Showing posts with label 03-Văn. Show all posts
Showing posts with label 03-Văn. Show all posts

05 December 2025

Tình Yêu, truyện ngắn

Mặc Bích
            
Từ ngày hôm ấy, nhà Hương có thêm một khuôn mặt mới. Đối với tất cả mọi người trong nhà, trừ Hương và cậu con trai lớn, khuôn mặt mới này cũng chỉ như một món đồ vừa được mua về ở tiệm, bầy đó, lấp một khoảng trống nào đó mà thôi. Ai vậy? Một chú két có màu xanh lá cây với những đường viền đỏ cam, vàng rực rỡ với đôi mắt sáng quắc tròn xoe, cái mỏ dài ngoằng hơi khoằm khoằm và một bên bàn chân bị khuyết tật! 
            “Tại sao con lại mua một con két có tật như vậy hả Duy?”
            Đứa con trai lớn của Hương nhún vai cười:
            “Có sao đâu mẹ? Nó vẫn đứng, vẫn bay bình thường như mọi con két khác trong khi nó đẹp nhất trong lồng mà lại rẻ và biết nói sẵn nữa, con khỏi phải “train” nó!”
            Nàng vẫn cứ thắc mắc về một bên ngón chân bị cụt đến gần 2 đốt của con két tên Joshua mà Duy vừa mua về. Hương giao hẹn với con trai:
            “Con chơi, con phải “take care” nó đó!”
            “Mẹ đừng lo! Con lo cho nó mà!”
            “Tại sao con biết là nó biết nói sẵn? Nó nói tiếng gì?”
            “Chủ nó là một bà Mỹ, vậy chắc nó chỉ biết tiếng Mỹ!”
            Duy lại nhìn mẹ cười, nụ cười của cậu thanh niên mới lớn thật tươi và thật dễ mến.
            “Bà ta già phải vào nursing home nên mới gửi tiệm bán. Con mua rẻ lắm!”
            Hương không nói gì mà chỉ lo con két làm bẩn nhà. Duy nhốt Joshua trong phòng ngủ và căn dặn mẹ cùng mọi người trong nhà đừng mở cửa phòng sợ Joshua bay mất. Nhốt nó vào lồng thì nó không chịu, nó sẽ chết! Hương than thầm trong bụng:
            “Tại sao nó không chơi con gì khác cho sạch sẽ, dễ trông coi!” Nên ngay từ phút đầu Joshua có mang lại sự chú ý của Hương nhưng thiện cảm thì không! Nhưng chiều con, nàng cũng không cằn nhằn thêm.

            Bắt đầu từ ngày đó trở đi trong nhà nàng lại có một “tù nhân” là con két xanh tên Joshua. Cửa phòng Duy lúc nào cũng khép trừ lúc có ai trong phòng. Cả nhà cũng chẳng mấy khi thấy mặt con Joshua, nên nó có đó mà cũng như không có. Thỉnh thoảng Hương mới thấy nó kêu chứ chưa hề thấy Joshua nói! Nhiều lần nàng định hỏi con xem con két đã nói những gì rồi thương hại Duy lại thôi.
            Một hôm, Hương mở cửa vào phòng Duy. Con Joshua đang đứng trên thanh gỗ ngang. Đó là một loại chuồng chim nhưng trống cả bốn phía và chỉ đơn sơ có một thanh ngang làm chỗ đứng suốt ngày đêm cho Joshua, hai đầu một bên là thức ăn, một bên là nước uống. Bên dưới có một khay tròn lớn đựng cát để hứng mọi thứ chất dơ do Joshua thải ra. Thấy nàng bỗng nhiên Joshua xòe rộng hai cánh, vươn người lên nhún nhẩy và huýt gió.
            Duy la lên:
            “Mẹ thấy không, nó huýt gió đấy! Hễ thấy đàn bà, con gái là nó huýt gió! Nó thích mẹ đấy!”
            Hương phì cười, nghĩ bụng " Nói thì không nói mà chỉ huýt gió!" Nàng đến gần, ngắm nghía chú két. Một mối thiện cảm nào đó nẩy sinh. Nàng nghiêng đầu nhìn nó. Nó cũng ngoẹo đầu nhìn Hương như muốn nói một cái gì? Hương bắt đầu chú ý đến sự có mặt của Joshua trong nhà. Từ hôm ấy, mỗi tối, nàng đều vào phòng Duy, ngồi bệt xuống thảm, gần chỗ con Joshua, và thử dậy nó nói vài chữ tiếng .. Việt.
             
