16 November 2018

Giấc mộng China qua lăng kính Alibaba

Nguyễn Hoàng Dũng
Kể từ khi Washing Post cho đăng bài phân tích khá chi tiết “Hiểm Họa Toàn Cầu Từ Nền Chuyên Chế Kỹ Thuật Số Của Trung Quốc” (The Global Threat of China’s Digital Authoritarianism) (1) của hai đồng tác giả Michael Abramowitz và Michael Chertoff ngày 1/11/2018, chúng ta buộc phải giật mình nhìn lại tất cả những hoạt động gián điệp từ các công ty bình phong lớn của Tàu trên đất nước Việt Nam, không chỉ là Huawei, ZTE mà còn là Tencent, Alibaba. Khuôn khổ bài viết nhấn mạnh tới tập đoàn Alibaba thông qua hình ảnh cựu chủ tịch Jack Ma.

Từ lâu, những người Việt biết ưu tư cho tiền đồ đất nước trước tên láng giềng Tàu nham hiểm đều nhìn ra mối nguy hại của Trung Hoa Mộng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ biển đảo và an ninh quốc gia. Ai cũng nhìn thấy Tàu xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta ngoài biển Đông, thấy chúng âm thầm mua đất lập chốt ở những địa điểm quan yếu khắp nước và tiến hành thâu tóm hàng loạt các doanh nghiệp Việt, thấy chúng ép chính quyền Việt Nam thông qua Luật Đặc Khu thuê đất đến 99 năm, cho chúng tự lái xe chạy thẳng 180km vào nội địa ta và bắt ta cho lưu hành Nhân Dân Tệ ở 7 tỉnh biên giới phía Bắc.

Tuy nhiên, không nhiều người nhìn ra Huawei và ZTE đã cài cắm bao nhiêu mạng ma (botnet) nghe lén lấy cắp thông tin, và bao nhiêu camera ghi hình trộm thông qua hàng triệu bộ định tuyến mạng không dây (router) và điện thoại thông minh (smartphone) do 2 đại công ty này sản xuất, đang được sử dụng lan tràn ở Việt Nam, vì firmware của chúng cũng là spyware (phần mềm gián điệp). Do vậy mà tính cho đến nay, đã có 4 nước là Mỹ, Nhật, Úc, Ấn chính thức cấm cửa thiết bị viễn thông của 2 công ty này ở nước họ (2), chưa kể sắp tới sẽ là Anh, Nga. Lý do chính là những lo ngại về an ninh và bảo mật thông tin, cùng bóng dáng chính phủ Trung Quốc hậu thuẫn sau chúng.

Càng khó nhìn rõ hơn nữa là sự cộng tác tích cực của 2 công ty Tencent và Alibaba cho Giấc Mộng Trung Hoa này. Hai ông chủ của 2 tập đoàn trên làm thành cặp “song mã”: Mã Hoá Đằng (Pony Ma) và Mã Vân (Jack Ma) nhằm kéo cỗ xe “Giấc Mộng China” cùng người cầm lái vĩ đại Tập Cận Bình lao về mốc thời gian 2025 đầy mộng tưởng “Made in China 2025” và đặc biệt là mốc 2050 vô cùng huyễn hoặc “Vượt Mặt Hoa Kỳ”. Hiện thì chiếc mã xa này cùng tên xà ích đang bị Donald J. Trump chặn đứng, đánh cho đảo đầu xe tuột dốc với khẩu hiệu “Make America Great Again”.

Tencent xâm nhập Việt Nam bằng cửa hậu khi mua cổ phần, có thể tới 31% của VNG, tập đoàn tiên phong trong ngành công nghệ internet Việt Nam (3). Bộ công cụ thu thập thông tin của Tencent gồm Wechat, Zalo (dùng nền tảng Wechat), Shopee, Wechat Pay...Cùng một cách thức, nhưng quy mô và trực tiếp hơn, Alibaba đã mua lại Lazada, ký kết với Công Ty CP Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), đơn vị trung gian duy nhất được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp phép cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử cho giao dịch bán lẻ tại Việt Nam để mở đường cho Alipay tiến vào thị trường thanh toán online Việt Nam (4). Bộ công cụ đánh cắp thông tin khách hàng của Alibaba là sàn thương mại điện tử Taobao, dịch vụ tìm kiếm eTao, Lazada, và Alipay...

Việc gì sẽ xảy ra nếu toàn bộ các công cụ của Tencent như Wechat, Zalo, Shopee, Wechat pay và của Alibaba như Taobao, eTao, Lazada, Alipay cùng phát huy tác dụng đánh cắp thông tin người dùng Việt Nam cho chính phủ Trung Quốc, với sự trợ giúp đắc lực của 2 “sát thủ vô hình” đã nằm vùng Huawei và ZTE? Nguy cơ vô cùng khủng khiếp. Chắc chắn 4 đại công ty này đang hàng giây hàng phút thu thập thông tin về Việt Nam và người dân Việt Nam mà gửi về đại bản doanh Trung Quốc theo đúng cách thức họ đã làm với Châu Phi và các nước khác (5). Tiến thêm một nấc nữa, hiện nay cả Alibaba và Tencent không còn giấu giếm tham vọng thâu tóm các hoạt động tài chính Việt Nam, “xương sống của đất nước”. Tương lai Việt Nam sẽ ra sao đây?

Hãy chọn tập đoàn Alibaba tiêu biểu mà tìm hiểu sự nham hiểm của Tàu thông qua hình ảnh Jack Ma. Có nhiều cơ sở để nhận định những phát biểu của Jack Ma trùng với các quan điểm về giấc mơ Trung Hoa của Tập Cận Bình, nên rất có thể Jack Ma chính là 1 trong những sứ giả ngầm được Tập tuyển chọn, cử đi “chém gió” tô vẽ hình ảnh Trung Quốc hùng mạnh tươi đẹp để phủ tầm ảnh hưởng văn hóa lên các nước khác, bên cạnh chính sách nhất quán của tập đoàn này là thu thập, đánh cắp dữ liệu người dùng như đích thân Jack Ma đã nói: “Thế giới sẽ là dữ liệu. Tôi nghĩ đây mới chỉ là khởi đầu cho thời đại dữ liệu“.

Còn nhớ, khoảng thời gian này năm ngoái (4/11/2018-8/11/2018), Jack Ma đã đình đám đến Việt Nam nhân sự kiện Tuần Lễ Cao Cấp APEC 2017 tại Đà Nẵng. Là nhà sáng lập và chủ tịch tập đoàn Alibaba thuộc loại lớn nhất Trung Quốc, lại mang trên mình sự hào nhoáng của khối tài sản 47,6 tỉ USD (thời điểm đó), nên không hề ngạc nhiên khi công chúng Việt Nam chú ý đặc biệt tới ông, cá biệt còn có bạn trẻ phát cuồng đến nỗi khóc lóc quỳ lạy ông ta. Bao nhân vật đến Việt Nam còn tài năng xuất chúng hơn Jack Ma nhiều nhưng tuyệt nhiên chưa ai được quỳ lạy như thế bao giờ.

Hành trang ông mang theo đến Việt Nam ngoài các phát ngôn vô thưởng vô phạt liên quan tới quan điểm sống và những bí quyết làm giàu kiểu chung chung, dễ không như: “đừng bao giờ phàn nàn”, “những người nhỏ bé rồi sẽ trở thành khổng lồ”, “ngày nay kiếm tiền rất đơn giản”..., chúng còn là các lời ru ngủ mang hàm lượng mị dân rất cao như: “Alibaba sang Việt Nam mục tiêu đầu tiên không phải để làm ăn mà để hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ, doanh nhân phát triển kinh tế, làm ăn tốt ở nội địa rồi vươn ra cạnh tranh với thế giới”. Thiệt là quá xá tốt mà!

