũng biết đón nhận!
"Tôi đau đớn nhìn hai gốc cây đen sì mất trong đống cỏ mục và chính chúng cũng bắt đầu mục. Tôi nhất quyết không bao giờ cho đốn cây bằng lăng."
Một lần nữa tác giả lại bắt gặp hoa bằng lăng nở nơi xứ người. Chúng tôi cùng sống trong một trại tạm giữ hai năm ở Thái Lan trước khi được nhận đi định cư ở nước thứ ba, tôi và anh, người viết những hàng "Trưa Nắng Nơi Tạm Dung" rất chân tình và an nhiên ấy.

Trong "Trưa Nắng Nơi Tạm Dung", những nét mờ nhạt của trại tù cải tạo đã làm nổi bật những cánh hoa bằng lăng tim tím. So với những năm đằng đẵng tù đầy ấy thì nay một vài năm bị tạm giữ nơi đây có đáng chi.

**

Thảm họa và thiên tai. Những toa xe chở dầu trật bánh nổ như những trái bom, thiêu rụi làng xóm. Những cơn mưa tầm tã như thác lũ trút xuống thành phố của miền ôn đới, chưa từng thấy. Lụt lội bất ngờ. Cư dân hoảng hốt ...
"Trong tháng bảy nầy tôi đều gởi email cho các thân hữu ở Canada thăm hỏi. Tôi biết chắc anh cùng các thân hữu ấy đều an toàn trước những thiên tai do lầm lỗi con người hay do thiên nhiên. Nhưng tôi vẫn email để cầu mong tất cả tiếp tục an lành."
Nói là bạn, nhưng về văn chương học thuật anh là bậc thầy. Anh không viết nhiều, nhưng những nhận định của anh về nhiều vấn đề thường rất đúng dắn, chính xác, mang nhiều ý nghĩa khơi mở. Nhiều khi những chia sẻ của anh tựa hồ như những vỗ về an ủi:
"Tôi hay ngắm những bức tranh của anh và tôi thấy có một nét chung: luôn có một yếu tố riêng rẽ giữa một bối cảnh rất nhiều yếu tố chằng chịt với nhau như một lữ hành có cá tính riêng giữa một đám đông; cô đơn mà không cô quạnh."
Mà:
"Sự cô đơn chính là yếu tố quan trọng trong cuộc sống và nghệ thuật"
Suy tư thường đến trong cảnh cô đơn. Nhiều người nghĩ thế, anh nghĩ thế, vì đó là tự nhiên. Rõ ràng cô đơn ở đây, nguồn của sáng tác, chính là một ân huệ chứ không phải một nghịch cảnh. Có thể nào nghĩ rằng nghệ sĩ thường nuông chiều cô đơn, nâng niu nó như một người bạn đường quí giá...

Khúc Ca Nắng Hạ, sơn dầu

Biết rằng có người đứng ngắm tranh mình vẽ đối với họa sĩ đã là một niềm hạnh phúc. Nếu người thưởng ngoạn lại chia sẻ cảm nghĩ thì còn gì vui hơn. Nhưng rất tiếc khi thưởng thức một áng văn thơ, một tác phẩm nói chung, người thưởng ngoạn thường dừng lại không nói ra những cảm xúc hay phân tách khiến tác giả nhiều khi thấy tựa như đã đem kết quả tim óc của mình gắn vào hỏa tiễn phóng lên không trung, không phải để lên mặt Trăng hay vào sao Hỏa mà là lạc vào không gian vô tận.

Buồn thay cất tiếng gọi mà không nghe được tiếng trả lời, đến như cả âm vang của tiếng gọi dội về từ rừng núi cũng không!

Cám ơn anh, người bạn ...hoa bằng lăng.

A.C.La
__________ 
(*) Tùy bút, Tôn Thất Tuệ, đã đăng.

12 July 2015

Ngồi Nhớ Ân Cần

Tuấn Khanh's Blog - Buổi sáng nọ, nơi góc đổ rác chung của cả khu nhà tự dưng xuất hiện một đôi giày cũ còn khá tốt. Giày được đặt trong một cái hộp với tờ giấy ghi chú, nét chữ nắn nót “đồ còn tốt, ai cần xin cứ tự nhiên”.

Ở mấy nước tư bản giãy chết, việc đem bỏ đi đồ dùng còn xài tốt không lạ, nhưng cách nhường lại cho người khác sử dụng với tất cả sự ân cần là một cung cách đáng ngưỡng mộ. Đôi giày cũ khi đặt vào hộp, gửi tặng mơ hồ vào cõi nhân gian, được chủ nhân ân cần đi đánh xi lại, mới và đẹp, ai nhìn cũng thú vị. Vậy mà mấy ngày sau mới có anh Mễ làm nghề đổ rác đến lấy, rồi để lại chữ “cám ơn”. Đôi giày nằm liên tục mấy ngày, vì những người trong khu nhà không ai muốn giành lấy phần của người có thể khó khăn hơn mình.

Thỉnh thoảng thấy trong đời có sự ân cần làm lay động, lại chợt nhớ Sài Gòn với tất cả không gian từng rất ân cần của nó, một không gian mà giờ đây nhắc lại như một thứ của quý đang mất dần, phai dần, dư niệm của nhiều thế hệ.

Sài Gòn ân cần trong trí nhớ đơn giản lạ. Đôi khi chỉ là chuyện người qua đường trú mưa được chủ nhà mời vào ngồi vì sợ kẻ lạ bị ướt. Đôi khi vì một thùng trà đá để trước cửa để giúp bá tánh lỡ đường giải khát trưa hè. Có đi đến tận những thành phố, hỏi đường đi bị tính tiền, mới biết Sài Gòn đã từng ân cần thế nào. Sài Gòn ân cần và vô tư đến mức từng thấy người say nắng ngất xỉu bên đường, không ai biết ai cứ xúm vô cạo gió, lấy thuốc cho uống để giúp khách qua đường có sức đi tiếp.

Mới hôm rồi, may mắn đọc được một câu chuyện của người Sài Gòn mà lòng mát dịu. Lại thấy thương người đất miền Nam không quen nói trôi chữ, chỉ có tấm lòng. Một anh trên facebook kể rằng anh đi làm thêm kiếm tiền đi học, chạy bàn rửa chén cho một đôi vợ chồng ở Sài Gòn. Một hôm lỡ tay làm bể hết nguyên chồng tô dĩa, anh lính quýnh không biết làm sao thì bất chợt bà chủ chạy vô nhìn thấy. Bà sững người, chưa kịp la đã dặn “nếu chồng cô có xuống thấy thì nói tại cô làm bể, chứ không ổng chửi chết”. Vừa quay lưng thì ông chủ chạy từ trên lầu xuống, nhìn đống tô dĩa nát bấy mà thất thần, rồi dặn “nếu vợ chú vô hỏi, thì nói chú làm bể nghe, chứ không bả chửi chết”. Người làm công đó mang kỷ niệm ngọt ngào và xúc động đó kể lại trên nhật ký của mình, làm không biết bao người đọc rưng rưng, trìu mến.

Sự ân cần là cách mà con người thấu hiểu đời sống, đối đãi bằng lòng chân thành của mình. Bước đi vài dặm trong một đất nước, có thể thấy sự ân cần cho con người đang ở mức nào. Việt Nam hôm nay có những thành phố lớn hơn, con người cao sang hơn, đại lộ đi bộ to rộng hơn… nhưng sự xua đuổi người nghèo khó cũng quyết liệt hơn. Sự ân cần như chỉ còn trú ngụ loanh quanh với giai cấp dưới, ở những thị dân ít học được thói cao sang. Nhiều cao ốc được dựng lên, nhưng không mấy cái có lối đi của người khuyết tật. Nhà vệ sinh công cộng phải xây đắt tiền như tượng đài, nhưng hầu như không có cái nào dành cho phụ nữ có thai hay cho người già yếu. Trong sự rực rỡ của đất nước này hôm nay, đã nhàn nhạt ân cần của người với người. Sự chói lọi chỉ số phát triển vẫn kèm theo khoảng tối đen mù lòa sau lưng nó.

Thường dân hay bọn con buôn lạnh nhạt ân cần trong đời thì đã đành, đến phận Tỳ kheo cũng la liếm vuốt ve thế tục, mất cả ân cần với thế nhân thì chúng sinh chỉ còn biết thở dài. Nghe lời ông Thích Thanh Quyết, đại biểu quốc hội, ngợi ca các mức oan khiên trong xã hội là “hợp lý” đã lắm chối tai, lại còn nghe ông nhấn mạnh sao không ca ngợi các cơ quan điều tra tố tụng đã kiểm soát giỏi mức oan sai “hợp lý” này.

Uống một ly nước, Đức Phật còn dạy rằng đừng quên có đến 84.000 sinh linh trong ly nước đó đã phải hy sinh cho người đời thụ hưởng. Và dù những sinh linh đó nhỏ bé vô hình đến mức nào, lời Phật dạy cũng chưa bao giờ cho rằng “hợp lý”. Lẽ nào mũ ni của ông Quyết đã kéo quá sâu vào thế tục, che kín tai để không còn nghe được tiếng khóc ngất của cha mẹ già và của tử tù Hồ Duy Hải (1985), hay lời trăn trối của cả gia đình tù nhân Nguyễn Văn Tràng (1988) xin được tự thiêu để tòa án phải công tâm xét lại, minh oan. Sự ân cần với từng chúng sinh là tâm đức không thể thiếu với đệ tử của Phật, bằng không chỉ đáng gọi là kẻ giả danh, mua bán niềm tin.

Sự ân cần hôm nay cũng có thể được nhìn thấy, nhưng là thứ chiêng trống mua vui lạ lẫm. Tỉnh Vĩnh Phúc hôm nay “ân cần” bỏ ra 300 tỉ đồng để xây một khu Văn miếu thờ và tôn vinh Khổng Tử bằng tiền thuế của nhân dân – như tiền nhà của lũ quan lại. Khổng tử chỉ có thể mang trái tim kẻ ác mới đành lòng bệ vệ xưng danh nơi mà cả vùng có đến gần 12.000 gia đình nghèo khốn khó. Thậm chí chỉ có 24% trong số 14.000 gia đình thuộc loại chính sách của chế độ là có được nước sạch để dùng. Cả tỉnh cũng có gần 20.000 gia đình không có nhà vệ sinh tiêu chuẩn và nước sạch để sinh hoạt. Vậy mà sự ân cần thì được dâng cho tượng gỗ và bộ mặt trơ cứng của chính quyền. Còn nhân dân thì chỉ được quyền xao xác lặng im nghe diễn văn.

Chợt nhớ Sài Gòn ghê. Nhớ Sài Gòn qua tiếng rao bán xôi giản dị của bà cụ đội khăn đi bộ từ quận 8 tới tận quận 5, với những gói xôi bán chỉ 5000 đồng, mắt lạc thần khi thấy bóng dân phòng. Nhớ ánh mắt bà hấp háy cười, hỏi có muốn cho thêm đường không, có vừa miệng không. Trái tim ân cần đó, đáng để xây cả miếu đền để thương nhớ và tôn vinh những con người cần lao đất Việt, mà chẳng cần phải tìm kiếm, cống nạp xa xôi.

14 March 2014

Hữu Hình Tất Hữu Hoại

Trần Mộng Tú
(Gửi chị Nga và chú Long)

Anh tỉnh dậy trong ánh sáng lờ mờ của bệnh viện. Chung quanh anh yên ắng, tiếng chân của những người y tá đi qua đi lại bên ngoài phòng, anh nghe nhẹ như những tiếng thở của bệnh nhân. Anh không có ai ở bên cạnh lúc này. Vợ và em anh chắc mệt mỏi quá đã bỏ về nhà ngủ để lấy lại sức. Anh biết họ đuối sức với anh rồi, anh mong cho họ có được một giấc ngủ thật sâu trong vài tiếng, nhưng anh vẫn ngậm ngùi nghĩ đến sự cô đơn và bị bỏ rơi.

Anh nhắm hai mắt lại để khỏi nhìn thấy khoảng trống cô đơn trước mặt. Một mảng mây mầu đen mềm mại tung ra, như một tấm chăn phủ chụp lên anh.

Có một kẻ, tên là “TỬ ” đang từ từ đi đến, không biết nó khởi hành từ đâu và bắt đầu từ lúc nào. Nó đi chầm chậm, đi từng bước một, nhưng đi bước nào rõ rệt bước đó, và nó đã bước hẳn vào nhà anh. Mọi người trong nhà xúm lại, đi quanh nó, không rời nó một bước. Ai cũng chăm chăm nhìn nó, xem nó sẽ giở những trò gì ra.

Nó ngang nhiên ngồi chễm chệ trong cái ghế to nhất nhà, cái ghế của anh ngồi coi truyền hình hàng ngày, nó nằm lăn ra trên cái giường tiện nghi nhất của anh. Mọi người ghét nó nhưng vẫn phải nương nhẹ, dỗ dành nó. Nó biết nó ở thế mạnh nên lại càng tỏ ra hống hách. Nó chỉ cần cau mày một cái là mọi người chạy toán loạn lên. Hôm nào nó nhếch mép mỉm cười ân huệ là mọi người thở phào một cái.

Nó đã có mặt ở nhà anh và làm huyên náo cái gia đình đang yên ổn. Vợ, và con cái anh khổ vì nó đã đành. Bạn hữu cũng kéo đến, thêm sức mạnh, để cùng chống trả với nó cũng chẳng ăn thua gì. Người nó muốn chiếm đoạt là anh, anh phải đối mặt và tìm cách thoát ra khỏi sự kiềm chế của nó từng phút.

