21 July 2018

Báo động tỷ lệ vỡ nợ trái phiếu của doanh nghiệp Trung Quốc

Tổng số nợ trái phiếu không trả được của doanh nghiệp Trung Quốc trong 6 tháng tăng lên mức gần 3,8 tỷ USD. Với tốc độ này, con số cả năm 2018 chắc chắn sẽ cao hơn mức kỷ lục vào năm 2016.

Dù mới đi được nửa năm 2018, nhưng tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp bị vỡ nợ tại Trung Quốc kể từ đầu năm đến nay đã bằng hơn 3/4 mức cao kỷ lục trước đó, trong khi nước này lại đang đối mặt với những dự báo về tình trạng xuống dốc của nền kinh tế.

Theo hãng tin Bloomberg, tập đoàn khai thác than đá Wintime Energy có thể sẽ trở thành trường hợp vỡ nợ lớn nhất trong năm nay trên thị trường tài chính Trung Quốc.

Tính đến thời điểm này, Wintime đã phải đối mặt với khoản nợ lên tới 11 tỷ USD. Đáng chú ý, món nợ của Wintime đã phình to gấp 4 lần trong chưa đầy 5 năm qua.

Với kế hoạch ban đầu, tập đoàn Wintime vay số tiền này nhằm trang trải các thương vụ thâu tóm và nỗ lực mở rộng sang những lĩnh vực như tài chính và logistics. Công ty đã tận dụng tối đa sự hào phóng của các chủ nợ khi chi phí vay giảm vào năm 2014.

Nhưng tình hình đã thay đổi kể từ năm 2016 khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bắt đầu siết chặt hoạt động của thị trường tài chính và muốn nền kinh tế ít phụ thuộc vào các ngân hàng quốc doanh.

Và điều kiện đó cũng gây khó cho Wintime. Sau khi phát hành hơn 10 tỷ Nhân dân tệ trái phiếu vào năm 2016 và tiếp tục thành công trong năm 2017, Wintime chỉ tìm được người mua 3,6 tỷ Nhân dân tệ trái phiếu phát hành kể từ đầu năm nay, theo số liệu của Bloomberg. Tuy nhiên, lãi suất trái phiếu kỳ hạn một năm đã tăng vọt từ mức 4,5% năm 2016 lên 7% năm nay.

Vào đầu tháng 7/2018, Wintime không thể thanh toán được khoản trái phiếu ngắn hạn trị giá 1,5 tỷ Nhân dân tệ đáo hạn, dẫn đến việc mất khả năng chi trả 13 loại trái phiếu khác trị giá tổng cộng 9,9 tỷ Nhân dân tệ.

Một quan chức của Wintime tiết lộ với Bloomberg rằng họ đang tìm cách vay nợ mới và đề xuất bán tài sản để trả khoản nợ hiện tại.

Câu chuyện của Wintime phần nào báo hiệu một năm tồi tệ nhất của các vụ vỡ nợ trái phiếu doanh nghiệp tại Trung Quốc.

Chuyên gia Qin Han tại Ngân hàng Guotai Junan Securities nhận định tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chủ yếu được thúc đẩy bởi nợ và nhiều công ty có thể không cố gắng trả nợ nếu gặp phải những khó khăn tài chính.

Ngày càng có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn giữa lúc chính phủ phát động chiến dịch giảm nợ thông qua các biện pháp như siết chặt quy định về quản lý tài sản, tăng lãi suất cho vay, trấn áp hệ thống ngân hàng ngầm.

Không ít công ty đã quen với việc dùng tiền mới vay để đảo nợ nên họ không có kinh nghiệm ứng phó và không chuẩn bị sẵn kế hoạch thay thế khi có thay đổi.

“Việc không thể vay mượn thêm tiền khiến các doanh nghiệp không thể che giấu những rắc rối vướng phải”, chuyên gia Ivan Chung tại Moody’s Investors Service giải thích.

Dĩ nhiên, Wintime không phải công ty duy nhất “chao đảo” vì vay mượn tràn lan.

Tập đoàn CEFC Shanghai International Group đã không trả được 2,1 tỷ Nhân dân tệ tiền nợ trái phiếu đáo hạn trong tháng trước, và dự kiến sẽ không xoay nổi tiền để trả nợ 2 tỷ Nhân dân tệ nợ trái phiếu khác đáo hạn cuối tháng 6/2018.

Báo động tỷ lệ vỡ nợ trái phiếu của doanh nghiệp Trung Quốc
Lợi suất trái phiếu doanh nghiệp tại Trung Quốc tăng nhanh. (Ảnh: Bloomberg)
Theo thống kê của Bloomberg, chỉ trong nửa đầu 2018, các công ty Trung Quốc đã không thể trả nợ ít nhất 3,2 tỷ USD trái phiếu phát hành bằng đồng Nhân dân tệ và 350 triệu USD trái phiếu bằng đồng USD.

Con số này của cả năm 2018 chắc chắn cao hơn mức kỷ lục 20,7 tỷ Nhân dân tệ từng được thiết lập năm 2016. Tỷ lệ vỡ nợ, theo đó, sẽ tăng đến 40% so với năm trước.

Đặc biệt, trong bối cảnh căng thẳng của cuộc chiến thương mại với Mỹ, số lượng các vụ vỡ nợ trong hệ thống tài chính của Trung Quốc có thể tăng thêm. Lực cầu tiêu dùng và cả nền kinh tế đang đứng trước nguy cơ bị suy yếu, và “có thể sẽ chuyển biến thành tình trạng chất lượng tín dụng đi xuống.”

“Viễn cảnh lợi nhuận của doanh nghiệp trở nên xấu hơn trong năm nay và khó có khả năng cải thiện trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng chậm lại. Việc tái cấp vốn sẽ tiếp tục khó khăn chừng nào chiến dịch trấn áp hệ thống ngân hàng ngầm vẫn tiếp diễn”, ông Li Shi, lãnh đạo bộ phận xếp hạng và nghiên cứu trái phiếu tại Công ty China Chengxin International Credit Rating, đánh giá.

Kiều Ngọc
(Đại Kỷ Nguyên)

20 July 2018

VINH DANH CHỮ QUỐC NGỮ

(Bài phát biểu của Ông Phạm Trần Anh trong Buổi vinh danh, Cám ơn những người đã có công khai sinh ra Chữ Quốc Ngữ)

Kính thưa quý vị,

Trước hết tôi xin chân thành cám ơn toàn thể quý vị đã bớt chút thì giờ quý báu để đến đây tham dự buổi vinh danh, cám ơn những người đã có công khai sinh ra lối chữ viết theo a,b,c mà chúng ta gọi là chữ Quốc ngữ ngày hôm nay. Thưa quý vị, không phải tới ngày hôm nay chúng ta mới vinh danh Linh mục Alexandre De Rhodes trước đây gọi là Linh mục A Lịch Sơn Đắc Lộ mà năm 1941, chính quyền thực dân bảo hộ đã khắc một tấm bia đặt ở bên bờ Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội và năm 1955, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã đặt tên Alexandre De Rhodes cho một con đường ở thành phố Sài Gòn. Sau này, tại Sài Gòn chúng ta cũng có một Thư viện và một Cư xá lấy tên là Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes).

Thế nhưng, vấn đề chữ quốc ngữ ngày nay lại trở nên ý nghĩa và quan trọng hơn khi mới đây tập đoàn Việt gian Cộng sản bất nhân hại dân bán nước chính thức bắt các em học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 phải học tiếng Tàu, sinh ngữ chính trong năm học tới, đồng thời tung ra đề án cải cách tiếng Việt, sửa đổi cách viết và phát âm lơ lớ tiếng Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng năm xưa để xóa bỏ chữ Quốc ngữ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải trân trọng bảo tồn chữ Quốc ngữ, cũng như tri ân nhưng người có công tạo ra lối chữ Việt viết theo a,b,c mà chúng ta thường nói là La Tinh hóa chữ viết.

Thưa quý vị, trong quá khứ chúng ta đã vinh danh Linh mục Alexandre de Rhodes là “Thủy Tổ” của chữ Quốc ngữ như những bài viết ca ngợi thái quá của một số học giả trước đây. Ngày nay, sự thật về sự khai sinh lối chữ Quốc nữ khiến chúng ta phải phục hồi sự thật lịch sử về vấn đề này. Sự thật này đã được Linh mục Alexandre de Rhodes viết trong “Lời nói đầu” quyển Tự điển Việt - Bồ - La rằng linh mục học tiếng Việt lúc đầu với giáo sĩ Francisco de Pina và linh mục đã sử dụng các công trình tự điển viết tay An Nam - Bồ, Bồ - An Nam của các giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa…

Chính giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã xác nhận không phải là người duy nhất đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ mà đó là công trình tập thể của các nhà truyền giáo khác như giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa… nằm trong một khuôn khổ những nỗ lực phiên âm các thứ tiếng có chữ tượng hình ở Viễn Đông do các thừa sai châu Âu khởi xướng từ thế kỷ thứ 16. Công trình khai sinh ra lối chữ Quốc ngữ lần đầu tiên chính là Giáo sĩ người Bồ Đào Nha F. De Pina, đến “Đàng Trong” năm 1617 học tiếng Việt và là nhà truyền giáo đầu tiên dùng tiếng Việt để truyền đạo. Năm 1624, giáo sĩ F. De Pina dạy tiếng Việt cho giáo sĩ Alexandre De Rhodes, năm 1625 giáo sĩ bị chết đuối ở vũng Đà Nẵng ngày 15-12-1625 khi cứu hành khách trên một chiếc thuyền bị đắm. Nhà nghiên cứu R. Jacques mới tìm thấy ở Thư viện Quốc gia tại Lisbon (Bồ Đào Nha) quyển sách “Nhập môn tiếng Đàng Ngoài” dài 22 trang dạy cho người mới học tiếng Việt của giáo sĩ F. de Pina.