Tuy nhiên, liên quan đến Trung Hoa Mộng thì nhận định sau đây của Jack Ma mới là thấm thía: “Hàng giả từ các nhà máy của Trung Quốc còn tốt hơn hàng thật”. Điều này cũng minh định chính sách xuất khẩu hàng giả, hàng nhái của các công ty Trung Quốc được chính phủ phía sau hỗ trợ. Do đó, Alibaba với những Taobao, eBao, Alipay, Lazada chính là kẻ đi mở đường cho hàng vạn công ty Trung Quốc vào Việt Nam hợp pháp nhằm “tàn sát” nền sản xuất non yếu của nước ta bằng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Mỹ và phương Tây đã cáo buộc Alibaba là ổ bán hàng giả nhưng được bảo vệ chặt chẽ bởi chính quyền. Chính quyền Mỹ xếp Alibaba vào danh sách đen các nơi kinh doanh hàng giả, với lượng hàng giả ước tính tới 1.700 tỷ USD vào năm 2015. Giả sử các công ty cứ chực chờ ăn cắp các phát minh, sáng chế của các công ty khác, rồi chế tác ra hàng nhái để đỡ công và chi phí nghiên cứu, thì sự sáng tạo sẽ sớm thui chột, không còn ai muốn sáng tạo nữa vì không lợi bằng làm giả hàng của người khác. Rốt cuộc, thế giới vắng bóng hàng thật, nghĩa là cũng chẳng còn hàng hóa nào nữa. Alibaba và nhiều công ty Trung Quốc đã và đang làm giàu bằng cách thức “đỉa hút máu” khốn nạn này.

Cứ thử đặt câu hỏi tại sao Jack Ma cùng các đồng sáng lập chọn “Alibaba” mà đặt tên cho công ty thuở sơ khai? Có phải hoàn toàn ngẫu nhiên không? Ai mà không biết câu chuyện “Alibaba Và 40 Tên Tướng Cướp” nổi tiếng trong “Nghìn Lẻ Một Đêm” (Truyện Cổ Ba-Tư). Alibaba làm giàu bằng cách nào? Bằng cách ăn cắp lại kho báu của bọn cướp với câu thần chú: “Vừng ơi! Hãy mở ra!”. Thì ra là đi “ăn cắp” để giàu có chứ không phải lao động sáng tạo cực nhọc gì cả. Ẩn ý của Jack Ma là vậy: Ăn cắp sáng chế, sở hữu trí tuệ người khác (như Alibaba) để sản xuất hàng nhái làm giàu. Như thế mới dám nói “làm giàu không khó” chứ! Cho tới tận bây giờ, Ali Baba hay Alibaba vẫn còn được quân đội Mỹ và quân đội Iraq sử dụng làm từ lóng chỉ bọn ăn cắp hoặc cướp bóc.

Có thể nói khái quát thế này, Alibaba đã khởi xướng tinh thần doanh nhân tập thể khi đưa hàng triệu các người bán hàng Trung Quốc lên sàn thương mại điện tử, nơi họ bỗng chốc biến thành doanh nhân có thể mở cửa hàng để bán sản phẩm của mình trên mạng. Bằng cách đó, Alibaba đã trở thành trung gian kết nối thu phí giữa người mua người bán để rồi có một kho dữ liệu khổng lồ theo thời gian. Từ đó Alibaba cũng trở nên giàu có. Tuy nhiên, mô hình của Alibaba không tính phí niêm yết và không có nhà kho để giữ hàng hóa, khiến cho nó dễ trở thành chỗ kết tập hàng nhái, dễ hơn nhiều so với mô hình của Amazon. Từ đó, hàng giả, hàng kém chất lượng cũng từ cửa ngõ, hang ổ Alibaba mà tuôn đi khắp thế giới.

Người mua người bán lên sàn thương mại điện tử Taobao tha hồ mở shop, trao đổi tìm kiếm hàng hoá bằng eTao (Alibaba chặn Google và Baidu), thanh toán tiền cho nhau qua Alipay. Nếu là các quốc gia ở Đông Nam Á thì đã có cánh tay nối dài Lazada, sau khi Alibaba đã mua lại công ty này. Thế là hàng triệu shop hàng giả trên Taobao và Lazada, phối hợp nhịp nhàng với Shopee của Tencent sẽ tuồn hàng giả vô Việt Nam. Sẽ không có công ty sản xuất chân chính nào của Việt Nam tồn tại nỗi trước cơn lũ hàng nhái này. Sẽ có hàng loạt công ty trong nước phá sản. Chưa hết, giống như Wechat Pay của Tencent, công cụ thanh toán trực tuyến Alipay của Alibaba với quy mô lớn hơn nhiều sẽ bóp chết nền tài chính Việt một khi nó kết nối trơn tru với NAPAS (6).

15 November 2018

Quê Mình Giờ Thế Đó, thơ

Dạo: 
Nhìn về chốn cũ mà đau,
Lương tâm, nhân tính từ lâu không còn. 
Quê Mình Giờ Thế Đó
Trăng nhỏ giọt trên mái đầu bạc phếch,
Người già ngồi, ngốc nghếch ngước nhìn mây.
Quanh gót chân vương vãi đống báo ngày
Đầy tin tức đắng cay từ quê mẹ.

Lòng muốn khóc, nhưng mắt không còn lệ,
Thoáng nhìn quanh rồi lặng lẽ cúi đầu,
Cắn chặt môi, đè nén chuỗi thương đau
Đang cuồn cuộn tranh nhau gầy giông gió. 
**
Trời đất hỡi, quê mình giờ thế đó,
Chỉ mới vừa nhuộm đỏ mấy mươi năm,
Mà đã thành một địa ngục tối tăm,
Thành hang ổ bọn phi cầm phi thú.

Đất nước Việt, nhưng giặc Tàu làm chủ,
Đám cầm quyền chỉ là lũ gia nô,
Vâng lệnh ngoại bang, hành động điên rồ,
Theo vết của tên tội đồ dân tộc.

Vét tiền bạc chuyển dần ra ngoại quốc,
Đẩy cháu con đi "du học" xứ người,
Học hành gì, toàn chỉ có ăn chơi,
Sắm xe cộ, tậu cơ ngơi khắp chốn.

Để chuẩn bị sẵn sàng nơi ẩn trốn,
Sau khi Tàu xâm chiếm trọn quê cha,
Chẳng điều gì dẫu hèn mạt xấu xa,
Mà chúng chịu buông tha hay từ bỏ.

Nhưng lớn nhất là tội làm sụp đổ
Cả một nền đạo đức tổ tiên ta
Đã hy sinh dốc xương máu mình ra
Để gầy dựng cho nước nhà thuở trước.

Nhìn tư cách của người dân một nước,
Thì ít nhiều cũng biết được rồi đây,
Xứ sở này sẽ nhẹ bước cao bay,
Hay sớm muộn cũng có ngày xóa sổ.

Ngắm quê cũ, lòng càng thêm xấu hổ,
Đạo đức dân mình xuống hố thật nhanh,
Từ đám già cho đến lũ trẻ ranh,
Đâu cũng thấy toàn gian manh độc ác.

Vì tổ quốc biểu tình thì lác đác,
Nhưng hùa đi đại nhạc hội thì đông,
Mặc cho Tàu dần chiếm đoạt non sông,
Miễn mình được nghe văn công hò hét.

Rồi lớn bé xuống chật đường gào thét,
Nhảy cẫng lên mừng kết quả trận banh,
Nhưng trong khi đất nước mẹ tan tành,
Vẫn lãnh đạm làm thinh không nhúc nhích.

Kéo nhau đi du lịch,
Giở lắm trò lố bịch, lưu manh,
Vào xứ người mà ăn cắp như ranh,
Trơ trẽn lộ toàn hành vi bỉ ổi.

Về giáo dục, nói ra càng tức tối,
Học sinh thì gian dối đến thành tinh,
Đám thầy bà càng đáng rủa đáng khinh,
Còn xảo trá hơn học sinh vạn bội.

Điểm qua các thành phần trong xã hội,
Bắt đầu từ cán bộ tới dân đen,
Từ "giáo sư", "tiến sĩ" tới phu phen,
Đâu cũng chỉ xem đồng tiền trên hết.

Khi đạo đức bị hoàn toàn hủy diệt,
Và lương tâm cũng biền biệt ra đi,
Thì chẳng cần phải có phép tiên tri,
Cũng biết rõ được cái gì sẽ đến. 
**
Chạnh nhớ lại lời thề khi vượt biển,
Tiếng sụt sùi đêm tách bến ra khơi,
Mới đây thôi đã mấy chục năm rồi,
Lòng già bỗng thấy bồi hồi vô hạn.