Cả nhà không ai đuổi được nó. Nó đến hay đi hoàn toàn tự tung tự tác, khi anh vào buồng tắm, làm vệ sinh nó cũng không rời mắt. Mọi người trong nhà chỉ biết nương theo hành động của nó mà ứng xử. Nhưng nó lạ lắm! Hình như nó đến để chiếm đoạt và nhất định sẽ mang theo chiến lợi phẩm khi bỏ đi. Anh chính là mục tiêu nó đang nhắm vào. Cái điều này đã làm anh vô cùng sửng sốt, vì trước đây cả hai vợ chồng anh đều cho rằng, vợ anh mới là người nó dòm ngó trước tiên. Hóa ra mình không bao giờ thẩm định ngày giờ hiện diện của nó cho chính đời mình được.

Khi nó đến gõ cửa nhà ai, nhà đó phải mở cửa, nó bước vào rồi, nó ít khi bỏ đi tay không bao giờ. Người ta, đôi khi, chỉ có thể thắng nó bằng sự may rủi hoặc bằng một phép lạ nào đó.

Nó đến và nó hiện hữu, nó làm chủ mình, tương tự như câu nói của Julius Caesar:
“I came, I saw, I conquered ”. Nó cứ luẩn quẩn ngày này sang ngày khác, nó đã ở nhà anh bẩy tám tháng rồi, không biết sẽ ở bao lâu nữa và sẽ lôi anh ra khỏi cửa theo với nó lúc nào? Làm sao mà biết được, tùy nó thôi.

Có người nói: Có khi hàng năm nó mới đi, có khi vài tháng. Đôi khi nó cho người trong nhà hy vọng là lâu thế thì chắc nó quên rồi, nó sẽ bỏ đi thôi.

Nhưng không, nó vẫn chập chờn ở đó, nó làm cho anh hy vong, rồi thất vọng và mọi người thân của anh mệt nhoài, đến nỗi buông xuôi, phó mặc cho nó muốn giở trò gì ra cũng được.

Đôi khi nó đằng hắng nhắc nhở: “Hữu hình tất hữu hoại”

Anh cũng như tất cả mọi người thôi, đã có hình hài thì hình hài phải hủy hoại theo thời gian. Hình hài không bao giờ vĩnh viễn được.

Vợ anh, con anh và ngay cả những đứa cháu nội, cháu ngoại của anh đang quay như chong chóng với cuộc đời ngoài kia, một ngày nào đó cũng sẽ nằm trong một cái bệnh viện như anh đang nằm đây và cũng sẽ có một cái chăn như đám mây đen mềm mại tung ra phủ lên hình hài đó.

Anh chắc những người thân yêu của anh sẽ cũng như anh bây giờ, sẽ cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi.

Có tiếng chân đi rất rón rén ngoài kia, có tiếng ai thở nhẹ, có tiếng giọt nước biển nhỏ xuống, có tiếng chiếc kim rơi xuống nền nhà.

Và anh nghe đâu đó tiếng ai cất lên rất mơ hồ:“Thiên Chúa cận kề trái tim tan vỡ, và cứu vớt những linh hồn bị nghiền nát”

trần mộng tú
2/21/2014

The LORD is near to the brokenhearted, and saves those who are crushed in spirit.
Psalm 34:18

24 January 2014

Ðêm Giao Thừa Của Những Người Lính Mất Nước

Phạm Thành Châu
Năm 1981, tôi được gọi tên ra khỏi nhà tù Cộng Sản. Hơn sáu năm tù là tiêu chuẩn thấp nhất cho tù quân, cán, chính, đảng phái, tôn giáo Việt Nam Cộng Hòa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đúng là thiên tài trong việc kích động người dân miền Bắc căm thù đồng bào miền Nam tàn tệ như trong bài hát “Giải Phóng Miền Nam”: “Ôi xương tan máu rơi lòng hận thù ngất trời...” Miền Nam đang sống yên lành, đâu có động chạm gì đến miền Bắc, không gây thù chuốc oán với với miền Bắc, để họ căm thù, rồi với súng đạn của Nga, Tàu, họ kéo rốc vào miền Nam bắn giết, giật mìn xe đò, pháo kích vào trường học, chôn sống đồng bào vô tội? Tuyên truyền “Chống Mỹ cứu nước” là ngụy biện. Theo lệnh Cộng Sản quốc tế, từ năm 1959, Việt Cộng đã mở đường Trường Sơn 59 để xâm lăng miền Nam, rồi thành lập mặt trận bù nhìn “Giải Phóng Miền Nam” ngày 10 tháng 12 năm 1960 để đánh phá Việt Nam Cộng Hòa. Mãi đến năm 1964, quân Mỹ mới đổ bộ Ðà Nẵng để “be bờ” Cộng Sản. Chính Lê Duẫn, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố nhiều lần rằng “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”

Trong tù, những ông bà tù (miền Nam) bị buộc phải làm “thu hoạch”, kể tội chính quyền miền Nam “phản dân hại nước, tay sai đế quốc Mỹ”, tự mình buộc tội là “có nợ máu” với nhân dân, đáng tội chết, rồi phải hả họng hát thật to “Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng...” (?!) Không hát thì “đi cùm” (biệt giam) rồi bỏ mạng. Tôi từng thấy nhiều ông tù chết, được bó bằng cái chăn rách của ông ta, bỏ lên xe cải tiến, kéo đi trong sân, ra cổng. Hai cái chân khô đét, xanh lét thò ra khỏi xe, nhịp lên nhịp xuống theo bánh xe gập ghềnh, tưởng như người chết nằm rung chân khoái trá được vĩnh viễn ra khỏi nhà tù, lên gò nằm ngủ khỏe, khỏi phải “lao động là vinh quang”. 

Thông thường, tù được thả về vào những dịp lễ, tết. Tôi ở tù vùng núi rừng tây bắc Việt Nam, được thả về trước tết âm lịch. Ði xe lửa Hà Nội - Sài Gòn, về đến ga Bình Triệu thì đúng vào 29 tháng chạp âm lịch. Tôi đi bộ từ ga Bình Triệu về đường Võ Duy Nghi, Phú Nhuận (Sài Gòn). Khi đi tù, tôi có gửi thư về nhà cha mẹ vợ, ở đường Võ Duy Nghi, là nơi vợ tôi và hai đứa con tá túc, nhưng không thấy trả lời cũng chẳng được thăm nuôi trong mấy năm đi tù. Nhờ sức trai, tôi chịu đựng được chứ mấy ông lớn tuổi mà không có thăm nuôi, bịnh hoạn, đói lạnh, chết gần hết. Khi tôi đến nhà bên vợ, mới bước lên thềm, tôi đã dội ngược. Nghe giọng Bắc Kỳ 75, tôi biết gia đình cán bộ đang ở trong đó. Như vậy, gia đình bên vợ tôi đã bị đánh tư sản, tài sản bị tịch thu, cả nhà bị đưa lên kinh tế mới. Chẳng biết vợ con tôi bây giờ ra sao? Tôi ôm gói đồ tù, gồm quần đùi, khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. (Người tù, khi được thả về, tất cả áo quần, mùng màng, lương thực thăm nuôi, thuốc men... đều để lại cho bạn tù, chỉ đem theo vật dụng đi đường) đi lang thang mà chẳng biết về đâu? Anh em ruột thịt chưa chắc đã dám chứa “tù ngụy” trong nhà vì sẽ bị công an các cấp đến hạch sách, hăm dọa thường xuyên, nên tôi chẳng hi vọng gì từ tâm của bà con, bạn bè. Có lẽ phải sau tết, tôi đến hàng xóm của gia đình bên vợ hỏi thăm tin tức thì họa may.

10 November 2013

Việt Nam- 6 tháng- một mình một ngựa- một trái tim

Đây là bài viết của chị Eve, một người Việt định cử ở Mỹ.
Chị đã đi "phượt" ở Việt Nam 6 tháng và viết một bài thật thú vị.

Fansipan
Lá cờ… và một cái tát…

Tôi thường bảo sức lực mình không biết có còn nhiều để trèo lên nóc nhà Đông Dương không?... câu hỏi ấy hiện lên trong khi nhiều bạn trẻ tôi quen ở Việt Nam khuyên tôi nên leo Fan một lần cho biết…

Fansipan không phải là một ngọn núi cao mà tôi chưa vượt qua được khi còn trẻ… ngày trẻ tôi rất thích núi và thích leo núi nên cũng đã từng leo núi bằng tay, bằng dây, bằng đôi chân khỏe của mình nhưng bây giờ với số tuổi này leo ngọn núi 3120 mét thì quả không phải là một chuyện dễ… nói như thế ko có nghĩa là sức khỏe của mình không leo nổi nhưng cái ý chí, nhiệt huyết của mình không còn như ngày xưa nữa… chứ thật ra với nhiều người hơn tuổi tôi, nhất là những người ngoại quốc thì đó là chuyện thường (nếu họ thích leo)… nhiệt huyết và ý chí của tôi thường không còn như ngày xưa nữa, qua năm tháng đã tàn lụi đi nhiều rồi… nhưng lần này với một ý nghĩ được thấy lá cờ “ Việt Nam cộng hòa” bay trên một ngọn núi cao nhất Đông Dương (nói cho oai chứ Đông Dương thì chỉ có 3 nước là Việt Nam, Lào và Campuchia mà thôi)… Tôi có nhiều hứng phấn.

Vậy là lần thứ hai ra ngoài Bắc… Lần thứ hai một mình lang thang trên rừng Bắc Việt vào mùa lúa chin đẹp nhất mà nhiều người muốn đến chỉ để chụp hình cảnh đẹp thiên nhiên thì tôi đã đi một mình với tấm long mở rộng để cảm nhận từng con đường và con người Bắc Việt một lần nữa. lần này đi không phải để nhìn cảnh, hay tìm món ăn mà để cảm nhận những vùng miền mình đi qua… Tôi thường ngừng lại chỉ để xuống gặt lúa cùng người dân trên tuyến đường đi Sapa, hái trà ở Mộc Châu, kéo sợi giăng tơ trên miền hẻo lánh Mèo Vạc mà vùng gì tên gì tôi cũng không biết… Cứ đi là tôi luôn đến tiếp cận người dân để nhìn cuộc sống của họ, tìm hiểu và suy ngẫm…

Tôi quyết định leo Fansipan chỉ vì nghĩ một điều là thấy được lá cờ Tổ Quốc tung bay… Suy nghĩ ấy làm nung náu bầu nhiệt huyết trong lòng tôi và tôi chỉ muốn làm như thế…

Đến Sapa tôi hẹn gặp một người đàn ông mà tôi quen trên phượt… Ông đến để chụp hình và cũng đi một mình… Lần đầu tiên gặp và ăn tối, nghe ông nói chuyện tôi thấy “con người” này là một người không thể kết làm bạn vì quá khoa khoang nhưng tính tôi hay cả nể, ít nhiều không muốn nhìn vào cái xấu của người ta nên không muốn tranh cãi những điều ông đã nói….

Ông cũng muốn leo Fansipan vì đứa con gái của ông bảo “bố nên leo cho biết…” …. Đi đâu ông cũng đeo theo ba lô laptop để cứ có được 3G là post hình lên trên trang phượt… Con người có người thích thể hiện cái này, có người thích thể hiện cái kia… Ông thích chụp hình, hình khá đẹp vì ông bảo ông là nghệ sĩ… Tôi cũng thích những tấm hình ông chụp, có góc cạnh nghệ thuật nhưng ít nhiều cũng được chỉnh sửa bởi flick làm cho hình ảnh sống động hơn… Tôi thì lại thích cái cách tự nhiên của ông nhìn không qua photoshop….

Cũng nói thêm về người đàn ông này… Ông sinh trưởng ở ngoài Bắc đến năm 75 mới vào Nam, năm 20 tuổi… Mẹ người miền Nam, bố người Bắc, có nghĩa là mẹ ông là người Nam đi tập kết ngoài Bắc, như vậy có nghĩa là theo chính nghĩa thì hai chúng tôi không đứng cùng vĩ tuyến… Ông bảo bố ông là một nghệ sĩ và chính ông cũng là một nghệ sĩ… Tôi nghe ông nói về mình bằng những tự hào về bố, mẹ để lại gia sản nhiều hơn là chính ông đã tạo ra được… Tôi chán nghe nhưng tại cái tính cả nể ít phản kháng khi không cần nên cứ người ta nói thì tôi chỉ ngồi nghe mà thôi… Nhưng tôi có chia sẻ với ông việc tôi muốn làm khi leo Fan…

Thực sự tôi không phải là một người thích nói về chính trị… Nhưng tôi biết giá trị của những gì mà nước Việt Nam cộng hòa trước năm 75 để lại và các ông cha của tôi đã đấu tranh và tôi luôn giữ lập trường của mình nhưng tôi là người đàn bà nhỏ bé, cái đầu nhỏ, óc nhỏ nên tôi không thích lí luận với người khác về chính trị trừ khi người ấy đụng chạm đến thế chính mà tôi đang tôn trọng…

Tôi nói với ông rằng tôi, tôi là người quốc gia Việt Nam chứ không phải người Việt cộng sản nên lá cờ đỏ sao vàng không phải là lá cờ của tôi… Nên khi đi đâu nếu tôi giương lá cờ vàng ba sọc đỏ lên (vì với tôi nó mang nhiều ý nghĩ của một nước Việt Nam) thì xin hiểu cho rằng tôi chỉ muốn nói lên rằng trong tấm hình đó “tôi là người quốc gia Việt Nam đã đến đây” … Cũng như nếu tôi là người Pháp tôi sẽ giương lá cờ Pháp lên rằng “tôi là người Pháp đã leo lên đỉnh Fan”… Đơn giản chỉ có vậy thôi.