Chính giáo sĩ Alexandre De Rhodes đã xác nhận "Tuy nhiên trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và Đông-kinh (tức Đàng Trong và Đàng Ngoài - AC), thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa (Chúng tôi nhấn mạnh - AC), cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam (tức là từ điển Việt-Bồ - AC), ông sau bằng tiếng Bồ-Đào (tức là từ điển Bồ-Việt - AC), nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La Tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn...".

"(...) ước gì các Ngài trở nên những người truyền bá nhiều phương ngữ, để không những các nước lân cận và quen biết từ xưa được nghe những sự kỳ diệu của Thiên Chúa mà cả mọi miền dưới bầu trời và những vương quốc rất xa xôi ở cực Đông từ nhiều thế kỷ qua chưa được nghe, thì bây giờ những nước ấy cũng phải được nghe và rao truyền danh Chúa huyền diệu biết bao trên khắp trái đất (...). Mà lại để Lời Thiên Chúa thâm nhập dễ dàng hơn tới tận cùng Hoàn cầu, nơi người Đông- kinh và Cô-sinh, tức là tất cả mọi người An Nam đang chiếm cư, thì bây giờ lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển của dân tộc An Nam, một quyển từ điển giúp ích cho những người làm công tác Tông đồ được chỉ định cho phần vườn nho này của Chúa, hầu họ hiểu biết phương ngữ xa lạ của người An Nam, tức là để những mầu nhiệm Thiên Chúa được giãi bày cho người An Nam, đồng thời cũng để người An Nam vừa làm quen với chính Đức Tin Rô-ma và Tông đồ, vừa làm quen với phương ngữ Rô-ma và La-tinh. Ai mà không thấy việc đó trong tương lai có lợi là chừng nào cho công cuộc truyền bá đức tin của Chúa Ki-tô được rộng rãi và chắc chắn hơn". [1]

Thật vậy, các bậc thức giả như Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Nguyễn Khắc Xuyên, Thanh Lãng, Đỗ Quang Chính, Võ Long Tê đều khẳng định chữ quốc ngữ là một công cuộc chung của nhiều người. Linh mục Đỗ Quang Chính nhận định: "Đắc-Lộ không phải là người Âu châu đầu tiên học tiếng Việt, cũng không phải người đầu tiên sáng tác chữ quốc ngữ, hơn nữa, vào năm 1636 Đắc-Lộ cũng không phải là người ghi chữ quốc ngữ đúng được như một số Linh mục Dòng tên Bồ Đào Nha ở Việt Nam thời đó. Thật ra, trong giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ, Đắc-Lộ chỉ góp một phần trong công việc quan trọng này, mà rõ rệt nhất là soạn sách chữ quốc ngữ và cho xuất bản đầu tiên". Linh mục Thanh Lãng, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam trước 1975 đã khẳng định: "Giáo sĩ Đắc Lộ không những không phải là ông tổ duy nhất của chữ quốc ngữ mà cũng không phải là một trong các ông tổ của chữ quốc ngữ… Sở dĩ Đắc Lộ về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều, có lẽ không phải vì ông đã có công kiện toàn chữ quốc ngữ cho bằng ông đã để lại hai quyển sách Từ điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày được coi như tài liệu duy nhất về chữ quốc ngữ".

Các Thừa Sai cũng đã Latinh hóa tiếng Thái, tiếng Tàu, tiếng Nhật… nhưng không thành công, duy chỉ có Việt Nam lối chữ Quốc Ngữ này trở nên phong phú, phổ biến rộng rãi nhờ những nho sĩ tân tòng trở thành “Thầy giảng” đã góp phần lớn trong việc hình thành và hoàn chỉnh từng bước một lối chữ Quốc ngữ mới lạ này để ngày nay trở thành chữ viết chính thức của nước ta.

Theo công trình nghiên cứu của học giả Nguyễn Đoàn Tuân thì Tiếng Việt, chữ Việt theo bản chữ đời Hùng để lại từ đời Thánh Tản Viên cho Cao Thông, đệ tử của Thánh Tản Viên. Sau này, Trịnh Bồng đã được bản chữ đó và chính bản chữ đó đã giúp cho thầy Raphael Quý dạy cho giáo sĩ F. De Pina và Alexandre de Rhodes để chuyển sang mẫu tự La tinh, là chữ Quốc Ngữ bây giờ. Giáo Sĩ Đắc Lộ ở trong Nam (Đàng Trong) nghe ở Thanh Hoá (Đàng Ngoài) còn có người biết tiếng Việt cổ nên đã ra địa phận Thanh Hoá gặp được thầy Raphael Quý là người có duyên còn giữ được bản chữ đời Hùng. Nhờ thiên phú có tài về ngôn ngữ nên cả hai đã cùng nhau hợp tác giải mã những dấu hiệu chữ mô tả âm thanh của đời Hùng theo chữ La Tinh để chúng ta có được lối chữ Quốc ngữ ngày nay. Như vậy, ông Tổ chữ Quốc ngữ là bản chữ đời vua Hùng theo lối tiêu âm mà ghép thành văn tự.   

Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đoàn Tuân thì trong lịch sử ngôn ngữ chỉ có Việt tộc mới có chữ viết và tiếng nói ăn khớp với nhau được chứng minh bởi Đồ Phổ Trống Đồng. Thuở xa xưa, tộc Việt cư ngụ ở Trung nguyên nên tiếng Việt tổng hợp các ngữ vị và âm vị của 4 phương thiên hạ. Tiếng Việt và chữ Việt là hệ thống Tiêu âm là thiết âm tức là loại tiếng đánh vần được. Nhờ đó âm lại được mọi thứ tiếng của các nước nên ngữ vị và âm vị tiếng Việt hết sức phong phú nên chỉ ở Việt Nam trở thành chữ viết cho cả nước trong khi việc Latinh hóa chữ viết các nước Lào, Cambodia, Tàu, Nhật không thành công. Chính vì vậy, “Thủy Tổ” của chữ Quốc Ngữ chính là tiếng nói, chữ viết Việt Cổ từ thời vua Hùng của chúng ta.

Các giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Linh mục Alexandre De Rhodes cùng các thầy Raphael Quý, các thầy giảng Việt Nam Igesico Văn Tín, Bentô Thiện với những tác phẩm quốc ngữ xuất sắc được lưu lại từ năm 1659 là những người có công trong việc phiên âm, ký tự tiếng Việt cổ thành lối chữ viết và đánh vần theo a,b,c của chữ La Tinh để thành hình lối chữ Quốc ngữ ngày nay.

Thưa quý vị, 

Thưa quý vị, kể từ khi lối chữ chữ viết theo abc do các Cố đạo truyền giáo xuất hiện đầu tiên trong bộ Từ Điển An Nam-Bồ Đào Nha-Latinh gọi tắt là Tự điển Việt-Bồ-La mục “Phép giảng tám ngày” được tòa Thánh La Mã xuất bản năm 1651 và nhà cầm quyền Thực dân Pháp bắt buộc người dân Việt Nam phải học đã gặp phải sự chống đối quyết liệt của giới sĩ phu và toàn thể người Việt Nam yêu nước thời bấy giờ. Kể từ khi thành hình cho đến khi được mọi người Việt Nam thừa nhận là chữ Quốc Ngữ, chữ viết của Việt Nam đã trải qua một thời gian lâu dài hàng thế kỷ do sự đề kháng tất yếu của tự tình dân tộc như câu thơ dân gian của một sĩ phu miền Nam Đồ Chiểu: “Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn sáng mắt ông cha không thờ…”. Chúng ta hãnh diện tự hào với truyền thống yêu nước thương nòi mà trải qua gần 1 ngàn năm đô hộ kẻ thù truyền kiếp chủ trương Hán hóa thâm độc quỷ quyệt, người Việt vẫn giữ nguyên được bản sắc văn hóa truyền thống Việt.

Khi chữ Quốc ngữ ra đời, nhà cầm quyền thực dân Pháp đã tìm cách thúc đẩy sự truyền bá chữ quốc ngữ tại “Thuộc Địa Nam Kỳ” bằng cách đưa vào quy định bổ nhiệm, thăng tiến cho quan chức hay miễn thuế cho dân ở Nam Kỳ. Phó Đô Đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghi định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ nhưng đến năm 1879, thực dân Pháp mới chính thức đưa vào chương trình giáo dục ở Nam Kỳ. Thế nhưng, việc cổ động cho học "chữ Quốc ngữ" ở toàn cõi Việt Nam từ năm 1890 đến năm 1910 với các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và đến năm 1867 mới chính thức xuất hiện trên tờ Gia Định Báo của Nguyễn văn Vĩnh ở Sài Gòn cùng với Pétrus Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh đã cổ vũ học "chữ Quốc ngữ: Tiếng Việt còn, nước ta còn…", như là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí.  Đặc biệt Nam Phong Tạp Chí là một tờ Nguyệt san do Học giả Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút xuất bản đầu tiên ngày 1 tháng 7 năm 1917. Phạm Quỳnh chủ biên phần chữ Quốc ngữ và Dương Bá Trác phần chữ Nho, trong suốt 17 năm với 210 số báo, Nam Phong Tạp Chí đã góp phần vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

Công cuộc hoàn thiện chữ Quốc ngữ trở thành súc tích văn chương hơn phải ghi nhận sự đóng góp của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Sự ra đời của Tờ Phong Hóa và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành lập ngày 2-3-1934 quy tụ các nhà văn nổi tiếng trong văn đàn Việt Nam thời bấy giờ như Khái Hưng, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam cùng nhiều văn nghệ sĩ có tài khác như: Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận. Tự Lực Văn Đoàn chủ trương sáng tác văn chương  với một một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam đã góp phần không nhỏ trong những tác phẩm văn học để chữ Quốc ngữ văn chương và phổ biến rộng rãi trên toàn quốc. Tự Lực Văn Đoàn đã thổi một luồng gió khai phóng vào xã hội Việt Nam thoát khỏi sự ràng buộc của những hủ tục lề thói lỗi thời, không còn thích ứng được với nhu cầu thời đại và tìm ra hướng đi mới cho văn học Việt Nam.