            Vài tháng trôi đi, một chữ tiếng Anh Joshua cũng không nói chứ đừng hòng gì đến nửa chữ tiếng Việt! Nhưng cứ mỗi lần thấy Hương là nó huýt sáo và vươn cánh làm đẹp. Nàng cũng thấy vui vui và dần dà quên mất đến chuyện là con két này không biết nói và đành chấp nhận nó như thế!
            Duy đi mua một lô sách về nghiên cứu và tuyên bố với mẹ:
            “Joshua chắc bị “shock” nặng nên nó không nói nữa!”
            Và rồi câu chuyện của chú két xanh Joshua tưởng chỉ có vậy!
            Cho đến một hôm, Hương đến tiệm Pet Shop, nơi mà Duy đã mua con két, để mua thức ăn cho Joshua. Bà chủ tiệm là người Việt, rất niềm nở khi thấy người đồng hương. Bà ta chỉ dẫn cặn kẽ loại thức ăn nào hợp cho két, nuôi dưỡng ra sao...
            Trong câu chuyện trao đổi, Hương chợt hỏi:
            “Thường những con bà bán ra mà có giấy tờ khai sinh, bà có lưu lại bản nào không?” “Có chứ ạ! Chúng tôi còn giữ lại tên và địa chỉ người bán, người mua, đủ hết”
            “Cháu trai của tôi mua một con két ở đây tên Joshua, chân nó hơi có tật..”
            Bà chủ tiệm nói ngay không đợi Hương nói thêm:
            “Joshua! Tôi nhớ chứ! Một bà già Mỹ đã nhờ tôi bán khi bà ta phải vào nursing home. À! Cậu đó là con bà đấy ư?”
            “Vâng, đúng đấy! Bà có trí nhớ tốt quá!”
            “Cậu con bà có thích con Joshua không?”
            “Chúng tôi quý nó lắm..có điều sao nó chẳng biết nói gì cả?”
            “Có trường hợp như vậy xảy ra khi con vật bị sống xa chủ nhân của nó. Nhưng nhiều khi chỉ một thời gian nó quen với môi trường mới lại nói như két ngay ấy mà!”
            Hương chép miệng:
            “Cả hơn một năm rồi, đâu thấy nó nói gì đâu! Nó chỉ biết huýt sáo và kêu thôi!”
            Bà chủ tiệm nhún vai, không biết phải trả lời thế nào trước sự than phiền của người khách.
            Hương trả tiền đi ra, nhưng nghĩ sao nàng lại quay trở lại tìm người chủ tiệm:
            “Bà có địa chỉ của bà cụ già trong nursing home, chủ trước của Joshua không?”
            “Có chứ, để tôi lấy! Trừ phi bà ấy chết hay đổi chỗ thì chịu thua!”
            Bà ta tìm một lúc rồi mặt tươi lên, hí hoáy viết vào tờ giấy đưa cho Hương:
            “Chúc bà may mắn!”
            Cầm tờ giấy trong tay Hương không biết mình sẽ làm gì? Vào gặp và thăm bà lão, nói chuyện về con két tên Joshua hay đưa Joshua vào thăm chủ cũ? Để làm gì? Nàng cũng chẳng hiểu tại sao những ý nghĩ đó lại đến trong đầu và rồi cứ lẩn quẩn ngày này sang ngày khác.
             
