Showing posts with label TrọngĐạt. Show all posts
Showing posts with label TrọngĐạt. Show all posts

08 June 2023

Những Phong Tục Kỳ Dị Của Á Đông Qua Phim Ảnh

Trọng Đạt
 Tôi xin đề cập bốn phim tiêu biểu diễn tả những phong tục kỳ quái, có phần tàn nhẫn, độc ác của vài nước Á đông cách đây trên dưới một thế kỷ. Những phim này đã đạt trình độ nghệ thuật quốc tế, quay trong thập niên 80 hoặc 90, được phát giải thưởng hoặc có nhiều người nồng nhiệt đón nhận.

    Người Đàn Bà Đẻ Thuê
    The Surrogate woman
  
Đạo diễn Im Kwon-taek.
Các tài tử chính: Kang Soo-yeon, Lee Gu-sun, Yun Yang-ha
Dài 100 phút (khoảng một giờ rưỡi)

Phim Nam Hàn quay năm 1987, đã đoạt nhiều giải thưởng tại Đại hội điện ảnh Á châu 1987 gồm Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Tài tử  chính, phụ xuất sắc nhất.  Nữ tài tử chính Kang Soo-yeon đã được hoan nghênh nồng nhiệt trong vai người đàn bà đẻ thuê, cô đã được giải Nữ tài tử xuất sắc nhất tại Đại hội điện ảnh Venice, Ý năm 1987.

Truyện phim

“Khung cảnh thế kỷ thứ 19, Shin một anh hào phú, vợ không sinh được con trai nối dõi, chị đồng ý cho chồng tìm một người đàn bà đẻ thuê để có con trai. Ông thân sinh chàng vào làng nhờ người mai mối, họ tổ chức cho xem mặt, sau chàng ưng một cô gái nghèo mới 17 tuổi tên Ok-nyo, nhà chỉ có hai mẹ con. Bà mẹ trước đây cũng từng là người đẻ thuê đồng ý và khuyên cô nhận lời vì họ trả nhiều tiền. Khi chuyển cô bé về nhà Shin, cô bị bịt mắt đưa lên chiếc kiệu có bốn người khiêng mục đích giữ bí mật không cho biết đường.

Về nhà Shin, cô bé Ok-nyo phải tuân thủ kỷ luật, ban ngày phải ở trong nhà, ban đêm người ta sắp xếp cho cô và ông chủ Shin ăn ở với nhau mục đích cho cô mang bầu. Ok-nyo và ông chủ Shin lại lén lút tư tình với nhau, bị bắt gặp, cô bé bị đánh đập tàn nhẫn. Bà mẹ cô cũng được đưa tới ở chung để phụ giúp. Bà kể cho con gái nghe hồi xưa chính mình đã đẻ thuê cho một nhà giầu, sau khi sinh đứa con trai, bà được trả tiền, phải ra đi. Mấy năm sau nhớ con lén lại gặp thằng bé bị chù nhà bắt gặp, bị họ trói lại hành hạ dã man, họ muốn người mẹ phải vĩnh viễn ra đi không được liên hệ với đứa bé như đã giao kết. Lần thứ hai bà ta đẻ thuê cho một nhà khác, lần này bà sinh con gái họ không nhận, bà đem về nuôi, đó chính là Ok-nyo.Với kinh nghiệm nghề nghiệp, người mẹ khuyên con nên nhìn vào thực tế đừng mơ tưởng hão.

Thời gian trôi qua, cô bé có bầu, gia đình chàng Shin mừng rỡ, rồi tới ngày sinh, Ok-nyo đau đớn, quằn quại lúc sinh con, một đứa bé trai ra đời, người ta lấy khăn quấn kín thằng bé rồi mang đi ngay. Chủ nhà đem giấy tờ chủ quyền thửa ruộng giao cho mẹ con cô coi như thù lao và họ sẽ ra đi nay mai. Ok-nyo khi tỉnh lại nói muốn được gặp đưa bé do chính mình đẻ ra nhưng mẹ cô bảo không thể được, bà khuyên con hãy nhìn thực tế, đây chỉ là chuyện tiền trao cháo múc. Sau khi trả công xong xuôi họ tống cổ bà mẹ và Ok-nyo đi ngay. Cha của Shin bảo con trai “Hãy nhìn cô bé lần cuối”

Một năm sau quá phẫn uất với tục lệ bất nhân của thời phong kiến, cô Ok-nyo treo cổ tại làng mà cô đã sinh đứa trẻ”.

Cuốn phim làm sống lại một thời kỳ phong kiến tàn ác xa xưa tại Cao Ly (Triều Tiên), xã hội còn quá nhiều tập tục hủ lậu và sự áp bức bất công dã man của giới địa chủ với nhà nghèo. Con người đã biến thành một công cụ, không còn nhân phẩm, nạn nhân của những tập tục dã man lạc hậu. Nữ tài tử Kang Soo-yeon diễn tả một cách tuyệt diệu sự đau đớn cùng cực của người con gái sinh con, nó cho thấy sự dã man của tập tục chia lìa tình mẫu tử của người đàn bà đã mang nặng đẻ đau.

29 May 2023

Sự tích Kinh Kha Sang Tần Trong Phim Ảnh

Trọng Đạt

 
       Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
       Dù sai hay trúng cũng là dư
       Kià uy dũng kẻ sang Tần không trở lại
       Đã trùm lấn Yêu Ly, hề át Chuyên Chư
       Ôi Kinh Kha
       Hào khí người còn sang sảng
       Nước sông Dịch còn trôi hay đã cạn
       Chí anh hùng vằng vặc sáng thiên thu! . . .

           Vũ  Hoàng Chương

Tại các nước chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản đây là một sự tích rất phổ thông được nhiều người  biết đến. Kinh Kha sang Tần đã được nhiều người say mê, yêu thích nhất trong số các tuồng tích cổ Trung Hoa.

Giai thọai này có thật đã được ghi trong sử sách tự hơn hai ngàn năm qua, trước hết đó là lịch sử sau được các văn nhân đem viết thành dã sử như trong Đông Chu Liệt Quốc. Dã sử là tiểu thuyết, văn chương mà người ta thêm nhiều chi tiết sống động biến nó thành truyện linh hoạt lôi cuốn. Sự tích Kinh Kha trong Sử Ký của Tư Mã Thiên chỉ được ghi chép văn tắt chừng mươi trang ở mục Thích Khách Liệt Truyện nhưng khi biến thành dã sử trong Đông Chu Liệt Quốc nó đã được mô tả kỹ lưỡng dài dòng văn tự và trở thành áng văn chương tuyệt tác.

Theo như trong Sử Ký, Kinh Kha thích đọc sách đấu gươm, bản tính thâm trầm, một con người can đảm, anh hùng, có chí khí cao, mưu đồ đại sự. Mặc dù thất bại trong cuộc mưu sát Tần Thủy Hoàng người ta vẫn ca ngợi nghĩa khí, lòng dũng cảm của chàng như một tấm gương cao cả nhất. Một sự tích có thật trong lịch sử đã được bao người say mê vì nó sống thực và tràn đầy nhân bản. Mưu đồ đại sự của tráng sĩ nhằm mục đích lớn lao cứu vớt hàng triệu sinh linh nhằm thay đổi cả một dòng lịch sử. 

Người ta cũng đặt nhiều giai thọai truyền khẩu tô điểm cho sự tích thêm muôn phần diễm lệ. Kinh Kha sang Tần đã trở thành một huyền thọai được truyền tụng sâu rộng trong nhân gian.

Tôi xin sơ lược giai thọai này dựa theo sách Sử Ký của Tư Mã Thiên mục Thích Khách Liệt Truyện:

“Khoảng năm 242 trước Tây lịch.

Kinh Kha người nước Vệ thích đọc sách đấu gươm, Vệ Nguyên Quân không dùng, bèn sang nước Yên. Tính tình chàng thâm trầm, đến đâu cũng kết bạn với người hiền trưởng giả ở đấy. Ẩn sĩ Điền Quang nước Yên biết Kinh Kha không phải là người tầm thường nên rất trọng đãi chàng.

Thái tử Đan nước Yên làm con tin ở Tần  trốn về, lúc nhỏ vua Tần chơi thân với Đan, khi lên làm vua đối đãi với Đan không tốt nên Đan trốn về, trong lòng thù hận vua Tần. Tần đem binh chiếm các nước Tề Sở, Tam Tấn… y như tầm ăn dâu, sắp  đến lượt nước Yên. Tướng Tần là Phàn Ô Kỳ phạm tội với vua chạy trốn sang Yên. Thái tử Đan dung nạp cho ở. Thái tử cho mời Điền Quang đến bàn việc nước, Điền Quang tiến cử Kinh Kha, Thái tử nhờ Điền Quang tìm gặp Kinh Kha và dặn Điền đừng tiết lộ với ai. Điền Quang gặp Kinh Kha tỏ ý nhờ chàng giúp Thái Tử rồi đâm cổ tự vẫn để Thái tử yên chí Điền không tiết lộ với ai và cũng để khuyến khích Kinh Kha làm chuyện lớn.

Gặp Kinh Kha Thái tử cúi lạy rồi nói.  

      -Nay Tần tham lam hung ác chiếm Hàn, đánh Sở, Triệu rồi sẽ đánh Yên. Nếu có kẻ dũng sĩ sang Tần dùng lợi to nhử nó, nếu có thể uy hiếp nó để bắt nó trả lại đất cho các chư hầu nếu không được thì đâm chết nó. Thái tử khẩn khoản cúi đầu xin Kinh Kha giúp cho, Kinh Kha nhận lời. Thái tử Đan khi ấy tôn Kinh Kha lên hàng thượng khách dâng của ngon vật lạ, ngựa xe, gái đẹp để làm vừa lòng hiệp sĩ.

Kinh Kha tìm gặp Phàn Ô Kỳ xin cái đầu của Phàn để dâng vua Tần hầu làm vua Tần tin chàng. Phàn ô Kỳ nhận lời đâm cổ tự vẫn. Thái tử bỏ đầu của Phàn vào hòm niêm phong lại rồi mua một con chủy (dao găm) sắc bén mất một trăm lạng vàng, con chủy có tẩm thuốc độc hễ chạm vào da thịt người là chết ngay.

Kinh Kha lên đường tại bờ sông Dịch thủy, Thái tử và tân khách mặc áo tang trắng tiễn hành, Cao Tiệm Ly thổi sáo, Kinh Kha cất giọng ca:  

      ‘Gió thổi hiu hiu, Dịch thủy lạnh lùng.
      Tráng sĩ ra đi chẳng hẹn ngày về.

Sang Tần Kinh Kha đem vàng bạc đút lót một viên quan thân cận của Tần thủy Hoàng xin được yết kiến nhà vua để dâng thủ cấp Phàn ô Kỳ và bản đồ nước Yên. Vua Tần cả mừng tiếp sứ giả nước Yên tại cung Hàm Dương. Kinh Kha bưng hòm đầu lâu, dũng sĩ Tần Vũ Dương bưng bản đồ sợ quá tái mặt, Kha xin lỗi Vua Tần, nhà vua sai Kinh Kha cầm bản đồ lên bệ rồng, vua Tần mở hết địa đồ  thì con dao chủy  lòi ra. Kinh Kha bèn đưa tay trái nắm tay áo Tần Thủy Hoàng, tay phải cầm con chủy chĩa vào người vua khiến ông ta khiếp đảm vùng chạy, Kinh kha đuổi theo vua Tần chạy quanh các cột trụ. Tần Thủy Hoàng tuốt kiếm mãi không được, các quan không ai được mang gươm đao nên không làm gì được, lính gác ở phía dưới không có chiếu chỉ gọi không được lên.

Sau vua Tần tuốt được gươm chém đứt chân Kinh Kha, chàng cầm con chủy phóng vua Tần không trúng nhưng trúng cột đồng tóe lửa, Tần Thủy Hoàng chém Kinh Kha tám nhát, Kinh Kha chưa chết tựa vào cột cười rằng:

      -Việc không thành chỉ vì ta muốn uy hiếp nó lấy giấy cam kết về đưa cho Thái tử…

Rồi tả hữu tiến lên giết Kinh Kha”

Tự hai ngàn năm qua Kinh Kha sang Tần cũng đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho giới văn thơ, các nhà làm phim, soạn tuồng kịch… vì ý nghĩa của nó cao đẹp tuyệt vời,  

Năm 1961 thi sĩ Vũ Hoàng Chương viết vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần.

Thời kỳ chiến tranh Triều Tiên, đầu thập niên 50 người Trung Hoa soạn vở kịch Bài Ca Sông Dịch (Song of the Yi river).