Nhìn một số người mang danh "tỵ nạn",
Lại càng thêm buồn nản lẫn xót xa,
Kẻ "thăm quê", kẻ du lịch "dối già",
Kẻ "từ thiện", kẻ về "ra mắt sách".

Nhặt đống báo, vất vô thùng cái toạch,
Miệng lầm bầm tự than trách khôn nguôi,
Lối quê nhà đà vĩnh viễn xa xôi,
Chút hy vọng nhỏ nhoi đành lịm tắt.

Trạm xe buýt, ánh đèn mờ hiu hắt,
Khác chi đời kẻ ngắc ngoải tha phương,
Đã đến chặng cuối đường,
Còn phải khóc nhìn quê hương sắp mất. 
Trần Văn LươngCali, 11/2018

14 November 2018

Tin ngắn

Hoa Kỳ công khai yêu cầu Trung Quốc triệt thoái các hệ thống tên lửa

Thái độ cứng rắn hẳn lên của Hoa Kỳ trên hồ sơ Biển Đông được thấy một cách rõ ràng trong bản thông cáo báo chí về cuộc Đối Thoại - thường được gọi là 2+2 - mà bộ Ngoại Giao Mỹ công bố sau cuộc họp giữa ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và Bộ trưởng Quốc Phòng James Mattis với Ủy Viên Quốc Vụ phụ trách đối ngoại Trung Quốc Dương Khiết Trì và bộ trưởng Quốc Phòng Ngụy Phượng Hòa.

Trong phần nói riêng về Biển Đông, ngoài những lời lẽ ngoại giao thường thấy như « cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông… giải quyết tranh chấp một cách hòa bình… bảo đảm an toàn hàng không và hàng hải… xử lý các rủi ro một cách xây dựng… », giới quan sát đã ghi nhận môt lời yêu cầu Bắc Kinh rút tên lửa khỏi Trường Sa :

« Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc rút các hệ thống tên lửa ra khỏi các thực thể tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, và khẳng định trở lại rằng tất cả các nước nên tránh giải quyết tranh chấp thông qua các hành vi cưỡng chế hay hù dọa ». (rfi)

**

John Bolton, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ lưu ý Khối ASEAN

SINGAPORE - Cố vấn an ninh quốc gia John Bolton nói rằng Mỹ sẽ phản đối bất kỳ hiệp ước nào giữa Trung Hoa và các quốc gia khác đối với Biển Đông (South China Sea) một khi hiệp ước đó hạn chế sự tự do vận chuyển của quốc tế, và rằng các tàu thuyền hải quân Mỹ sẽ tiếp tục di chuyển qua lại những vùng biển đó. 

Những lưu ý đó của ông Bolton có mục đích cảnh cáo các nhà lãnh đạo Đông Nam Á, hiện đang chuẩn bị cho một hội nghị thượng đỉnh khu vực tại Singapore trong tuần này, và đặc biệt là đối với Philippines, hiện đang có những cuộc đàm phán với Bắc Kinh về việc cùng thăm dò tìm kiếm các tài nguyên thiên nhiên trong khu vực tranh chấp.

Trung Hoa đã cố gắng đạt được quyền phủ quyết đối với các quốc gia Đông Nam Á chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc tập trận quân sự với các quốc gia khác trong các vùng biển đang có tranh chấp. 

Một thỏa thuận như vậy sẽ có khả năng hạn chế sự tham gia của quân đội Hoa Kỳ với các quốc gia khác như Thái Lan, Việt Nam và Philippines. Trong những buổi họp nhằm để thiết lập quy tắc hành xử trong năm nay cho Biển Đông.

Bắc Kinh cũng đã thúc đẩy các nước láng giềng phía nam của họ để phát triển các nguồn tài nguyên của khu vực chỉ riêng với các nước khác trong vùng, theo tin từ những người quen thuộc với bản dự thảo, vốn đang được hình thành từ nhiều năm. (Huỳnh Thạnh phiên dịch, Đặc San Lâm Viên)

14/11/1914: Đế quốc Ottoman tuyên bố thánh chiến

Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan
Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Vào ngày này năm 1914, tại Constantinople, thủ đô của Đế quốc Ottoman, lãnh đạo tôn giáo Sheikh-ul-Islam tuyên bố một cuộc thánh chiến Islam giáo thay mặt chính quyền Ottoman, thúc giục những tín đồ của ông cầm vũ khí chống lại Anh, Pháp, Nga, Serbia và Montenegro trong Thế chiến I.

Vào thời điểm Thế chiến I nổ ra vào mùa hè năm 1914, Đế quốc Ottoman đương lung lay. Đế quốc này đã bị mất phần lớn lãnh thổ vốn một thời rộng lớn của mình ở châu Âu với thất bại trong cuộc Chiến tranh Balkan lần thứ nhất hai năm trước đó.

Trong nỗ lực liên kết với một trong những cường quốc châu Âu mạnh nhất để giúp bảo vệ họ chống lại tổn thất trong tương lai, các nhà lãnh đạo Ottoman đầy tham vọng – thành viên của Ủy ban Liên minh và Tiến bộ (CUP), được gọi chung là Young Turks – đã phản hồi tích cực với những đề nghị do Đức đưa ra vào tháng 08 năm 1914.

Mặc dù Đức và Thổ Nhĩ Kỳ đã bí mật thỏa thuận một liên minh quân sự vào ngày 02 tháng 08, người Thổ Nhĩ Kỳ đã không chính thức tham gia Thế chiến I mãi cho đến vài tháng sau đó. Vào ngày 29 tháng 10, Hải quân Ottoman – bao gồm hai tàu Đức, Goeben và Breslau, nổi tiếng với việc qua mặt hải quân Anh trong tuần đầu tiên của cuộc chiến nhằm tiếp cận Constantinople – đã tấn công các cảng Nga ở Biển Đen, đánh dấu sự khởi đầu của việc Thổ Nhĩ Kỳ tham gia vào cuộc chiến.

Lời tuyên bố của vị lãnh tụ Islam giáo về một cuộc thánh chiến, được đưa ra hai tuần sau đó, thúc giục tín đồ Islam giáo trên khắp thế giới – bao gồm cả những người ở các nước Đồng minh – nổi dậy và bảo vệ Đế quốc Ottoman –  chống lại kẻ thù của đế quốc này. “Trong số những người tham gia thánh chiến vì hạnh phúc và sự cứu rỗi của các tín hữu trong chiến thắng của Đức Chúa Trời,” lời tuyên bố nói, “số phận đối với những người còn sống là hạnh phúc vinh quang, trong khi địa vị của những người từ giã để đến thế giới bên kia là sự tử vì đạo. Theo lời hứa tốt lành của Đức Chúa Trời, những người hy sinh mạng sống của mình để mang lại sự sống cho chân lý sẽ được vinh danh trong thế giới này, và điểm đến của họ chính là thiên đường.”

(Theo NCQT)

12 November 2018

Hai ngộ nhận về Nhật Bản

Phạm Nguyên Trường
Theo Văn Việt
Ngộ nhận 1: Cho rằng Nhật Bản và Việt Nam là những nước đồng văn.

Đúng là trong một thời gian dài người Việt Nam và người Nhật Bản đều học Hán văn và dùng chữ Hán để ghi chép.

NHƯNG:

Fujiwara Masahico, trong tác phẩm Phẩm cách quốc gia, viết: “Chỉ cần nhìn vào văn học, nơi thể hiện mức độ trưởng thành của văn hóa cũng không đếm hết được các tác phẩm như Vạn diệp tập, Cổ kim tập, Makura no Soshi, Câu chuyện Genji, Tân cổ kim tập, Phương trượng kí, Tsurezuregua… Tôi nghĩ rằng nếu so sánh các tác phẩm văn học ra đời trong 10 thế kỉ này thì số lượng và chất lượng của các tác phẩm văn học do một nước Nhật sản sinh ra còn có ưu thế về số lượng và chất lượng hơn cả các tác phẩm do toàn bộ châu Âu cộng lại”(trang 16-17). Số tác phẩm do người Việt Nam làm ra ít đến nỗi chẳng muốn thống kê.