            Một ngày Chủ Nhật cuối tuần, Hương và Joshua tìm đường vào nursing home mang tên là Pine Haven. Chưa bao giờ đặt chân vào một nursing home nào cả nên Hương cũng hơi tò mò. Nơi đây dù không xa nhà thương Memorial bao nhiêu nhưng nằm khuất trong một con đường cụt yên tĩnh rộng rãi, nhiều cây cối bao bọc chung quanh, có cả vườn cảnh cho người đi dạo tạo một cảm giác thật an bình.
            Hương nhìn xuống tờ giấy, lẩm nhẩm tên bà lão:
            “Alice Park! Alice ..Park!”
            Joshua đậu trên vai Hương có vẻ thích thú khi được ra ngoài. Nó kêu những tiếng trong cổ họng nhịp theo với bước chân Hương tiến dần vào khuôn viên nursing home. Một vài người già ngồi trên xe lăn, phía sau có y tá đẩy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Hương là những khuôn mặt già nua bệnh hoạn bạc thếch theo với thời gian. Những khuôn mặt trắng nhờ nhờ với làn da trắng xanh không còn sinh khí hay những gương mặt da màu đã sạm lại và teo tóp.
            Những đôi mắt u uẩn hay những cái nhìn mông lung vào một cõi nào xa xăm như thể tất cả đang sống trong một thế giơi riêng biệt mà những ngôn từ, động tác cử động cũng theo một cách thế khác. Nhịp sống nơi đây chắc chắn không giống như nhịp sống bên ngoài kia.
            Người nữ tiếp viên ngồi ngay cửa vào ngửng lên nhìn Hương  mỉm cười chào hỏi. Hương hỏi ngay:
            “Tôi muốn vào thăm bà Alice Park. Chẳng hay bà ấy ở phòng số bao nhiêu hả cô?”
            Cô gái cắm cúi giở sổ tìm rồi nhoẻn miệng cười thật xinh: “Dẫy A. Phòng số 210. Bà đi thẳng vào trong rồi quẹo trái, đến gần cuối hành lang là đúng chỗ đấy.”
            “Cám ơn cô nhé!”
            Cô gái nở nụ cười thay cho lời nói. Joshua bỗng huýt gió vang dội làm cả Hương lẫn cô gái phải bật cười.
            “Nó tên gì vậy bà?”
            “Joshua!”
            “Hi Hoshua! Hi!”
            Joshua chỉ nhìn cô gái và tiếp tục huýt sáo một cách thích thú. Cô ta còn giơ tay vẫy vẫy nó. Hương lại nhớ đến lời Duy bảo:”Nó thích đàn bà, con gái mẹ à!” Mà có lẽ thế thật!
            Nàng và Joshua theo lời chỉ dẫn của cô gái. Bên trong cũng đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng thoang thoảng mùi hôi, mùi khai quyện lấy mùi thuốc sát trùng. Dọc hành lang, bóng những cô y tá lên xuống nườm nượp. Đi ngang những căn phòng mở rộng cửa, Hương nhìn thấy những khổ ải của thân phận con người mà bệnh hoạn là một trong những thứ làm biến đổi người ta nhanh nhất.
            Không giống nhà thương, mỗi phòng được trang trí một cách khác theo với ý thích của người bệnh hay người thân. Hương đi rất chậm để quan sát. Đầu giường những người bệnh hầu như đều có hình ảnh của một cuộc đời bên ngoài kia mà đã có một lần họ đã sống qua. Chút kỷ niệm hay chỉ là một nhắc nhở về mối liên hệ sao đó để người bệnh đỡ thấy lẻ loi, cô độc chăng?