Ông đã gật đầu đồng ý với tôi về quan điểm đó… Và tôi không thích bàn luận về chính trị hoặc tôn giáo với người đối diện, đó là hai vấn đề luôn nhạy cảm với người mới quen… Tôi luôn nghĩ mỗi người có một tư duy riêng, mình tôn trọng tư duy người khác thì họ cũng cần tôn trọng mình. Những vấn đề chính trị, tôn giáo không nên đem ra làm đề tài bàn luận.

Nhưng khi chúng tôi leo lên đến gần đỉnh Fan, đêm ngủ lại để sáng leo lên đỉnh thì chúng tôi ăn cơm cùng nhau, có rượu uống… rượu vào thì lời ra… Ban đầu ông uống rồi khoe khoang đủ thứ về mình, sau đến chuyện tôi muốn đi tắm… Trời thì lạnh mà tôi luôn nói tôi không tắm thì không ngủ được… Nhưng thực sự thì tôi là đàn bà, buổi sáng trước khi leo Fan thì tôi lại đến chu kì nên đã định là không đi được nhưng rồi cũng cố gắng vì nghĩ đã đến đây nếu đợi nữa thì sẽ mất rất nhiều thời gian nên tôi đã ra tiệm thuốc mua vài viên thuốc uống cho bớt đau bụng rồi cứ đi… Chẳng lẽ cứ nói toạc ra với ông là “tôi cần đi….”. Sau khi cậu bạn trẻ “đẹp trai” đi cùng đoàn (đoàn chúng tôi có 4 người, chỉ một mình tôi là đàn bà, trong căn lều hôm đó có nhóm người Malaysia khá đông hai vợ chồng hay hai bố con người Nga, chỉ có 4 chúng tôi là người Việt Nam, vì hôm đó là ngày thường nên ít người Việt thì phải, nghe nói cuối tuần thì rất đông) có hậu ý cầm đèn pin đưa tôi đi ra ngoài để tắm, dù nước lạnh… Thật ra tôi chỉ cần lau mình sơ và rửa mặt đánh rang đôi chút, thay cái áo, mặc thêm áo vào mà thôi…

Về lại lều thì tiệc đã tàn, có lẽ vì cậu bạn trẻ và tôi đã đi nên tiệc tàn nhưng ông ta dù uống cũng đã rồi nhưng vẫn chưa “đã” khoe khoang nên vẫn ấm ức. Tôi bảo ông đó đừng có ngủ gần tôi, cậu bạn trẻ nằm chính giữa… Thật ra cái sập ngủ khá chật nên tôi chỉ muốn giữ ý tứ nằm sát vào trong vách, nằm gần người trẻ tuổi đáng con mình vẫn an tâm hơn một ông già… Chờ đến khi về đến chỗ ngủ ông lại nói tiếp, chê bai tôi đủ thứ là không phải dân Phượt, dân bụi, hết chuyện ấy lại đến chuyện chú chó tôi đem theo, cãi qua cãi lại, tôi thì tính nói lí còn ông xỉn nên ông chắc chẳng biết mình nói gì chỉ khoái nói thôi… Thế là từ câu chuyện tôi cần đi tắm, đến chuyện con chó (ông bảo tôi thích thể hiện nên đem theo chó làm người dẫn đường phải bế bồng mà thực sự thì con chó của tôi đi theo nó đi còn nhanh hơn cả người vì nó có 4 chân mà, anh chàng A Su người Mông dẫn đoàn đi có bế nó chỉ đúng hai lần, một lần là lúc leo thang, lên thang thì nó không thể leo lên được và lần thứ hai là lúc sáng lên đỉnh cũng vì đường lên thang mà chó thì không thể leo lên thang như người được… Còn hoàn toàn do Boogie – tên con chó - tự leo Fan một mình… Tôi có dặn anh A Su chăm sóc nó một chút nếu cần nhưng cứ để nó đi như vậy nó mới là leo chứ ẵm bế thì khác nào nó “ bị bế” lên Fan)….

Để câu chuyện ngắn lại thì từ cái chuyện tắm, đến chuyện chó, rồi đến chuyện tôi than phiền rác rưởi… Những lời nói của ông đưa ra làm cho tôi lợm giọng đi và xem thường một con người sống quá ích kỉ, chỉ biết cho bản thân mình (bởi vậy tôi chán ghét thế hệ 5x, 6x ở Việt Nam hôm nay, những con người ẫu trĩ)… Cuối cùng thì đến việc lá cờ của tôi… đó là vấn đề chính để cuộc vãi vã và tăng tốc thêm dù cậu bạn trẻ P đã can gián chúng tôi ... nhưng vì ông bảo “giữa cánh đồng Y Tì bà đưa lá cờ ba que lên”…thế là tôi có cớ nóng máu,... Tôi ghét kẻ nào không tôn trọng lá cờ quốc gia mà gọi lá cờ ba que.... Người có gốc và lá cờ là một phần linh thiêng cho tổ quốc, gốc gác người đó…. Tôi chưa bao giờ đụng chạm đến lá cờ sáu vàng của cộng sản dù tôi không ưa nó… Nên khi ông nói lên điều đó thì cơn thịnh nộ trong tôi bùng nổ… sự bùng nổ làm tôi quên đi một điếu rằng "đừng bao giở cãi với một kẻ thấp hèn ... Nó sẽ kéo bạn xuống cùng nó với sự kém hiểu biết của nó" (không biết tôi dịch câu này ó chuẩn không) " don't argue with stupid people, they will drag you down to their level and beat you with experience"

Sự cãi cọ đưa đến một cái tát là khi tôi nói “đối với con người như ông thì thà tôi đi cùng một con chó còn hơn đồng hành với một người vô ý thức, thiếu văn hóa…” . Sau câu nói đó có lẽ ông nghĩ là tôi ví ông thua con chó… mà thật sự khi nói câu đó tôi chỉ nghĩ rằng con chó làm bạn đồng hành tốt hơn con người, tôi không ví ông là chó, nhưng có lẽ say nên ông nghĩ ngay tôi nói ông là chó (mà thiệt tình thì tôi luôn quý động vật và xem chúng là người bạn tốt hơn con người … đúng là tôi quá đáng trong vấn đề này không nhỉ?). Nên ông xông lại tát tôi một bạt tay, cậu bạn trẻ P nãy giờ đang can ngăn chúng tôi liền xông lại ôm ông ta nhưng quá muộn vì ông ta đã xông lại tát tôi…

Từ nhỏ tôi đã là đứa con gái không phải là một phần của phái yếu, tôi từng học võ và từng lên võ đài nhiều lần để đánh nhau với nam nhi, lần nữ nhi trong nhiều cuộc thi đấu, thắng thua đều có cả, nhưng chưa lần nào có người tát tôi như thế cả… Chính mẹ tôi khi đánh tôi cũng chỉ bắt nằm rồi đánh vào mông. Nói như thế để hiểu cơn thịnh nộ trong tôi tung lên, thế là tôi cũng gạt luôn cả cậu bạn trẻ P ra xông lại tát thẳng ngay vào má ông ta một cái và đấm luôn vai phải ông ta một cái…

Dù cũng đã đánh trả lại và khinh bỉ những thằng đàn ông đánh đàn bà dù với bất cứ lí do gi… Khi tôi hét lên chửi vào mặt ông ta là một người vô học thức… Ông liền nhận ngay “đàn ông ở Việt Nam tao đánh đàn bà là chuyện thường”. Trời ạ! Nghe xong câu này chỉ muốn xông lại đập cho thằng đàn ông này một trận. A Su nói hai chúng tôi muốn đánh nhau thì đi ra ngoài vì đã làm quá ồn những người bên cạnh không hiểu chúng tôi đánh nhau và cãi nhau chuyện gì… Tôi sẵn sàng ra khỏi đó để đánh ông ta nêu ông ta chịu đứng dậy để ra ngoài. Nói thật nhìn cái dáng người bé xíu, tay chân lèo khèo chỉ cần hai cú đá của tôi là ông đổ ngã ngửa dù rằng đã hơn hai mươi năm tôi đã không còn đụng đến võ thuật nữa… Chả cần khoe khoang gì nhưng thiệt tình là máu nóng trong người tôi đã trào ra khỏi trái tim mình nhiều lắm rồi… Bao nhiêu ngày một mình đơn độc đi quanh đất nước Việt Nam, tôi gặp nhiều người, tốt xấu có nhưng trường hợp này thật là ngoại lệ…

Nhưng cuộc cãi vã kết thúc, ông ta nằm ngay xuống và tiếng ngáy đã vang lên… Ông ta đã quá xỉn để biết mình làm việc gì… Tôi hiểu tôi đang vô lý cãi vã với một thằng say… Nằm xuống sát vào vách gỗ, không kiềm chế được tôi đã nức nở khóc, dù rằng tôi cũng đâu bị ức hiếp gì mà khóc nhưng tôi khóc vì cái tính “ cả nể” của mình… Vì dù đã biết con người này không phải là người tốt để kết bạn nhưng vẫn ngồi nghe ông ấy nói cả hai ngày trời trên Y Tý, đã cùng đi hai ngày đường cùng từ Sapa đến Y Tỳ… Tôi trách mình đã không thẳng thừng từ chối lời rủ rê đi cùng… Hay cả nể không nói những gi chướng cái lỗ tai mình và trách mình đã để một thằng say làm phiền đến tâm hồn mình, trái tim mình… Dù là thằng say nhưng tôi ghét đàn ông cứ hễ nghĩ say là có thể nói gi thì nói và thường muốn thêm rượu để nói, để làm những điều mà khi tỉnh không bao giờ “ dám”…

Tôi ra ngồi ngoài trời lạnh khóc và nghĩ mình không thể nằm cạnh một thằng đàn ông đáng tởm như thế dù rằng đã có cậu bạn trẻ chen chính giữa… Ngoài trời lạnh nhưng tôi không lạnh chút nào mà nước mắt cứ tuôn lả chả… Cậu bạn trẻ ra ngoài lôi tôi vào và bắt tôi nằm xuống cùng nhiều lời an ủi… Phải cảm ơn con người trẻ tuổi nhưng hiểu biết này, đã nắm bàn tay tôi suốt đêm vì tôi cứ nức nở khóc… Suốt đêm tôi không thể nào chợp mắt được vì tức, và suốt đêm ấy tôi chỉ muốn giết chết người đàn ông đó. Quả thật con người tôi đáng sợ đến như thế đấy, nhất là khi bị đụng chạm đến “chính thể quốc gia dân tộc….” mình, dù rằng người đó cũng là người Việt Nam… Tôi còn nhớ khi cãi tôi cũng đã giảng cho ông hiểu tôi không phải là Việt Kiều, khi ông nói tôi cứ nghĩ tôi có tiền là về đây khoe khoang bằng cách đem chó theo … (thật vô lý khi nói như thế… ôi một kẻ say vô học thức)… Tôi liền giải thích cho ông hiểu rằng tôi không phải Việt Kiều…

Việt Kiều là khi bạn có quốc tịch Việt Nam và bạn đi ta nước ngoài ở một thời gian sau đó về lại thì bạn mới là Việt Kiều, còn tôi là người bị tước đoạt quốc tịch, bị tống khứ ra khỏi Việt Nam… Bị mất nước, mất quốc gia “tôi là người Mĩ gốc Việt… xin hiểu và cũng đừng bao giờ gọi tôi là Việt Kiều”…

Không biết tôi có phải là một con người có chứng bệnh “khùng” khi nói đến thể chính về người Việt quốc gia và người Việt cộng sản không nữa… Nhưng cứ hễ khi nào người ta gọi tôi là Việt Kiều, tôi đều chỉnh sửa họ và nói lên điều ấy… Thiệt tình, nếu tôi cứ không kiềm chế được thì chắc tôi sẽ có ngày không được bước chân vào Việt Nam, hay hoặc tôi sẽ ngồi tù sớm thôi vì cái miệng hay “cãi” của mình… May cho tôi vẫn còn mạng để trở về nhà bình an… Và cũng tội nghiệp cho ông anh tôi - người cộng sản “chân chính” luôn lo lắng và luôn dặn dò khi tôi đi đừng đem những điều mình nghĩ nói “thẳng” quá nói chuyện với người ngoài Bắc… Nếu có hệ gì ông ấy chẳng thể lo được gì cho tôi đâu…

Suốt đêm không ngủ, suốt đêm nức nở… Buổi sáng sớm tôi thức dậy vẫn tỉnh táo và xem mọi chuyện như chưa có gì xẩy ra… Tôi quyết định rằng không thể để một thằng vô học thức làm phiền trái tim mình … Và tôi quyết định rằng không để mắt đến người đàn ông đó…

Sáng sớm ông ta tỉnh dậy, điều đầu tiên là nói lời xin lỗi tôi “Xin lỗi em, tối qua anh say quá nên…” . Tôi quay mặt đi và chỉ nói đúng một câu “ông đừng nên nói chuyện với tôi …, trước mặt tôi hình như không có ông…”…. Trong suốt quãng đường leo lên đỉnh và suốt quãng đường về lại có lúc ông ta cũng nói vài câu như bảo tôi chụp hình chung với nhau khi đến đỉnh nhưng tôi không trả lời và không xem cái con người ấy có trước mặt của mình hay không? ….