Trong khi người người Việt và người Nhật đều theo đạo Khổng mạnh, nhưng, như Phan Khôi từng viết: người Nhật “không theo cái học khoa cử, không bắt chước làm những kinh nghĩa, thi, phú là thứ văn chương vô dụng. Sĩ phu của họ không bị cái bả vinh hoa của cử nhân tiến sĩ làm cho mê muội… Lại thêm, người Nhật theo văn hóa Tàu mà những cái dở cái mê muội của người Tàu họ không chịu theo. Tức là người Nhật không tin địa lý, cũng không tin quỷ thần, đốt vàng mã. Nhờ đó, trong tư tưởng của họ không vướng víu những cái tối tăm dơ bẩn cần phải mất thời giờ để gột sạch đi rồi mới hấp thụ được cái hay cái tốt” (Nhật Bản duy tân 30 năm, trang 9).

CHO NÊN, trong tác phẩm Sự va chạm giữa các nền văn minh, Sumuel Huntington (1927-2008), một trong những nhà chính trị học hàng đầu trên thế giới, đã đưa Nhật Bản thành một trong 8 nền văn minh, bên cạnh nền văn minh Khổng giáo Trung Quốc.

TỨC LÀ VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN KHÁC NHAU RẤT XA, ĐỒNG VĂN CHỈ LÀ HÌNH THỨC BÊN NGOÀI MÀ THÔI.

Ngộ nhận 2: Nguyễn Trường Tộ có thể làm như Fukuzawa Yukichi.

Nguyễn Trường Tộ (1830-1871). Tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ bao quát trên mọi lĩnh vực, nó được chứng minh qua 58 bản điều trần mà ông gửi lên triều đình nhà Nguyễn trong vòng 8 năm, từ 1863 cho đến khi ông qua đời vào năm 1871.

Trí tuệ của Nguyễn Trường Tộ đã vượt hẳn lên trên tầm thời đại giữa thế kỉ XIX ở Việt Nam. Vua Tự Đức tuy đã có lúc triệu ông “vào kinh để hỏi việc lớn” và phái ông sang Pháp thuê thẩy thợ, mua sách vở, máy móc, định du nhập kỹ thuật (năm 1866 – 1867), nhưng nói chung, triều đình nhà Nguyễn cũng như các nho sĩ, văn thân thời ấy chưa hiểu nổi luồng tư tưởng của ông, nên chưa coi trọng đúng mức những kiến nghị cách tân của ông.

Fukuzawa Yukichi (1835-1901). Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi phương tiện: dịch sách, viết báo, giảng dạy. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, chú tâm vào việc giáo dục, phổ biến những giá trị Thái Tây. Tài năng văn chương trác việt khi diễn đạt tầm nhìn sâu rộng và nhận xét sắc bén của ông đã lôi cuốn sự chú ý của giới trí thức lẫn bình dân. Bản thân ông đã tiên phong nêu gương đề cao tinh thần độc lập, thực học, và bình đẳng.

Ông đã để lại trước tác với số lượng lên tới hàng vạn trang, trong đó tiêu biểu phải kể đến là Gakumon no susume (Khuyến học), Bunmeiron no gairyaku (Bàn về văn minh), Seiyō jijō (Tây Dương sự tình), Fukuō Jiden (Phúc ông tự truyện) v.v...

Như vậy là, Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi là những người cùng thời với nhau. Nhưng trong khi Nguyễn Trường Tộ chỉ làm “công tác vận động triều đình”, thì Fukuzawa Yukichi lại chuyên tâm vào “công tác vận động quần chúng”.

Có người cho rằng đấy là nguyên nhân thất bại của Nguyễn Trường Tộ.

Nói thế chẳng những là sai, mà còn chứng tỏ người nói không hiểu hoàn cảnh của hai nước.

NHẬT BẢN:

Fujiwara Masahico, trong tác phẩm Phẩm cách quốc gia, viết: “Ngay cả khi suy nghĩ về thời Edo (1603-1868, PNT) thì cũng thấy tỉ lệ người biết chữ ở Nhật cũng đứng đầu thế giới. Người ta nói rằng tỉ lệ người biết chữ vào cuối thời Edo là khoảng 50%… Trong khi đó, ở London, hiện đại hơn, chỉ có 20% dân số biết chữ”(trang 232). Ở một chỗ khác ông còn viết: “Khi tới Nhật bản, cho dù là Anh hay Mĩ, nếu như thật sự muốn biến Nhật Bản thành thuộc địa thì chắc chắn họ sẽ làm được. Tuy nhiên khi người Anh tới Edo (khu vực, PNT) nhìn thấy thị dân đứng đọc sách chỗ này chỗ kia, họ đã từ bỏ ý định đó với ý nghĩ “không thể biến nước này thành thuộc địa” (trang 236).

VIỆT NAM:

Tài liệu chính thức thường nói: “Sau ngày 2/9/1945, chính quyền nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đối mặt với nhiều khó khăn, nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm bủa vây tứ phía. Đặc biệt, có đến 95% dân số không biết chữ” (chữ quốc ngữ – PNT). Có người cho rằng 95% dân không biết chữ là cố ý thổi phồng, nhằm làm mất uy tín chế độ thuộc địa. Có thể như thế. Nhưng cách đó 100 năm, tức là giai đoạn Nguyễn Trường Tộ dâng các bản điều trần lên vua Tự Đức, chữ quốc ngữ chưa phổ biến và có nhiều khả năng là hơn 95% người dân không thể đọc và không thể hiểu được những điều Nguyễn Trường Tộ trình bày, bằng chữ Hán.

KẾT LUẬN: Nguyễn Trường Tộ không thể làm “công tác vận động quần chúng” như Fukuzawa Yukichi vì dân trí quá thấp.

Người ta nói rằng tác phẩm Bàn về tự do của John Stuart Mill, xuất bản ở Anh năm 1859 thì chỉ 5 năm sau đã được dịch sang tiếng Nhật và chỉ mấy năm đã bán được tới 2 triệu bản. 2 triệu bản có thể là nói quá, nhưng 200 ngàn bản cũng là con số khủng khiếp rồi. Vì, 150 năm sau tác phẩm này mới được dịch sang tiếng Việt và với dân số hơn 90 triệu người, gần 20 ngàn nhà báo, hàng triệu người đang học và đã tốt nghiệp đại học mà trong hơn một chục năm qua có lẽ chưa bán được 20 ngàn bản. Đấy là con số rất đáng lo.

Như vậy là, Nhật Bản và Việt Nam tuy cùng ở châu Á, có thời cùng học và cùng dùng chữ Hán để ghi chép; nhưng đây là hai dân tộc khác hẳn nhau. Chớ có ngộ nhận.

(Via DL)

10 November 2018

Donald Trump: Nỗi Lo Ngại Không Lường Được Của Trung Hoa


Thời gian sắp tới, Hội nghị thượng đỉnh G-20 hàng năm từ ngày 30-11-18 cho đến ngày 01/12/2018 sẽ được tổ chức tại  Buenos Aires, Argentina. Tổng Thống Trump và Chủ Tịch Tập Cận Bình sẽ có cơ hội gặp gỡ để bàn luận tìm cách giải quyết những "khác biệt" không thể chấp nhận được trong tương quan mậu dịch giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ.

Đặc San Lâm Viên xin giới thiệu đến quý độc giả phần chuyển sang Việt ngữ của bài viết The Trump Curveball: This Is What China Didn't Expect (1) đã đăng trên nationalinterest.org ngày 31 tháng 10, 2018. Tác giả bài báo Gordon Chang được biết đến nhiều qua quyển sách The Coming Collapse of China.

"Thông điệp của Donald Trump gửi Tập Cận Bình: Hoa Kỳ có ý định tách rời khỏi đất nước của ông cho tới một mức lớn nhất có thể cho phép. (The U.S. intends to disengage with your country to the greatest extent possible.) - Gordon Chang

Huỳnh Thạnh chuyển ngữ

Cuộc họp được hoạch định từ lâu để Tổng Thống Donald Trump và nhà cai trị Trung Hoa Tập Cận Bình gặp gỡ bên lề của hội nghị G20 vào cuối Tháng 11 (30/11-1/12/2018) tại Buenos Aires, có vẻ như sẽ không xảy đến. Và cả như nếu cuộc gặp gỡ này có xảy ra, thì xem ra cũng không đem lại kết quả tốt đẹp.  Ngay như có thể không thảo luận về chủ đề của thời điểm này, là điều được gọi là "chiến tranh mậu dịch."