Sự tích phổ thông này đã được đưa lên màn bạc  nhiều lần , thập niên 1960 tôi đã được xem Vạn Lý Trường Thành, một cuốn phim mầu của Nhật, màn ảnh đại vĩ tuyến. Nội dung kể lại truyện Kinh Kha sang Tần, cũng Phàn ô Kỳ đâm cổ tự vẫn, con chủy, bức bản đồ, cảnh ám sát hụt Tần Thủy Hoàng…  Phim hay, công phu vĩ đại nhưng trang phục và diễn xuất có vẻ Nhật hơn là Tầu, những cảnh đấu gươm giống với võ sĩ đạo hơn là kiếm khách Trung Hoa…Cuốn phim không nổi tiếng lắm.

Năm 1979, nhà đạo diễn Hồng Kông  John Woo thực hiện phim The Last Hurrah For Chivalry, Hoan Hô Hiệp Sĩ Lần Cuối Cùng với các tài tử Damian Lau, Wei Pai. Nội dung phỏng theo sự tích Kinh Kha (Jing Ke).

Năm 1996 đạo diễn Trung Quốc, Xiaomen Zhou thực hiện Emperor’s Shadow với các  tài tử Jiang Wen, Ge You một cuốn phim rất tốn kém, vĩ đại nói về Cao Tiệm Ly (Gao Jianli, người bạn Kinh Kha) và vua Tần, cũng  ám chỉ sự tích Kinh Kha.

Năm 1998 Nhà đạo diễn nổi tiếng quốc tế Trần Khải Ca (Chen Kaige)  đưa sự tích Kinh Kha Sang Tần lên màn bạc: The Emperor and The Assassin, Vị Hoàng Đế và Kẻ Thích Khách, một cuốn phim vĩ đại giá trị.  

Năm 2000 Đạo diễn Mỹ Douglas Aarniokoski hoàn thành bộ phim nhiều tập Highlander: Endgame film serie dành cho truyền hình, phỏng theo sự tích Kinh Kha với các tài tử Adrian Paul, Christopher Lambert.

Năm 2002 đạo diễn Trương Nghệ Mưu hoàn thành cuốn phim vĩ đại The Hero cũng ám chỉ sự tích Kinh Kha thích khách vua Tần.

Năm 2004, đạo diễn Hoa lục Raymond Lee thực hiện The Assassinator Jing Ke, Kinh Kha Thích Khách, bộ phim nhiều tập dành cho truyền hình (32 tập, mỗi tập 45 phút), các tài tử Liu Ye (vai Kinh Kha)  Peter Ho (vai Cao Tiệm Ly)..

Trong phạm vi bài này tôi chỉ đề cập cuốn phim nổi bật nhất The Emperor and The Assassin, Vị Hoàng Đế và Kẻ Thích Khách quay 1998 của Trần khải Ca, cũng gọi là The First Emperor, Vị Hoàng Đế Đầu Tiên.. Đây là cuốn phim tốn kém nhất của Hoa Lục thời đó: 20 triệu Mỹ Kim, có thể coi là vĩ đại nhất Á châu từ xưa cho tới thập niên 90 với những thành quách đồ sộ, cao ngất, mênh mông bát ngát, những tam cung lục điện nguy nga tráng lệ, những mặt trận trải dài như vô tận, cuốn phim đã làm sống lại một thời huy hoàng của nền văn minh cổ Trung Hoa. Nếu nói về tầm vóc The Emperor and The Assassin cũng tương đương ngang ngửa với phim Ben Hur, Spartacus của Hollywood, nói chung vĩ đại hơn những phim Á châu thập niên 60, 70 của hãng Run Run Shaw (Thiệu Thị) hoặc Shaw Brothers Hồng Kông.

Vị Hoàng Đế và Kẻ Thích Khách khá nổi tiếng được dư luận phê bình Tây phương tán thưởng (The film was well received critically), được giải thưởng kỹ thuật (Technical prize) tại Đại hội điện ảnh Cannes năm 1999, một giải nhỏ.

Đại Hội Cannes năm 1999 đã phát 9 giải thưởng: thứ nhất giải Nhành dương liễu vàng (Palme d’or) dành cho phim Rosetta, rồi giải ưu hạng, giải nam, nữ  xuất sắc, giải đạo diễn… . .    và cuối cùng giải kỹ thuật.

Phim Rosetta do Pháp Bỉ hợp tác đã đoạt giải nhất (Palme d’or) chỉ là cuốn phim vô danh không ai biết tới, mặc dù được giải thưởng lớn vinh dự nhưng hầu như đã không được giới phê bình nhắc tới. Một cuốn phim ngắn ngủi, nghèo nàn cả về hình thức lẫn nội dung với vài ba nhân vật, truyện phim quá đơn sơ, nhạt nhẽo, vô vị. .. đã làm mất ý nghĩa của giải thưởng, nó cũng cho thấy nghệ thuật thứ bẩy của Âu châu đã tụt dốc nhiều hơn xưa. Nhìn chung giải thưởng của Đại hội quốc tế không được khách quan và công bằng như giải Oscars của Hàn lâm viện Mỹ.

Trần Khải Ca và Trương Nghệ Mưu là hai nhà đạo diễn quốc tế nổi tiếng nhất của Hoa Lục thập niên 90. Họ Trần được Tây phương biết tới và ca ngợi qua cuốn phim nổi tiếng Farewell My Concubine (Hạng Võ Biệt Ngu Cơ) quay năm 1993, được giải Nhành dương liễu vàng tại Đại Hội điện ảnh Cannes cùng năm và giải Golden Globe (Quả cầu vàng) của Mỹ, được hơn 60 bài phê bình điện ảnh Mỹ xếp hạng trong số 10 phim hay nhất trong năm.

Ngoài ra năm 1996 nhà đạo diễn này thực hiện Temptress Noon (Vầng trăng quyến rũ), được vào chung kết giải Nhành dương liễu vàng, đề tài lạ, truyện phim hay, lãng mạn, cảm động, cả ba phim kể trên đều do Củng lợi (Gong li) thủ vai chính. Phim của họ Trần có nhiều nét độc đáo, nghệ thuật cao gần với Tây phương, có khuynh hướng lãng mạn. Họ Trần đã thực hiện được hơn mười phim từ 1984 đến 2010, có chừng bốn phim của ông được chiếu tại Mỹ.

Vị Hoàng Đế và Kẻ Thích Khách dài gần ba tiếng đồng hồ, chia làm năm phần:              

      1-Thái tử Đan

      2-Kinh Kha.

      3-Lao Ái

      4-Triệu phu nhân.

      5-Vị hoàng đế và kẻ thích khách

Phần cuối cũng lấy tên phim là đoạn sôi nổi kinh hoàng nhất, nói chung toàn bộ phim quay sát theo truyện nhưng có nhiều đoạn đã được viết lại và làm khác đi, truyện phim cũng do chính Trần Khải Ca biên soạn. Phần nói về Lao Ái, Lã Bất Vi giống như trong truyện nhưng hơi khó hiểu, nếu chưa đọc truyện hoặc là người ngọai quốc sẽ cảm thấy bối rối vì phức tạp.

Như ta đã biết trong truyện không có vai nữ, nhà đạo diễn đã viết lại một phần rồi thêm vào một nhân vật nữ, tạo cho nữ minh tinh Củng Lợi một vai chính trong phim để thu hút nhiều khán giả. Củng Lợi, nhan sắc tuyệt trần, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế là nữ tài tử nổi tiếng và ăn khách nhất của Hoa Lục thập niên 90. Nàng thủ vai Triệu phu nhân (Lady Zhao) bạn của Thái tử Đan và của Tần Thủy Hoàng từ nhỏ, sau này lớn lên là người yêu của Tần Thủy Hoàng. Triệu phu nhân cùng Thái tử Đan trốn về nước yên và phu nhân đã khám phá ra Kinh Kha để tiến cử chàng với Thái Tử. Cảnh cuối phim, Triệu phu nhân xin Tần Thủy Hoàng cho đem xác Kinh Kha về chôn cất tại nước Yên.

Đưa Củng Lợi vào phim đã tạo lên không khí tươi mát, một chút lãng mạn Tây phương qua hình ảnh một giai nhân tuyệt sắc, quí phái nhưng nó cũng tạo thêm khuyết điểm vì những truyện cổ đã được viết có nghệ thuật cao khi sửa sẽ lại làm hỏng, làm mất cái hay của tác phẩm rất nhiều. Thí dụ như trong truyện Notre Dame De Paris của văn hào Victor Hugo, đoạn kết bi thảm và tuyệt diệu: người ta thấy dưới hầm bộ xương anh gù và người đẹp Esmeralda ôm nhau. Năm 1939 nhà đạo diễn William Dieterie đã sửa lại như:  Esmeralda được nhà vua tha bổng rồi lấy anh thi sĩ triết gia trước bộ mặt đau khổ của anh gù, có thể nói ông đã phá hỏng một tác phẩm văn chương bất hủ.

Điều đáng tiếc hơn là họ Trần lại sửa hẳn những chi tiết liên hệ tới tráng sĩ Kinh Kha, theo sách Sử Ký như đã nói trên chàng ta là người thâm trầm, thích đọc sách, đấu gươm, mưu đồ đại sự không phải phường lục lục thường tài. Để tăng phần hấp dẫn, họ Trần đã đưa vào nhiều cảnh chém giết tàn bạo, tưởng là thu hút được khán giả nhưng thật ra thất bại vì nay người ta không thích những cảnh tàn bạo gớm ghiếc. Một sai lầm tai hại nữa là Kinh Kha được biến thành kẻ giết mướn có lần giết nguyên cả một gia đình, lớn bé, già trẻ giết sạch. Từ một người thâm trầm, có trình độ văn hóa đã biến thành tên đâm thuê chém mướn, hình ảnh cao đẹp của Kinh Kha đã bị bóp méo làm cho khán giả am tường sự tích thất vọng.

Cảnh tiễn đưa tráng sĩ tại bờ sông Dịch thủy đã được truyền tụng tô điểm vô cùng diễm lệ nhưng trong phim chỉ được dàn dựng ngắn ngủi đơn sơ làm mất hay nhiều và cũng làm người xem không thỏa mãn vì nó không giống như trong trí tưởng tượng của họ.

Mặc dù có một số khuyết điểm như trên nhưng Vị Hoàng Đế và Kẻ Thích Khách  đã kéo lại được nhờ phần kết thúc quá hay qua tài dàn cảnh vô cùng điêu luyện của họ Trần cũng như diễn xuất tuyệt vời của các vai chính. Cảnh rượt đuổi, đâm chém nhau quanh cột đồng trên bệ rồng thật là kinh hoàng sôi nổi, nhà đạo diễn có sửa đổi đôi chút song đa phần theo y như chính truyện.

Ta có cảm tưởng như Trần Khải Ca đã ra sức trổ hết tài nghệ của mình trong tác phẩm mà ông kỳ vọng nhất. Giá trị của cuốn phim phần lớn nhờ đoạn thứ tư mang cùng tên The Emperor and The Assassin.

Nhà đạo diễn có phạm một số sai lầm như đã nói trên nhưng Vị Hoàng Đế và Kẻ Thích Khách vẫn là cuốn phim dã sử giá trị nhất, vĩ đại nhất của điện ảnh Á Châu từ xưa đến nay. Một sự tích quá hay, cao đẹp tuyệt vời được lồng trong một cuốn phim vĩ đại vô cùng tốn kém do nhà đạo diễn nổi tiếng quốc tế rất lành nghề thực hiện, nó hội đủ các yếu tố để trở thành siêu phẩm giá trị nhưng trên thực tế không thành công gì nhiều cho lắm.

Phim không được phát giải thưởng lớn, vinh dự tại các  Đại hội điện ảnh mặc dù đã được Tây phương đón nhận, nhưng nó cũng không được khán giả Á đông và người mình chú ý nhiều.

Có lẽ nhà đạo diễn Trần Khải Ca chưa gặp thời.

Trọng Đạt

02 April 2022

Năm 1933 Staline Tàn Sát 7 Triệu Người Ukraine

Trọng Đạt

Mùa đông năm 1932-33, Ukraine, quốc gia nhỏ bé phía tây nước Nga đã trải qua một nạn đói khủng khiếp khiến cho bẩy triệu người chết thê thảm,  đây là cuộc đại tàn sát lớn nhất trong lịch sử nhân loại do Staline ra tay trừng trị nước chư hầu này vì đã dám đòi độc lập và chống lại Sô viết. Mặc dù con số người bị giết khổng lồ như thế nhưng trang sử ghê tởm nhất của Sô Viết đã không được nhân loại biết tới trong suốt 70 năm. Người ta khen Staline đã khéo dấu kín tội ác tầy trời này trước mắt cả thế giới, cho tới nay cuộc diệt chủng này cũng ít được biết tới, nó còn được gọi là The forgotten Holocaust, có thể người ta tưởng nó chỉ là chuyện nội bộ của Liên bang Sô Viết.