Ngày 25-5-1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập và phát động phong trào học chữ Quốc Ngữ trên toàn quốc do Nguyễn văn Tố làm Hội Trưởng, Bùi Kỷ và Tôn Thất Bình làm Hội Phó. Cố vấn gồm các học giả nổi tiếng là Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn văn Huyên và Lê Thước để truyền bá chữ Quốc ngữ trong quảng đại quần chúng. Học giả Hoàng Xuân Hãn đang dạy tại trường Bưởi (Chu văn An sau này) được mời làm cố vấn và giáo sư là người soạn quyển sách học đánh vần chữ Quốc ngữ đầu tiên mà ngày nay, một số người trong chúng ta vẫn còn thuộc nằm lòng những câu như “I tờ hai móc cả hai. I ngắn có chấm, tờ dài có ngang. O tròn như quả trứng gà. Ô thời đội mũ, ơ là thêm râu” và “huyền ngang, sắc dọc, nặng tròn; hỏi lom khom đứng, ngã buồn... nằm ngang”. “Hội Truyền bá quốc ngữ là một trường đào tạo, giáo dục thanh niên ngoài xã hội. Một mặt nó luyện cho thanh niên những đức tính cần thiết trong cuộc sống. Mặt khác, nó giúp thanh niên tránh được những cuộc vui chơi không lành mạnh cờ bạc, trai gái, rượu chè... và giáo dục lòng yêu nước thương nòi cho thanh niên thời bấy giờ.

Chính nhờ những đóng góp trên nên giới trẻ tân học, giới trí thức tiểu tư sản đã ý thức được lối học từ chương kinh điển lỗi thời cùng với lối chữ Nho rắc rối phức tạp, khó phổ biến tới toàn dân để nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí nên đã tiếp nhận và hoàn thiện chữ Quốc ngữ để kêu gọi lòng yêu nước của toàn dân đứng lên chống Thực dân Pháp.

Thưa quý vị,

Chữ Quốc ngữ thời mới hình thành rất là sơ sài đôi khi ngây ngô nữa chứ không phải súc tích, phong phú như ngày nay. Tiến trình hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ do chính người Việt là chủ thể của lối chữ này đã sửa đổi, thêm thắt, tìm kiếm, hoàn thiện từ Đức Chúa Bờ Lời thành Đức Chúa Trời như trong nguyên bản “Phép giảng tám ngày” như sau: "Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma beào đạo thánh Đức Chúa Blời", mà bây giờ chúng ta sửa đổi hoàn chỉnh là "Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà theo đạo thánh Đức Chúa Trời".  Chính vì vậy chúng ta mới thấy rằng công phiên âm, ký tự chuyển từ tiếng Việt cổ sang lối chữ La Tinh là của các nhà truyền giáo nhưng để có một chữ viết gọi là Quốc Ngữ như ngày nay chính là của toàn dân Việt Nam chứ không phải là ai khác…

Thưa quý vị,

Trong lịch sử nhân loại không có một dân tộc nào trải qua những trang sử bi thảm như dân tộc Việt Nam với 26 lần xâm lược và 9 lần thống trị gần 1.000 năm của kẻ thù truyền kiếp Tàu Hán xưa và đế quốc mới Tàu Cộng bây giờ. Dân tộc Việt chưa thoát khỏi ách đô hộ của Thực dân Pháp thì tập đoàn Việt gian Cộng sản đã rước voi Mác Lê về giầy mả Tổ Hùng Vương, cõng rắn độc Tàu Cộng về cắn gà nhà dân tộc. Kể từ ngày  1 tháng 9 năm 1858, quân Pháp tấn công Đà nẵng cho tới ngày 6-6-1884,  hiệp ước Patenôtre được ký kết chính thức quy định Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ chịu sự bảo hộ của Pháp nhưng mỗi nơi có chế độ cai trị khác nhau.

Sử sách viết về thời Pháp đô hộ Việt Nam cũng như theo các nhân chứng sống thì tuy gọi là chế độ thực dân nhưng người dân vẫn còn đỡ khổ hơn “Người dân làm chủ” trong chế độ Cộng sản Việt Nam bây giờ. Lịch sử Việt vẫn còn ghi chép tội ác của thực dân Pháp xử chém 13 anh hùng dân tộc tại Yên Bái thế nhưng dưới bức màn sắt của Cộng sản, khi xâm chiếm miền Nam Cộng sản đã giết biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và chế độ Cộng sản độc tài đã đưa ra xử bắn trên 300 tù nhân chính trị tôn giáo trong đó có 2 linh mục, 2 phụ nữ độc ác nhất là xử tử hình anh thư Trần Thị Lan trong lúc chị có thai 8 tháng. Đây không chỉ là tội ác đối với dân tộc Việt mà còn là tội ác đối với cả nhân loại nữa.

Đọc lại những lời tuyên truyền tố cáo thực dân Pháp của Hồ Chí Minh, chúng ta ai cũng giật mình vì đó là những tội ác mà bạo quyền CS đang gây nợ máu với đồng bào chúng ta gấp cả trăm lần!!! Chúng ta cũng đau lòng khi viên trung úy Calley một người lính ngoại quốc bắn giết dân lành ở Mỹ Lai, chúng ta cũng có thể thông cảm phần nào khi Việt Cộng núp sau lưng những người dân này bắn giết các binh lính Hoa Kỳ nên viên Trung Úy đã nóng giận ra lệnh xả súng bắn gây ra những thương vong đáng tiếc… Thế nhưng không ai có thể ngờ được rằng Việt gian Cộng sản xâm lược đã đang tâm tàn sát dã man hàng trăm đồng bào máu mủ ruột rà ở Ấp Tân Lập Xuân Lộc tháng 3 năm 1975 mà nhà văn yêu nước Trần Đức Thạch đã viết lại trong “Hố Chôn Người ám ảnh…”…

Thưa quý vị,

Chúng ta chống lại chủ nghĩa thực dân nhưng cũng không quên tri ân những người ngoại quốc đã có công đóng góp bảo lưu nền văn hóa Việt. Thật vậy, nếu không có nhà bác học bà Madeleine Colani thì cả nhân loại không ai biết về nền văn hóa Hòa Bình lưu vực sông Hồng ngày nay được xem là nền văn hóa cổ nhất của nhân loại và từ nền văn hóa này, chúng ta mới tìm thấy cội nguồn của dân tộc Việt.

Chính nhà bác học Madeleine Colani của viện Viễn Đông Bác Cổ đã tìn thấy 2 chiếc đĩa cổ trong đó có 2 chữ Việt Cổ là chữ Sĩ và chữ Thương có niên đại khảo cổ là 8 ngàn năm nghĩa là cổ hơn 6 ngàn năm so với chữ viết “Văn Giáp Cốt” đời Thương 1766 TDL. Các nhà khảo cổ quốc tế cũng tìm thấy hơn 20 ký tự chữ viết cổ của nền văn hóa Long Sơn trong đó có các chữ Việt, chữ Đán… có niên đại khảo cổ hàng chục ngàn năm giống như chữ Sĩ và chữ Thượng vẫn còn sử dụng trong tiếng Hán hiện đại. Điều này chứng tỏ, Tộc du mục Thương Chu đã lấy chữ viết Việt cổ gọi là lối chữ vuông thêm thắt sửa đổi thành chữ Hán gọi là kim văn Hán tự. Sử sách triều Chu ghi rõ là đời Chu Tuyên Vương sai Thái sử Trứu lấy lối chữ Điểu triện thời Hoàng Đế sửa đổi biến cải thành lối chữ gọi là Kim văn tức chữ Hán bây giờ.

Theo các nhà ngôn ngữ thì Trung Quốc có 10 phương âm, đến thời Tần Thủy Hoàng diệt Nho đốt sách, bắt các nước đều phải nói và viết ngôn ngữ Quan Thoại… Ngoài ra, tất cả dân Trung Hoa đều nói tiếng Việt cổ gồm: Thục ngữ, Yên, Tề ngữ, Đông Di và Mạc Địch, Sở ngữ, Mân ngữ, Giang Hoài ngữ Ngô Việt ngữ, Điền, Kiềm ngữ và Việt ngữ ở Quảng Đông, Quảng Tây.

Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy tiếng nói vùng Hoa Nam gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Triết Giang đều có âm Việt cổ chung hoàn toàn khác với phương ngữ Hán phương Bắc mà dân gian Hoa Nam vẫn dùng trong giao tiếp cuộc sống gọi là tiếng Nôm (Nam), tiếng của người Việt phương Nam. Tiếng Quan Thoại của giới quan lại thống trị từ thời Tần là Hán ngữ chính thống (Sino-Tibetan) mà giọng đọc gọi là Quan Thoại ở vùng Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và Nam Sơn Tây. Tần ngữ là giọng nói ở Thiểm Tây được coi là giọng cổ Quan Thoại phát âm lơ lớ Quan Thoại, lơ lớ Mông Cổ còn lại 8 phương âm khác của Di Việt ở khắp Trung Nguyên gồm:

     - Thục ngữ ở Tứ Xuyên của chi Âu Việt.

     - Yên Tề ngữ của chi Lạc Việt (bộ Trĩ) mà họ gọi là Rợ Đông Di gồm các tỉnh Sơn Đông và một phần Hà Bắc.

     - Sở ngữ là giọng nói ở Hồ Bắc, Hồ Nam của chi Lạc Việt bộ Mã mà Hán tộc gọi là rợ Kinh man. Vào đầu kỷ nguyên Dương lịch, Yên-Tề-Sở ngữ giống Việt ngữ, Sở ngữ còn gọi chung là giọng Hồ Quảng.

     - Mân ngữ (Hoklo) là giọng nói của chi Mân Việt (Min-Yueh) ở Phúc Kiến (Lạc bộ Mã).

     - Việt ngữ vùng Quảng Đông và Quảng Tây của chi Âu Việt còn gọi là Tây Âu của đồng bào Thái (Thái Việt).

     - Giang Hoài ngữ là giọng nói vùng giữa sông Hoài và Sông Dương Tử thuộc nước Ngô thời chiến quốc ở Bắc Giang Tô và Triết Giang của U -Việt còn gọi là Đông Việt.

     - Điền Kiềm ngữ là giọng nói vùng Vân Nam và vùng phụ cận của chi Điền Việt.

     - Ngô Việt ngữ.

 Tuy gọi là các phương ngữ có chút ít biền biệt nhưng nói chung vẫn gần giống như Việt ngữ ở vùng lưỡng Quảng. Ngày nay chữ Quảng Đông vẫn gọi là Việt ngữ, kịch Quảng Đông và ở châu Kinh vẫn gọi là Việt kịch nên người Quảng Đông gọi sí phù phiên âm trước đây gọi là Hán Việt không đúng vì đó là tiếng Việt cổ, Việt ngữ nên chúng ta đọc là sư phụ, cú nường chúng ta viết là cô nương…

Theo nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc dẫn chứng bản đồ “Tối Tân Trung Quốc Phân Tỉnh Đồ Bản” mới nhất của Trung Quốc thì tất cả các dân cư bản địa thời cổ ở Hoa Nam ngày xưa đều còn hiện diện trên lãnh thổ Trung Quốc. Bức bản đồ ngôn ngữ đầy đủ nhất “Ethnolinguistes groups of Mainland Southeast Asia” do Human Relations Area Files, Yale University xuất bản cho biết hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Quý Châu là địa bàn hiện nay của dân Thái tức người Âu Việt cổ. Mặt khác Tối tân Trung Quốc Phân Tỉnh Đồ còn cho biết là không hề có nhóm người Hán nào gọi là người Quảng Tây mà dân ở mấy tỉnh đó đều là người Quảng Đông còn gọi là người Việt Đông, là người Việt cổ và ngôn ngữ của dân Quảng Đông được gọi là Việt ngữ.

Các triều đại Tàu Hán xưa bắt tất cả những người Trung Quốc trong đó người gọi là Trung Quốc ở Đông Bắc, người Trung Quốc ở miền Nam là người gốc Việt cổ bị bắt buộc “Đồng” giống như nhưng không “Hóa” thành người Trung Quốc vì có cùng một mã di truyền Genome DNA với chúng ta.

Ngày nay, đế quốc mới Trung Cộng thông qua tập đoàn tay sai Việt gian Cộng sản cầm đầu là Nguyễn Phú Trọng đã bắt học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 phải học tiếng Tàu Hán là sinh ngữ chính kể từ niên học tới đây. Đồng thời chúng còn đưa ra cái gọi là cải cách tiếng Việt viết và phát âm lơ lớ tiếng Tàu nhằm xóa bỏ lối chữ Quốc ngữ của chúng ta, để triệt tiêu văn hóa Việt. Đây là âm mưu “Hán hóa” thâm độc quỷ quyệt của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc chúng ta. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết chúng ta phải trân trọng bảo lưu chữ Quốc ngữ mà các giáo sĩ đã góp phần tạo ra lối chữ Quốc ngữ. Dù rằng mục đích là để truyền đạo đã tạo ra lối chữ viết theo a,b,c thế nhưng lối chữ này đã trở nên chữ viết chính thức của nước ta trong Văn Học Sử nước nhà. Chúng ta phải trân trọng tri ân các Giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Linh mục Alexandre De Rhodes cùng các thầy Raphael Quý, các thầy giảng Việt Nam  Igesico Văn Tín, Bentô Thiện … và công sức của toàn dân Việt Nam đã hoàn chỉnh để ngày nay chúng ta có một ngôn ngữ phong phú, sinh động, một ngôn ngữ “nói như thơ nghe như nhạc” lên bổng xuống trầm đang được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên toàn thế giới.

Trân trọng kính chào toàn thể quý vị.

Phạm Trần Anh

19 July 2018

Phận tôi đày: Sống mang nhục - chết được mấy người thương

Trịnh Kim Tiến

Đó là chút xót xa của tôi dành cho những nhân viên an ninh, công quyền và những người lính đánh thuê của giai cấp quyền lực.

Tôi chắc rằng nhiều người trong số họ cũng cảm rõ điều này. Họ bán sức, bán lương tâm và danh dự cho chế độ, cho lý tưởng, nhưng lý tưởng là gì, là đúng hay sai thì họ không còn dám chắc.

Họ ngồi giữa trưa nắng nóng canh những người lên tiếng cho quê hương, bị chửi là những con chó, những kẻ bán nước, trong khi đó cấp trên của họ đang tắm nắng trong những căn biệt thự trang hoàng. Cấp trên của họ, người nào cũng hai, ba Quốc tịch, nhà ba bốn căn bên Mỹ, bên Châu Âu; còn họ, đến việc đi ra nước ngoài du lịch còn phải xin phép, phải khó đủ bề.

Nếu như chế độ này đang được lòng dân, đang vững vàng như lãnh đạo của họ tuyên bố thì tại sao những người cấp trên của họ lại phải chuẩn bị trước cho cuộc tháo chạy tương lai?

Số phận của họ và gia đình họ sẽ ra sao khi lòng dân phẫn uất? Chắc chắn trong họ đã ít nhất một lần nghĩ đến điều này.

Cũng bởi nghĩ đến điều này, họ càng điên cuồng thẳng tay đàn áp dân lành để bảo vệ địa vị của mình. Nhưng họ không nghĩ rằng, bạo lực chỉ khiến họ tạo ra nghiệt oán.

Chắc chắn với những chính sách bất minh, độc tài như hiện nay, sự thay đổi sẽ xảy ra. Nếu may mắn, đất nước chuyển biến theo hướng ôn hoà thì họ còn có thể sống lại từ đầu. Còn một khi sự căm phẫn lên đến đỉnh điểm, bạo lực cách mạng nổ ra, thì không ai có thể đảm bảo cứu được cả gia đình họ.

Đôi lần trong họ cũng khát khao được dân yêu mến, thay vì phải nghe những từ ngữ cay độc, “chó vàng”, “chó xanh”, “bọn hút máu dân”, “bọn này nó chỉ tiền thôi”... Họ muốn được tặng hoa, được cảm ơn, được tôn trọng giống như cảnh sát, lực lượng công vụ nước người ta. Bởi chính sách của chế độ này khiến họ làm gì cũng bị chửi, bị cấp trên chửi, bị dân rủa nguyền.

Lý tưởng khi họ bắt đầu vào ngành đẹp là thế, nhưng rồi mỗi ngày leo lên một bậc, họ biết một ít, làm sao mà họ không rõ sự thối nát bên trong.

Tôi nhìn những người cảnh sát cơ động cúi gục đầu nhìn xuống đất khi nhận lệnh đàn áp dân; nhìn những nhân viên công lực mắt ngó lên trời khi dọn đường cho giai cấp quyên lực cướp đất dân, tôi không biết nên chửi hay nên thương cho họ.

Rồi đáng lẽ người bị chết phải là người được thương tiếc, nhưng không, nhìn đi, cả xã hội lên án họ là những kẻ cướp, nhưng lại không phải cướp cho mình hưởng mà là cướp thuê cho giai cấp thống trị.

Mạng của họ là bị chính họ rẻ rúng.

Không phải tự nhiên mà xã hội đồng cảm cho những Đoàn Văn Vươn, Đặng Văn Hiến... Cũng không phải tự nhiên mà những người này phải dùng bạo lực để đòi quyền lợi. Những người dân cô thế được sự thương cảm của cả xã hội, trong khi nếu các anh, khi thực hiện các mệnh lệnh trái lương tâm bị chết, các anh nghĩ được mấy ai thương mình?

Theo FB Trịnh Kim Tiến
(Via DL)

18 July 2018

“Thời khắc Reagan” cho cuộc chiến tranh thương mại?