Theo lời của tờ Wall Street Journal, Hoa Kỳ sẽ không nói chuyện với Bắc Kinh về mậu dịch cho đến khi nào người Trung Hoa đệ trình một "đề nghị cụ thể để giải quyết các khiếu nại của Washington về việc cưỡng ép chuyển giao kỹ thuật và các vấn đề kinh tế khác." Vì nhiều lý do, các giới chức của Trung Hoa sẽ khó có thể làm việc đó.

Nói như Wall Street Journal, thì đó là một "bế tắc."

Chính quyền Trump đang nhanh chóng làm đảo ngược lề lối suy nghĩ của Mỹ trong bốn thập niên. Các tổng thống từ Nixon cho đến Obama đã đặt sự thành công của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một mục tiêu của chính sách Hoa Kỳ.

Nhưng Trump không những đã loại bỏ mục tiêu đó – các chính sách của ông hoặc là thù địch với Bắc Kinh hoặc là thờ ơ trước những quan tâm của họ - ông cũng đang tách rời mọi thứ ra khỏi Trung Hoa. Và đó là một điều tốt dù vẫn có lo ngại. Những mối quan hệ của chúng ta với nhà nước Trung Hoa có lẽ sẽ khá hơn, tối thiểu cũng là trong dài hạn, khi tiếp xúc với họ ít đi - chứ không nhiều hơn.

Kể từ thập niên 1970s, sự chọn lựa chính sách tại Washington đặt nặng vào yếu tố "tham gia" (engagement), nhưng trong nhiều khía cạnh, phương cách đó đã thất bại, đặc biệt là trong lãnh vực mậu dịch. Quả là một điều mỉa mai khi Bắc Kinh chuẩn bị sẵn sàng cho Tháng 12 để chào mừng 40 năm của Đại hội lần thứ 3 của Ủy Ban Trung Ương Thứ 11 (11th Central Committee) - cuộc họp này được xem như bước đầu cho nhà họ Tập là bác bỏ các chính sách cải cách.

Họ Tập, tin tưởng vào tính ưu việt (primacy) của Đảng và quyền lực của nhà nước, đã đưa Trung Hoa trở lại tới một điều gì đó giống như các hệ thống được tạo ra và duy trì bởi Mao Trạch Đông và Joseph Stalin.

EM, Mùa Thu


09 November 2018

CHỦ NGHĨA GIÁO QUYỀN LÀ GÌ?

Đức Phanxicô dành một phần lớn trong triều giáo hoàng của mình để tố cáo nạn giáo quyền trong Giáo hội. Nhưng chính xác chủ nghĩa giáo quyền là gì?

Sau các vụ lạm dụng của các giáo sĩ bị tai tiếng nặng nề, chúng ta thấy rất nhiều câu trả lời cũng như suy nghĩ của giáo sĩ cũng như giáo dân, kể cả của Đức Giáo hoàng. Trong thư gởi Dân Chúa về cơn khủng hoảng hiện nay, thêm một lần nữa, Đức Phanxicô tố cáo một trong các yếu tố chính của cơn khủng hoảng này: nạn chủ nghĩa giáo quyền. Đây là một trong những từ mà trong các câu chuyện ở nhà thờ người ta hay nhắc đến.

Chủ nghĩa giáo quyền là cách nhìn giới tu sĩ một cách lệch lạc, một sự tôn kính thái quá và một khuynh hướng trao cho hàng giáo sĩ một quyền uy đạo đức tối thượng. Đức Phanxicô đã có một mô tả ngắn về hiện tượng này: “Các linh mục cảm thấy mình ở bậc trên, họ rất xa với giáo dân”. Ngài nói thêm, chủ nghĩa giáo quyền có thể “được chính các linh mục hoặc các giáo dân làm thuận lợi thêm”. Trên thực tế, giáo dân cũng có thể rơi vào nạn giáo quyền! Họ nghĩ sự đóng góp của họ vào giáo hội chỉ là thứ yếu, hoặc dù sao thì “linh mục chắc chắn cũng biết nhiều hơn”. Vì vậy chúng ta phải tôn trọng các thành viên của hàng giáo sĩ. Họ được Chúa gọi để làm lãnh đạo chúng ta, để làm người hướng dẫn, người thánh hiến trong đời sống Kitô và chúng ta tôn kính họ là vì vậy. Thánh I-Nhã Antioche còn tuyên bố, chúng ta phải tôn kính các thầy trợ tế như tôn kính Chúa Kitô vậy, và giám mục là hình ảnh của Chúa Cha. Ngài còn nói rằng, “nơi nào có giám mục, nơi đó là Giáo hội Công giáo”.

Người linh mục tham dự vào sức mạnh tông đồ được chính Chúa Kitô trao truyền. Họ được chỉ định là người chủ chăn của chúng ta. Họ có quyền lực này bởi bí tích Phong chức dù họ cư xử xấu. Một linh mục đang mắc tội trọng cũng có thể dâng lễ, giải tội và ban phép giải dù chính bản thân họ đang “đắm mình trong tội”. Qua chức thánh, các linh mục nhận “dấu ấn không xóa mờ” cho họ hành động trong “tư cách Chúa Kitô” (persona Christi) và không một tội nào xóa được dấu ấn và ơn này. Đúng vậy, dù một linh mục bị lên án sa hỏa ngục, linh mục đó vẫn giữ dấu thánh này, điều này có nghĩa sự đau khổ đời đời của họ còn đau khổ hơn bất cứ ai khác.

Tuy nhiên, đương nhiên quyền lực thánh này không làm cho linh mục sẽ khôn ngoan hơn, nhận định tốt hơn, và điều quan trọng phải nhớ, họ không nhất thiết phải đạo đức hơn người khác. Các linh mục vẫn là con người, mà đã là người thì có tất cả lỗi lầm (và tội) mà người bình thường nào cũng có thể phạm. Chính các tông đồ cũng có đủ loại sai lầm, họ không hiểu đúng Lời Chúa, họ phản bội Chúa, chúng ta đừng nghĩ các hậu duệ của các thánh tông đồ sẽ tránh được các lỗi lầm này.

Ngoài ra nếu nghĩ rằng ơn gọi cao cả của các linh mục, các tu sĩ được Chúa ban thì cũng nên hình dung nỗ lực của ma quỷ làm cho họ rơi rụng. Đó là một trong các lý do chúng ta phải gia tăng lời cầu nguyện cho các tu sĩ, ý thức sự việc đời sống của họ trên quả đất này là một cuộc chiến thiêng liêng.

Tìm con đường ngay chính

Trong một lời nói trở thành danh tiếng, triết gia Aristote thời cổ đại đã nói: “Đức hạnh là sự thăng bằng giữa các thái cực”. Vì thế khi cố gắng tránh nạn giáo quyền thì cũng phải cẩn thận để không rơi vào trường hợp thái quá ngược lại: bài-giáo quyền. Dù chúng ta không được để linh mục lên bệ thờ, thì cũng không hạ thấp họ quá. Cũng không được sỉ nhục hay hạ giá ơn gọi đi tu. Như thế, chúng ta không tâng bốc cũng không phỉ nhổ.

Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã tạo một quân bình đúng cho các tông đồ của Ngài. Sau khi mẹ của Thánh Gioan và Giacôbê hỏi các con trai của mình có thể ngồi bên trái, bên phải của ngài trên Nước Trời không và các tông đồ khác đang than phiền vì sao hai người này lại có vinh dự hơn họ, thì Chúa Giêsu trả lời: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.  Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 20-28).

Chúa Giêsu không tranh cãi sự việc các tông đồ tranh quyền nhau, nhưng Ngài dạy cho họ hiểu và chứng tỏ cho họ thấy, quyền lực là dùng để phục vụ. Cũng như khi cha mẹ nhờ người bảo mẫu giữ con cho mình, người bảo mẫu có “trách nhiệm” trên con cái của họ. Người bảo mẫu có quyền trên trẻ em, không phải bắt trẻ con đi ngủ sớm để sau đó thanh thản ngồi xem phim hay có thì giờ trên Snapchat, nhưng người bảo mẫu đó chăm sóc trẻ con đúng, đi ngủ sớm có lợi cho sức khỏe. Có trách nhiệm, có nghĩa trẻ con là “trách nhiệm của người bảo mẫu”.