Dưới thời Lenine.

Ukraine diện tích bằng nước Pháp, một đất nước có nhiều ruộng nương mầu mỡ đã bị Nga hoàng cai trị 200 năm. Năm 1917 Nga Hoàng sụp đổ trước cuộc cách mạng vô sản do Lénine lãnh đạo, Ukraine lợi dụng thời cơ đòi tự trị, tuyên  bố độc lập, thành lập nước Cộng hòa nhân dân, thủ đô Kiev . Thế nhưng nền tự trị này quá ngắn ngủi, cuối 1917 Lénine tuyên bố các lãnh thổ xưa do Nga hoàng cai trị nhất là Ukraine mầu mỡ đều phải nằm trong Liên bang Sô Viết. Trong 4 năm liên tiếp Quân đôi Quốc gia Ukraine phải chiến đấu chống Hồng quân Bolshevik, chống lực lượng Bạch Vệ trung thành với Nga Hoàng và cả quân xâm lược Đức và Ba Lan .
 
Staline và Lenine năm 1919

 Năm 1921 Sô Viết thắng, Tây Ukraine chia cho Ba Lan, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc. Sô Viết vơ vét thóc gạo về cứu đói Moscow và các thành phố lớn bên Nga. Kế đó tự nhiên Ukraine lại bị một trận hạn hán gây nạïn đói khiến người dân căm phẫn Lénine và Sô Viết. Lénine bèn nới tay để xoa dịu nhân dân Ukraine , thôi lấy thóc gạo, khuyến khích tự do buôn bán. Nhân đó người dân Ukraine muốn tự do, độc lập, khôi phục văn hóa nghệ thuật, phong tục cũ.


Cuộc chiến kỳ lạ

Lénine mất năm 1924, Staline kế vị, nhà lãnh đạo này được coi là một trong vài tên đợc tài khát máu nhất của thế kỷ.  Bộ Lenine Tuyển Tập có  ghi  lại một bức thư của Lénine, ông ta đã nhắn nhủ “chúng ta không nên dùng đồng chí Staline, đồng chí Staline là một người thô bạo” 

Staline không chấp nhận phong trào đòi độc lập của Ukraine , ra lệnh đàn áp thẳng tay y như đường lối áp dụng tại Nga. Năm 1929 Staline cho bắt giam 5,000 trí thức, các nhà khoa học gia Ukraine,  kết tội phản loạn đem xử bắn hoặc đầy đi Tây Bá Lợi Á. Đầu thập niên 30, Staline thực hiện kế họach hợp tác xã nông nghiệp để tiến lên làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa trong đó tư sản bị lọai bỏ. Ngày nay đường lối canh tác tập thể này được coi như tồi tệ nhất nhưng hồi đó Sô Viết ép dân theo vì lý thuyết Marx bắt phải như vậy. Giới phú nông Ukraine mà họ gọi là Kulaks chỉ chiếm từ  4% tới 5% dân số, phú nông được định nghĩa có từ 24 hoặc trên 24 mẫu đất và có thuê người làm và được coi thành phần nguy hiểm.
 
Trẻ em đào khoai
trong nông trường tập thể.

Ngày 1-5-1930 Đảng Cộng Sản Nga bắt đầu thực hiện Hợp tác xã nông nghiệp, một phần của Kế họach ngũ niên , nông dân Nga ít chống đối vì họ đã có truyền thống canh tác cộng đồng từ lâu, đất đai thuộc về làng xã  không thuộc về cá nhân như tại Ukraine nên họ dễ thích hợp với Hợp tác xã của Cộng Sản. Ngày 30-7-1930 nhà nước hủy bỏ làng xã. Vùng Ukraine trái lại người dân làm ăn cá thể, 80% dân chúng tại thôn quê có ruộng đất riêng từ xưa nên họ chống đối Hợp tác xã ra mặt, Moscow mới đầu tạm thời  nhượng bộ. Người Ukraine giết gia súc, ngựa, heo, cừu …dần dần trước khi gia nhập hợp tác xã khi ấy nhà nước ra lệnh tử hình ai giết gia súc. Những người chống đối Hợp tác xã bị lưu đầy, chính quyền Sô viết mở tuyên truyền kêu gọi nhân dân Ukraine ủng hộ chính quyền cách mạng nhưng thất bại, mặc dù dọa nạt khủng bố nhưng nông dân Ukraine vẫn chống đối, phá hoại, đốt nhà không đầu hàng, họ lấy lại nông cụ, gia súc mà Hợp tác xã đã chiếm trước đây, ám sát các viên chức Sô Viết.

Trung ương đảng Nga đưa mật vụ quân đội sang đàn áp cuộc nổi dậy nhưng kháng chiến quân Ukraine vẫn tiếp tục chống đối, họ muốn làm ăn cá thể như xưa. Nông dân Ukraine thách đố Staline.

Việc chống gia nhập Hợp tác xã chỉ là một nguyên do, Ukraine còn chống đối về mặt chính trị, họ muốn đòi độc lập, tự do. Staline trước hết cho thanh toán hành quyết hàng nghìn trí thức Ukraine , nhà văn nhà báo, nhà lãnh đạo. Âm mưu đòi độc lập cho Ukraine không phải chỉ ở làng xã mà mà ngay cả ở Trung ương đảng Cộng Sản Ukraine . Sô Viết cho thanh trừng dữ dội, nhiều người tự tử, nhiều nhà văn, đảng viên cũng tự tử.

Cuộc chống đối của Ukraine với Sô Viết y như trứng chọi đá, cuộc chiến giữa người nông dân với cuốc xẻng và Hồng quân, mật vụ Nga vũ trang súng ống tối tân. Làng mạc bị bao vây, tấn công bằng đại bác xe tăng, máy bay ném bom bắn phá khiến một Đại tá công an Nga sô phát khóc nói với một ký giả, ông cho biết mình đã chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân chống Bạch Vệ thời nội chiến bây giờ được lệnh bao vây tấn công những người dân vô tội.

Hatayevich, một đảng viên cao cấp Sô viết cho biết cuộc chiến đấu ác liệt giữa Sô Viết và nông dân Ukraine đang diễn ra, một cuộc chiến sinh tử, năm 1933 là thử thách giữa sức mạnh của Đảng CS Nga và sự chịu đựng của nông dân, họ sẽ nếm mùi đói để xem ai làm chủ nơi đây. Cuộc chiến 1932-33 một cuộc chiến kỳ lạ nhất lịch sử, sau đó Staline thay đổi chiến lược.

Thảm kịch mùa đông 1932-1933.

04 January 2019

Công tố viên Archibald Cox thời Tổng thống Nixon và Công tố viên Mueller thời Tổng thống Trump

Trọng Đạt

Năm ngoái tôi đã đề cập chi tiết vụ Vụ Watergate thời Tổng thống Nixon (1972, 73.. ) trong bài “Chuyện truất phế Tổng thống Hoa Kỳ”. Bài đã được phổ biến trên báo chí, truyền thông nên tôi chỉ nhắc sơ ở đây vì giới hạn của bài viết.

TT Nixon đã đặt máy nghe lén đảng Dân chủ tại khu nhà Watergate từ giữa năm1972. Báo chí phanh phui, Quốc hội Dân chủ, những người thù ghét ông, đối lập, truyền thông...làm ầm ĩ. Vụ tai tiếng xì căng đan ngày càng nổ lớn.

TT R. Nixon  vs  Công tố viên đặc biệt Archibald Cox
Tháng 7-1973  trợ lý Tòa Bạch ốc Alexander Butterfield tuyên thệ trước Quốc Hội rằng TT Nixon có một hệ thống băng (tape) bí mật ghi lại những cuộc nói chuyện và điện thoại của ông tại phòng Bầu dục. Công tố viên đặc biệt về Watergate tên Archibald Cox điều tra và đòi TT phải đưa ra. Nixon cách chức Cox tháng 10-1973 khi cuộc điều tra tiến hành. Ông bị kết án cản trở công lý.

Tỷ lệ ủng hộ Nixon xuống thấp, ngày 9/5/974 Hạ viện mở điều trần luận tội Nixon. Đầu tháng 8 người ta dự đoán nếu bị đàn hặc, tại Thượng Viện ông sẽ chỉ được 15 phiếu chắc chắn sẽ bị truất phế nên ông từ chức ngày 9-8-1974.(1)

Vụ án Watergate là có thật, Nixon có cho nghe lén hoạt động của đối lập, Công tố viên đặc biệt (Special Counsel) Cox điều tra một sự việc có thật, tội trạng của Nixon không thể chối cãi được... có điều là năm 1974 Quốc hội Dân chủ, Truyền thông, phong trào quần chúng đã nặng tay với ông, Nixon là vị Tổng thống có nhiều công trạng lớn với Hoa Kỳ. Điều tra tội trạng của Nixon khác hẳn với cuộc điều tra cái gọi là Nga can thiệp cuộc bầu cử Tổng thống năm 2016 giúp cho Trump thắng cử.     

Cuộc điều tra thời TT Trump năm 2017 bắt đầu từ 17 tháng 5-2017 khi Robert Mueller được Rod Rosenstein Thứ trưởng bộ Tư pháp bổ nhiệm làm Công tố viên đặc biệt để điều tra về nghi vấn Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ (Special Counsel investigation of Russian interference in the 2016 United States elections)

Nguyên do cuộc điều tra khi Giám đốc FBI James Comey bị TT Trump cách chức ngày  9 tháng 5, cay cú và mất mặt ông này khai với báo chí là TT Trump cách chức ông khi đang điều tra nghi vấn Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống 8-11-2016. Sau khi Comey hê lên để chơi lại TT Trump, phía Đối lập áp lực mạnh khiến Bộ Tư pháp được yêu cầu mở cuộc điều tra.

Khác với cuộc điều tra của Công tố viên Cox dưới thời TT Nixon, một cuộc điều tra có thật, người thật việc thật, đúng với danh nghĩa của nó, cuộc điều tra tháng 5 năm 2017 của CTV Mueller chỉ là sự bắt chước cuộc điều tra thời Nixon năm 1973, một sự bắt chước vụng về giả tạo và ngày càng trơ trẽn.

Cuộc điều tra lấy danh nghĩa đem lại công bằng cho cuộc bầu cử Tổng thống ngày 8-11-2016 vì có nghi vấn Nga can thiệp bằng hacker giúp cho ông Trump thắng cử. Tự nó về cơ bản Cuộc điều tra đã vô nghĩa, không thể tự đứng vững được. Cuộc bầu cử Tổng thống này đã được Đại cử tri đoàn (538 vị Đại cử tri) ngày 19-12-2016 xác định ông Trump đắc cử, rồi Quốc hội ban hành.

“Nước Mỹ chọn Trump, người Mỹ muốn thay đổi”. (Bản tin VOA của Trà mi nói)

Nước Mỹ, người Mỹ và cả thế giới đều biết cử tri bầu cho Cộng hòa chứ không bầu cho Dân chủ, cử tri Mỹ đã chọn Trump chứ không chọn Clinton, bà này chẳng có tài cán gì ngoài tham vọng điên cuồng

Năm 2008 người ta quá chán Cộng hòa và bầu cho Dân chủ và bây giờ 2016, người dân lại quá chán Dân chủ và bầu cho Cộng hòa nắm toàn bộ Hành pháp, Thượng viện, Hạ viện và ưu thế Thống đốc các tiểu bang và cứ như thế mãi.. giờ là lúc Con Voi phất cờ khởi nghĩa.

Không có Nga, Tầu nào can thiệp vào đây được .. cuộc điều tra của Mueller đã kéo dài từ tháng 5-2017 tới nay đã được một năm rưỡi đến lúc cần phải chấm dứt không thể cù nhầy kéo cưa lừa xẻ mãi. Mới đầu theo như chủ đích của cuộc điều tra là để tìm ra những bằng chứng cho thấy Nga can thiệp bằng hacker giúp cho ứng cử viên Trump đắc cử. Không tìm ra bằng cứ nào có sự thông đồng giữa Trump và Nga, Mueller bèn quay ra túm cổ truy tố các ông Paul Manafort, cố vấn, giám đốc ủy ban tranh cử của ông Trump và Michael Cohen, Luật sư riêng của Trump về những tội hình sự như trốn thuế, khai gian...  Công tố viên thương lượng với các đương sự nếu chịu khai bí mật của Trump sẽ được khoan hồng.

Khác với các cuộc điều tra của Công tố viên thời TT Nixon 1973, 74 và TT Bill Clinton năm 1998, các ông Công tố viên này chỉ được một số quyền giới hạn, chỉ được điều tra một sự kiện, một vấn đề, ở đây Mueller lấy tư cách gì để điều tra một ông Tổng thống do dân bầu hợp pháp, lấy tư cách gì để truy tố hết người này sang người khác. Cuộc điều tra của Mueller ngày càng lạc đề mang tính phá phách hơn là để tìm ra sự thật như Công tố viên Cox nói trên.