Mohamed A. El-Erian
Phạm Nguyên Trường dịch

Trong những năm 1980, Tổng thống Mỹ, Ronald Reagan, phát động cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô, kết quả là đã làm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới và gây được ảnh hưởng tới nhiều quốc gia. Liệu cuộc chạy đua về thuế quan của Donald Trump với Trung Quốc có dẫn tới kết quả tương tự?

Vòng ra đòn và trả đũa mới nhất giữa Mỹ và Trung Quốc đã thúc đẩy thêm các cuộc tranh luận đang diễn ra trên toàn thế giới về việc liệu thế giới có đang trực diện với cuộc xung đột thương mại đơn thuần hay đang lao nhanh tới một cuộc chiến thương mại toàn diện. Nhưng cái được mang ra đặt cược có thể thậm chí còn mang tính nền tảng hơn hẳn. Ngẫu nhiên hay có chủ ý, chính quyền của Tổng thống Donald Trump có thể đã và đang dọn đường tới “thời khắc Reagan” trong quan hệ thương mại quốc tế.

Trong những năm 1980, Tổng thống Mỹ, Ronald Reagan, đã phát động cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô, kết quả là đã làm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới và gây được ảnh hưởng tới nhiều quốc gia. Hiện nay, Trump đã tung ra cuộc đua thuế quan với Trung Quốc, một siêu cường kinh tế, có thể sẽ dẫn những hậu quả sâu rộng tương tự như thế. Tương tự như dưới trào Reagan, Mỹ có vị trí thuận lợi hơn, đủ sức giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc - nhưng rủi ro cũng khá lớn.

Ông Donald Trump thời trai trẻ và Tổng thống Reagan
Trong vụ leo thang mới nhất, Mỹ áp đặt mức thuế trị giá 34 tỷ USD lên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Trung Quốc áp đặt thuế quan trả đũa ngay lập tức, khiến Mỹ đe dọa áp dụng nhiều biện pháp bảo hộ hơn nữa. Những hành động này cũng buộc chính quyền Trump phải áp đặt thuế quan lên hàng nhập khẩu từ những nước khác, trong đó có một số đồng minh thân cận nhất của Mỹ (ví dụ, Canada) và đe dọa rút khỏi Tổ chức Thương mại Thế giới – tổ chức củng cố hệ thống điều chỉnh dựa trên luật pháp việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ và vốn qua biên giới giữa các quốc gia.

Hiện đại hóa sẽ mang lại lợi ích cho nhiều thỏa thuận thương mại đã được kí kết. Và hầu hết các nhà kinh tế học đều đồng ý rằng việc Mỹ bất bình với Trung Quốc về thương mại là chính đáng, trong đó có ăn cắp tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ từ một phía, và những rào cản thương mại phi thuế quan, ví dụ, buộc các công ty nước ngoài phải tham gia các thỏa thuận liên doanh với các công ty trong nước thì mới được tiếp cận thị trường của Trung Quốc.

Nhưng hầu hết các nhà kinh tế học cũng đồng ý rằng đua nhau tăng thuế là cách giải quyết đầy mạo hiểm. Bởi vì thuế quan gây ra áp lực giảm phát (nghĩa là, thúc đẩy cùng một lúc lạm phát và trì trệ trong hoạt động kinh tế), có thể làm suy yếu đà phục hồi kinh tế toàn cầu, hiện đang chịu nhiều thách thức. Và làm phức tạp thêm chính sách tiêu chuẩn hóa tiền tệ đã diễn ra trong thời gian quá dài, trong khi lại làm tăng khả năng làm cho nền tài chính toàn cầu rơi vào tình trạng mất ổn định. Các vết nứt hệ thống được tạo ra có thể gây nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống giao dịch đa phương dựa trên luật pháp đúng vào lúc khi mà chúng ta không có lựa chọn thay thế khả dĩ nào khác.

Nhiều nhà kinh tế học do dự, không biết phía trước sẽ là gì. Ví dụ, một nhóm các nhà kinh tế học trong khi công nhận rằng những căng thẳng hiện nay làm gia tăng nguy cơ rủi ro hoặc sai lầm trong chính sách, họ coi những căng thẳng đó là thành phần của các cuộc tham khảo và đàm phán. Họ khẳng định rằng khi tình hình trở nên căng thẳng, các cường quốc thương mại lớn trên thế giới sẽ tìm cách tránh cách tiếp cận mang tính hủy diệt lẫn nhau, và họ sẽ đàm phán để thiết lập chế độ thương mại tự do, nhưng công bằng hơn. Những chỉ dẫn ban đầu rằng EU hiện có thể đã sẵn sàng xem xét sáng kiến không đánh thuế ​​ô tô đã góp phần củng cố quan điểm này.

Một nhóm các nhà kinh tế học khác, trong khi nhắc lại những tiền lệ lịch sử, đã cảnh báo rằng các biện pháp thương mại lợi mình hại người có thể nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát, làm giảm đáng kể mức sống của người dân. Khi sự phân cực về chính trị thể hiện một cách rõ ràng, sự tức giận đối với giới quyền uy, và sự ngờ vực trước các ý kiến của giới ​​chuyên gia - do thất vọng về kinh tế và sợ hãi trước những thay đổi về văn hóa và công nghệ - những biện pháp bảo hộ được tăng cường có thể sẽ làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy, và chính sách hướng nội.

Nhưng so sánh với Reagan gợi ý rằng có thể có những hàm ý khác, rộng lớn hơn. Bằng cách buộc Liên Xô tham gia cuộc chạy đua vũ trang mà Mỹ chắc chắn sẽ thắng (với giá phải trả là nợ nần tăng lên và nguy cơ xung đột cao hơn), Reagan đẩy nhanh quá trình sụp đổ của cái mà ông gọi là “đế chế ác quỷ”.

Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan, phát biểu trong lễ kỷ niệm 750 năm thành phố Berlin, phía
sau ông là Cổng Brandenburg, gần Bức tường Berlin Mike Sargent / AFP Getty Images

Đó là một chiến lược táo bạo và đầy rủi ro, và cuối cùng đã làm thay đổi bản đồ chính trị châu Âu. “Đế chế” châu Âu của nó đã sụp đổ, trước khi Liên Xô tan rã, dẫn tới việc hình thành 15 quốc gia mới. Bức tường Berlin sụp đổ, nước Đức thống nhất và Nam Tư tan rã. Chẳng bao lâu sau, “vụ ly hôn nhung” của Tiệp Khắc tạo ra Cộng hòa Séc và nước Slovakia - cùng với các nước Trung và Đông Âu khác (trong đó có Hungary và Ba Lan) – những nước đã bám chặt vào phương Tây bằng cách gia nhập NATO và EU.

Cuộc chiến thương mại hiện nay sẽ làm cho tất cả các nền kinh tế đều bị thiệt hại. Nhưng Mỹ - tương đối ít phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, có thị trường nội địa phát triển sâu rộng hơn, và nói chung, có tiềm lực kinh tế hơn hẳn các nước khác - sẽ hoạt động tốt hơn hầu hết những nước khác trong khi nền kinh tế thế giới đang teo lại. Thị trường tài chính Trung Quốc đã thiệt hại, trong khi các thị trường tài chính Mỹ vẫn đứng vững.

Lý thuyết trò chơi cho rằng các tác nhân duy lý, trong khi nhận thức được rằng chiến tranh thương mại sẽ làm họ tổn thất đến mức nào, sẽ thấy giá trị của việc từ bỏ chiến lược trả đũa, và chấp nhận nhiều đòi hỏi của Mỹ. Chiến lược này có thể làm cho Mỹ trở thành mạnh mẽ hơn và sẵn sàng hơn trong việc ngăn chặn, không để ảnh hưởng và vị thế của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu tiếp tục bị xói mòn như đã từng diễn ra suốt nhiều năm qua.

Nhưng hoàn toàn không có gì đảm bảo rằng cách tiếp cận này sẽ thành công. Muốn thành công, cần phải có sự tin tưởng lẫn nhau cao hơn là hiện nay. Xã hội Mỹ đang bị chia sẽ cần phải cùng nhau đồng hành trong suốt giai đoạn ăn miếng trả miếng, vì chiến lược trả đũa sẽ làm cho giá cả gia tăng và, trong một số trường hợp, việc làm sẽ bấp bênh hơn.

Hơn nữa, chính quyền Trump phải tránh đẩy các nước khác (đặc biệt là Trung Quốc) vào tình trạng quá khó khăn ngay lập tức, vì làm như thế có thể làm cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái và thị trường suy giảm một cách hỗn loạn. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) – trên cơ sở các mối liên hệ trong cộng đồng doanh nghiệp trong nước - đã cảnh báo rằng kế hoạch đầu tư của các công ty có thể bị “cắt giảm hoặc hoãn lại” vì quan hệ thương mại toàn cầu đang ở trong tình trạng bấp bênh. Và chúng ta đừng quên rằng Trung Quốc hiện đang nắm một khối lượng lớn trái phiếu kho bạc Mỹ; nếu bị ép quá mức, nước có thể này có thể dùng nó để làm mất ổn định thị trường trái phiếu của chính phủ Mỹ, mà thị trường này lại là yếu tố then chốt đối với sức khỏe của hệ thống tài chính toàn cầu.