Buổi sáng ba tiếng đồng hồ leo lên được đến đỉnh Fan vất vả, mệt mỏi nhưng quá tuyệt vời khi biết mình đã leo lên được đến nóc nhà Đông Dương… Vì đi khá sớm nên sương nhiều và mây mù giăng kín nên chúng tôi không thấy núi non bao quanh, chỉ thấy như mình đang đứng trên tầng mây ấy…

Một điều đáng buồn phiền là trên đỉnh chung quanh rác nhiều vô số kể… Tôi rất buồn vì điều đó… Vì tôi nghĩ những bạn trẻ Việt Nam hôm nay leo Fan không phải là dân “thường” có nghĩa là các bạn ấy ít nhất còn trẻ và cũng đã học xong bặc trung học, hoặc đại học, những kiến thức bảo vệ môi trường của họ là như thế này hay sao?... Tôi thường không trách những bà bán hàng rong xả rác, hay những người nghèo khổ vì họ không có kiến thức nhiều để hiểu mình cần phải bảo vệ môi trường, nhưng tôi sẽ rất thất vọng khi thấy giới trẻ ở Việt Nam hôm nay dù đã có học, có văn hóa nhưng luôn thiếu văn hóa… A Su có cho tôi biết rằng cũng có những người dân được mướn lên đây để lượm rác trên đường nhưng người xả thì nhiều và người lượm thì ít…. Từng cái ủng mang để bảo vệ đôi giầy, đến cái chai nước và nhất là những vỏ kẹo giấy nhỏ được vứt ra… Nếu tôi là người đi lượm rác tôi cũng chỉ có thể lượm những chai lọ nước uống chứ bảo phải lượm từng vỏ kẹo nhỏ trên đường thì khó mà lượm cho xuể.

Nên trên đỉnh Fan làm tôi buồn và thất vọng vì chỉ thấy toàn rác khi khí trời trong lành, và mây mù bao phủ như cảnh tiên… Mà cảnh tiên này là cảnh của “tiền đồng Việt Nam”… nên đầy rác rưởi của nhiều người “ vô ý thức”….

Tôi lôi lá cờ ra và cắm trên cây tre cầm leo Fan đường cao và bảo cậu bạn trẻ chụp hình giúp mình… Cậu bạn trẻ ấy cũng xin cầm lá cờ và chụp hình cùng tôi… Nổi vui trong lòng tôi dâng trào và tôi đã xuống dưới núi với nhiều niềm vui hơn nỗi buồn vì chuyện không vui với người đàn ông ấy…

Trong nhóm đi có bốn người… Cậu bạn trẻ tên P đã an ủi tôi, giúp tôi khi tôi xuống tinh thần mà tôi đã nói ở trên… Một cậu bạn trẻ nữa tên L… L là dân du học Buckley trở về nước làm việc vì cậu nghĩ Việt Nam dễ làm giàu hơn, vì nếu cậu ở lại Mĩ thì cậu chỉ là người làm công… Cậu leo núi nhiều, và cậu đã cư sử như đúng một người Mĩ… Các bạn cãi thì là chuyện của các bạn, tôi không muốn can dự vào… Tôi thích nói chuyện về leo núi, về rừng Yosemite, về SanFran trường học nhưng cậu ấy không để lại trong lòng tôi một cảm tình nào hết… Và tôi hiểu thêm một điều nữa là thế hệ 9x ngày nay ở Việt Nam phần nhiều họ chỉ muốn làm giàu, có tiền thật nhiều hơn là làm gì cho xã hội… Đôi lúc tôi thích những người trẻ thế hệ 9x này nhưng tôi nghĩ xã hội Việt Nam ngày nay cần nhiều người có học thức du học trở về quên bản thân mình để mong xã hội tốt đẹp hơn là lao đầu vào kiếm tiền… Có lẽ tôi đã khắt khe với họ quá… Tuổi trẻ bây giờ chỉ mong sau này có tiền tài danh vọng… Đó không phải là điều xấu xa… Đó là phấn đấu để sống còn ở quanh ta hôm nay mà thôi…

Tôi đã dương cao được lá cờ trên đỉnh Fansipan … Lá cờ vàng ba sọc đỏ ngày xưa hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị cũng đã dương cao khi đi đánh quân tàu… Lá cờ đầy ý nghĩa… màu vàng tượng trưng cho da vàng Đất Việt, ba sọc cho ba miền Nam, Trung, Bắc… Tôi yêu lá cờ quốc gia đó… Tôi mong một ngày chính thể có thể thay đổi và người Việt Nam ở Việt Nam sẽ hiểu ra rằng lá cờ đỏ sao vàng cờ chỉ là lá cờ theo Trung Quốc mà thôi ... nó chẳng mang một ý nghĩa nào cả… Có lẽ điều đó còn rất lâu mới làm được nếu thi thể ông Hồ còn nằm đó trong bảo tàng trong lòng Hà Nội… mà điều đau buồn là quân Tàu đã tàn phá đất nước Việt Nam, tại sao chúng ta vẫn cứ bám gót họ khi cả khối Đông Âu cộng sản đã tan rã, ở Nga… Tượng hình Lênin, Mark đã bị kéo sập đổ… Bức tường Balinh cũng đã ngã… Vậy mà lòng người cộng sản Việt Nam không thay đổi được…

Theo dọc đường cong của đất nước Việt Nam ... Mà nơi nào còn lá cờ đỏ sao vàng thì nơi đó còn nghèo đói ...

Lời cuối cho cuộc hành trình leo Fan:  Lá cờ tổ quốc … “ tôi người Việt Nam quốc gia đã đến Fansipan … lá cờ vàng đã ngạo nghễ bay trên nóc nhà Đông Dương”….

Mãn Nguyện…

Eve...

15 September 2013

Chị trong hình ảnh Mẹ

Nguyễn Vũ
Viết cho Chị Nhung, người đã mở rộng trái tim thương yêu để cứu sống đời em !

Dưới ánh đèn xanh của căn phòng giải phẫu, Vũ nằm yên lặng, suy nghĩ, bình tĩnh lắng nghe những nhân viên đang chuẩn bị cuộc giải phẫu, họ làm việc như một cái máy với vẻ chuyên nghiệp, chuẩn bị tất cả dụng cụ cần thiết..Bác Sĩ Wright, vị Bác sĩ với mái tóc bạc, biểu hiệu cho những năm kinh nghiệm trong nghề, bước đến bên cạnh Vũ, ông với tay thay bịch nước biển, một cảm giác lạnh buốt truyền từ cánh tay vào cơ thể. Vũ thấy có ai để cái gì chụp lên mặt, và Vũ không còn nhớ gì nữa....


Những tiếng động chung quanh làm Vũ tỉnh giấc, bên mình, các Bác sĩ và y tá đang xúm quanh, họ đang kiểm soát kết qủa của cuộc giải phẫu ghép thận cho Vũ. Vừa mở mắt ra Vũ lên tiếng hỏi:

- Chị tôi đâu ? cho tôi gặp chị tôi..
- Ông đừng lo, Chị Ông khoẻ, và đã về phòng rồi !
Những hình ảnh cũ lại trở về với Vũ, từ 2 năm nay, Vũ mắc bạo bệnh, hai quả thận bị hư và Vũ phải theo một chương trình lọc máu, mỗi tuần 3 lần, mỗi lần 6 tiếng. Lúc đó, Vũ mang một tâm trạng của một loài chim gãy cánh, một cánh chim đã một thời tung bay khắp năm châu, trong ước mộng nhỏ bé, đóng góp phần đời còn lại để phục vụ cho lý tưởng tự do. Vũ đã đi khắp đó đây, và mỗi nơi, đều ghi lại những kỷ niệm đẹp. Nhưng oái ăm thay, cánh chim bị gãy đổ vì cơn bệnh, cánh chim cố lết để tìm về một nơi an lành, cam chịu những gì mà thượng đế đã an bài.

- Cậu Vũ à, Chị đã hỏi thăm Bác sĩ Trọng,, cậu gửi loại máu của cậu về, nếu hợp, chị sẽ cho cậu một quả thận,. Chị lớn tuổi rồi, chị hy sinh cho cậu, cậu còn trẻ, nhìn cậu mắc bạo bệnh, Chị không cam lòng.. Nghe lời Chị đi em...

Vũ nghe bàng hoàng trước nghĩa cử thương yêu của Chị Nhung, người Chị lớn duy nhất còn sinh sống tại Việt Nam, chị là người con duy nhất trong nhà được đáp đền chữ hiếu khi bố mẹ nằm xuống. Với một gia đình đầm ấm, bên cạnh chồng và các con các cháu, Chị luôn luôn là một người đàn bà mẫu mực trong vai trò người vợ hiền, người mẹ thương yêu và người bà chiều chuộng các cháu. Nhưng tại sao Chị lại quyết định hy sinh một phần thân thể để cứu em ?

- Cậu Vũ, Lúc Mẹ đang bạo bệnh, căn bệnh giống như căn bệnh của cậu ngày nay, trong lúc thập tử nhất sanh, Bác sĩ điều trị cho biết, chỉ còn cách ghép thận mới cứu Mẹ được, Chị đã nắm tay Bác Sĩ và cầu xin hãy lấy một quả thận để cứu mẹ... rất tiếc, lúc đó nền y khoa tại Việt Nam chưa đủ, nên không thể thực hiện. Nay Chị cho cậu, Chị nghĩ, Chị đã thay Mẹ để lo cho Cậu, Cậu cứ an tâm.

- Chị Nhung ! em rất cảm kích về tình thương của Chị dành cho em, nhưng em không dám hòi Chị cũng như những anh chị em khác trong gia đình. Thôi, Chị cứ để định mệnh an bài, và em sẽ chờ đến khi nào em nhận được. Riêng chị, Chị còn phải lo cho Anh và các cháu !

- Chị đã nói chuyện này với Anh và các cháu, cả gia đình ai cũng vui trước quyết định này của Chị, em cứ gửi mẫu máu về để thử nghiệm, nếu hạp, đón Chị sang..

Phi trường Vancouver ngập nắng, ánh nắng chói chang của một ngày hè đang làm rộn lòng Vũ trong những giây phút chờ đợi đón Chị Nhung. Trước quyết định của Chị, Cơ quan Y tế B.C Transplant đã thiết lập hồ sơ và xúc tiến việc khám nghiệm tổng quát về mọi phương diện hầu bảo đảm một cuộc ghép thận hoàn toàn thành công.


Chị em gặp nhau sau nhiều năm xa cách, Chị không mấy thay đổi và trẻ so với tuổi đời, có lẽ sức khoẻ là tác dụng chính để con người được vui vẻ..Mừng mừng tủi tủi, Chị em Vũ cầm tay nhau tung tăng đi, như những ngày còn thơ ấu.

- Ông Vũ, kết qủa thử nghiệm cho biết, về phương diện y khoa, Ông và người Chị hoàn toàn hợp nhau, việc ghép thận sẽ xúc tiến trong một ngày gần đây.

Vũ bàng hoàng khi nghe Sharon, người phụ trách chương trình Living donnor của B.C Transplant thông báo kết qủa. Một vài suy nghĩ hiện dần ra trong tâm tư Vũ. Trong khi chờ đợi, Vũ vẫn phải theo chương trình lọc máu, nhưng trong một tâm trạng mới, Vũ còn có một niềm tin và thấy giữa bóng đêm mù mịt vô định, đã lóe lên một ánh sáng.

***

Cả gia đình tụ tập trước phòng chuẩn bị giải phẫu, Đức, đứa con trai lớn, nghỉ việc từ hai hôm nay để lo cho Bố, bé Diễm, dù đang bận rộn với luận án ra trường, cũng rời Montreal để qua với Bố, với ước mong được cầm tay Bố như để truyền niềm thương yêu... Vũ cầm chặt tay hai con, như muốn gửi gấm tất cả tình thương cho các con, trước khi vào phòng giải phẫu. Bên cạnh Vũ, những người thân yêu và các cháu tại quê nhà đều đang cầu nguyện cho Chị Nhung và Vũ sớm được bình phục.

Với sự tiến bộ của y học, việc giải phẫu đã thành công, Vũ đã hồi phục nhanh chóng, sự hồi phục nhanh chóng đó, phần lớn đến được từ lòng thương yêu vô bờ bến mà Chị Nhung đã dành cho Vũ, và chính tinh thần Vũ đã tự giúp cho Vũ vượt qua những khó khăn để phục hồi sinh lực.

Chị Nhung kính mến !

Em biết viết gì đây để bầy tỏ lòng biết ơn Chị, Chị đã hy sinh một phần thân thể để cứu mạng đời em, nghĩa cử này sẽ ghi mãi trong lòng em, như em đang giữ những gì trong thân thể mà Chị đã cho em.

Tình thương của Chị, em tìm thấy như tình thương bao la của một người mẹ, vết đau của Chị, còn đau hơn những cơn đau khi Chị sanh các cháu, Chị đã chấp nhận cơn đau đó. Lúc còn thơ ấu, có lúc Mẹ cho Chị một miếng bánh, Chị cũng chia cho em một nửa, và ngày hôm nay, thân xác Mẹ cho Chị, Chị cũng cho em một phần để cứu mạng em...Đây là một mối tình bao la như biển cả, mà chỉ có người mẹ mới lo cho các con, và Chị đã đem tình mẫu tử cao cả đó trao lại cho em...