Một sự cay đắng mà Donald Trump phải cắn răng chịu đựng là kẻ gây ra cảnh gian nan cho ông lại là người phe ta, kẻ đâm sau lưng chiến sĩ lại chính là người của ông. Như ta đã biết Bộ trưởng tư pháp Jeff Sessions và thứ trưởng Rod Rosenstein đã đưa ông Mueller vào chức vụ này, khi Trump lưu ý về cuộc điều tra đã quá đà thì Sessions đáp ông không muốn xía vô chuyện này !!

Cố vấn của TT Trump khuyên ông không được cách chức Sessions mà phải đợi sau bầu cử Midterms hãy tính vì ông đã sai lầm lớn khi cách chức Comey giám đốc FBI tháng 5-2017 nên mới có cuộc điều tra này. Sau khi Comey bị cho về vườn, đối lập la làng ông Trump cản trở công lý vì muốn so sánh với TT Nixon năm 1973, như đã nói trên Công tố viên Cox điều tra về cuộn băng ghi âm bí mật của Nixon gần xong thì Nixon cách chức Cox để phi trang. Hành động này của Nixon mới đúng là cản trở công lý.

Cuộc điều tra không phải chỉ bắt đầu từ 17-tháng 5-2017 mà thực ra đã manh nha từ trước đó nửa năm, nghĩa là từ tháng 12-2016.

Phía Dân chủ, những người chống Trump sau ngày bầu cử 8-11 đã chú ý tới ngày bầu của 538 Đại cử tri (đại diện cử tri, elector). Theo như luật định 41 ngày sau cuộc bầu cử (tức ngày 19-12) các Đại cử tri của mỗi tiểu bang họp lại tại tòa Quốc hội địa phương để bỏ phiếu xác định người đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2017-2020. Các Đại cử tri của các tiểu bang bó buộc phải bầu như đã bầu ngày 8-11 theo luật định của Hiến Pháp, họ chỉ là đại diện cho các cử tri, có nghĩa là họ phải bầu cho ông Trump đắc cử như ngày 8-11.

Nhưng năm nay tình hình có chút khác thường, ngày 12-12-2016, CIA cho biết Nga đã can thiệp vào cuộc bầu cử giúp cho Trump thắng cử, họ đã điều tra và công bố kết quả như vậy. TT Obama bèn vớ ngay cơ hội để la làng, ông họp báo tuyên bố TT Putin đã chỉ thị cho hacker xâm nhập hệ thống điện toán đảng Dân chủ lấy thông tin, làm mất uy tín của bà Clinton để giúp cho ông Trump thắng. Obama giận dữ tuyên bố sẽ trừng trị Nga.

Sau đó 54 Đại cử tri Dân chủ, một Cộng hòa ký thỉnh nguyện thư yêu cầu cho biết rõ thông tin về việc Nga can thiệp trước ngày bầu 19-12-2016 để Quốc hội sẽ có hành động thích đáng!! Dân chủ hy vọng việc Nga can thiệp giúp Trump thắng cử này có thể chuyển bại thành thắng. Họ hy vọng sẽ vận động các Đại cử tri đoàn sẽ quyết định không bầu cho Trump mà bầu cho Clinton lý do cuộc bầu cử ngày 8-11-2016 không nghiêm túc, có sự thao túng của Nga.      

Ván bài chót này không có hy vọng tí nào vì như đã nói trên các Đại cử tri coi như bó buộc phải bầu như đã bầu ngày 8-11 theo luật định của Hiến Pháp, vả lại người dân không ai tin Nga có thể gây ảnh hưởng tới cuộc bầu cử, làm mất uy tín Clinton, cái mà bà ta không có mà vì họ quá chán Dân chủ, muốn loại bỏ Dân chủ để bầu cho Cộng hòa giữ luôn Hành pháp, Lập pháp.

Và rồi kết quả chung cuộc Donald Trump chính thức được xác nhận làm Tổng thống Mỹ thứ 45 của Hoa Kỳ với số phiếu 304, ông bị mất hai phiếu, bà Clinton được 227, mất 5 phiếu. Bản tin VOA của Trà Mi cho biết sau nhiều cuộc biểu tình phản đối kịch liệt, nhưng kết quả sau cùng cũng không khác gì với kết quả của cuộc bầu cử 8-11-2016, nước Mỹ đã chọn Trump, người Mỹ muốn thay đổi.

Nay có bản tin cho biết Công tố viên Mueller đang hoàn tất hồ sơ về vụ Luật sư riêng Cohen của TT Trump nói chính ông Trump đã bảo ông trả tiền cho một ả bán phấn, buôn hương... nhiều bản tin cho hay đảng Dân chủ sẽ có cớ luận tội Tổng thống. Việc luận tôi, truất phế Tổng thống thực ra trong lịch sử Mỹ chỉ có hai vị. Trước hết trường hợp Tổng thống Andrew Johnson (TT thứ 17) bị đàn hặc năm 1867 (2)

Andrew Johnson bị buộc tội vi phạm luật Giới hạn quyền Tổng thống gọi là Tenure of Office Act năm 1867, Hạ viện đàn hặc TT Johnson, nhưng khi lên Thượng viện ông thoát bị truất phế vì chỉ thiếu một phiếu để đủ 2/3, họ bầu lại ba lần nhưng ông vẫn thoát.

Trường hợp thứ hai, Bill Clinton Tổng thống Hoa Kỳ thứ 42, bị Hạ viện luận tội ngày 19-12-1998 vì nói dối qua vụ bê bối tình dục tại tòa Bạch Ốc với cô sinh viên thực tập Lewinsky. Bill Clinton bị đàn hặc vì bội thệ và cản trở công lý, Thượng viện tha tội cho ông ngày 12-2, với tỷ lệ phiếu bầu 55/45 và lần bầu lại 50/50, rất xa số phiếu đòi hỏi 67 phiếu.               

Thời điểm này Cộng Hòa giữ đa số tại Lưỡng viện: Hạ viện họ giữ 51% và Thượng viện 55%, Cộng hòa muốn trả thù cho TT Nixon nhưng người dân không muốn như vậy, họ không muốn tái diễn trò này như thời Nixon. Riêng trường hợp TT Nixon mặc dù chưa được đưa ra luận tội nhưng mọi tiên đoán cho thấy chắc chắn ông sẽ bị truất phế, đầu tháng 8-1974, các vị chức sắc Cộng hòa cho Nixon biết nếu bị luận tội tại Thượng viện, ông chỉ được 15 phiếu, tối thiểu phải có 33 phiếu.

Nixon mặc dù chưa bị Luận tội nhưng đây là trường hợp duy nhất trong lịch sử Mỹ phía đối lập (Dân chủ) có thể lấy được trên 2/3 số phiếu Thượng viện để truất phế Tổng thống, Nixon biết trước là sẽ bị bay chức nên ông đã từ nhiệm.

Năm 1998 Clinton thoát tội không phải vì Cộng hòa không đủ mạnh tại Thượng viện, không phải vì tội của Clinton nhẹ so với Nixon, mà vì người dân không muốn tái diễn cái trò truất phế, đối với họ Nixon là trường hợp duy nhất. Tội trạng Clinton không nhẹ vì trong thời gian ông còn làm Thông đốc ở Akansas, cô thư ký Paula Jones thưa ông và khai ông đã kêu cô vào phòng yêu cầu cô thổi kèn cho ông, vụ kiện này hồi đó được coi là vụ án làm nhục cả nước Mỹ. Sau đó tới trường hợp ông liên hệ tình dục với cô sinh viên nội trú Monica Lewinsky mà người ta kết án ông là làm ô uế Tòa Bạch Ốc.

Công tố viên đặc biệt Mueller vs TT Trump
Và bây giờ người dân cũng không muốn tái diễn cái trò này, cách đây gần một năm, đảng Dân chủ đã chỉ thị cho các chi bộ tại địa phương không dùng từ luận tội, truất phế vì nó to tát quá, họ sợ phản ứng ngược. Nay có bản tin cho rằng năm tới, sau bản điều trần của Công tố viên Mueller, họ sẽ tiến hành luận tội TT Trump nhưng chưa chắc tin đã xuất phát từ Dân chủ, chưa chắc họ đã tiến hành cái trò này. Có lẽ Dân Chủ không nên khai thác cuộc điều tra giả tạo của Mueller, bàn dân thiên hạ đều biết rõ nó ngày càng lạc đề sang những mục tiêu khác vì không tìm ra manh mối.

Chính trị gia có liêm sỉ khi biết người dân không bầu cho mình, họ bầu cho một Ứng cử viên khác, một Đảng khác thì phải lấy đó làm chuyện xấu hổ, ngượng ngùng, lui về mai danh ẩn tích cho đỡ mắc cở là hay nhất. Nếu dùng những mánh khóe vận động vu cáo cho đối phương để vớt vát tí danh dự sẽ bị miệng thế chê cười, người ta cho là trơ trẽn.

Nay cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Hoa lục đến hồi khốc liệt, thay vì ủng hộ Mỹ, Đối lập gây khó khăn làm lợi cho đối thủ rõ ràng. Cuộc điều tra nên sớm kết thúc, năm ngoái thống kê cho biết 2/3 người dân được hỏi chỉ trích cuộc điều tra kéo dài quá lâu. Trên truyền thông mạng, Facebook ....nhiều người sốt ruột góp ý nói:

“...Cuộc điều tra giả mù sa mưa của Mueller muốn kéo dài mấy năm cũng được nhưng xin các ông đừng xài tiền thuế của dân, các ông cứ điều tra free...thì tha hồ mà kéo dài....

Trọng Đạt

07 August 2015

Người Tây phương nói về cuộc chiến Việt Nam, tham khảo

Trọng Đạt

Cựu Tổng thống Nixon viết trong hồi ký (1): Thực không cố biến cố nào trong lịch sử Hoa Kỳ bị hiểu lầm hơn cuộc chiến Việt Nam, hồi đó đã được tường trình sai và bây giờ người ta vẫn nhắc tới một cách sai lạc. Thật là hy hữu có lắm người sai lầm như vậy. Chưa bao giờ hậu quả những sự hiểu lầm của họ đã bi đát như thế.

Việt nam đã là đề tài của hơn 1,200 cuốn sách, hàng nghìn bài báo, mấy chục cuốn phim và tài liệu truyền hình, đa số kết luận như sau:
    - Cuộc chiến VN chỉ là nội chiến
    - Hồ Chí Minh trước hết là người quốc gia sau đó là người CS, được đa số người hai miền ủng hộ.
    - Ngô Đình Diệm là bù nhìn của thực dân Pháp.
    - Mặt trận giải phóng miền nam là một phong trào cách mạng không phụ thuộc vào Bắc Việt.
    - Việt Cộng được lòng dân làng quê với chính sách nhân đạo của họ.
    - Lời Tuyên bố của Hiệp định Genève 1954 đòi hỏi chính phủ Diệm và Mỹ phải tuyển cử thống nhất hai miền.
    - Phần nhiều lính Mỹ (ở VN) nghiện ngập, tàn ác vô nhân đạo.
  ……
    - Mỹ bại trận về quân sự.
    - Trận Mậu Thân 1968 là thất bại quân sự của Mỹ
    - Người Mỹ cố ý oanh tạc các mục tiêu thường dân ở BV
    - Thuyết Domino được chứng tỏ là sai
    - Cuộc sống tại Đông Dương tốt đẹp hơn sau khi Mỹ rút đi
     . . . . . . . . .

Và Nixon kết luận tất cả những nhận định trên đây đều sai lạc.

Không riêng gì người Mỹ, nhiều người Pháp, người Âu cũng nhận định sai về cuộc chiến VN. Tôi xin đề cập một số trường hợp điển hình như dưới đây:

Hai sử gia người Pháp Jean Lacouture và Philippe Deviller cùng viết La Fin d’une Guerre Indochine 1954, (Kết Thúc một Cuộc Chiến Đông Dương 1954) in 1960. Năm 1969  cuốn sách được dịch và xuất bản bằng tiếng Anh End of a War Indochina 1954, trong phần đề tựa bản dịch này Jean Lacouture nói:  Hai cuộc chiến (Đông Dương lần I và II) rất giống nhau.

1- Trong cả hai trường hợp các cường quốc Tây phương (tức Pháp, Mỹ) đã muốn biến đổi người Việt Nam tới chế độ, sự lãnh đạo và cách thức tiến bộ mà họ chọn cho VN, nhưng đều thất bại.

2- Trong cả hai trường hợp, các cường quốc Tây phương đã không biết tới tinh thần thống nhất cơ bản, sâu xa của dân tộc VN và đã dai dẳng cố giữ cái biên giới về địa lý cũng như ý thức hệ  mà người VN bác bỏ.