Thánh Phêrô, giáo hoàng đầu tiên là một trong các môn đệ lớn của Chúa Giêsu. Ngài đã lặp lại lời Chúa Giêsu trong bức thư đầu tiên của ngài khi ngài viết: “Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 P 5, 3).

Từ thời thánh Gregoria Cả, nhiều giáo hoàng đã dùng tước hiệu của mình là “tôi tớ của những tôi tớ Chúa” (servus servorum Dei). Các thành viên hàng giáo sĩ không phải là thầy của chúng ta, họ là những người giúp đỡ chúng ta. Như Đức Phanxicô đã viết: “Các giáo dân thuộc thành phần tín hữu trung thành của Chúa. Và vì thế họ là nhân vật chính của Giáo hội và của thế giới này; chúng ta (linh mục) được gọi để phục vụ họ, chứ không phải để họ phục vụ chúng ta”.

(Nguồn:  HĐGM Việt Nam)
via hoanthiensaubay.wordpress.com

08 November 2018

Tin ngắn

TQ bất ngờ thân thiện với tàu chiến Nhật trên Biển Đông

Thủy thủ trên tàu chiến Trung Quốc đã gửi một lời chào thân thiện tới các thủy thủ Nhật Bản trên một tàu sân bay trực thăng khi hai tàu gặp nhau gần đây trên Biển Đông.

Theo Business Insider, sự việc diễn ra vào cuối tháng trước khi tàu khu trục tên lửa Lan Châu thuộc lớp Lữ Dương-II của Trung Quốc phát hiện tàu sân bay trực thăng Kaga của Nhật Bản đi trong khu vực Biển Đông, đài truyền hình Nhật Bản NHK cho biết hôm thứ Sáu 2/11.

Đài NHK loan tin rằng khi ấy các thủy thủ trên tàu Lan Châu đã gửi một thông điệp vô tuyến nói: “Xin chào, rất vui mừng được gặp quý vị,” theo hãng tin Sputnik.

Ông Song Zhongping, một nhà bình luận quân sự cho Đài Truyền hình Hồng Kông Phoenix, nói với tờ South China Morning Post hôm thứ Hai 5/11 rằng đó là cuộc gặp thân mật giữa tàu của Bắc Kinh và tàu của Tokyo tháng trước -- “hàm ý mối quan hệ tổng thể Trung-Nhật đang ấm lên” và gợi ý rằng "quân đội hai nước có thể làm quen với nhau."

Ông Song nói thêm: "[Nhưng] hải quân Trung Quốc chỉ gửi thông điệp thân thiện vì tàu chiến Nhật Bản lúc ấy chưa đi vào khu vực nhạy cảm và không khiêu khích."

Ông Song cũng nói rằng những cuộc đụng độ thường xuyên giữa tàu chiến Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Đông cho thấy Bắc Kinh đang quan sát Nhật, một đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực, một cách chặt chẽ như thế nào.

**

Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu giàn dây kẽm gai ở biên giới phía nam

Mỹ: Fox News – Các hình ảnh cho thấy nhiều binh sĩ Hoa Kỳ, với sự giúp đỡ của nhiều nhân viên cơ quan Quan Thuế và Biên Phòng, đang giàn kẽm gai ra tại nhiều nơi ở biên giới phía nam của Texas tiếp giáp với Mexico.

Trong số này có khoảng 1,000 feet là độ dài hàng kẽm gai được ghi nhận giàn ra dọc theo khu vực Rio Grande, gần cửa ngõ Hidalgo Texas Port of Entry và phía dưới cây cầu bắc qua sông phân chia ranh giới hai nước.

Một phát ngôn nhân của cơ quan Biên Phòng Hoa Kỳ cho hay giàn kẽm gai là một phần của các cuộc ‘chuẩn bị cấn thiết’ vì hiện nay đã có tới 4 đoàn caravan di dân lậu đông vào khoảng 12,000 người gốc Trung Mỹ đang tiến về phía biên giới Hoa Kỳ.

Khi đi vận động tranh cử cho các ứng cử viên Cộng Hòa ở tiều bang Montana hôm cuối tuần, TT Trump mô tả là “các giàm kẽm gai, nếu được sử dụng đúng theo chức năng, là một quang cảnh xinh đẹp”

Trong tuần qua chính phủ Trump đã cho điều động nhiều ngàn quân nhân tại ngũ ra các vùng biên giới phía nam ở Texas, Arizona và California nhằm hổ trợ với nhân viên của cơ quan Quan Thuế và Biên phòng đối phó với làn sóng di dân lậu sắp tràn tới.

Hôm thứ tư TT Trump còn cho hay con số quân nhân được điều động như thế có thể lên tới 15,000 người, tức là còn nhiều hơn số quân nhân Mỹ đang có mặt ở Afghanistan, nhưng hiện nay Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ loan báo con số này chỉ vào khoảng 7,000 người mà thôi. (Fox News)

**

Trung Cộng bị chất vấn ở Liên Hiệp Quốc về các trại cải tạo Duy Ngô Nhĩ

Geneve: Trong khuôn khổ cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về nhân quyền (UPR theo tiếng Anh, EPU theo tiếng Pháp) tổ chức bốn năm một lần đối với 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc trình bày bản báo cáo và tất cả các nước đều có thể đặt câu hỏi.

Một số nước đã công khai các chất vấn. Chẳng hạn Hoa Kỳ vốn nắm vững vấn đề này, đã đòi hỏi Bắc Kinh làm rõ căn cứ của việc hình sự hóa việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo, và giải thích vì sao lại cưỡng bức người dân đi cải tạo.
Ban đầu Trung Quốc chối cãi là không có trại cải tạo nào, nhưng sau khi các hình ảnh vệ tinh được công bố, cùng với bằng chứng là các văn bản chính thức của chính quyền địa phương trên internet, lại nói rằng đó là những « trại dạy nghề » cho người Duy Ngô Nhĩ tiếng Hoa, các môn thể thao và múa.

Tuy nhiên AFP tham khảo trên 1.500 cáo thị đấu thầu công khai trên mạng đã nhận thấy 181 trại được cho là « dạy nghề » ở Tân Cương đặt mua chủ yếu là ma-trắc, còng tay hoặc bình xịt hơi cay. Nhiều người bị tống vào trại cải tạo chỉ vì để râu dài, choàng khăn hoặc chúc mừng các lễ hội Hồi giáo trên internet. 

**
Kết quả mới nhất của cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ:

Đảng Dân Chủ chiếm đa số ghế dân biểu tại Hạ Viện dành quyền kiểm soát viện này từ tay Đảng Cộng Hoà. Đảng Cộng Hòa vẫn chiếm đa số ghế nghị sĩ tại Thương viện, tiếp tục kiểm soát viện này.

Thành ngữ mới: Ngày hội của quần chúng nhân dân

Nguyễn Thông
Mấy hôm nay, bộ máy tuyên truyền ra sức gây sự chú ý của cộng đồng dân chúng xứ ta đối với cái gọi là Luật An ninh mạng. Họ bảo rằng nhà nước sẽ lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân về dự thảo nghị định của chính phủ thi hành Luật An ninh mạng trước khi luật có hiệu lực. Cứ như dân có quyền ghê gớm lắm cho phép luật được tồn tại hay không. Cứ như là cái gì cũng phải dựa vào dân, do dân quyết định.

Cách làm ấy thực ra không mới, bởi lâu lắm rồi, những người cộng sản lúc nào cũng hô to “sự nghiệp cách mạng là ngày hội lớn của quần chúng nhân dân”.

Đã nói đến hội là ta nghĩ ngay đến 2 yếu tố: vui và đông. Hội là phải vui. Hội Lim, hội Gióng, hội chùa Thầy, hội xuống đồng… vui nổ trời. Chả có hội nào buồn bã, ủ rũ cả. Đời đã vốn lắm nỗi buồn, đi hội mà lại rước thêm sự đưa đám rầu rĩ thì chi bằng ở nhà. Mấy người hát xẩm ngày xưa từng rủ rê thiên hạ “Anh em ơi, hội chùa Thầy đương lúc đua chen. Hễ ai nhanh chân thì tới, chứ ươn hèn thì (í) xa”. Và hội thì bao giờ cũng đông. Vài ba đứa trẻ trâu rủ nhau ra bãi đánh khăng đánh đáo thì chả thể nào tạo nên hội. Phải đông như kiến cỏ (kiến và cỏ luôn luôn được dùng để so sánh sự đông đúc), đông như quân Nguyên, đông như... hội mới là hội.