Còn quá sớm, chưa thể nói được “thời khắc Reagan” về thương mại sẽ diễn ra hay là không và nó có mang lại hệ thống công bằng hơn hay là không. Dù sao mặc lòng, cách tiếp cận như thế đòi hỏi chiến lược phải được thiết kế một cách cẩn thận và thực hiện một cách khéo léo – cần nhiều may mắn - được quản lý bằng hiểu biết sâu sắc về các yếu tố kinh tế, chính trị và địa chính trị. Đó là lý do tại sao chúng ta phải vượt lên câu hỏi liệu đây có phải là cuộc xung đột hay cuộc chiến tranh thương mại nhằm xây dựng những chiến lược thực tế cho “thời khắc Reagan”, nếu quả thật chúng ta muốn thấy thời khắc này.

Mohamed A. El-Erian, Cố vấn kinh tế trưởng tại Allianz, công mẹ của PIMCO, nơi ông từng là giám đốc điều hành và đồng giám đốc đầu tư, ông cũng là Chủ tịch Hội đồng phát triển toàn cầu của Tổng thống Barack Obama. Ông cũng từng là Giám đốc điều hành của Công ty Quản lý Harvard và Phó Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Ông được tạp chí Foreign Policy đưa vào danh sách 100 nhà tư tưởng hàng đàu thế giới trong những năm 2009, 2010, 2011 và 2012. Tác phẩm gần đây nhất của ông có nhan đề The Only Game in Town: Central Banks, Instability, and Avoiding the Next Collapse.

Nguồn Project-Syndycate.
Đã đăng trên Việt Nam Thời Báo.

15 July 2018

Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Stephen B. YOUNG
Mở đầu:
"…Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy”. Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: “Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?.."

Ai thống trị Việt Nam ngày nay ?

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ. Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình. Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng? Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái gọi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác. Tôi nói đó là một “thứ đảng phái” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa ” theo ý hệ Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân. Ông Bảo nói thêm rằng “ tổ chức anh chị em cán bộ phải giữ quyền cai trị Việt Nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giữ ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình” chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1, 2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước. Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng “chính nghĩa Mác-Lê” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giữ độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào? Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới. Và cả biển nữa! Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hãy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng. Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ Hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt Nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung cộng đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà Nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt Nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy ý thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn. Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẫn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyễn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng. Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt Nam chăng? Tức đảng cộng sản vĩnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải Nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xâm lược của Trung cộng. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt Nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà Nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hãy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chỗ dựa vững chắc hơn thế của Trung cộng.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rõ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy. Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rập.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi. Trung cộng có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. 

Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lệnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không

Trong lịch sử Việt Nam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy”.

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: “Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài Gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” … Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

Như vậy làm “Mỹ Ngụy” là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt Nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt Nam, không ở lại Việt Nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất đai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi ?

Stephen B. YOUNG
nguồn: ttxva.net (via Blog SauDong)

14 July 2018

BÀI HỌC LỊCH SỬ


Kate Nguyen
July 7 at 6:47 PM
Mình đã từng nghe nhiều người nói rằng, thôi thì cứ để Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Quốc đi, như thế lại hay. Chúng ta không cần đợi lâu đâu, vì cứ tình hình như hiện tại, thì việc nước ta trở thành thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc đã nhìn thấy rồi. 
Quan sát thực tế, rõ ràng 'bóng dáng' của người Trung Quốc đang ngang dọc khắp nơi trên đất nước ta, từ thành thị, đến nông thôn, từ đường sá, công trình xây dựng, nhà máy, đến đất đai, các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm.... Tệ ở chỗ là, họ tùy thích mang đến những thứ gì họ muốn, những thứ có thể đầu độc chúng ta chết dần vì bệnh tật, vì ô nhiễm. Nhưng tệ hơn thế là chúng ta bằng lòng để họ thích làm gì thì làm. Tại sao nói chúng ta bằng lòng ư? Chúng ta hiện đang là nước có chủ quyền, nếu cần, chúng ta có thể từ chối thẳng thừng, đuổi thẳng cổ những ai đến đất chúng ta làm bậy! Nhưng không! Chúng ta im lặng, kệ thôi, vì chúng ta nghĩ việc đó đã có ai đó lo cho mình rồi. Mà cũng phải, ai đó lo là đúng, vì đó là nhiệm vụ của họ, vì ta thuê họ làm đại diện cho mình để lo việc đại sự quốc gia. Tiếc rằng, giờ ai đó thì lại nói, do dân ta kém hiểu biết, trình độ dân trí thấp, nên một số thì nhẹ dạ cả tin bị dân Trung Quốc lừa, số khác xấu hơn thì 'câu kết' với người Trung Quốc gây hậu quả nghiêm trọng. Chúng ta kệ thôi nhỉ, cứ hưởng thụ những ngày tháng tươi đẹp đã, vì đời là bây nhiêu đâu. 
Tham khảo bài viết sau của tác giả Đỗ Ngà:
BÀI HỌC LỊCH SỬ

Champa và Đại Việt là 2 nước láng giềng. Đại Việt thì lúc nào cũng lăm le chiếm lấy Champa bằng nhiều cách, kể cả gả công chúa cho vua Champa đổi đất. Ranh giới giữa Champa và Đại Việt bị dịch chuyển dần về phía nam và Champa mất nước. Từng triều đại là mỗi cách lấn chiếm, có thể kể ra các cột mốc đau:

Trước năm 1069 ranh giới là dãy Hoành Sơn, là ranh giới Quảng Bình - Hà Tĩnh ngày nay. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông của Đại Việt đánh bại vua Chăm - Chế Củ. Thế là Đại Việt mở rộng lãnh thổ đến Quảng Trị. Đường ranh giới được dời về sông Thạch Hãn.

Năm 1306 vua Trần gả Huyền Trân Công chúa cho vua Chăm Chế Mân, đổi lại vua Chăm giao cho Đại Việt vùng đất từ phía nam sông Thạch Hãn đến đèo Hải Vân. Thế là biên giới được dời về đây.

Năm 1402 Hồ Quý Ly tấn công Champa và lấy thêm từ đèo Hải Vân đến đèo Bình Đê, ranh giới giữa Bình Định và Quảng Ngãi ngày nay. Lúc này giờ biên giới đã tiến rất gần đến kinh đô Đồ Bàn của vương quốc Champa, thuộc Bình Định ngày nay.

Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đánh chiếm thủ đô Đồ Bàn và mở rộng lãnh thổ đến đèo Cù Mông ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên ngày nay. Thế là đường biên giới lại dời.

Năm 1597 chúa Nguyễn Hoàng cho đánh chiếm phía nam đèo Cù Mông, và đến 1611 chúa Nguyễn đã mở rộng lãnh thổ đến đèo Cả, ranh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày Nay.

Năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Chu đánh vào Champa và mở rộng bờ cõi đại Việt đến hết Khánh Hòa. Và năm 1692 chúa Nguyễn cho Nguyễn Hữu Cảnh lấy đến Bình Thuận. Và kết thúc vương quốc Champa.

Qua lịch sử vương quốc Champa ta thấy gì? Đấy là sự hòa thuận giữa 2 quốc gia láng giềng chỉ là tạm thời. Phía mạnh luôn truyền đời ấp ủ tham vọng xâm lấn bờ cõi phía yếu hơn. Từ có có những cuộc sáp nhập nhỏ làm một phía mở rộng dần và một phía teo dần. Rồi cũng có những cuộc thôn tính lớn dẫn đến khai tử một quốc gia. Đừng để mất nước, nếu mất nước thì mình sẽ như con cá trên thớt, số phận mình do bên thắng cuộc quyết. Với lịch sử đánh nhau hàng ngàn năm, nếu không diệt phía chiến bại thì ngay trong lòng quốc gia chiến thắng sẽ muôn đời bất ổn. Vì thế khi thua trận, không đơn giản là mất chủ quyền, còn những mưu toan của quân chiến thắng mới đáng nói.

Trên thế giới, những quốc gia có lịch sử đánh nhau lâu đời thì chuyện thanh trừng sắc tộc khi thôn tính xong kẻ thù là điều khó tránh khỏi. Trung Hoa - Việt Nam hay Việt Nam - Champa cũng vậy thôi. Cũng là láng giềng đánh nhau hết thế hệ này đến thế hệ khác. Kết quả Champa đã bị khai tử bởi Đại Việt và dân tộc Chăm bị diệt gần hết.

Ngày nay dân số của người Chăm tại Ninh Thuận - Bình Thuận còn chỉ vỏn vẹn 98.000 người. Còn lại họ tản mác khắp thế giới khoảng 300.000 người nữa. Như vậy câu hỏi đặt ra là, đằng sau những lần thất thủ phải mất lãnh thổ thì kèm theo đó là gì? Tại sao dân tộc Chăm từng là một quốc gia trải rộng hết dải đất miền Trung, có lần họ đem quân đánh ra Thăng Long, nhưng sao nay họ biến đâu mất hết vậy? Điều đó chứng tỏ sau những trận chiến lấy bờ cõi, phải có những cuộc thanh trừng sắc tộc dai dẳng và kéo dài mới diệt gần hết một nòi giống một dân tộc như thế. Những cuộc thanh trừng này lịch sử đã không ghi lại nhưng chắc chắn nó có xảy ra. Đấy là cái khủng khiếp của kẻ thua cuộc phải gánh lấy.