3- Trong cả hai, người Tây phương nói là họ chống CS xâm lăng do Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh xúi dục mà không chịu nhìn nhận nguyên do cơ bản mà Việt Minh hay Việt Cộng chiến đấu.

4- Trong cả hai, đoàn quân viễn chinh rõ ràng là người ngoại quốc xa lạ đối với đất nước (VN) và bị đại đa số người dân (VN) chống đối cùng với thủy thổ bất phục như rừng già, đầm lầy, sốt rét ngã nước …..

Điểm thứ nhất Jean La Couture nói người Tây phương áp đặt một chế độ hay sự lãnh đạo lên nước VN là hoàn toàn sai. Người Quốc gia tự nguyện theo chề độ dân chủ thân Tây phương và lựa chọn người lãnh đạo để chống  CS xâm lược.

06 June 2015

Tham khảo: Các Cường Quốc Quân Sự tại Thái Bình Dương

Trọng Đạt

Mười nước có lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới  gồm Mỹ, Nga, Trung Cộng, Ấn độ, Anh, Pháp, Đại Hàn, Nhật, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ (1).  Mỹ vẫn đứng đầu về quân sự  trên thế giới hiện nay, ngân sách quốc phòng Mỹ nay là 577 tỷ Mỹ kim, nhiều hơn ngân sách của tất cả các  cường quốc quân sự khác cộng lại, số máy bay quân sự của Mỹ hiện nay gần 14,000 chiếc, bằng số máy bay của tất cả 9 cường quốc quân sự trên thề giới cộng lại.
Mỹ có 10 chiếc hàng không mẫu hạm tối tân khổng lồ, trọng tải trên 100,000 tấn, các cường quốc khác có một số ít hàng không mẫu hạm loại nhỏ, cũ  trọng tải dưới 40,000 tấn như Ấn Độ có hai chiếc, Pháp có 4 chiếc  dưới 30,000 tấn cũ kỹ chỉ có tính cách tượng trưng. Mỹ là nước duy nhất hiện nay có một lực lượng hàng không mẫu hạm hùng hậu và tối tân nhất thế giới, một vũ khí không lổ vô cùng lợi hại vì nó có thể mang hỏa lực tới mọi nơi trên thế giới. Nay chỉ có Mỹ đủ khả năng xử dụng hàng không mẫu hạm, nó vô cùng tốn kém và đòi hỏi một trình độ cao về  khoa học quốc phòng.

Nước Nhật năm 1922  đóng hàng không mẫu hạm đầu tiên Hosho, họ chú ý đặc biệt tới loại tầu không lồ này, khi bắt đầu Thế chiến thứ hai, hải quân Nhật có 10 hàng không mẫu hạm tối tân và mạnh nhất hồi đó, Mỹ có 7 chiếc, Anh có 8 chiếc. Trận Trân Châu Cảng cuối năm 1941 gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, nó đã mở đầu cho một thời đại mới: Thời đại tầu sân bay.

Trở lại tình hình các cường quốc quân sự châu Á Thấi Bình Dương gồm Mỹ, Trung Cộng, Ấn Độ, Nhật, Đại Hàn. Mặc dù không thuộc châu Á nhưng Hoa Kỳ có nhiều đồng minh và tự nhận là một cường quốc tại đây.  Mấy năm gần đây Tập Cận Bình chủ trương bành trướng bá quyền nước lớn, đe dọa an ninh khu vực khiến các nước trong vùng đã phải  tăng cường quốc phòng để tự vệ.

Xin sơ lược tình hình quân sự các cường quốc Á châu Thái Bình Dương.

Mỹ: xe tăng 8,850; thiết giáp 41,020; đại bác 3,200; Máy bay quân sự 13,892; chiến hạm 473 tầu; Hàng không mẫu hạm 10; Ngân sách quốc phòng 577 tỷ (Mỹ kim)

Trung Cộng: xe tăng 9,150; thiết giáp 4,788, đại bác 8,000; máy bay quân sự 2,860; tầu chiến 673; hàng không mẫu hạm 1; ngân sách quốc phòng 145 tỷ.

Ấn Độ: xe tăng 6,664; thiết giáp  6,704; máy bay quân sự 1,900; đại bác 7,600; tầu chiến 202; hàng không mẫu hạm 2; ngân sách quốc phòng 38 tỷ

Đại Hàn: xe tăng 2,380; thiết giáp 2,660; đại bác 7,364;  máy bay 1,412; tầu chiến 166; ngân sách quốc phòng 33 tỷ.

Nhật: xe tăng 678; thiết giáp 2,800; đại bác 700; máy bay 1,613; tầu chiến 131, hàng không mẫu hạm 2; ngân sách quốc phòng 41 tỷ.

Nay các nước Cộng sản Trung Cộng, Bắc Hàn cũng như nước CS cũ Nga trở  thành những nước độc tài cá nhân do một người nắm quyền như thời Staline, Mao Trạch Đông. Tập Cận Bình lên nắm chính quyền nước Tầu từ mấy năm nay hiện là nhà lãnh đạo nhiều quyền lực nhất từ thời Đặng Tiểu Bình.

Năm 2002 ngân sách quốc phòng Trung Cộng khoảng 20 tỷ Mỹ kim, 10 năm sau 2012 đã tăng lân trên 100 tỷ, khoảng  gấp 5 lần (2). Nay Hoa Lục công khai chính sách bành trướng tại Biển Đông khiến các quốc gia trong khu vực lo ngại. Họ lấn chiếm quần  đảo Trường Sa, Hoàng Sa, kiến tạo đảo nhân tạo, lập căn cứ quân sự, vạch một đường lớn giữa hải phận quốc tế theo hình lưỡi con bò rồi nhận là hải phận của mình. Họ ban hành lệnh cấm máy bay các nước khác không được vi phạm không phận quốc tế mà họ coi là của mình. Trung Cộng ngày càng lộng hành cho tầu chiến bắt bớ, bắn phá tầu đánh cá các nước trong vùng.

Sự tranh chấp lãnh hải đã khiến các nước trong khu vực lo ngại và tăng ngân sách quốc phòng chống lại bá quyền nước lớn. Nước Nhật trước đây núp dưới cây dù nguyên tử Mỹ nay cũng tăng cường quốc phòng để đối phó, nhất là từ ngày Trung Cộng tranh chấp quần đảo Điểu Ngư với Nhật.

Vài thập niên trước đây, Mỹ và các nước phát triển Tây phương cũng như Á châu đầu tư mở mang giao thương với Trung Cộng, họ tưởng rằng một khi  có nền kinh tế phồn thịnh Hoa Lục sẽ từ bỏ chế độc tài và trở nên hiền lành hơn. Trái với sự tin tưởng ngây thơ của Mỹ và Tây phương, thực tế cho thấy nay càng giầu mạnh về kinh tế Trung Cộng lại càng hung hãn hơn trước, tăng cường quân sự hơn trước.

Khác với chính phủ Bush trước đây chú trọng vào Trung Đông, TT Obama quay trở lại Đông nam Á vì Mỹ có nhiều quyền lợi kinh tế tại đây. Từ thập niên 80 người Mỹ đã nhìn nhận Châu Á Thái Bình Dương là  một nền văn minh đang đi lên. Gần đây Mỹ tỏ ra cứng rắn không nhượng bộ Trung Cộng và cho thấy Mỹ vẫn là cường quốc tại Á châu đã suýt xẩy ra đụng chạm hai bên. Nay Trung Cộng có tiến bộ về kinh tế và tăng cường quốc phòng nhưng thực ra chưa đủ mạnh để uy hiếp Mỹ và các cường quốc khác tại Á châu. Mặc dù Mỹ bị suy thoái kinh tế thập niên vừa qua nhưng về quân sự vẫn còn quá mạnh, về số lượng máy bay quân sự Mỹ vẫn gấp 4 lần Nga, gấp 5 lần Trung Cộng chưa kể phẩm chất trội hơn nhiều.

Năm 1998 Trung Cộng mua lại một tầu cũ bỏ hoang phế của Ukraine chỉ có khung tầu, không động cơ và bánh lái, năm 2002 được kéo về Hoa Lục năm 2011 mới đóng xong thành tầu sân bay đầu tiên của Hoa Lục đặt tên là Liêu Ninh. Trung Cộng vội vã thực hiện một tầu sân bay để hù dọa các nước trong vùng, đây chỉ là một tầu loại nhỏ trọng tải 33,000 tấn chỉ bằng 1/3 một hàng không mẫu hạm Mỹ. Đối với Mỹ, Nhật là những nước đã có nhiều kinh nghiệm về hàng không mẫu hạm thì tầu sân bay Liên Ninh chỉ là một trò hề, trò cười không hơn không kém. Cách đây hai năm, một ông Tướng bốn sao của Nhật đã tỏ ra khinh thường Trung Cộng khi  tuyên bố hải quân và không quân Hoa Lục còn lạc hậu từ 10 tới 20 năm so với Nhật về nhiều phương diện.

Như đã nói trên ngân sách quốc phòng của Mỹ nay nhiều hơn ngân sách của các cường quốc trên thế giới cộng lại, gần gấp 10 lần Nga (60 tỷ), gấp 4 lần Trung Cộng (145 tỷ), gấp 11 lần Anh, gấp 12 lần Nhật….số máy bay quân sự của Mỹ gần 14,000 chiếc bằng số máy bay quân sự của các cường quốc trên thế giới cộng lại nhưng Mỹ vẫn bị Nga và Trung Cộng khích bác, gây khó khăn. Sở dĩ như vậy vì họ biết  Mỹ mạnh về quân sự nhưng lại yếu về chính trị, Tổng thống không có nhiều thực quyền mà phải phụ thuộc vào ý kiến của người dân và Quốc hội. Tại trận Điện Biên Phủ tháng 4-1954, Mao Trạch Đông ra lệnh tăng cường cho Việt Minh nhiều tiểu đoàn phòng không và pháo binh thì lệnh của Mao được thi hành ngay trong khi ấy Mỹ muốn giúp Pháp nhưng không được Quốc hội và người dân ủng hộ cuối cùng phải thất bại.

Gần đây Mỹ-Hoa đã suýt đụng độ tại  Biển Đông và người ta sợ có thể đưa tới Thế chiến thứ ba, nhưng thực ra dù căng thẳng tới đâu cũng không thể xẩy ra Thế chiên vì trong lịch sử đã nhiều lần “suýt” sẩy ra nhưng cả hai bên đều dàn xếp êm đẹp.

Đầu thập niên 60 Mỹ cho đặt hỏa tiễn tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ý nhắm vào Moscow, Khrushchev trả đũa cho đặt hỏa tiễn tại Cuba đe dọa Mỹ.  Tháng 10-1962 máy bay do thám U-2 của Mỹ khám phá ra hỏa tiễn tầm trung nguyên tử tại Cuba, TT Kennedy làm dữ cho ngăn chận tầu Nga mang hỏa tiễn tới và buộc Nga phải tháo gỡ hỏa tiễn đã gắn tại Cuba. Kennedy và Khrushchev đã đàm phán căng thẳng, Nga tháo gỡ hỏa tiễn tại Cuba, Mỹ cũng bí mật tháo gỡ hỏa tiễn tại Ý, Thổ Nhĩ Kỳ đem về.

Sau đó Mỹ-Nga thỏa thuận thiết lập đường giây điện thoại nóng giữa Moscow và Washington để ngăn ngừa Thề chiến mà cả hai bên cùng sợ, tình hình đã dịu sau đó. Thế chiến “suýt” xẩy ra nhưng cả hai bên đều đã sợ hết hồn nên sẽ chẳng bao giờ sẩy ra được. Cũng có giả thuyết cho rằng TT Kennedy bị ám sát vì người ta sợ ông có thể gây Thế chiến thứ ba.

Giống như biến cố Cu ba nêu trên, đụng độ Mỹ-Hoa tại Biển Đông rất khó có thể sẩy ra, mặc dù Trung Cộng hung hăng nhưng trong thâm tâm họ thừa biết hậu quả khốc liệt sẽ dành cho Hoa Lục một khi chiến tranh xẩy ra. Dù đụng trận nhỏ nhưng ảnh hưởng sẽ vô cùng lớn lao, các nước ngoài sẽ rút đầu tư, việc giao thương sẽ bị ngưng trệ đưa tới khủng hoảng kinh tế.

Mỹ có thể đem chiến tranh tới Hoa Lục vì họ có nhiều hàng không mẫu hạm, nhiều hạm đội và các căn cứ tại Nhật, Phi Luật Tân, Nam Hàn… ngược lại Trung Cộng không có khả năng mang chiến tranh tới đất Mỹ. Trong trường hợp có đánh lớn, Hoa Lục sẽ trở thành bãi chiến trường tan nát vì bom đạn, công trình mà họ đã xây dựng mấy chục năm qua tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải sẽ tiêu tan trong phút chốc. Hoa Lục chẳng dại gì mà lao đầu vào cuộc phiêu lưu tự sát.