Chị Nhung ơi,
Chị có biết rằng sau cơn giải phẫu, em mệt lắm không ? nhưng lòng em không yên khi chưa gặp lại Chị. Và, như có một sức mạnh vô hình đã truyền đến cho em, khiến cho em quên đi mọi cơn đau, để dò dẫm từng bước sang thăm Chị, để được nắm lấy bàn tay thương yêu, vuốt lên mái tóc em, như hình ảnh một người mẹ hiền. Đôi mắt em, đã nhòa đi vì cảm động, và hình ảnh của Mẹ đã về trên khuôn mặt của Chị.

Suốt cuộc đời còn lại này, em sẽ vui hơn, vui vì căn bệnh được thoát khỏi, vui vì em biết, em đang có một tình thương vô bờ bến, một tình thương mà Mẹ đã dành cho em, qua đôi bàn tay Chị.

Vancouver, một ngày nắng sau cơn mưa.

Nguyễn Vũ

31 August 2013

MỘT CHUYẾN ĐI HAY VỀ?, tùy bút

Đây chỉ là những cảm nhận của riêng tôi về một chuyến…thôi.

Tôi vẫn cứ phân vân về tiêu đề bài viết. Một chuyến ĐI hay VỀ. Nếu gọi là ĐI thì không đúng. Vì Banmêthuột như một quê hương của tôi, vậy là phải VỀ chứ. Còn nếu gọi là về thì nơi chốn ấy có còn ngôi nhà nào, con người nào chờ đón tôi không mà bảo là về?

6:00 AM Lâm Dũng online:

- Đi Banmêthuột không?

- Chi vậy?

- Dự đám cưới.

- Con ai?

- Cháu Thầy Liễn.

- Chừng nào?

- Tối mai đi.

- Gồm những ai?

- Chỉ có hai anh em mình

Nghe như có một tiếng gọi xa xăm từ phố núi vọng về mời gọi. Nói một cách văn vẻ như tiếng gọi từ rừng thẳm vọng tới con sói lạc bầy. Đang phân vân vì khá bất ngờ, không kịp chuẩn bị tinh thần đành hẹn lại sáng mai sẽ phone xác nhận chuyện đi.

Mất một chút thời gian để sắp xếp công việc. Lòng thì muốn lắm bởi là một dịp hiếm có nhưng trước khi đi ngủ vẫn chưa dứt khoát.

Sáng sớm hôm sau vừa online đã gặp ngay Lâm Dũng.

- Thế nào anh? Đã quyết định chưa?
- Rồi. Anh sẽ ra mua vé xe ngay.
- Bây giờ thêm chồng Chị Hồng B thay mặt Chị ấy nữa.

9:00 tối. Ba anh em gặp nhau tại Bến xe Miền Đông. Hỏi chuyện làm quen thì đã hơn 35 năm rồi Đệ mới có dịp trở lại Banmêthuột. Một sự ngạc nhiên quá lớn!

Tâm trạng tôi trong chuyến đi nầy khá phức tạp: Lâm Dũng là một người biết mặt qua các cuộc họp lần trước chứ chưa nói chuyện với nhau nhiều, là một người rất quen thuộc với BMT, lần nầy đi là vì công việc. Đệ chỉ lên Banmêthuột một lần hồi năm 1973 rồi thôi, coi như một người xa lạ hoàn toàn, lần đầu tiên đặt chân lên Banmêthuột. Tôi như một người đứng lưng chừng giữa hai trạng thái đó: Quen mà lạ, lạ mà quen.

Nhắc đến chuyện nầy, tôi lại nghĩ đến trường hợp của tôi. Sau khi bị “sụp hầm” về buộc phải đi làm ruộng. Tôi gặp một cô gái tuổi ngoài ba mươi, trong lúc ngồi nghỉ trưa chuyện vãn tôi có hỏi thăm về tình cảnh gia đình của cô ấy, cô mới thở dài trả lời:

- Ba em đã bỏ nhà đi 32 năm rồi chưa thấy quay trở lại anh ơi!
- Sao kỳ vậy?
- Em có nghe tin chỗ ở của Ba em nhưng đến tìm không gặp. Có nhắn lại nhưng không thấy Ông về.

Sao nghe có một chút gì chua xót trong câu trả lời của cô gái. Tôi không tin một người có thể từ bỏ một chỗ thân quen của mình đằng đẵng suốt hơn 30 năm trời mà không một lần quay trở lại, ít gì thì cũng có một vài con người có liên hệ hay một vài kỷ niệm nhắc nhớ chứ?

Vậy mà trường hợp ấy lại rơi đúng vào tôi. Lúc ấy, mỗi lần muốn đi đâu ra khỏi địa phương mình đang cư trú phải xin phép đi đường với địa chỉ nơi đến rõ ràng và với mục đích gì? Trường hợp của tôi chắc chắn là không được cấp giấy phép rồi vì lúc ấy phong trào Fulro đang khuấy động Tây Nguyên, hơn nữa tôi đâu có một địa chỉ nào nơi đó để tìm về.

Thế là mỗi lần có dịp đi ngang qua bến xe Banmêthuột, tôi cứ hay quanh quẩn tới lui nhìn ngó những khuôn mặt hành khách coi có ai quen với mình không để bắt chuyện cho đỡ nhớ. Nhưng tới mấy chục lần không gặp được ai cả nên tôi cũng chán không còn ra đó nữa. Rồi thì cuộc mưu sinh vất vả của một đối tượng đặc biệt như tôi đã cuốn phăng mình theo cơm áo, không còn thì giờ mà nghĩ đến chuyện trở lại đất xưa. Bẵng đi hơn ba mươi năm, tình cờ anh bạn thân còn ở Banmêthuột biết được số điện thoại của nhà tôi gọi về rủ lên chơi, thậm chí gởi tiền xe theo đường bưu điện tới nhà như một điều kiện bắt buộc thì tôi lên đường liền.

Tôi cũng đã có một ngày về, nhưng bàng hoàng và tiếc nhớ quá! Cảnh cũ người xưa đâu sao không còn nữa? Không đến nổi biển hoá nương dâu nhưng sau hơn 30 năm thật quá đổi thay. Giữa con phố ngàn vạn lần qua mà như ở chốn người dưng giống Trần Huy Sao viết trong “Thơ Banmêthuột”. Đứng ở góc đường phóng tầm mắt qua mấy khối phố, tôi tự hỏi sao người ta làm cái phố núi nhỏ quá! Cũng có bao nhiêu đường đất ngắn ngủi đó mà ngày xưa mình đã phải trải mấy lòng.

Nhớ lại lần đầu tiên khi xe đò thả tôi xuống đường Y-Jut vào lúc 2:30 sáng, tôi đứng ngớ người không biết đây là đâu bởi khung cảnh đã hoàn toàn đổi khác không còn một chút gì của ngày xưa có thể khơi gợi ký ức quay về.

Chỉ qua lần đầu như vậy, rồi như câu ca dao:
“Chim quyên ăn trái nhãn lồng,
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.”
Quen hơi bén tiếng rồi thì mỗi lần có dịp là tôi thót lên xe đò ngay để trở về chốn cũ, lúc thì đi ban ngày, lúc ban đêm miễn là thuận tiện giờ giấc rảnh rang vốn hiếm hoi của mình. Chỉ là đi chơi cho vui, cho đỡ nhớ thôi chớ chẳng có một mục đích cụ thể nào khác. Lúc thì ở nhà bạn, lúc ở khách sạn…bất chừng.

Quốc lộ 14 bây giờ ngày càng tồi tệ so với chuyến đi mới nhất của tôi cách đây 4 tháng. Thời gian đi phải mất thêm hơn 1 tiếng đồng hồ nữa nhưng sự dằn xóc trên con đường thì tăng gấp đôi. Qua khỏi Gia Nghĩa chút nữa thì bị tai nạn giao thông. Trong đêm tối mịt mùng, phía trước là ánh đèn pha đi ngược chiều, tài xế xe đò đang chạy với tốc độ cao canh đường để tránh vừa lọt ánh đèn pha. Khi đến sát thì chiếc xe tải đang vượt qua một chiếc xe khác đang đậu nên họ phải lấn sang trái. Vừa kịp nhìn thấy đuôi xe tải trước mặt tài xế vội ngoặc tay lái sang phải xém chút nữa bị lọt xuống lề đường vì đoạn đường đó đang sửa chữa lớn, người ta đang đổ đất thêm mở rộng mặt đường nhưng chưa đạt được độ cao so với mặt đường. Hú hồn!

Xe bỏ chúng tôi xuống Banmêthuột lúc hơn 6:00 sáng gần cây xăng Ngã Sáu trong hơi gió sớm còn vương chút sương mai chưa tan hẳn lành lạnh. Vươn vai hít đầy lồng ngực cái không khí Tây Nguyên cho đầy buồng phổi một cách sảng khoái. Những mệt mỏi sau một đêm không ngủ như bay mất theo cơn gió. Lâm Dũng hỏi bây giờ đi bộ hay đi taxi về khách sạn Damsan. Tôi đâu biết nó nằm ở đâu, nhưng đang thích thú nên đề nghị đi bộ cho vui. Thế là 3 người dắt díu nhau đi bộ về khách sạn. Đệ có lẽ không quen đi bộ nên có vẻ mệt, và đi đã khá lâu sao chưa thấy tới? Ai có dè khách sạn nằm sau lưng trường Trung Học nên đoạn đường cũng khá xa. Có một quán cà phê ven đường nhìn xuống thung lũng có con suối chảy ngang dẫn xuống piscine, tôi đề nghị ghé vào uống ly cà phê sáng. Cô bé chủ quán khá dễ thương. Quán có cả Wifi nên bọn tôi lôi laptop ra check mail luôn.

Một điều rất thú vị là lần nầy trở lên Banmêthuột, tôi thấy cái địa danh xưa thời tôi ở đó đã xuất hiện trở lại trên các bảng hiệu khá nhiều. Rất hài lòng! Một cái ĐƯỢC của riêng tôi. Vừa leo lên phòng thì Thầy Liễn điện thoại tới hỏi thăm và gọi Lâm Dũng tới chụp hình đám rước dâu vì đã tới giờ.

Vội vàng rửa mặt cho tươi tỉnh rồi thay đồ lên taxi phóng đi ngay. Ông “phó nhòm” Lâm Dũng quả là rất bận rộn trong chuyến đi nầy. Xong lễ tại nhà lại xuống Chùa Khải Đoan làm lễ tiếp. Đây quả là một nét mới cho đám cưới của những gia đình theo đạo Phật vì tôi mới thấy lần đầu. Họ cũng muốn dần dần theo những lễ nghi như đạo Công Giáo đám cưới phải đi đến nhà thờ để Cha xứ làm lễ hôn phối trước bàn thờ Chúa. Cũng là một sắc thái đặc biệt mà ở đồng bằng không thấy.

Thầy Liễn dặn sau khi làm lễ xong sẽ trở lại nhà đàng gái để ăn trưa, nhưng tôi thấy quan viên hai họ đông đúc quá nên khều chàng Đệ nói với Lâm Dũng chúng tôi đánh bài chuồn. Tôi lại dẫn chàng Đệ tản bộ theo những con phố Banmêthuột trở về quán cà phê ven đường Hai Bà Trưng uống cà phê để có dịp nhìn lại khung cảnh cũ và thả trí tưởng tượng thưởng thức cái thú vị của việc tản bộ đêm trên đường phố Banmêthuột ra sao mà nhiều người đi qua vẫn còn nhắc nhớ mãi về chúng? Thực tình tôi cũng không ngờ đoạn đường lại xa đến thế! Chúng tôi ở Sài Gòn đã có thói quen cứ hễ ra khỏi cửa là thót lên xe gắn máy nên chẳng bao giờ phải đi bộ cả. Anh chàng mỏi chân rồi buột miệng: Bộ anh tính đi bộ về tới khách sạn luôn sao? Làm tôi cứ phải “động viên”: Sắp tới rồi! Nhưng tự tôi cũng chả biết chừng nào mới tới.

Bước vào quán cà phê thì người ngồi đông kín hết bàn. Đã quá 9:00 sáng rồi mà sao người ta ở đây còn "hưỡn" dữ! Cái khung cảnh đẹp của dãy bàn sát vỉa hè đã hư hao nhiều làm tan vỡ một phần những kỷ niệm đẹp của riêng tôi. Một đám đàn bà con gái người Bắc di dân tự do ngồi kế bên cứ nghĩ quán cà phê là nhà họ hay đang ngồi ngoài chợ nên cứ chuyện trò oang oang làm chúng tôi mất hứng phải dọt gấp.

Ngủ trưa một giấc ngắn đã nghe tiếng Thầy Liễn lên tận phòng coi tình hình mấy thằng học trò già cất công từ Sài Gòn lên đây như thế nào? Quả thật cảm động với sự chăm sóc của Thầy. Mới trao đổi vài câu thì có điện thoại giục Thầy về để chuẩn bị cho buổi tiệc chiều.