Nhìn lại lịch sử các nước láng giềng Trung Hoa, thì cũng đã có quốc gia bị Trung Hoa khai tử, và dân tộc của họ đã phải tản mác khắp nơi mà giờ cũng chỉ làm thân phận dân tộc thiểu số. Vương quốc Đại Lý nằm phía Tây Bắc Đại Việt đã bị nhà Nguyên tiêu diệt và họ mất nước từ đó. Bây giờ tộc người Thái phía bắc Việt Nam chính là con cháu dân Đại Lý khi xưa. Họ phải tản mác khắp Đông Năm Á sống như một tộc thiểu số và quên hẳn cội nguồn của họ. Từ một quốc gia rộng lớn gồm tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, một phần lãnh thổ tây bắc Việt Nam, một phần bắc Myanmar, phần bắc Lào nhưng nay là đất của người Hán. Người Thái và người Chăm số phận chẳng khác nhau mấy.

Nay trong suy nghĩ không ít người, đã cho rằng Việt Nam là 1 tỉnh của Trung Hoa sẽ có lợi vì dân Việt Nam sẽ được hưởng những quyền lợi như người Hán. Không đâu, đừng có tin ngây thơ như vậy. Việc các bang trong Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ đứng chung trong một nhà nước liên bang hoàn toàn khác với trường hợp Việt Nam bị thôn tính bởi Trung Hoa, vì sao?

Để giải thích, tôi xin đi vào bản chất của nhà nước liên bang trong một thể chế tự do dân chủ. Trong nhà nước liên bang thì vai trò các bang là đồng làm chủ nhà nước liên bang. Nhà nước liên bang tựa công ty cổ phần, chính quyền bang tựa các cổ đông. Trong cơ cấu tổ chức này, nó luôn đảm bảo sự công bằng giữa các bang. Bất cứ người dân của bang nào cũng đều có quyền ứng cử tổng thống. Và bang nào cũng có 2 thượng nghị sĩ đại diện cho chính quyền bang, bang nào cũng có nhiều dân biểu đại diện cho nhân dân bang đó trong quốc hội liên bang. Chính vì ai là bang thành viên Hợp Chúng Quốc thì được làm chủ một phần chính quyền liên bang nên Porto Rico mới muốn trở thành bang thứ 51 của Hoa Kỳ. Làm một bang của Hoa Kỳ nghĩa là có tiếng nói trong chính quyền liên bang, là một trong các ông chủ của chính quyền liên bang thì ai mà không thích? Như vậy làm một tiểu bang của Mỹ không hề vong quốc, và cũng không hề bị tiêu diệt nòi giống, mà là được đứng chung cùng bang khác để hưởng sự thịnh vượng chung của một Hoa Kỳ giàu mạnh.

Nhà nước độc tài phương đông không bao giờ chịu đứng chung một cách dân chủ với nước khác. Mà đặc biệt, nước lớn bao giờ cũng mặc định mình mới là chủ của nó. Khi chưa chiếm Đại Việt, các hoàng đế Trung Hoa còn mặc định Đại Việt phải sang triều cống. Tức là trong mắt của các hoàng đế Trung Hoa, Đại Việt là thứ mọi rợ cho nên họ gọi ta là tộc man di. Nếu Trung Hoa chiếm Việt Nam thì số phận dân Việt sẽ bị diệt vong như dân tộc Chăm đã từng chịu dưới bàn tay Đại Việt. Cũng tựa như 800 năm trước,Trung Hoa đã thâu tóm Đại Lý. Giờ đây đất nước Đại Lý cũ (tức tỉnh Vân Nam ngày nay) cũng sẽ là nơi người Hán ở, còn người chủ thực sự của Đại Lý hoặc bị tiêu diệt hoặc phải tản mác khắp nơi tránh sự thanh trừng sắc tộc. Đó là bài học lịch sử, thực ra chúng ta mất nước thì nòi giống cũng sẽ bị diệt vong bởi bàn tay Tàu. Ngày nay vị trí chủ tịch Trung Quốc ngang bằng với hoàng đế Trung Hoa trước đây. Vì vậy nếu Việt Nam bị Tàu thôn tính, Việt Nam sẽ bị diệt vong. Nếu con người nhận thức sai lầm về mối nguy thì sẽ mất mạng, nếu dân tộc nhận thức không đúng mối nguy thì dân tộc đó sẽ bị diệt vong.

Ngày xưa Champa nhượng đất cho Đại Việt nhiều lần và cuối cùng bị diệt vong. Ngày nay CS cũng đang nhượng đất cho Trung Cộng và co cụm dần. Thấy 2 hình ảnh hao hao. Dân Việt không thể lùi mãi trước Tàu. Vì vậy không kéo đổ CS thì đất nước sẽ cứ trượt thẳng về con đường vong quốc và khi vong quốc thì dân tộc sẽ trượt tiếp về điểm diệt vong. Chống Tàu là phản xạ đã giúp dân tộc này vẫn còn tồn tại trước răng nanh Trung Hoa, nếu buông xuôi để thân Tàu thì kể như số phận của dân tộc dân tộc có nguy cơ bị diệt vong

12 July 2018

Đừng tìm kiếm "quang vinh muôn năm" bằng con đường bán nước!

Đỗ Ngà

CÓ BÁN NƯỚC THÌ ĐCSVN CŨNG CHẢ MUÔN NĂM. NÊN ĐỪNG TÌM KIẾM "QUANG VINH MUÔN NĂM" BẰNG CON ĐƯỜNG BÁN NƯỚC

Trong cuộc chiến, nếu bên nào bị ngủm gần hết thì kẻ còn lại bên đó sẽ xảy ra hiện tượng hoang mang. Khi xảy ra hiện tượng hoang mang thì phần lý trí bị mất hoàn toàn, và kẻ sắp bị tiêu diệt bắn giết loạn xạ hòng tìm kiếm con đường sống cho mình. Khi trốn thoát được, kẻ trốn sẽ hoang mang tột độ và tìm cách thay đổi để tồn tại.

Khối XHCN từng ngang ngửa với khối tự do trong Chiến Tranh Lạnh. Thế rồi đến đầu thập niên 90 của thế kỷ trước thằng đầu xỏ và đám đàn em XHCN ngủm sạch trơn. Còn lại 4 thằng nằm trong xó xỉnh cách xa thế giới văn minh nên còn tồn tại đến hôm nay. Giờ đây, khối XHCN khi xưa như là một đám tàn quân, nay chúng phải đổi màu để tồn tại. Như những tên tội đồ bại trận đang trốn, mỗi lần nghe đến những gì liên quan đến kẻ chiến thắng thì hoang mang lo sợ. Khi có ai nói đến tự do, dân chủ, nhân quyền thì CS căm thù và tìm cách hãm hại. Vì lo sợ nên làm điều dại dột, cả đám lãnh đạo CS đã đem vận mệnh đất nước sang Thành Đô trao cho Tàu để mua lấy sự bảo kê cho ĐCSVN.

Đứng về mặt lợi ích dân tộc, cái gọi là XHCN cần phải được vứt đi để cho đất nước có con đường phát triển. Nhưng vứt XHCN thì miếng ăn của ĐCS mất nên bọn họ dù có hy sinh giang sơn vẫn bảo vệ chế độ. Xem giang sơn nhẹ, xem miếng ăn trọng mà CS đã quyết định đối đầu với dân. Kể từ đây, mâu thuẫn giữa ĐCS và dân chỉ có tăng chứ không giảm. Cho nên, với ĐCS họ đang xem dân là kẻ thù, còn kẻ thù truyền kiếp được họ xem là "bạn vàng", là chỗ dựa để tồn tại chế độ.

Thực trạng bây giờ đã đi quá xa. ĐCS với 800 tờ báo, mỗi tờ báo có từ vài trăm đến vài ngàn bồi bút sẵn sàng nịnh nọt bảo vệ chế độ. Thế nhưng với lực lượng hùng hậu thế, họ đã bị thua ngay trên mặt trận truyền thông. Với vài chục cây bút trên Facebook đã làm cho người dân yêu sự thật và chân lý tìm đến ngày một đông. Còn lại những kẻ dốt nát là còn tin cái gọi là "báo chí chính thống" của ĐCS. Với lực lượng hùng hậu như thế, nhưng Ban Tuyên Giáo đã bất lực trong cuộc bút chiến.

Vậy thì Ban Tuyên Giáo của ĐCS đã đối phó bằng cách nào? Họ đã dùng sức mạnh nhà nước cấm, chặn và phá. Họ đạp đổ Hiến pháp cấm tự do ngôn luận. Như thế chưa đủ, họ dùng lực lượng DLV đông vô số, và Lực Lượng 47 của Bộ Công An đông đến 10 ngàn quân để làm một điều bẩn thỉu, đó là đánh dưới thắt lưng những ngòi bút tự do. Họ xúm lại lập nick giả rồi report nick chính chủ để Facebook khóa trang Facebook chính chủ. Trang Đỗ Ngà trước đây là một nạn nhân. Đỗ Ngà chỉ có 1 mình, hàng vạn tên xúm lại đánh dưới thắt lưng để làm sập trang chính của Đỗ Ngà. Hèn hạ, bẩn thỉu, và khốn nạn là những từ chưa đủ cường độ để mô tả về hành động của chính quyền này.

ĐCS họ đã không còn con đường để đồng hành cùng nhân dân nữa. Về cái XHCN đã lộ rõ tất cả chỉ là ảo tưởng mục đích và lạc hậu trong cách tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Nhân dân đã nhận ra điều này, như kẻ trộm bị điểm mặt, nên ĐCS rất sợ dân. Chính vì thế nên ĐCS không thể sát cánh cùng dân để đồng hành cùng quyền lợi dân tộc, cùng quyền lợi đất nước. Họ chọn thế mạnh mà họ đang có để đối đầu với dân, đó là nòng súng, nhà tù, luật rừng, trò bẩn ném đá giấu tay, thủ đoạn vv... để đối đầu với nhân dân mình.