Hàng không mẫu hạm Mỹ
George Washington
với đội hình di chuyển trên
Đại Tây Dương

Người Mỹ có khuynh hướng bỏ Trung Đông, Ukraine để quay về Thái Bình Dương vì nơi đây họ có nhiều quyền lợi kinh tế, vấn đề Ukraine sẽ để các nước Liên Âu tự liệu. Các cường quốc châu Âu Pháp, Anh, Đức… chỉ có một ngân sách quốc phòng khiêm tốn từ 50 tỷ trở xuống, chưa được 1/10 ngân sách quốc phòng Mỹ. Họ đã quen núp dưới cây dù nguyên tử của Mỹ. Nhiều nước Tây Âu nhất là Pháp núp dưới cây dù nguyên tử Mỹ nhưng vẫn chống Mỹ tại cuộc chiến Iraq và Việt Nam trước đây.

Nay Hoa Kỳ đã mệt mỏi và muốn các nước đồng minh châu Âu phải chia sẻ gánh nặng với họ.

Trọng Đạt

Chú thích
(1) Globalfirepower.com
(2) Military budget of the People's Republic of China, Wikipedia

 Tầu sân bay Abraham Lincoln và đội hình trên Thái Bình Dương

21 May 2015

Ngọn Cỏ Gió Đùa, cuốn phim đạo lý

Trong Đạt

Tổ chức sản xuất Hà Thanh Bình tại Việt Nam mới thực hiện phim "Ngọn Cỏ Gió Đùa" năm 2012-2013, phim dành cho truyền hình 45 tập, nhà đạo diễn phỏng theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Hồ Biểu Chánh, phim hiện có trên youtube.com và một số trang mạng điện ảnh.

Hồ Biếu Chánh (1884-1958)  là một nhà văn lớn, một nhà học giả tại miền Nam đi tiên phong dùng chữ quốc ngữ sáng tác, ông viết đủ thể loại như dịch thuật, thơ, tùy bút phê bình, hồi ký, hát bội, cải lương, tiểu thuyết. Ông là một trong những tiểu thuyết gia đầu tiên của Việt Nam thập niên 20, uyên thâm Hán học, thông cả Pháp văn. Toàn bộ sự nghiệp của ông gồm trên 100 tác phẩm, trong đó tiểu thuyết gồm 65 cuốn, biên khảo 25 cuốn….
   
Ngọn Cỏ Gió Đùa là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của miền Nam đã được quay thành phim cuối thập niên 1950 tại Sài Gòn, sau này được diễn thành tuồng kịch, cải lương.. và đã được quay thành phim mấy năm gần đây. Nhà văn Hồ Biểu Chánh đã phỏng theo Les Misérables (1862), cuốn tiểu thuyết trường thiên của văn hào Victor Hugo (1802-1885). Trước năm 1975  tôi đã được đọc ba tác phẩm tiêu biểu của Victor Hugo: Notre- Dame de Paris (1831), Les Misérables (1862), Les Travailleurs de la Mer (1866).. vì đã khá lâu nay chỉ còn nhớ sơ lược truyện Notre-Dame de Paris.

21 April 2015

Việt Nam Hấp Hối (bài hai), tham khảo

Nguyên tác: Henry Kissinger
Trọng Đạt lược dịch

Khởi đầu của rút quân

Sau diễn văn ngày 14-5 (Nixon) nói sơ lược đàm phán, chúng ta quay ra chương trình rút quân. TT Johnson củng cố quân đội Mỹ tại miền nam VN nhưng không có kế hoạch rút. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng (thời Johnson) ngày 29-9-1968 cho biết Mỹ chỉ tăng chứ không giảm quân. Kissinger cho rằng Hành pháp Nixon ngây thơ tin tưởng rút quân sẽ được người dân củng hộ ta vững mạnh, và số quân còn lại cộng với vị thế vững chắc của ta sẽ làm Hà Nội phải nghiêm chỉnh đàm phán. Đồng thời nếu ta củng cố quân đội VNCH vững mạnh, sự rút quân của ta chấm dứt sự can thiệp mà chẳng cần ký Hiệp định với Hà Nội.

Nixon thuận rút quân vì hai lý do trên, trong cuộc họp báo ngày 14-3 ông nêu lên ba tiêu chuẩn: Quân đội VNCH chiến đấu một mình được; tiến bộ của hòa đàm; tùy mức độ hoạt động của địch. Chiến lược Nixon trong những tháng đầu là làm suy yếu địch tối đa, gấp rút trang bị tối tân cho quân đội miền nam VN rồi bắt đầu rút, ông nghĩ  đó là cách để lấy lòng dân trong nước.

Tướng Wheeler ngày 25-1-1969, trong phiên họp Hội đồng an ninh QG (HĐANQG) nói ông Thiệu có lẽ đồng ý cho Mỹ rút quân từ từ để xoa dịu người dân, Rogers nói ta có thể  rút 50,000 quân để dần dần làm dịu chống đối của  người dân. Ngày 6-2, Thiệu nói chính phủ Mỹ có thể rút một số quân trong năm 1969. Tướng Goodpaster, phụ tá của Tướng Abrams tham dự HĐANQG ngày 28-3 và báo cáo chương trình VN hóa chiến tranh đã tiến mạnh, Mỹ rút được, (de-Americanizing) từ bỏ Mỹ hóa. Danh từ Việt Nam hóa được thành hình và Nixon thích từ này.

19 April 2015

Việt Nam Hấp Hối (bài một)

Nguyên tác: Henry Kissinger
Trọng Đạt lược dịch

Lời giới thiệu

Năm 1956 Đại Tướng Henri Navarre, Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương (5/1953--6/1954) viết Agonie de l’Indochine, Đông Dương Hấp Hối, dầy 335 trang. Tác giả cho thấy tình trạng không thể cứu chữa được của Đông Dương khi mà người dân và chính phủ Pháp đã quá chán nản không muốn tiếp tục cuộc chiến. Cựu Tư lệnh bào chữa cho chính ông và quân đội Pháp về nguyên do thất thủ Điện Biên Phủ, qui trách nhiệm cho chính phủ Pháp đã đưa tới sự hấp hối sụp đổ cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất 1946-1954. Cách đây hai năm tôi đã dịch và lược dịch vài chương chính trong Agonie de l’Indochine để trình bày với quí độc giả về tình hình bi đát của Đông Dương những năm 1953, 1954.

Hơn hai mươi năm sau, Henry Kissinger, Cố vấn an ninh Tổng thống cũng kể lại tình trạng hấp hối của miền nam Việt Nam trong hồi ký của ông. Chiến tranh Việt Nam hay chiến tranh Đông Dương cũng là một vì hơn 90% cơn khói lửa đã diễn ra tại Việt Nam. Tại đây Henry Kissinger nói về sự khởi đầu của sụp đổ, thực trạng, nguyên do Việt Nam hấp hối vào năm 1969 trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.

Năm 1979 Kissinger viết hồi ký White House Years, Những Năm Tại Tòa Bạch Ốc dầy 1,500 trang khổ giấy lớn, tương đương cuốn sách 2,000 trang khổ giấy trung bình. Chương thứ VIII trong cuốn này: The Agony of Vietnam, Việt Nam Hấp Hối, dài 85 trang (226 -311) tương đương một cuốn sách trên 100 trang. Nó cùng tên gọi với cuốn hồi ký của Tướng Navvare kể trên, cùng mục đích diễn tả lại sự chán nản của người dân cũng như Hành pháp Mỹ.

Trên đống tro tàn quá khứ, Henry Kissinger quay lại khúc phim bi kịch miền nam VN năm 1969, dần dần những sự thật phũ phàng về cuộc chiến Đông Dương đã được tiết lộ. Henry đã làm sống lại cả một giai đoạn lịch sử mà quyết định sai lầm trầm trọng của tân Tổng thống Nixon và Nội các mới đưa tới thảm kịch mấy năm sau. Theo ông, người Mỹ đã sai lầm lớn khi nhượng bộ Hà Nội với hy vọng khai thông bế tắc tại cuộc hòa đàm Ba Lê. Trước hết cuối tháng 10-1968, Tổng thống Johnson đã cho ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt theo yêu cầu của Hà Nội và sau đó, năm 1969 tân Tổng thống Nixon đã nhượng bộ Hà Nội rút quân đơn phương. Henry Kissnger cho rằng cả hai nhượng bộ đều không được CSVN đếm xỉa tới, hòa đàm vẫn bế tằc cho tới khi địch thảm bại trong trận mùa hè đỏ lửa 1972 họ mới chịu nhượng bộ Mỹ nhiều điều khoản khai thông Hội nghị  vào tháng 9 và tháng 10-1972.

Riêng về trường hợp Nixon, Henry cho rằng tân Tổng thống đã thực hiện rút quân đơn phương về nước bắt đầu từ gần cuối 1969 nhằm hai mục đích chính:

-Thúc đẩy đàm phán tại Ba Lê tiến nhanh hơn, nhượng bộ Hà Nội cho rút quân không điều kiện.
-Xoa dịu dư luận chống đối trong nước

Nhưng ông nhận định cả hai mục tiêu trên đều không đạt được, trước hết tại cuộc hòa đàm phía Hà Nội không hề thay đổi lập trường. Yêu cầu của họ vẫn y như cũ, giống như những lời khắc trong đá: Mỹ rút quân không điều kiện, loại bỏ Thiệu, lập chính phủ Liên hiệp, cắt viện trợ VNCH… Sở dĩ địch cứng đầu vì họ nắm được cái tẩy của Hành pháp Mỹ đang bị Quốc hội và người dân chống đối mạnh.
Việc Mỹ rút quân để xoa dịu dư luận trong nước cũng hoàn toàn thất bại , tại Mỹ phong trào chống đối vẫn lên cao, người dân không bao giờ vừa ý. Sau này chính  Nixon phải công nhận trong hồi ký (No More Vietnạms) mặc dù đã đem lại hòa bình (1-1973) lấy tù binh, đưa quân về nước nhưng phong trào phản chiến vẫn ngoan cố tiếp tục chống đối mạnh, hết chống chiến tranh họ chuyển sang vụ Watergate.

Nhậm chức năm 1969, Nixon vừa phải tiến hành cuộc chiến tại Đông Dương, đương đầu với CSBV ngoan cố tại bàn Hội nghị,  nhất là phải xoa dịu Quốc hội và phong trào phản chiến. Nixon tứ bề thọ địch, phải chống đỡ tại mặt trận ngoại quốc cũng như đối chọi với mặt trận tại đất nhà mà mặt trận này xem ra còn khốc liệt hơn: Quốc hội thù nghịch chống đối, đảng đối lập Dân chủ nay bắt tay với phong trào phản chiến chống lại Hành pháp Cộng hòa ngày một rộng lớn. Thật là khôi hài, một nền Hành pháp, một chính phủ phải năn nỉ Quốc hội, xoa dịu người dân, đương đầu với chính tình hình trong nước, một chính phủ không có thực quyền như thế thử hỏi còn làm được gì?

Kissinger chỉ trích chương trình rút quân của Nixon cho là sẽ làm sụp đổ miền nam vì họ không đủ sức chống lại cuộc xâm lăng mấy năm sau. Tác giả Walter Isaacson trong cuốn Kissinger a Biography (trang 234-241) có đề cập nhiều về chương trình này, mà theo Walter do Bộ trưởng quốc phòng Laird đề nghị, Nixon chấp nhận, Kissinger chống đối nhưng không can ngăn được Nixon. Kissinger phản đối rút quân vì cho rằng nó sẽ làm mất thế mạnh tại bàn Hội nghị, tại đây có sự bất đồng ý kiến giữa các nhà lãnh đạo Hành Pháp. Laird đặt tên chương trình này là Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization) mà Walter Isaacson cho là nghe thì lịch sự nhưng tàn nhẫn, vô cảm, độc ác. Kế hoạch rút khỏi Việt Nam sinh ra một học thuyết mới: Thuyết Nixon (The Nixon doctrine) chủ trương không can thiệp vào nước khác (Interventionism) mà đứng biệt lập (Isolationism). Các nhà học giả Mỹ về chiến tranh VN cho rằng các danh từ hoa mỹ như Việt nam hóa chiến tranh, học thuyết Nixon chẳng qua chỉ là rút quân bỏ chạy trá hình.