Người cộng sản rất khôn khéo khi cái gì cũng dựa vào dân, núp bóng dân. Có thể họ chưa có sự hiểu đời như cụ Ức Trai Nguyễn Trãi khi xưa, rằng “phúc chu thủy tín, dân do thủy” (lật thuyền mới biết, dân là nước), “tải chu, phúc chu giả, dân dã” (chở thuyền, cũng như lật thuyền, đều là sức dân vậy) nhưng họ thừa hiểu rằng những gì họ có được là do dân. Vậy nên chỗ nào cũng giăng câu khẩu hiệu “Của dân, vì dân, do dân”. Tờ báo chính thống của họ được đặt tên là Nhân Dân. Có chuyện vui rằng, để làm vui lòng dân (người thẳng thắn thì gọi là mị dân), để dân chúng thấy chỗ nào cũng được quyền làm chủ, họ đặt tên sự vật theo nguyên tắc chủ thể cộng với nhân dân: Viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, hiệu sách nhân dân, công xã nhân dân, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo nhân dân, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân, quân đội nhân dân, công an nhân dân, cảnh sát nhân dân…, chỉ giữ lại mỗi phần riêng nhỏ xíu khiêm tốn là kho bạc nhà nước. Thì văn học dân gian nói thế, nhưng nghe cũng có lý.

Cách mạng, theo nghĩa phổ biến nhất của từ này, là một cuộc thay đổi, thay cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu lỗi thời bằng cái mới, tốt, hiện đại, văn minh tân tiến. Đỉnh cao của cách mạng là cuộc lật đổ một chế độ này để thay bằng chế độ khác. Với việc lớn long trời lở đất như thế, phải nhờ số đông, đông người, mà không ai khác chính là nhân dân.

Người cộng sản rất thích dùng từ “cách mạng”. Hầu như những lực lượng khác trên thế giới khi tiến hành những cuộc thay đổi rất ít dùng từ cách mạng. Có lẽ vì vậy mà người cộng sản rất thích phong trào công xã Paris năm 1871 bởi phong trào này phổ biến dùng từ cách mạng (revolution). Với họ, cách mạng phải là sắt máu, quyết liệt, một mất một còn, đổ máu hy sinh. Cách mạng chỉ thể dùng vũ lực, nhất là khi đặt mục đích lật đổ một chế độ cai trị nào đó. Mao Trạch Đông ông tổ của cộng sản Tàu quả quyết “súng đẻ ra chính quyền”, cụ Hồ nước ta dặn “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, Fidel Castro bên Cuba bảo “Tự do hay là chết”. Nếu so với người thường, thì tinh thần, ý chí cách mạng của người cộng sản là số 1, không ai qua mặt được. Tuy nhiên, cái kết của những ngày hội quần chúng ấy thường là “góp thây trăm họ nên công vài người”.

Và trên thực tế, tất cả những cuộc cách mạng do người cộng sản tiến hành đều phải trả giá đắt, quá nhiều chết chóc, đổ máu hy sinh. Chế độ xã hội mới được xây dựng trên cái nền của núi xương sông máu, "đường vinh quang xây xác quân thù". Quá nhiều bi thương. Nhưng bản chất cách mạng là thế. Chính vì vậy, khi họ đặt ra câu khẩu hiệu tưởng rằng rất hay “cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân”, thì với người có suy nghĩ, sẽ thấy nó tàn bạo, trái đạo, bất nhân thế nào ấy. Làm gì có thứ hội chất chứa ăm ắp nỗi buồn, bi kịch, chết chóc, mất mát đau thương. Ngay chính cụ Hồ, cụ cũng từng không chấp nhận niềm vui kiểu vậy. Theo nhà thơ Việt Phương, người nhiều năm được gặp cụ, “Bác không thích nói trận đánh chết nhiều người là đánh đẹp/Con xóa chữ đẹp đi như xóa sự cạn hẹp của lòng con”.

Biết cách mạng là chết chóc, nhưng giương cao tấm băng rôn "cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân" thì dễ lôi kéo nhân dân lao vào cuộc sinh tử với tâm lý đi hội. Khôn ở chỗ đó.

Không chỉ khi chiến tranh mà ngay cả lúc hòa bình, những người cộng sản vẫn thích áp đặt tư duy đánh nhau vào cuộc sống. Làm bất cứ điều gì, họ cũng thích “ra quân”, “chiến dịch”, “quyết thắng”, “xông lên hàng đầu”, dù chỉ đi vớt bèo, dọn rác, đắp đường, vận động sinh đẻ có kế hoạch... Cứ làm sao phải lôi kéo được nhiều người tạo thành ngày hội của quần chúng. Nước sông công lính, chả tội gì không dùng, lại được tiếng tốt là phát huy tinh thần làm chủ tập thể của quần chúng đông đảo.

Lòng thầm ao ước, một ngày nào đó, trên đất nước này không còn những cách mạng, ra quân, tiến công, khởi nghĩa, không còn những ngày hội lớn của quần chúng nhân dân như vậy nữa. Bất giác, đúng kiểu tầm thường tầm chương trích cú, nhớ cái câu kết trong cuốn cuối cùng của bộ ba tiểu thuyết sử thi "Con đường đau khổ" của nhà văn Nga Aleksei Tolstoi, khi chàng sĩ quan bạch vệ Rotsin nói với nàng Catia trong nước mắt: “Năm tháng sẽ qua đi. Những cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần. Những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét. Chỉ còn lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại, dịu dàng và chan chứa tình yêu thương”.

Nguyễn Thông
Theo blog Nguyễn Thông

06 November 2018

Phụ nữ tài tình hơn phái mạnh

Ông William Golding, nhà văn, nhà thơ người Anh (1911-1993) đã viết về phụ nữ thế này:
Tôi nghĩ Phụ nữ thật ngốc khi họ cho rằng họ bình đẳng với đàn ông.

Thực ra họ luôn luôn là người vĩ đại hơn đàn ông. Bất cứ cái gì đưa cho phụ nữ, họ cũng sẽ tạo ra những giá trị cao hơn.

– Khi đàn ông đưa cho họ tinh trùng họ sẽ tạo ra một em bé.
– Khi bạn đưa cho họ một căn nhà, họ sẽ tạo ra một tổ ấm.
– Nếu bạn đưa cho họ những thực phẩm họ sẽ tạo cho bạn một bữa ăn ngon.
– Nếu bạn tặng họ những nụ cười, họ sẽ tặng bạn trái tim yêu.
– Phụ nữ luôn nhân lên, tạo ra những giá trị lớn hơn bất cứ thứ gì bạn trao cho họ.
– Nhưng nếu bạn trao cho họ một thứ gì bẩn thỉu thì hãy coi chừng, bạn sẽ nhận lại ... lot of shit đấy.
(internet)

05 November 2018

Tiền/Vàng & Nước Mắt

Tưởng Năng Tiến

Vấn đề với chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ dùng hết tiền của người khác.
 Margaret Thatcher

Chừng mười năm trước, tôi tình cờ đọc được một bài báo ngắn (“Tuần Lễ Vàng 1945”) của Trà Phương – trên trang Vnexpress, số ra ngày 13 tháng 10 năm 2010 – mà cứ cảm động và bâng khuâng mãi. Xin ghi lại nguyên văn, cùng hình ảnh, để chia sẻ với mọi người:

“Sau khi giành độc lập, đất nước gặp nhiều khó khăn về tài chính, 4/9/1945 Bác Hồ đã phát động Tuần lễ Vàng kêu gọi mọi người ủng hộ ngân sách quốc gia. Trong tuần lễ này, giới công thương có đóng góp nhiều nhất.