Tại Sài Gòn, cứ mỗi chủ nhật, thử dạo một vòng thành phố thì sẽ thấy, công an, dân phòng, và rào thép gai dựng sẵn để sẵn sàng tác chiến với nhân dân mình, kẻ mà ĐCS đang xem là kẻ thù đang đê doạ chế độ. Như những kẻ độc tài CS cuối cùng còn sót lại, ĐCSVN đang ngửi thấy ngày tàn đến gần nên nó đã bám vào thứ duy nhất nó có, đó là súng ống và tội ác. Để chi? Để tìm kiếm sự sống cho Đảng bằng bạo tàn. Nhưng trong lịch sử thế giới, không có một triều đại bạo tàn nào không chóng tàn cả. CS cũng không ngoại lệ, dù bán nước thì hâụ việc bán buôn, CSVN cũng chả còn độc chiếm quyền lực trên sứ sở này nữa đâu. Bán nước là cách làm nguy hiểm cho đất nước nhưng cũng không bảo đảm quyền lực cho Đảng được bền lâu đâu mà hoang tưởng "quang vinh muôn năm".

Đỗ Ngà
Theo FB Đỗ Ngà
(Via DL)

09 July 2018

Kịch bản cuộc chiến thương mại Mỹ - Tầu

Mỹ nã phát súng đầu tiên trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Kịch bản chiến trường có thể được hình dung như sau:

1. Mỹ nã đạn nặng 34 tỷ USD, Trung Quốc đáp lại 34 tỷ USD;

2. Mỹ nạp tiếp đạn nặng 24 tỷ USD, Trung Quốc đáp lại 24 tỷ USD.

Kết thúc trận mở màn, hai bên tạm "hưu chiến", Mỹ khui Champagne ăn mừng chiến thắng, Trung Quốc cũng mở Mao Đài lấy sức. Xã hội Mỹ vẫn bình thường như mọi ngày bình thường, Đại lục cuốn cuồng, hoảng loạn vì chứng khoán sập sàn, bong bóng bất động sản nổ dây chuyền, nợ công và nợ doanh nghiệp "trăm hoa đua nở”.

Mỹ tiếp tục nã loạt đạn 40 tỷ USD, nâng tổng trọng lượng ba lần bắn phá lên 100 tỷ USD, phía Trung Quốc cũng gồng mình chống trả để "lấy uy" trước năm châu.

Mỹ tiếp tục nạp đạn nặng 100 tỷ USD bắn về phía Trung Quốc, nâng tổng số lượng các loạt đạn đã bắn lên 200 tỷ USD. Phía Trung Quốc bắt đầu loạng choạng vì lượng hàng hóa mà Trung Quốc nhập khẩu từ Mỹ năm 2017 chỉ đạt 170 tỷ USD, trong khi đó Trung Quốc xuất sang Mỹ tới 480 tỷ USD. Điều này cho thấy phía Trung Quốc đã hết đạn để bắn trong khi Mỹ còn tới: 480 tỷ USD - 170 tỷ USD - 200 tỷ USD đã bắn = $110 tỷ USD.

Để chống trả lại cơ số đạn của Mỹ chưa bắn nặng tới 310 tỷ USD. Hoặc Trung Quốc kéo cờ trắng đầu hàng, hoặc sẽ liều lĩnh chui theo cửa thoát hiểm để thoát thân đó là sử dụng của "để dành" được tích cóp sau nhiều năm làm ăn gian dối, đó là "trái phiếu kho bạc Mỹ" mà Trung Quốc đang nắm giữ với giá trị gần 1170 USD.

Nếu như vào những năm trước đây, sức khỏe của nền kinh tế Mỹ không được tốt, tỷ lệ thất nghiệp cao thì vũ khí "bán tháo trái phiếu Mỹ" sẽ làm cho Mỹ và cả Trung Quốc rơi vào cảnh "lưỡng bại câu thương". Thời điểm này kinh tế Mỹ cực kỳ vững vàng cùng đà tăng trưởng tốt, công ăn việc làm của công dân Mỹ được xem như cao nhất trong vòng 20 năm trở lại. Đặc biệt, với ban cố vấn là những bậc thầy về kinh tế, Trump đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho kịch bản "bán tháo cổ phiếu Mỹ" mà Trung Quốc bị ép vào đường cùng sẽ liều chết tung ra.

Trước khi phát pháo công thành, Trump đã làm cho giới đầu tư cổ phiếu ở thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng như Việt Nam "rời sàn" tìm nơi trú ẩn an toàn. Nơi trú ẩn an toàn trong lúc này chính là cổ phiếu kho bạc Mỹ, bởi các đối tác của Mỹ là EU, Nhật, Hàn cũng bị Trump buộc "cân bằng thương mại" với mục tiêu "bao vây đánh Trung" thì trái phiếu của họ cũng kém hấp dẫn hơn so với trái phiếu Mỹ. Đây là lý do tại sao giới đầu tư cổ phiếu thế giới ồ ạt tháo chạy khỏi sàn chứng khoán của Trung Quốc và Việt Nam, dẫn đến sập sàn. Bởi họ sẽ rút tiền ra khỏi Trung Quốc và Việt Nam vừa để bảo toàn vốn, vừa để sẵn sàng mua ngay trái phiếu kho bạc Mỹ do Trung Quốc túng quẫn bán ra.

Khi trái phiếu Mỹ vẫn không giảm giá, thì giá trị đồng USD cũng không giảm giá vì lãi suất trên đồng USD không giảm. Khi ấy, Mỹ không thiệt hại gì, Trung Quốc cũng không thiệt hại nhiều khi bán tháo trái phiếu Mỹ mà họ đang nắm giữ, nhưng cái thiệt lớn nhất cho Trung Quốc lúc này là "mất hết sự lợi hại truyền thống" đó là nước nắm giữ nhiều nhất trái phiếu kho bạc Mỹ, một lợi thế mà các đời tổng thống trước đã phải lo sợ hơn cả vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn. Giờ đây, vũ khí trái phiếu Mỹ đã không còn trong tay Trung Quốc vì nó được dân Mỹ mua lại và các nhà đầu tư của các nước không phải là Trung Quốc mua lại.

Mất đi ngôi vị nước nắm nhiều trái phiếu kho bạc Mỹ, Trung Quốc sẽ mềm nhũng ra như con Chi Chi, chỉ cần Mỹ xô nhẹ thêm một cái nữa đó là đủ để Trung Quốc chạy đua mua sắm vũ khí để hù dọa các nước thấp cổ, bé họng.

Trung Quốc hết tiền, các đối tác là các nước nghèo đói, tham nhũng cũng sẽ bỏ mà đi vì những dự án do Trung Quốc đầu tư dở dang sẽ chết non ở tuổi vị thành niên vì chủ đầu tư Trung Quốc hết tiền. Mỹ, EU và các đồng minh khác của Mỹ sẽ thay Trung Quốc tiếp quản và hoàn thiện, khai thác để bù đắp vào thiệt hại do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung gây ra.

Hổ báo, lưu manh không sợ dao găm, mã tấu mà chữ sợ hai chữ "đầu tiên", không có tiền có ghiền cũng chịu. Trump dùng vũ khí thương mại để hạ gục hổ giấy Trung Quốc là cách "lưỡng toàn kỳ mỹ" để khẳng định "nước Mỹ là trên hết".

Một lần nữa, khái niệm "kinh tế - chính trị" là "một cặp phạm trù" và "kinh tế quyết định chính trị" lại đúng khi nước Mỹ chọn tỷ phú già rơ lên làm tổng thống trong thời khắc Trung Quốc thổi bùng tư tưởng bá quyền qua khái niệm "made in China 2025" cùng với cuồng vọng "vành đai - con đường" với tham vọng "giấc mơ Trung Hoa" khi Tập cuồng ngôn tuyên bố "Trung Quốc sẽ là cường quốc kinh tế, quân sự vào năm 2050”.

(Nguồn: FB Cu Sin via Blog Dan Luan)

World Cup: Lịch trình 2 trận Bán Kết


Thế Mà Tao Cứ Tưởng, cười tí tỉnh

THẾ MÀ TAO CỨ TƯỞNG ..

Hai cha con cùng đi dự thi
"Cuộc thi tìm hiểu về Phụ nữ".
Kết quả:
người con đậu,
người cha rớt.
Thế là người cha bực mình hỏi con:
- Tao lớn hơn mày mấy chục tuổi, lẽ nào lại không hiểu phụ nữ bằng mày hả? Mày hãy nói tao nghe mày đã trả lời các câu hỏi thi như thế nào.
Người con từ tốn lặp lại từng câu hỏi của cuộc thi và câu trả lời của cậu ta :

1. Tóc của người phụ nữ ở đâu quăn nhất?
Con trả lời ở Châu Phi
Người cha la lên:
- THẾ MÀ TAO CỨ TƯỞNG.

2. Cơ quan nào của người phụ nữ mạnh nhất?
Con trả lời : Hội Phụ NữThế Giới.
Nguời cha lại la lên:
- THẾ MÀ TAO CỨ TƯỞNG.

3. Cái gì của người đàn ông mà người phụ nữ cần nhất.
Con trả lời: Túi tiền.
Người cha thở dài:
- THẾ MÀ TAO CỨ TƯỞNG ..