Mặc dù phản đối chương trình này cho là sẽ nguy hại tới an ninh miền nam VN nhưng Kissinger không đưa ra một phương án cụ thể nào khả dĩ thay thế rút quân mà ông chỉ nói cần làm mạnh vào năm 1970, có nghĩa là oanh tạc mạnh CSBV bằng B-52 để lấy lợi thế. Các phụ tá của Kissinger đã nghiên cứu một kế hoạch quân sự:  phong tỏa Hải phòng, oanh tạc các cơ sở quân sự BV trong 4 ngày… để buộc CS đàm phán nghiêm chỉnh nhưng chính ông không dám đề nghị kế hoạch táo bạo này lên Nixon.

Trong phần kết luận chương này, Kissinger bi quan không tin tưởng vào kế hoạch, bằng giọng chán chường thất vọng, ông lấy làm tiếc đã không can ngăn được Tổng thống và Nội các khi họ đã lựa chọn giải pháp tàn nhẫn này. Kissinger nói ông đã tiên đoán trước sự thất bại của chương trình (rút): tại Ba Lê đối phương vẫn cứng đầu không chịu đàm phán, tại mặt trận đất nhà bọn phản chiến ngày càng ngoan cố, leo thang chống đối, cuối cùng miền nam VN sụp đổ vì không đủ lực lượng gánh vác toàn bộ chiến trường. Henry nói.

“Một khi tiến hành (rút) không quay lại, tôi biết là nó có thể là một con đường dài bi thảm và có thể đưa tới thất bại - mà tôi đã nhiều lần trình bầy sơ lược những những nguy hiểm của nó với Tổng thống (Nixon)”

Kissinger đã đặt cho Chương VIII này cái tên “cường điệu”  Viêt Nam Hấp Hối để lên án sự sai lầm trầm trọng và nguy hại của kế hoạch, dù sao đây cũng chỉ là quan điểm riêng của tác giả về chương trình này.

Quí vị có thể tham khảo thêm trong cuốn sách nổi tiêng Kissinger a Biography (từ trang 234 tới 241) của Walter Isaacson nói về đề tài này.

Và tôi xin lược dịch Chương VIII, The Agony of Vietnam trong White House Years, từ trang 226 tới 311.


****
Việt Nam Hấp Hối

Kissinger nói tôi không thể viết về Việt Nam mà không đau lòng. Khi chúng tôi tới nhận nhiệm sở (vào Bạch Ốc), hơn nửa triệu quân Mỹ đang chiến đấu cách xa nước Mỹ mười ngàn dặm. Chúng tôi chưa nghĩ tới việc rút quân , 31,000 người đã chết, năm 1969 uy tín và niềm tin vào cuộc chiến đã bị hủy hoại, cuộc chiến tranh của chúng ta không công khai và không được Quốc Hội, người dân, truyền thông ủng hộ. Năm 1969 người dân chống đối dữ dội, ngày càng tăng hơn, họ gồm bốn thành phần: Những người yêu hòa bình không muốn Mỹ tham gia cuộc bắn giết; nhóm thực tiễn không thấy kết quả tốt; nhóm biệt lập không muốn Mỹ can thiệp; nhóm lý tưởng kết án cuộc chiến dã man.

Hành pháp Nixon vào Tòa Bạch ốc, những người (Dân chủ) đã gây ra cuộc tham chiến tại VN, mới đầu họ trung lập sau quay ra chống đối. Họ buộc Nixon có trách nhiệm về cuộc chiến mà ông chỉ thừa hưởng, họ tấn công ông ta nhân danh những giải pháp mà chính họ đã không thực hiện khi còn cầm quyền.

Bắc Kinh 1971: 
Chu Ân Lai và Kissinger (bên phải)

Một siêu cường chấm dứt chiến tranh bỏ một nước nhỏ cho bọn bạo chúa là thiếu đạo đức và còn phương hại tới bang giao quốc tế. Người Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh, qua thăm dò và qua bầu cử cho thấy họ coi mục đích cuộc chiến là đáng trân trọng, họ không muốn Mỹ bị thua nhục nhã. Chính phủ phải quan tâm kính trọng những gia đình có con chết cho đất nước (US) và họ không muốn những hy sinh ấy là vô ích

Tôi nghĩ chiến tranh VN là một sự ngây thơ về lý tưởng, đất nước phải mắc nợ những hy sinh của những thanh niên Mỹ.

Tôi sa vào chỗ sa lầy

30 March 2015

Truyền Thông và Phản Chiến

Trọng Đạt

Truyền hình và cuộc chiến

Marshall McLuhan, nhà văn, giáo sư Gia Nã Đại đã nói về truyền thông trong chiến tranh Việt Nam như sau:

“Truyền hình đã mang những cảnh chiến tranh tàn bạo tới căn phòng khách ấm cúng. Việt Nam thua từ trong những căn phòng ấm cúng ở Hoa Kỳ chứ không phải tại mặt trận bên Việt Nam ”
The Media, Vietnam war. (Vietnamwar.net)

Trong Where The Domino Fell trang 205, tác giả James Olson và Randy Roberts cho đăng tấm hình người ký giả Mỹ ra mặt trận phỏng vấn các binh sĩ Mỹ tại VN và chú thích:

“Một số chỉ trích VN là “cuộc chiến trong phòng khách” vì ảnh hưởng rộng lớn của truyền hình. Kỳ giả, nhà làm phim truyền hình đi khắp bốn vùng chiến thuật để lùng tin tức, giai thoại và họ đưa tràn ngập tin tức chiến sự VN trên hệ thống TV hàng ngày cho khán giả”.

Thật là diễu, những người không tham chiến đi lấy tin tức về phổ biến tam sao thất bản phá hoại đường lối chính phủ nhưng được tự do hoạt động.

Giữa thập niên 60, nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các phương tiện truyền tin tối tân như truyền hình lần đầu tiên đã đem tin tức, hình ảnh chiến sự tới quảng đại quần chúng khiến cho phong trào chống chiến tranh tại Mỹ bùng nổ và lớn mạnh. Đây là cuộc chiến lần đầu tiên chính phủ cho phép truyền thông báo chí được tự do kể lại chiến tranh, thấy sao nói vậy không qua kiểm duyệt. Những hình ảnh ghê rợn của chiến tranh đã cho người dân thấy từ đầu chí cuối mà họ chưa thấy bao giờ.

Đa số ý kiến các tác giả cho rằng cuộc chiến VN nhất là những năm giữa và cuối thập niên 60 là cuộc chiến lần đầu tiên được đưa lên truyền hình.

Nay nhiều người cho rằng chính truyền thông nhất là TV đã khơi dậy sự chống đối chiến tranh trong dân chúng qua những hình ảnh, bản tin tức của họ thí dụ trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã thành một biến cố nhiều tranh  cãi mà truyền hình báo chí đã đóng vai chính. Các bản tin tiêu cực của chiến tranh đã ảnh hưởng nặng nề tới người dân và các chính khách. Người Mỹ đựa vào TV để theo dõi và tìm hiểu chiến tranh qua những cảnh chết chóc, tàn phá mà họ nhìn thấy như những bắn giết vô lý trong khi viễn tượng cuộc chiến trở thành tiêu cực vô vọng.

Lần đầu tiên những cảnh bắn giết hãi hùng đã được đưa tới phòng khách ấm cúng, người Mỹ có thể coi những cảnh làng mạc bị đốt , trẻ em chết cháy, những túi xác lính Mỹ được đưa về nước. Mặc dù những bản tin trước Tết của truyền thông ủng hộ cuộc chiến, những bản tường trình trên TV đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của người dân Mỹ về về cuộc chiến tranh VN sau trận tổng tấn công Tết Mậu Thân. Hình ảnh thường dân bị lính Mỹ tàn sát tại Mỹ Lai đã được chiến đi chiếu lại trong khi những sự tàn ác ghê rợn của VC và cán binh BV thì không thấy họ nhắc tới. Khi phong trào phản chiến tại Mỹ được truyền thông chú ý thì những người lính Mỹ đã bị bỏ quên tại VN.

Giữa thập niên 60, truyền hình được coi là nguồn tin tức quan trọng cho đời sống Mỹ và cũng có khả năng là nguồn ảnh hưởng nhất đối với ý kiến của xã hội.

Thời chiến tranh Triều tiên số người khán thính giả của truyền hình tại Mỹ rất ít, năm 1950 chỉ có 9% dân Mỹ có TV, nhưng đến năm 1966 số người xử dụng TV đã tăng lên 93%. Khi TV trở thành thông dụng, người dân Mỹ theo dõi tin tức từ truyền hình hơn là từ những nguồn thông tin khác. Năm 1964 có 58% người dân theo dõi tin tức từ TV, 56% từ nhật báo và 26% từ đài phát thanh, 8% từ tuần báo, đến năm 1972,  64% theo dõi tin tức từ TV, 50% từ nhật báo. Trong khi chiến tranh VN kéo dài, càng nhiều người Mỹ theo dõi tin tức trên truyền hình, năm 1972 có 48% người được hỏi tin vào truyền hình và 21% tin nhật báo.

Nhờ diễn tả sống động bằng phim ảnh, TV gây xúc động cho khán giả, khi coi cảnh trận mạc bên VN người ta tưởng như đang ở giữa những khu rừng nhiệt đới. TV diễn tả bằng hình ảnh khiến cho người ta dễ hiểu hơn là nghe báo tường thuật qua những danh từ chuyên môn. Các nhà làm phim thời sự được tín nhiệm, người dân theo dõi tin tưởng những bản tin TV về cuộc chiến VN nhưng thực ra chúng đã được sửa chữa lại để tường thuật về một cuộc chiến phức tạp. Truyền hình, một kỹ nghệ mới thu được nhiều lợi tức nhờ dịch vụ nhất là nhờ cuộc chiến VN.

Tin chiến tranh VN của giới truyền thông đã làm lung lạc tinh thần người dân Mỹ nguyên do những kỹ thuật tối tân đã đem hình ảnh chiến trận tới tận phòng ăn. Lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ truyền thông có ưu thế ở chỗ đem chiếu những thước phim chiến tranh cho toàn dân được thấy nhất là những đoạn nói về số tử vong trong qua các chương trình chiếu phim ban đêm đã xoá bỏ mọi huyền thoại chiến thắng. Truyền thông Mỹ cho người ta thấy chính phủ không có hy vọng gì thắng CS ở VN, những hình ảnh về tổn thất mà họ đưa ra đã thúc đẩy phong trào chống đối lên cao.

Từ giữa 1965 khi quân Mỹ tại VN tăng lên 175,000 người thì truyền hình mới tìm được những đề tài bi thảm, cảnh chiến trận, phỏng vấn lính Mỹ, cảnh trên trực thăng… tất cả đã cung cấp cho kỹ nghệ truyền hình những đề tài bi kịch mà họ đang cần. Từ 1965 tới Tết Mậu thân 1968, có tới 86% chương trình tin tức truyền hình đêm của CBS và NBC tường thuật về chiến tranh, dưới đất cũng như trên không. Từ 1965 tới 1967 truyền hình ca ngợi quân nhân Mỹ là những anh hùng chiến đấu tiêu diệt CS, ca ngợi cuộc chiến chống Cộng.

Tết Mậu Thân

21 December 2014

GIỮA MÙA GIÁNG SINH

Trọng Đạt

Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ Giáng Sinh, còn mươi hôm nữa là Tết Tây, người người nô nức đi mua sắm tại các cửa hàng cửa hiệu, tưng bừng rộn rã, tống cựu nghinh tân, năm cũ đi, năm mới lại, giòng đời vẫn lặng lẽ trôi nhanh.
 
Mấy năm trước đây, tôi dọn về ở khu phố này đúng vào mùa Giáng Sinh, một khu nhà ở trung bình, bên phải tôi là một ông trắng, bên trái là một ông đen, ông nào cũng vui vẻ cả. Tôi và ông trắng hay đậu xe phía sau nhà nên thỉnh thoảng có gặp nhau. Dọn nhà được mươi ngày tôi gặp ông lần đầu, hôm ấy tôi ghé vào sau nhà ông hỏi thăm xã giao cho có tình hàng xóm. Đó là một ông già gần bảy mươi to, cao, vạm vỡ, hôm ấy ông nói đã về hưu mấy năm rồi, hồi xưa trong binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ông già ở một mình, tôi được biết vợ ông nay ở tiểu bang khác, ông không có con, cụ thân sinh  còn sống, ở cách đây gần hai chục dặm, nhà này ông mua lâu rồi .
 
Người ta nói ông này ở dơ lắm.
 
Khoảng nửa năm sau, bỗng dưng không thấy ông đâu cả, vắng nhà mấy tháng ông lại trở về, gặp tôi ông đều chào hỏi:
    - How are you today? Anh mạnh giỏi chứ?
 