Một số bức ảnh về Tuần lễ Vàng đã được Nhà sử học Dương Trung Quốc sưu tầm trong một chuyến công tác tại Pháp mới đây. Theo ông Dương Trung Quốc, ngay sau khi từ chiến khu lần đầu tiên về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn nơi ở và làm việc tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang. Đây là nơi ở của nhà tư sản Trịnh Văn Bô, một người thuộc vào hạng giàu nhất Việt Nam lúc bấy giờ.

Bác chọn nhà một tư sản giàu có vì tin vào nhân dân của mình. Không chỉ người nghèo mà cả người giàu cũng khao khát độc lập, tự do. Và cách mạng cần đến sự ủng hộ và tham gia của cả người giàu lẫn người nghèo.”
Một cụ già tám mươi tuổi mang tới một gói lụa điều, bên trong là nén
vàng gia bảo nặng mười bảy lạng. Ảnh & chú thích: Vnexpress

Chỉ có điều đáng tiếc (nho nhỏ) là nhà báo Trà Phương cho biết quá ít về gia đình nhà tư sản Trịnh Văn Bô. Đang lúc rảnh nên tôi xin phép được chép lại (đôi trang) của một nhà báo khác, để rộng đường dư luận:

Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập.

Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.

Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”. Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS như Archimedes Patti và Allison Thomas. Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con. Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.

Bà quả phụ Trịnh Văn Bô: Ảnh: giadinh.net
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều. Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.

Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Câu chuyện thượng dẫn tuy hơi cay đắng nhưng kết cục (không ngờ) lại  vô cùng có hậu, theo như bản tin của Vnexpress (“Bộ Tài chính đôn đốc trả nợ tiền vay dân trong 2 cuộc kháng chiến”) số ra ngày 19 tháng 7 năm 2017:

“Đây là những khoản nợ từ công phiếu kháng chiến, phát hành trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952; công trái quốc gia, phát hành năm 1951; công trái Nam-Bộ, phát hành năm 1947, 1958; công phiếu nuôi quân phát hành năm 1964 và những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp huyện trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân.”


Thiệt là tử tế và qúi hóa quá xá Trời. Tôi rất tâm đắc với hai chữ “đôn đốc” trong tiêu đề của bản tin thượng dẫn: “Bộ Tài Chính Đôn Đốc Trả Nợ Tiền Vay Dân Trong Hai Cuộc Kháng Chiến.” Nghe sao có tình, có nghĩa hết biết luôn.

Nhà nước sòng phẳng, đàng hoàng, và tử tế đến như thế nên khi quốc khố trống rỗng và nợ công ngập đầu – như hiện nay – thì chuyện huy động vàng trong dân chắc ... cũng dễ (ợt) thôi. Good bye and good luck!

04 November 2018

BẮT CÓC, THAM NHŨNG VÀ SUY NGHĨ NHẬP NHẰNG

Phạm Quang Tuấn

Khi CSVN sang Đức bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, nhiều người Việt lên tiếng ủng hộ và chụp mũ những người chê trách hành động đó là về bè với tham nhũng. Lúc ấy, tôi cho rằng những người ủng hộ bắt cóc là dư luận viên CS hay ít ra là mù quáng, bị nhồi sọ.

Gần đây, có tin đồn CSVN phải cho TXT trở lại Đức trước áp lực của Đức. Lập tức, có những người vội vã tỏ ý “không vui” trước việc đó và chê trách những người tỏ ý vui mừng. Cũng lý do tương tự: họ chụp mũ những người không tán thành hành động đó là về bè với tham nhũng, thậm chí là chống cộng mù quáng! Nhưng, điều đặc biệt là những người chụp mũ này không phải DLV hay mù quáng, mà cũng thuộc thành phần… bỏ đảng!

Theo tôi, đây là do lối suy nghĩ nhập nhằng, không rạch ròi của người VN, nhất là những người đã sống quá lâu dưới chế độ CS. Đầu óc họ không thể tách rời hai việc hoàn toàn khác nhau: thượng tôn pháp luật và trừng trị tham nhũng.

Ở VN đã có nhiều người ăn cắp chó bị đám đông xúm vào đánh, có khi đến bỏ mạng. Nếu có người can thiệp ngăn chặn, người ấy dễ bị gọi là về bè với ăn cắp và bị đánh theo. Vì vậy không ai dám can thiệp.

Thời cải cách ruộng đất, địa chủ bị lôi ra trói giữa cánh đồng và dân làng thay phiên nhau ra kể tội, chửi rủa, ném đá. Thời đó thì dĩ nhiên không ai dám can (ngay cả Hồ Chí Minh!) nhưng bây giờ chắc không ai còn ủng hộ đấu tố nữa. Nhưng nếu biết rằng một trong những địa chủ quả là có tội (cướp đất, hiếp dâm…) thì hẳn cũng nhiều người đồng ý với đấu tố hắn kiểu đó!

Đó là những hậu quả của lối suy nghĩ nhập nhằng, rất phổ biến trong một xã hội chậm tiến, vô pháp luật. Muốn sống trong một xã hội văn minh pháp trị (mà cộng sản sẽ không bao giờ cho trở thành sự thực, trừ phi hết là CS), thì con người phải biết đặt tinh thần thượng tôn pháp luật trên hết, phải tuyệt đối không chấp nhận sự lạm quyền. Họ cũng phải biết phân biệt mọi sự việc một cách rạch ròi, đừng để cảm xúc lấn át lý trí. Đôi khi, phải chấp nhận những trường hợp riêng pháp luật không thể hay chưa thể giải quyết thỏa đáng.

Dĩ nhiên, thượng tôn pháp luật không có nghĩa là cứng nhắc khi áp dụng. Cảnh sát, tòa án các nước tân tiến vẫn có thể và vẫn thường mềm dẻo khi áp dụng pháp luật, chỉ phạt nhẹ hay không truy tố nếu có lý do chính đáng. Nhưng việc đó hoàn toàn khác với việc chấp nhận hành động lạm quyền.

Dù không ủng hộ việc nhà nước bắt cóc tội phạm, nhưng chỉ tỏ ý dè dặt, lập lờ, kém quyết liệt khi chống đối việc đó, thì mặc nhiên cũng là ủng hộ. Chính quyền sẽ coi sự dè dặt, ngập ngừng, kém quyết liệt đó là ủng hộ tinh thần cho họ và dùng nó để biện minh cho hành động lạm quyền của mình. Và dĩ nhiên, với công an và tiền bạc vô hạn trong tay, họ sẽ không chỉ dừng lại ở việc bắt tội phạm mà sẽ lan sang bắt phản động, khi gặp hoàn cảnh quốc tế thuận lợi hơn.

Họ cũng có thể lấy cớ kẻ tình nghi "tội quá nặng" "hại cho đất nước" để giam người trái phép, bỏ tù dài hạn không trát tòa, xử không cần luật sư, kháng án không cần xét… Nếu những việc đó có rồi thì càng khó sửa đổi.

Đã tuyệt đối chống lại hành động lạm quyền, thì ta phải đồng loạt hoan hô không dè dặt (without reservation) khi kẻ lạm quyền bị trừng phạt, dù là sự trừng phạt đó không phải là nhà tù mà chỉ là sự mất mặt trước nhân dân và quốc tế. Chúng ta cũng chỉ có thể đòi hỏi được đến thế. Đừng lập lờ, phân vân vì sẽ vô tình ủng hộ tinh thần cho một hệ thống chính quyền và công an phạm pháp. Dù sao, bị trừng phạt là cách duy nhất để kẻ chuyên quyền học bài học luật pháp.

Hoan hô việc trừng phạt kẻ lạm quyền là việc hoàn toàn không dính dáng gì đến ủng hộ TXT. Nếu thất vọng vì TXT được thả sang Đức (giả thử chuyện đó xảy ra – hiện chỉ là tin đồn) thì hãy trút sự thất vọng đó lên CSVN, kẻ đã 1. tạo ra hoàn cảnh cho TXT tham nhũng, 2. để hắn trốn, 3. hành xử vụng về và phạm pháp, khiến cho việc bắt lại hắn trong tương lai 1 cách hợp pháp (dẫn độ) trở nên khó có thể xảy ra. Hãy tập trung vào kêu gọi chính quyền điều tra và sửa đổi những lỗi đó của họ.

Phạm Quang Tuấn
(Facebook PQT)