Ba người lại phải lôi nhau qua quán cà phê trước khách sạn nói dóc để giết thì giờ. Gần 5:00 chiều về để lo chuẩn bị bộ vía cho buổi tiệc. Cứ ngỡ như người Sài Gòn, thiệp mới đám cưới ghi 5:00 nhưng thường thì đến gần 7:30 mới nhập tiệc nên chúng tôi khá đủng đỉnh cho việc chuẩn bị. Nếu không có sự hối thúc của Lâm Dũng chắc là chúng tôi đã đến trễ giờ. Vừa lên taxi đi được một đoạn đã có điện thoại của Thầy hỏi đã đi chưa? Quan khách tới đầy đủ cả rồi!

Ui trời! Tới nhà hàng Thanh Lịch thì đã chật kín khách. Đến mấy trăm người đa số cũng từng ngồi chung dưới một mái trường, nhưng chẳng ai quen biết tôi mà tôi cũng chẳng quen biết ai, giống như mình đi tới một xứ lạ!

Buổi tiệc chắc chỉ còn chờ “ba chàng ngự lâm pháo thủ” nầy tới là khai mạc thôi. “Nổ” một chút vậy mà, nhưng tôi nghĩ chắc Thầy đợi chàng phó nhòm thì đúng hơn, vì Thầy phải đem những tấm hình đám cưới nầy về Mỹ để…trình lên “thẩm quyền”.

Thầy ra đón chúng tôi vui mừng ra mặt và đưa vào bàn VIP dành sẵn. Vừa an vị thì buổi lễ bắt đầu. Cũng có những bài diễn văn ngắn, những thủ tục thường lệ của một đám cưới. Và cuối cùng là câu cám ơn của Thầy về sự hiện diện của Quý quan khách rồi chúc quý vị một buổi tối ngon miệng. Thế là tiếng bát đũa, tiếng khui bia, tiếng mời mọc bắt đầu.

Bàn VIP gồm có Thầy Nguyễn Đình Liễn, Cô Phạm Thị Mười, Thầy Trần Thế Vũ, hai vợ chồng chủ Khách sạn Damsan Sinh và Đào, Linh, “chủ chợ” Trần Văn Tam và ba người chúng tôi. Vừa tới bàn tôi sà vào kế Thầy Vũ và bắt tay:

- Chào Trần Thế Vũ! Kiều Văn Hùng nè! Nhớ tui hôn?

- Không nhớ. Hồi xưa không có râu, bây giờ có râu thì làm sao mà nhớ?

Một câu trả lời hết sức…hồn nhiên.
Cùng học với nhau suốt mấy năm trung học, xa cách nhau hơn 40 năm, gặp nhau trao đổi chỉ vài câu chiếu lệ thế thôi. Tôi tưởng như tuổi mới lớn của mình đã đánh mất đi một mảng rồi.

Đệ ngồi kế bên hỏi nhỏ:

- Thầy anh hả? Hồi xưa ổng dạy anh môn gì? (Vì thấy "Thầy" đầu tóc bạc phơ mà khuôn mặt tôi chắc còn…son trẻ!)

- Ừm! Thầy dạy tui môn…bắn bi.

Một dấu hỏi tổ chảng hiện lên gương mặt Đệ.

- Hì…Hì…Ổng học cùng lớp với tui đó, còn nhỏ thua tui một tuổi lận.

Một sự ngạc nhiên tột cùng. Vũ có may mắn là ông Trời ban cho phước lớn, râu tóc bạc phơ và cũng là thầy dạy toán cho những thế hệ sau, đức cao vọng trọng nên được nhiều người ở Banmêthuột rất kính trọng. Hầu như buổi họp mặt Thầy trò nào cũng đều có mặt của ông. Còn tôi tuy cùng một thời, nhưng do bản tính vẫn còn yêu người, yêu đời, mộng sông hồ vẫn còn chảy trong huyết quản, vẫn thích ngắm nhìn gió thổi mây bay, thích thưởng thức những bông hoa đẹp, thích nhìn con chim đang dẫu mỏ hót trên cành nên Ông Trời nhấn tôi xuống khoảng 10 tuổi để “cho mầy chết luôn với những cái thích dớ dẫn!”

Ăn uống, nâng ly trong những câu chuyện đầy vẻ ngoại giao trong tiếng hát hò trên sân khấu. Tức cười nhất là có một chàng ca sĩ trung niên, khoác một cái áo pa-đờ-xuy đen như mấy chàng ca sĩ nước ngoài trông thật lố bịch! Nhưng được cái giọng ca khoẻ khoắn và trầm ấm hát những bản nhạc xưa rất hay nên đánh tan sự mất thiện cảm ban đầu của tôi với chàng: Bây giờ tháng mấy, Nỗi lòng người đi và một bài nữa tôi không nhớ tựa đề.

Tan tiệc đến chào Thầy ra về, chắc nhìn thấy mấy thằng học trò ở Sè-Goòng tội nghiệp lặn lội đường xa lên đây để chung vui với gia đình nên Thầy bảo là sẽ mua vé máy bay cho tụi tôi trở về.

- Thầy ơi! Cứ để tụi em tự lo. Lớp học trò không lo cho Thầy thì thôi, có đâu để Thầy lo ngược trở lại?

- Không được! Mới lên mà về liền bằng xe đò mệt lắm!

- Dạ không sao đâu Thầy, tụi em quen rồi.

Tôi không cho đó là những lời khách sáo lấy lòng mà nó xuất phát tự tấm chân tình của Thầy. Chỉ là vài câu nói thôi nhưng thực sự làm chúng tôi cảm động.

Về khách sạn chẳng biết làm gì, ba chúng tôi lại kéo nhau lang thang tìm một quán cóc ngay góc trường xưa của mình nhậu tiếp.

Ngước nhìn lên nơi chốn mình đã trải qua hết một thời mới lớn mà giờ đây không thể nào đặt chân vào nữa. Men rượu bừng lên mặt trong cơn gió lạnh se sắt của Banmêthuột sao dưng không tôi nghe lòng mình buồn quá đỗi. Thời gian đã trôi qua không thể nào quay trở lại, tuổi trẻ đã mất đi thì những xúc động tươi nguyên của tuổi mới lớn cũng khốn cùng.

Trở về phòng gần 12:00 khuya, đứng nhìn qua ô cửa kính, bên kia đồi đã từng là một chốn thiên đường tuổi nhỏ của tôi cũng đã vuột trôi, lòng nghe như chùng hẳn xuống và lạnh lẽo theo cơn gió đêm đã dậy ngoài kia.

Những tưởng có thể sống lại chút kỷ niệm ngọt ngào với người bạn cùng lớp, nhưng đã KHÔNG CÒN.

Tình cảm của người Thầy cũ với một đứa học trò tưởng đã hư hao theo năm tháng nhưng không ngờ nhận ĐƯỢC một mối tình thâm! Có những điều trong cuộc sống, dù đã qua tuổi 60 lâu rồi với những sự từng trải, nhưng tôi vẫn không ngờ bây giờ mình hiểu được thêm vài điều mới lạ.

Tây Nguyên đang ở mùa khô và thiếu nước trầm trọng. Trên đường về lại Sài Gòn, nhìn những đám cà phê ven đường đứng im phăng phắc chịu đựng cái khô hạn không còn chút mơn mởn ngày nào cũng hơi buồn cho người trồng.

Tuy nhiên, đến đoạn đường giữa DakMil và Daksong tôi lại ĐƯỢC thấy vài đoá hoa Dã Quỳ quá lứa còn sót lại lẻ loi trong đám cây ven đường vàng rực dưới ánh mặt trời như những nụ cười tiễn biệt một đứa con xa. Tôi lại thấy mình như hoà lẫn vào cái không gian gió núi mây ngàn đã ăn sâu và nằm kín tận đáy hồn tôi.

HÙNG BI


NGHE NHỮNG TÀN PHAI
Anh ngồi “nghe những tàn phai”
Bồi hồi xao xuyến lắt lay trong hồn
Thời gian vó ngựa tẩu bôn
Bốn mươi năm cũ dập dồn lướt nhanh
Thuở nào mái tóc còn xanh
Bây giờ đã thấy điểm quanh mây trời
Vàng son ngày cũ rụng rơi
Hồn anh bỗng thấy chơi vơi ngậm ngùi
Qua rồi những tháng ngày vui
Sân trường bạn cũ lấp vùi thời gian
Đời anh đã lắm gian nan
Bàn tay chai sạn thi gan với đời
Nheo hai con mắt mù khơi
Trán nhăn má hóp ngó thời gian bay
Hững hờ cầm chút vàng phai
Ngỡ như vọng lại chân ai dấu hài
Em xưa buông xõa tóc dài
Mắt xanh môi thắm như bài tình ca
Gởi hồn theo đám mây xa
Bao nhiêu ước vọng trổ hoa ngập lòng
Áo bay thấp thoáng nhớ mong
Gót son bụi đỏ môi cong điệu đàng
Vậy thôi lòng đã vương mang
Xây bao mộng đẹp anh chàng theo đuôi
Mộng mơ giờ đã trôi xuôi
Tay bồng tay bế bùi ngùi tuổi xuân
Chân chim in vết phân vân
Đầu mày cuối mắt bao lần bủa vây
Tình cờ ta gặp nhau đây
Thời gian xa quá tình gầy hư hao
Nụ hoa tươi thắm năm nào
Một đàn con cháu làm sao bây giờ?
Thôi đành giả tảng ngó lơ
Đêm về anh viết bài thơ nhớ tình.
s@...

22 July 2013

trưa nắng nơi tạm dung, tùy bút

Một hôm tôi mải miết nhìn chòm hoa tím dưới chân đồi như một mái tóc trên hai thân cây giữa đám ruộng. Cái tim tím trăng trắng nhẹ nhàng êm ả, nhẹ nhàng đến độ cây cuốc trong tay như muốn bay bỗng lên cao. Đó là lúc cây bằng lăng nở rộ.

Vợ tôi đến đây mấy năm rồi còn tôi mới đến sau ngày cải tạo về. Tôi ngừng đây nói cái nầy em có hờn không. Tôi có người vợ khá đẹp nhưng rất duyên, mang máng hao hao giông giống cô bạn đâu đây trong khung cảnh đặc biệt nầy. Nhà tôi rất thích những cành hoa bằng lăng tim tím ấy.

Trên vũng ruộng sâu nơi hai thân cây bằng lăng lớn bằng cột nhà đứng dưới mái tóc kia, vợ chồng tôi cuốc xới trồng lúa qua ngày. Cây bằng lăng tỏa ra một bóng mát lúc nắng hạn. Khi hoa nở rộ thì ruộng khô vì nó chỉ nở vào nắng như dạo nầy ta đang nói chuyện đây. Ruộng khô tuy nằm ngay bờ suối mà không tài nào tát nước vào được vì chỉ có hai vợ chồng, các con còn nhỏ quá. Chúng tôi không đuổi kịp độ bốc hơi và nước rút qua kẽ nứt. Cạnh bờ suối tôi vực lên thành những mảnh ruộng nhỏ như chiếc giường nằm mà chim chóc cứ đến chiếm hết thóc. Đuổi chúng đi thì chúng núp vào cây bằng lăng. Đàn chim sẻ kia, chúng thích hoa bằng lăng như vợ chồng tôi chăng? Thằng em tôi cứ nằn nì chặt cho được cây bằng lăng.

Ở nơi tôi sống không có gì là hoa, nhất là khi nắng ráo khô cằn. May cho tôi có khóm hoa bẳng lăng tim tím trăng trắng nhẹ nhàng, nhẹ nhàng làm cây cuốc nặng nề như muốn bay bỗng lên. Mà cũng giống như nơi đây ta tạm dung chẳng có gì là hoa. May mà còn có cành hoa nho nhỏ tim tím kia cho đời còn dễ thương. Trẻ em nghịch thật, trèo lên cây bẻ hết, may ra còn một cành hoa, em thấy không?

Ấy thế mà thằng em tôi cứ đòi chặt cho được cây bằng lăng kia. Quanh gốc cây năm nầy tháng nọ, nhổ cỏ lúa thì quẳng vào đấy. Nó thành mô cao, chuột vào làm tổ phá lúa. Một hôm vợ chồng tôi nhất quyết san bằng đống cỏ mục lẫn đất cho ruộng thêm vài chục gốc rạ. Lúc ấy mới biết rằng bên dưới là hai gốc cây lớn đã bị cắt ngang còn lại như hai tản đá của tiên ông ngồi đánh cờ. Còn hai thân bằng lăng kia chỉ là hai nhánh nhỏ cố vươn lên trong thế hệ mới mà vẫn cho khóm hoa trăng trắng tim tím kia

Tôi đau đớn nhìn hai gốc cây đen sì mất trong đống cỏ mục và chính chúng cũng bắt đầu mục. Tôi nhất quyết không bao giờ cho đốn cây bằng lăng.

À mà em có bao giờ vào rừng chưa? Ở vào thế kỷ cải tạo nầy, chắc em đã vào rừng một lần thăm nuôi anh em hay bố mẹ. Cây cối trong rừng làm em kinh hãi với thân đen sụi sần sù. Nhưng cây bằng lăng bao giờ bao giờ da cũng trắng mà thân lại mảnh mai vươn lên thẳng thớm mà hoa lại đẹp. Nó chào em đấy.

Trông kìa trước mắt chỉ còn một nhánh bông bằng lăng tim tím mà thôi. Dẫu sao cũng còn một cành hoa cho cái khô héo nầy. Khi nó tàn mưa trời sẽ trút xuống, đất sởi mềm và hạt mộng vươn lên. Mưa trời sẽ rơi xuống làm lắng đọng tất cả những xôn xao của lòng mình, khơi những mạch máu mới cho con tim. Cái thung lũng kia sẽ xanh thêm, đẹp thêm.