Được biết ông đi nằm bệnh viện giải phẫu đầu, não gì đấy, ông bị tâm thần. Lúc này mới biết ông bị bệnh, chắc là một chứng nan y. Ông già có thái độ bất cần đời, nghĩ rằng mình chẳng còn sống bao lâu, cỏ mọc trước sân cao đến đầu gối, ông cũng mặc kệ, tòa tỉnh cảnh cáo mấy lần ông mới chịu kêu người cắt, tôi có cắt dùm ông một lần. Không bao giờ ông tưới cỏ, nắng Texas như đổ lửa, nứt cả đất, cháy cả cỏ ông cũng thây kệ, muốn đến đâu thì đến.
 
Qua năm sau, tôi thấy ông suy yếu rõ rệt, trông ông  có vẻ khá giả vì thấy ông đi xe mới, người to cao nên mỗi lần chui vào xe khó khăn lắm, xe bị đụng mấy lần, sửa đi sửa lại. Sau ông mua chiếc xe Cadillac to lớn, trông bề thế, loại xe đắt tiền, ít lâu sau lại bị đụng xe, phải kéo đi tiệm sửa. Ông gõ cửa nhà tôi mượn điện thoại, điện thoại nhà ông bị hư. Giời ơi, lúc này tôi mới để ý, ông lão hôi quá, hôi như tổ cú vậy, quần áo ông nhàu nát cũ kỹ, cả tháng không giặt, ông ra khỏi nhà tôi cả buổi rồi mà mùi hôi vẫn còn nằm trong phòng khách. Ông cho biết gọi điện thoại cho bố nhờ giúp đỡ. Mấy hôm sau tôi thấy cụ thân sinh ông ở đằng sau nhà, một ông cụ trạc chín mươi nhưng trông tỉnh táo hơn, người thấp thấp. Tôi thở dài nghĩ bụng:

“Trời ơi ! Ông bố đã chín mươi cái xuân còn phải đi lo cho ông con bảy mươi, thật là báo đời báo kiếp! báo đến già vẫn chưa hết ”.

Lúc này thấy ông ngày càng bệ rạc hơn trước, quần áo hôi hám, sộc sệch. Có lần ông châm thêm nhớt xe ở sau nhà, tự nhiên quần tụt xuống, ông cũng thây kệ, tôi nói cho ông biết nhưng ông chỉ cười xoà. Tóc tai ông lão rũ rượi, râu ria lởm chởm, nước da ông vàng bủng như người sốt rét ngã nước, đôi mắt ông nhìn xuống đượm mầu chán chường tuyệt vọng, thoáng một vẻ đau đớn về tinh thần và thể xác. Có lẽ biết mình chẳng còn sống bao lâu nữa nên ông chẳng còn thiết gì đời, ăn mặc dơ dáy lắm. Ông cất bước đi vào nhà một cách nặng nề, đôi chân lê trên mặt đất thật chậm chạp vì phải mang một tấm thân to lớn. Hôm nay ông cũng không quên chào tôi “How are you today?”. Mỗi lần nhìn ông tôi lại thấy nổi lên trong lòng một nỗi u hoài khó tả vì phải chứng kiến một cảnh đời bi thảm, một cảnh bi thảm tại một xứ văn minh sung túc, tôi biết chắc ông ấy cũng sắp về Nước Chúa đến nơi rồi. Cuộc đời là bể khổ, Đông với Tây chỗ nào cũng thế.
  
Một hôm đi làm về, tôi đậu xe đằng trước. Thấy tôi, ông vội chạy ra nhờ chở đi chợ Kroger mua đồ ăn, xe ông lại bị đụng phải đem đi sửa. Bất đắc dĩ phải chở ông đi chợ. Giời đất ơi, tôi muốn chết ngạt vì cái mùi hôi bốc ra từ quần áo của ông. Bước vào xe ngồi, xe tôi như nghiêng hẳn đi vì ông nặng quá. Lúc về tôi bực lắm, quyết từ nay không bao giờ giúp ông ấy nữa. mùi hôi cứ ở lỳ trong xe tôi mãi mới hết. Có người bạn tình cờ vào nhà ông ấy nói nó hôi thối y như cái chợ cá, thùng rác ngay đầu giường, chuột, gián .  .  . . tùm lum. Mà thật vậy, mỗi lần ông mở cửa sau, cái mùi chợ cá xông ra tận bên nhà tôi, thật không ngờ một ông Mỹ trắng lại ở dơ đến thế.
 
Từ đấy tôi nhất quyết không cho mượn điện thoại, dứt khoát như vậy. Một hôm đang chăm sóc mấy cây hoa hồng đằng trước, tôi bỗng thấy mùi hôi, rồi ông ta hiện ra  hỏi mượn điện thoại, tôi từ chối nói sắp phải đi ngay, ông buồn rầu bước sang nhà khác. Nhìn vẻ mặt thất vọng của ông tôi cũng ái ngại lắm, tôi lại tự trách mình sao ác quá, ông ấy hỏi mượn cái điện thoại mà cũng từ chối. Nhưng dù ái ngại tôi cũng cương quyết không cho ông ấy vào nhà, giúp ông rồi ông sẽ nhờ mãi, phiền lắm.
 
Tôi bèn viết thư cho tòa tỉnh city.

    Thưa quí Tòa
   Ông hàng xóm tôi, cựu chiến binh già lão lắm, không bà con bạn bè, không xe cộ, điện thoại, rất cần giúp đỡ... Ông ấy khổ lắm .  .xe hư , điện thoại cũng hư.  Ông mượn điện thoại hàng xóm người ta không cho mượn vì ông ấy hôi quá!... nhà ông hôi như cái chợ cá , một tổ vi trùng! Tôi có giúp ông ấy vài lần, nay không thể giúp được nữa. Xin quý tòa giúp cho ông để cải thiện cuộc sống cho ông ấy đỡ khổ.
       Xin đa tạ quí Tòa

Mấy hôm sau có một ông nhân viên gọi điện thoại trả lời tôi, ông cho biết đã chuyển thư sang ban xã hội, hội từ thiện gì đấy. Lúc này ông không hỏi mượn điện thoại nữa, mặc dù bị tôi từ chối nhưng mỗi khi gặp nhau ông vẫn chào hỏi vui vẻ How are you today? Anh mạnh giỏi chứ? Tự nhiên tôi lại cảm phục tấm lòng bao dung, độ lượng của ông, của những người Mỹ không bao giờ biết giận là gì, tôi cư xử với ông ấy hơi tệ thế mà ông vẫn vui vẻ như thường thật đáng kính phục thay. Tôi cũng cảm thấy một chút hỗ thẹn ở lương tâm về cách xử sự của mình với ông ấy.
  
Độ này không thấy ông nhờ tôi, bốn năm tháng sau mới thấy ông mượn cái kìm, cái búa, hay xin chút đồ ăn vì xe hư không đi mua được. Rồi thỉnh thoảng lại thấy ông đi mượn điện thoại các nhà hàng xóm, tức quá tôi lại viết thư lên tòa tỉnh, kể lể dài hơn.

      Thưa quí tòa
    Ông hàng xóm của tôi khổ quá , xe hư lại không điện thoại .  .   .  .  .
. . . .
    Xin quý tòa giúp ông ấy !

Mấy hôm sau, một bà nhân viên gọi điện thoại cho tôi, bà phụ trách về vấn đề hàng xóm, bà hỏi tôi một số chi tiết về ông già và cho biết bà sẽ cố liên lạc với ông ấy. Mấy tháng sau, người ta mở cửa trước, cửa sau nhà ông để tổng vệ sinh, mùi hôi hám ghê sợ tỏa ra khắp nơi, họ thay thảm cho ông, thu dọn rác rưởi trong nhà, nào  ấm sứt vòi, ly tác bể, ghế ba chân …  cho vào bao, rồi vất cả đống ra đằng trước vườn. Nhà ông được quét dọn sạch sẽ, tôi mừng cho ông mà cũng mừng cho tôi nữa. 
Tuần trước thấy xe ông bị đụng bể cả cửa kính. Độ này thỉnh thoảng mới gặp ông ở chỗ đậu xe sau nhà, thấy ông suy nhược lắm, nét mặt đau khổ đáng thương, tôi có cảm tưởng như ông phải miễn cưỡng kéo lê cái tấm thân tàn này cho đến chết và có lẽ ông cũng mong Tử Thần đến đem đi cho rảnh cái nợ đời. Mỗi lần nhìn ông tôi lại chợt nghĩ đến ý nghĩa của nhân sinh: Đời là bể khổ? Chết là giải thoát? .
  
Chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh.  Tối qua thức khuya đi mua sắm đồ đạc, sáng nay tôi ngủ dậy trễ. Lúc chín giờ rưỡi sáng tôi nghe thấy tiếng nhiều người nói chuyện trước nhà, ngủ thiếp đi một lúc cả giờ đồng hồ vẫn thấy họ nói chuyện, cười cợt. Tôi lấy làm lạ sao họ nói chuyện gì mà lâu thế nên bèn hé mành nhìn ra thấy vài ba xe cảnh sát, một xe truck đậu trước nhà tôi và nhà ông, mấy người cảnh sát đứng nói chuyện um sùm. Biết là có chuyện chẳng lành, tôi vội khoác áo lạnh chạy ra vườn trước nhà, tôi thấy hai người khiêng xác ông ấy từ trong nhà đi ra đút vào trong lòng một chiếc xe cứu thương đậu ở bên kia đường.
  
Lạ thay, khi tôi ngủ li bì thì không thấy họ khiêng ông ấy lại đợi đến khi tôi chạy ra, chắc là ông nhắc tôi chạy ra để nhìn thân xác ông một lần chót, chắc hẳn là như vậy. Mọi người vẫn nói cười vui vẻ. Người Mỹ lúc nào cũng thản nhiên như không, dẫu cho gió bão chết cò, đổ đình đổ chùa hay cháy nhà hàng xóm họ vẫn bình chân như vại. Tôi chạy lại hỏi một chị cảnh sát  Mỹ đen đang đứng trước vườn nhà tôi:
    -Ông ấy làm sao thế?
    -Ông ấy chết rồi, tối hôm qua.
    -Thế à!
    Nhìn vẻ mặt xúc động của tôi, chị cảnh sát hỏi:
    -Anh thấy ông ấy lần chót hôm nào?
    -Mấy tuần trước, tuần rồi thấy xe ông ấy bị đụng bể cửa kính.
    -Đụng hôm thứ sáu, ông lái về nhà được. Sáu hôm sau mới chết. Ông ấy biết trước là chết nên đã gọi ông cụ thân sinh, ông cụ kia kìa!
     Vừa nói chị vừa chỉ tay về chiếc xe truck đậu ngay trước cửa nhà tôi.
 
Tôi chạy lại xe hỏi thăm ông cụ bố nay cũng độ ngoài chín mươi, cụ vui vẻ hỏi tôi :
    -Anh ở bên cạnh hả?
  
Rồi cụ thẫn thờ suy tư như nhớ lại bảy mươi năm trước đây cụ đã bế trên tay một đứa trẻ sơ sinh mở mắt chào đời, nâng niu ôm ấp một cái mầm sống thân yêu, nó là nguồn hạnh phúc của đời cụ. Thời gian trôi qua, đứa trẻ lớn lên, sống những ngày tươi đẹp của tuổi hoa niên rồi già lão, bệnh hoạn và bây giờ nhắm mắt lìa đời. Bảy mươi năm trôi qua đánh vù một cái, nó tuy ngắn ngủi nhưng cũng quá đủ để chấm dứt một kiếp người.
  
Thế rôi mọi người vội vã lên xe đóng cửa rầm rầm để đưa ông ấy đi, không kèn, không trống, không một tiếng khóc, không một giọt lệ sầu mà chỉ thấy toàn là những tiếng cười. Tôi không biết họ đưa ông ấy đi đâu, lên nhà thương? nhà quàn? hay ra nghĩa địa? Ở cái xứ sở giàu có sung túc nhất thế gian này con người vẫn chưa thoát khỏi những nỗi khổ ải, trầm luân. Trong lòng tôi cũng thầm mừng cho ông nay đã rũ sạch nợ trần.
 
Họ vẫy tay chào tôi rồi vội vã lái xe chạy vùn vụt về cuối phố.
 
Mặt trời đã lên cao tỏa ánh nắng vàng rực rỡ trên các mái nhà, cành cây, ngọn cỏ. Đường phố lúc này vắng tanh vắng ngắt không một bóng người. Thiên hạ nô nức đua nhau đi mua quà chúc mừng ngày lễ đã gần kề, chỉ còn lại một mình tôi đang đứng ngẩn ngơ nhìn về cuối phố, trong lòng xót xa vô hạn…
 
Một nỗi buồn mênh mang thấm thía và một niềm ân hận bàng bạc ở đâu kéo đến xâm chiếm lấy tâm hồn tôi giữa một mùa Giáng Sinh tưng bừng rộn rã….
     
Trọng Đạt

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...