Có bao giờ em đứng trên lầu building đầy nhóc người nhìn xuống dưới kia thăm thẳm thung lũng chạy dài và đôi mắt em cũng chạy dài theo nó như một nét nhạc chạy dài vào nơi vô tận. Và mưa kia sẽ đi đến nơi mắt em ngừng nghỉ. Hoa bằng lăng tim tím kia sẽ chết đi đem mưa trở lại. Dấu hiệu mưa đã rõ ràng. Lạ nhỉ sao mưa cần cái gì báo hiệu. Trong cuộc đời cái gì cũng cần báo hiệu cả sao? Có cái gì không cần báo hiệu mà nó đến hay không? Nó đến bao giờ mà mình không biết không? Có cái đó hay không, em?

Tôi cứ nhìn mãi cánh bằng lăng kia, nó cũng nhẹ nhõm như khóm bằng lăng ở nhà tôi lúc lao động mệt mỏi, chống cán cuốc bên đám khoai mì nhìn mãi không thôi cái hoa tim tím ấy.

Tôi không sợ một chú bé tinh nghịch nhảy tót lên bẻ cành hoa cuối cùng kia. Vì nó đã hiện diện, báo hiệu cho một mùa mưa sắp đến; nhiệm vụ hoàn tất. Cứ thế mà chờ mưa thôi. Hay có khi đã mưa rồi. Mưa từ nguồn. Mưa chuyển từ mạch nước của lòng đất. Chuyển đến trời cao, chuyển đến nguồn rồi chuyển đến ta.

Cứ nhìn hoa bằng lăng dưới vực ruộng kia, vợ tôi thấy vơi đi chốc lát cái khổ đau của thời cuộc, cho dù thân thể mục nát dần như hai gốc cây bằng lăng chìm mất trong đám cỏ mục. Người vợ ấy duyên lắm, vâng, duyên lắm, có cái nét hao hao giông giống cô bạn đâu đây trong khung cảnh đặc biệt nầy. Giờ đây tôi sống lại trong một cảnh đồng quê dậy nắng nơi chỉ có hoa bằng lăng vào lúc khô ráo tột độ, và nơi vợ tôi vẫn cuốc đất trồng khoai để nuôi con./-

tôn thất tuệ

31 May 2013

KHÉP LẠI NÚI RỪNG

"Con coi chừng em, mẹ đi ..." chỉ nói vỏn vẹn ngần ấy chữ trong nước mắt rồi mẹ tôi quảy gánh đi! Một gánh tình đầy ăm ắp, trông sao quá luộm thuộm thế này nhỉ!?

 Dáng người khệ nệ ôm, tay xách, tay mang, khuôn mặt khắc khổ của lo toan bỗng trở nên già nua tột cùng chắc cũng động lòng Trời? Hai cái bao bố tời, một chiếc thùng giấy, hai giỏ đệm xách tay... thế mà Mẹ tôi đếm đi đếm lại không biết bao nhiêu lần trước khi rời ngôi nhà! Duy nhất chỉ có mình Mẹ tôi biết trong ấy đựng những gì …

 Những chiếc bánh nướng nhỏ, được gói vuông vức bằng những miếng nylon không đều nhau, lại được gói trong những trang báo nhật trình kỹ lưỡng, rồi cột thun kỹ càng. Những miếng thịt vuông vức trong một hủ nhựa đầy nước mắm và những quả trứng luộc nổi lều bều. Tất cả được gài chặt xuống với nước mắm mặn, lại những miếng nylon và nắp đậy buộc thun ... Nén hết nỗi lòng chắt chiu trong mặn mà ...

 Những con ruốc rang vàng thơm tóp mỡ, muối, đường và lẫn cả những giọt nước mắt âm thầm rơi trong đêm được nén trong những chai nhựa với kích thước khác nhau, thế là thành một khối ruốc tùy theo hình dạng của cái chai! Tình Yêu năm tháng đã ươm vàng con ruốc, con tim người Vợ ... để mong được vừa khẩu vị Chồng như ngày xưa ...

 Năm bảy món ăn khác được chia đều từ một con gà ! Bao nhiêu món ngon vật lạ mà thuở nào Vua ngự thiện chắc cũng không bằng dăm ba miếng gà của món Ragout, Cà ri, Rô Ti, gà kho sả ớt ... Người Vợ dường như mải mê săm soi với chia phần đã quên rằng người Chồng bây giờ không còn đầy đủ răng để có thể gặm xương gà một cách ngon lành được! Thế nhưng, người Vợ đã chăm chút tỉ mỉ từng muỗng muối, gia vị như một người đang trổ tài nấu ăn trong tháng ngày mới về làm vợ.

 Những trang thư lại được lén lút mở ra đọc lại trong đêm khuya dưới ánh đèn dầu leo lét ... "Em làm cho anh món ... Em mua cho anh cái này ... đừng mua nhiều lắm, tốn tiền ..." . Trái tim tình thổn thức của ngày xưa khi hai người yêu nhau bây giờ cũng thổn thức vì phân chia đôi ngã. Người Vợ lặng lẽ làm hết tất cả những dặn dò trong những lá thư của một năm, hai năm trước từ những địa chỉ xa xăm và xa lạ nghe đâu tận miền Bắc. Cái sắt son thủy chung tự thuở nào ...

09 May 2013

Một Thoáng Pleiku


Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ,  trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy,  giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiêt) và  đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt - Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum.  Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẩm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”.  Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lát đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?)  như ai.

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới.  Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân  trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh.  Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ - nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng ;
Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
….
cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:
Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó
….
Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như  cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời.  Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.
Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê … những tiểu đoàn trưởng nổi danh,  những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku.  Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi-  chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.

Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuôc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng ba. Cùng với những đổng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó″:
Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền
…
Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng
phố cũng xưa và tim thì đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…”
Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!

Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.

Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó,  nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.

Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Đành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku. •

Phạm Tín An Ninh

08 April 2013

QUA MÙI HƯƠNG DẠ LÝ

Một sáng mùa Đông năm nay, tôi ra vườn xem lại hoa cảnh, bất ngờ đến đau khổ khi thấy chùm Hoa Dạ Lý Hương héo xèo sau đêm lạnh. Ôm chậu cây vào nhà mà tôi tiếc ngẩn tiếc ngẩn ngơ, rồi tự trách mình sao không chú ý hay siêng năng một chút, bưng chậu hoa vào nhà mấy hôm trước để ủ ấm cho hoa, để bây giờ hoa héo như thế nầy. Tôi lại chăm sóc, tưới nước để hy vọng mấy ngày sau, cây hoa không còn sống vì bị tím tái bởi trời lạnh dưới 0 độ C chỉ một đêm trước, trở lại bình thường. Tôi hoang mang lắm khi thấy cảnh đoạn trường nầy.

Tôi đã gắn bó với Hoa Dạ Lý Hương từ những năm dậy thì nơi quê cũ. Những đêm tối trời, hoa không tỏa hương thơm bằng những đêm trăng sáng. Đêm đêm ngồi học bên chiếc đèn dầu, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng súng vọng từ xa, rồi tiếng súng gần lại làm tôi lo sợ. Qua chấn song cửa sổ, ánh hỏa châu rọi vào sáng rực làm nỗi lo sợ tăng thêm. Đêm không trăng hay đêm đầy trăng sáng tôi đều có cảm giác cô đơn lạ lùng. Trong cảm giác ngại ngùng và khiếp sợ chiến tranh, tôi lại thấy an lòng và ấm lòng hơn qua mùi hương Dạ Lý. Tôi thường đứng lên, cao hơn tầm nhìn qua cửa sổ, nhìn những cụm hoa nhỏ li ti, đậu thành chùm, không đơn độc vì như luôn ghé sát vào nhau, tỏa một mùi hương bát ngát. Tôi nói mùi hương bát ngát chắc không sai vì mùi hương vào nhà, tỏa rộng trong một không gian không rộng mà luôn lẻ loi bởi chỉ một mình tôi trên chiếc bàn con đã cũ. Hương đậu trên vai, hương bám đầy trên tóc, hương bay vào tận bên trong, đánh thức Má tôi qua giấc ngủ ngắn, sớm, từng đêm.

Má tôi thường nhỏm dậy, bước ra gần bên tôi và thường hỏi một câu lấy lệ: Dạ Lý Hương nở rồi hả con? Má nghe mùi hương …, rồi Má vào ngủ lại. Im lìm, không xao động, không suy tư, tôi nghe mùi hương bay ra rồi trở lại, đi xa rồi quay lai gần. Trong mùi hương đó tôi an lòng ngồi xuống bàn, lật sách vở ra và ôn thi cuối cấp 2.

Tôi nhớ rất rõ, không sai một ly, chính Má tôi đã trồng cây hoa đó. Má xin ở đâu không biết, đem về trồng ngay cửa sổ, bên ngoài bàn học của tôi và nói vui: Khi nào hoa nở là con thi đậu, biết đâu mùi hương làm con tỉnh táo lúc học bài. Mùa Xuân qua đi, mùa Hè trở lại, cây Hoa Dạ Lý lớn thêm, đẹp và dễ thương như người con gái dậy thì mới tắm xong, giản dị cầm cây lược chải tóc và miỉm cười trước tấm gương con. Qua gần ba tháng gần gũi với hương hoa, gần một năm ôn tập tôi thi đậu. Má tôi mừng lắm vì năm đó đề thi khó khăn hơn các năm trước, nên ít người thi đậu như tôi.

Từ đó, khi tôi cầm cái chứng chỉ (tạm thay bằng), tôi lại nhớ thật sâu mùi hương cũ. Mỗi lần thấy Má tưới nước cho hoa, tôi lại miên man một ý nghĩ ngộ nghĩnh là Má tưới cho cuộc đời mình thêm xanh, thêm mát. Rồi tôi lên tỉnh học, bỏ lại cây Hoa Dạ Lý đơn độc một mình những đêm tối trời, hay những đêm đầy trăng có tiếng súng đêm và lâu lâu có ánh hỏa châu rọi qua cửa sổ. Má tôi nói hình như ngày con đi, cây Dạ Lý Hương coi bộ cũng buồn mà như héo dần đi dù Má tưới siêng hơn nhiều lắm! Cô bạn hàng xóm mới tuổi mười ba mà cũng xí xọn chen vô: Chắc Hoa Dạ Lý nhớ anh mà! Tiếc quá, hoa nầy không ép được. Nếu ép, được em sẽ ép gởi anh một tràng luôn! Trong tận đáy lòng, những câu nói đùa của Má tôi, hay câu trêu ghẹo của người em hàng xóm cứ làm tôi thơ thẩn mãi. Tôi lên tỉnh học, trọ trong căn phố nhỏ, có cửa sổ sáu chấn song dọc, giống y như cửa sổ nhà tôi, nhưng không có mùi hoa Dạ Lý. Những đêm trăng sáng, tôi đứng lên, cũng cao hơn tầm nhìn lúc ngồi, nhớ về một loài hoa đã đưa tôi vào một rừng kỷ niệm mà khi đã lạc vài rồi thì khó bề trở ra bình yên. Tôi như bị trọng thương khi nhớ về loại hoa nầy: hoa nhỏ thành chùm, hương bay ngào ngạt những đêm trăng sáng mùa Hè!

Mùa hè có tiếng ve, có màu Phượng đỏ, nhưng không để lại trong tôi những kỷ niệm đầy tràn, ngập ứ như hoa Dạ Lý, bởi trong đó có gương mặt Má tôi, có bàn tay của Người tưới nước mỗi chiều và có hàm răng trắng có hai chiếc khểnh của cô bạn hàng xóm cười trêu tôi mỗi khi nhắc về cây hoa Dạ Lý.

Thế rồi hoàn cảnh đẩy đưa, vận người đưa đẩy, tôi xa luôn quê nhà, xa luôn cái bàn học con con cạnh cửa sổ đêm đêm được dỗ dành bởi một loài hoa quen thuộc, không vương giả, không quê muà, chỉ đủ làm xao xuyến lòng tôi khi nhớ đến.Tôi không còn nghĩ nhiều về Dạ Lý bởi tôi tất bật với nợ nần cuộc sống. Tôi không quên và chắc không bao giờ quên, nhưng tôi không còn nặng lòng với mùi hoa cũ, cả khi hay tin cô bạn hàng xóm lúc theo chồng cứ đòi cho được một chùm hoa Dạ Lý trong lẵng hoa cô dâu. Trong tôi, hương Dạ Lý không bay mất, nhưng không hiện ra, không dẫn tôi vào rừng kỷ niệm như ngày trước.

Cho đến đêm tôi ra phi trường, chờ đợi máy bay cất cánh đưa tôi về một nơi xa lạ ở chốn quê người, trong tiếng lao xao cười nói và từ giã nhau, bỗng Má tôi hỏi, qua bên đó có Dạ Lý Hương không con? Tôi như bị ai đâm một nhát dao bên lưng, bên phải, nơi Má tôi đứng. Tôi hoang mang và như bị nghẹn, không biết nữa, Má à! Má tôi thêm, tội nghiệp con nhỏ, nó thương con lắm, hồi đám cưới, nó đòi cho được hoa Dạ Lý Hương .., cũng may, nó có hai con rồi, hạnh phúc! Tôi như không nghe được gì nữa! Tôi phang một câu lãng xẹt, cũng may, phần cuối Má tôi nghe rõ,  Kệ nó Má ơi! Con chỉ nhớ Má khi có và khi không có Dạ Lý Hương thôi ...

Qua bên nầy, tưởng tôi quên bẵng vụ Dạ Lý Hương rồi vì mới qua đây hơn một năm thì Má tôi mất ở quê nhà. Một người bạn về Việt Nam, không biết khéo léo lẩn tránh thế nào mà mang đươc qua chừng mười hột hoa Dạ Lý trong túi an toàn. Chị hào phóng cho tôi đúng ba hột gọi là chút kỷ niệm quê huơng. Tôi gieo hột mà thầm vái Má phù hộ cho hoa Dạ Lý nẩy mầm thành cây hoa lớn. Lời khẩn cầu có hiệu quả nên tôi được hai cây. Tôi trồng hoa trong chậu, để cạnh cửa sổ để những đêm sáng trăng, mùa Hè, tôi lại nghe mùi hương cũ, trong đó có Má tôi cặm cụi tưới nước và có hàm răng con nhỏ nhà bên trắng bơng, cười nửa miệng. Mỗi mùa Đông đến, tôi vẫn mang hai chậu hoa vào nơi kín đáo để tránh hơi lạnh và sương muối làm chết cây!

Thế mà hôm qua, tôi quên một chút và chỉ một đêm ở ngoài trời, cây hoa Dạ Lý không còn nữa! Hoa Dạ Lý tôi có thể bỏ công tìm lại được, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, tôi thấy như mình phạm một lỗi lầm to tát với Má tôi, Người đã ươm hoa trong lòng tôi, nuôi nấng, dạy dỗ, an ủi khuyến khích tôi qua mùi hương Dạ Lý, từ khi tôi mới lớn trong nước đến khi tuổi sắp về chiều, ở một nơi xa bên ngoài Tổ quốc.

Mùa hè nầy nhất định Dạ Lý Hương sẽ nở bên khung cửa sổ và tỏa ngát hương trong lòng tôi .

TRẦN KIÊU BẠC
(Hội ái hữu Biên Hòa California)

04 February 2013

Áo Lá-Chầm, tùy bút

Buồn như dừa-nước gục đầu
Trái đơm như những trái sầu đơm bông.
Thơ Hoàng-Châu

Tôi tự cho cây dừa nước là linh hồn của dân Việt; không phải vì quê tôi có rất nhiều cây dừa nước; mà là vì cây dừa nước ngoài công dụng ở đời nó còn biết giữ bờ, giữ nước ! Dừa nước còn gọi là dừa lá. Nó cũng có buồng có trái, cũng có cơm dừa trắng và nước ngọt.Trái có hình như hột bắp, nhỏ bằng nắm tay trẻ thơ và một buồng sai quằng có hàng trăm trái, thường được ăn chơi mà không dùng trong kỷ nghệ; nên người ta gọi là dừa lá. Buồng dừa lá sai quằng, gục đầu như loài bông dandelion nở tròn ở xứ Mỹ, trang điểm cho bờ bến sông rạch miền Nam thêm vẻ nên thơ. Buồng dừa gục đầu màu nâu chen lẫn lá xanh bên cạnh cây mù u bông trắng nhụy vàng hay bông bần hồng đỏ như trái tim son. Cây lạc dừa hay cây cà bắp nhọn hoắt chỉa thẳng lên trời như ngọn giáo.

Quê hương tôi cũng được mệnh danh là xứ dừa vi san sát hết vườn nầy tiếp vườn kia toàn là cây dừa sai trái ngọt. Dừa xiêm nổi tiếng nước ngọt và dừa khô thì xuất cảng ra cả nước ngoài. Người ta cơ hồ quên phứt cây dừa lá, có lẽ vì nó chỉ cho lá mà thôi, còn bẹ dừa chỉ dùng vừng vách tạm bợ, và bộp dừa thì vô dụng nổi trôi; chỉ có thể làm nơi bám cho thòi lòi còng rạm, hay nơi trú ẩn cho cá bóng dừa. Thỉnh thoảng cũng dùng bộp dừa để dộn hay tấn các bờ be hay lót đường xình lầy trơn trợt. Đọt non của dừa lá là cây cà bắp chẻ làm lạt dây rất tốt. Vỏ bộp dừa tước ra bện thành vòng nài kẹp vào chưn leo cau leo dừa hay thắt thành dây quai chèo chắc tốt. Nói đến dừa nước người ta chỉ biết tới lá nhiều hơn. Lá non từ cây cà bắp thì dùng chầm nón, đươn gàu, thắt bao, thắt giỏ. Những đám cưới đồng quê, nữ công thi tài bằng cách dùng lá dừa non gói đũa liền kín và dấu mối. Vào bàn tiệc, đàng trai đàng gái thi nhau tìm mở trúng mối để lấy đũa ra là biết tay nghề nữ công khéo đến mức nào. Cây cà bắp dài mấy thước dịu quặc. Thầy bùa thầy gồng dám cho dao nhọn đâm vào cổ, nhưng lại kỵ cây cà bắp lụi vào, sẽ đi ngọt xớt! Cùi buồng dừa nước cũng vậy, lãy trái ra hết thì trông như một quả chùy. Giỏi võ cỡ nào mà để cùi buồng dừa nước đập trúng thì sẽ sanh bịnh hậu, mười năm sau mới thấm. Cùi buồng dừa nước tề đầu và đập tưa ra như cây chổi phất trần của tiên gia, cũng xài được cả mấy năm.

04 January 2013

Ngắm 'Hải Triều Âm'...


Nhớ Biển Ô-Quắn

  Bức HẢI TRIỀU ÂM của họa sĩ A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh khiến tâm tư tôi quay về vùng kỷ niệm của ngày nào. "Ngày đó ... đã xa lắm rồi, còn ghi nhớ trong lòng tôi" như lời của một nhạc sĩ đã viết mà tôi không còn nhớ tên . 
  
  Ngày xa xưa đó, dân Sài gòn cứ chủ nhật thường ra Vũng tàu "đổi gió". Tôi cũng là một trong số những người đó. Tôi không thích tắm biển cho lắm có lẽ vì không biết bơi; không thích xuống nước vì sợ nước biển mặn làm "sạm" màu da, nắng gió biển làm "rám" má hồng? Tôi không biết là vì lý do gì nhưng có một điều tôi biết chắc là mình rất thích "ngắm" biển.

  Vào mùa hè,  một ngày chủ nhựt đẹp trời nào đó Chú tôi cùng gia đình đến Vũng tàu. Những lần đó tôi thường tháp tùng đi theo. Tất cả mọi người cùng được chất lên chiếc Citroen cà tàng. Chiếc xe nầy dù không có giá trị sang trọng nhưng nó cũng là ước mơ của không ít người thời bấy giờ. Lý do là nó không quá mắc, không quá to để tìm bãi đáp và có lẽ cái nhứt của nó được mọi người ưa thích là rất ít tốn xăng.

  Trên đường đi, mọi người đều thấy hưng phấn trong lòng và náo nức trông cho mau được đến nơi. Nếu tôi nhớ không lầm thì đoạn đường Sài gòn - Vũng tàu khoảng 120 cây số, chiếc Citren phải "ì ạch" bò. Nói là ì ạch thì cũng tội nghiệp cho nó vì chưa lần nào nó cho chúng tôi "nằm" đường mà đều làm tốt nhiệm vụ của mình. Có lẽ mọi người nghĩ nó ì ạch chỉ vì muốn mau đến nơi mà thôi .

  Khi đến nơi xong, mọi người ai cũng thu xếp thật nhanh để có nhiều thời gian ngụp lặn trong biển mặn cho thỏa thích. Sau khi chuẩn bị xong, mọi người ùa xuống biển. Tôi cũng theo mọi người để được vui lây cái vui của họ. Thời gian ngâm mình trong biển không lâu, tôi rời mọi người, tìm một chỗ thích hợp trên bãi ngồi ngắm biển ...

  Vũng tàu có hai vòng núi, một vòng được đặt tên là Núi Lớn, vòng kia là Núi Nhỏ . Có lẽ dựa vào sự lớn nhỏ của quả núi mà đặt tên chăng. Trên đường đi theo vòng núi, mỗi khi đến một nơi đặc biệt nào đó, chú tôi thường hay nêu tên và giải thích cho chúng tôi biết. Thường mỗi lần đi ngang qua AU VENT, tôi thường buột miệng khen "đẹp quá". Có lẽ vì vậy mà tôi nhớ có lần chú tôi cho tôi ngồi lại đây để ngắm biển. 

  Theo trí nhớ quá tệ của tôi thì AU VENT  (?) mà người Việt mình gọi là Ô-Quắn không phải là một bãi tắm phổ biến. Tôi không biết là vì nó xa Bãi Sau quá, không có quán ăn cho được thuận lợi, hay vì nó là một bãi nguy hiểm đã được chính quyền cảnh báo mà vào thời đó tôi không hề nghĩ tới. Nơi đây không có bãi cát trải dài như Bãi Sau. Nó cũng không có chỗ trên bờ để cho du khách ngồi ngắm biển mà chỉ là một con lộ hẹp cho xe qua lại. Quang cảnh của nó không khác nhiều so với bức Hải Triều Âm. Một khung cảnh thật hùng vĩ. Một vùng trời nước bao la, vô tận. Không một cánh hải âu, cũng không bóng dáng một chiếc tàu nào để có thể làm mất đi cái hùng vĩ của nó. Những làn gió mát không biết khởi tự nơi nào thổi về khiến lòng du khách quên hết mọi lo âu muộn phiền, nghe như mình đang lạc vào cõi thần tiên của Lưu Nguyễn

  Ngoài xa khơi, từng đợt sóng như những cánh tay ai đưa lên chào mời, vẫy gọi. Càng đến gần bờ, những cái vẫy tay càng như cuống quýt, thiết tha hơn. Cho đến khi thấy không một ai đáp lời, sóng như giận dữ, gầm thét để rồi cuối cùng trút cơn cuồng nộ của mình lên những ghềnh đá xa bờ. Cuối cùng như muốn vươn mình, cố gắng tung những bọt trắng xóa lên vách đá để đến được cạnh chỗ tôi ngồi. Nhưng vô hiệu, chỉ có những mạc nước phả nhẹ vào người tôi. Tôi nghiêng người đón lấy một cách thích thú và mỉm cười thân thiện. Nhưng có lẽ không hiểu được mối thiện cảm đó của tôi, những đợt sóng ngoài khơi lại mãnh liệt hơn, to lớn hơn và cuồng nộ hơn cứ nối tiếp nhau xô vào bờ để tỏ lòng phẫn nộ hơn của mình đối với người mỉm cười với nó. Cứ thế, cứ thế những đợt sóng cứ tiếp nối xô bờ không ngừng nghỉ và cũng không hề thay đổi trong những lần tôi đến đây. Những đợt sóng xô bờ đá nầy tôi nghĩ, dù đã có tự muôn ngàn năm cũng sẽ vẫn còn tiếp tục đến hằng ngàn năm sau nữa dù mọi vật có đổi thay, suy tàn.

  Sau nầy, những khi lang thang trên xứ người, đôi lần tôi có đến những bãi biển nơi tiểu bang tôi sống. Những lần nầy dù cố gắng tìm lại những cảm giác của ngày nào nhưng tôi không thể tìm được. Có lẽ không có bãi nào giống như Ô-Quắn của tôi ngày xưa. Cũng có thể không có khung cảnh ấm áp như ngày nào. Cũng có thể không có đủ điều kiện cần và đủ để tạo niềm vui trong tôi. Tôi biết được điều kiện cần và đủ đó, nhưng nó đã rời xa tôi rồi !

  Giờ đây, dù xa cách muôn trùng nhưng trong tôi vẫn ước mơ có ngày gặp lại em Ô-quắn của ngày nào, dù cho vật có đổi, sao có dời. Ngày xưa, mỗi lần tạm biệt Em để theo đoàn, tôi đều vẫy chào và hẹn Em ngày tái ngộ. Lần sau cùng gặp Em có lẽ cũng phải trước năm 1972. Thời gian sau đó tôi quá bận rộn vì học hành và nghề nghiệp! Dù bụi thời gian có làm mờ đi ký ức nhưng kỷ niệm vần còn mãi không phai. Theo tôi nghĩ, có lẽ không một ai dù chỉ một lần đến đây, mãi mãi hình bóng của Em có thể xóa nhòa được trong tâm thức.

  Cho đến hôm nay, đã hơn 40 năm trôi qua, tôi vẫn chưa một lần trở lại chốn xưa dù lòng vẫn canh cánh. Đã có đôi lần tôi về lại quê hương, nghĩ đến nơi đó rất nhiều nhưng không đến. Tôi sợ sẽ bị thất vọng khi nhìn mà không còn thấy được khung cảnh của ngày xưa. Cảnh cũ tuy còn đó nhưng sẽ không tìm lại được những dấu vết và cảm giác của ngày nào.

  Nhưng khoan, xin Em hãy chờ tôi. Dù sống nơi chân trời góc bể, dù cho có muộn màng nhưng tôi cũng xin hứa. một lần về lại chốn xưa thăm Em. Tình tôi dành cho Em ngày nào vẫn trọn vẹn. Dù sao đi nữa tôi vẫn yêu Em, Ô-Quắn ơi !

HH
02/01/ 2013

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...