            Rẽ sang mé trái, Hương thấy ít y tá hơn và mùi hôi cũng giảm đi nhiều, hầu như không thấy mấy. Hương lẩm nhẩm trong đầu tìm số 210. “À! Đây rồi!”, nàng nhủ thầm. Phòng số 210 cũng không khác những phòng kia bao nhiêu và theo bảng tên ở ngoài thì bà Alice Park nằm bên mé trong, sau tấm màn kéo màu xanh nhạt. Giường bên ngoài không thấy người dù rất nhiều đồ đạc. Hương vào bên trong.
            Đằng sau tấm màn, một bà lão tóc trắng phau, uốn quăn thưa thớt, đang ngồi dựa soải chân trên một xe lăn. Hai bàn tay bà trắng bệch và trong suốt với nhiều đường gân xanh tím chằng chịt. Cả hai bàn tay bám lấy hai thành xe lăn. Nghe tiếng động bà ta nhìn lên. Đôi mắt nhỏ xíu bỗng mở to lộ hai tròng con ngươi màu xanh đá nhạt lờ mờ như được dấu sau một bức phim mỏng. Cái miệng mỏng dính không còn thấy rõ mầu môi bỗng hơi há ra. Mắt bà ta như dán chặt vào con két trên vai Hương. Đôi bàn tay bà lão đang bám lấy thành xe lăn bỗng buông ra và run rẩy, giật liên hồi.
            Tất cả những biến chuyển đó chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi của thời gian đang cô đọng trong căn phòng chật hẹp mà Hương là người nhìn thấy rõ nhất. Nàng chưa kịp lên tiếng chào hay hỏi han xem bà lão có đúng là bà Alice Park hay không, nhưng Joshua đã nhanh hơn nàng. Nó bay sà đến đậu vào lòng bà ta và chợt kêu lên:
            “Love ya, Mama! Love ya, Mama!”
            Từ tiếng kêu đột ngột. Không! Phải nói là tiếng nói đột ngột thoát ra từ Joshua chợt như một tiếng ngân, mà sự vang dội cũng như cái tha thiết kéo dài run rẩy trong cái sẽ sàng làm cho sự tĩnh lặng đọng trong căn phòng chợt vỡ tan. Những đường nét cứng nhắc mỏi mệt trên khuôn mặt già nua của bà lão dường như hồi sinh theo với cái nhếch mép, há miệng mà những tiếng nói vẫn còn bị nhốt kín sâu thẳm trong tận cùng cổ họng, hay trong sâu thẳm của trái tim héo hon? Từng thớ thịt trên mặt bà lão giật nhẹ, đôi mắt cố mở to nhìn Joshua. Môi bà lão run run mà vẫn không tạo nên được một âm thanh nào. Chỉ có đôi mắt chớp khẽ. Riềm mi dưới đã ngả sang màu xám bạc chợt đậm màu hơn theo với giòng nước mắt đang tù từ lăn xuống.
            Joshua hai chân bấu vào áo bà lão, vươn cổ, dùng mỏ ngoạm vào áo bà ta để trèo lên cho gần với khuôn mặt bà lão. Nó lại kêu lên, vẫn cái giọng đó:
            “Love ya, Mama! Love ya, Mama! Joshua love ya!”
            Không hiểu trong tiếng kêu thống thiết kỳ lạ đó có gì mà Hương thấy lồng ngực mình thắt lại. Bởi vì nàng không chỉ nhìn thấy, chỉ nghe, mà còn cảm nhận được cái tình yêu giữa Joshua và chủ cũ của nó như phút chốc nàng biến thành bà lão ngồi trên xe lăn kia, cũng chẩy nước mắt đón nhận lời nói yêu thương và cũng thấy lòng rạt rào những cảm xúc kỳ dị. Làm như thế gian này chỉ có một tình yêu và cả hai thực sự thuộc về nhau, như một nửa mảnh đời này tìm lại đúng nửa mảnh đời kia và ráp lại khít khao thành một khối duy nhất, không có gì có thể chia lìa. Joshua ở trong bà lão và ngược lại. Bà lão nhìn trong Joshua và thấy tình yêu của mình. Bà ta lắp bắp đôi môi nhưng không thành tiếng. Khuôn mặt bà lão bỗng tươi nhuận hẳn lên. Tình yêu, sự hiện diện của Joshua đã mang lại mạch sống cho bà. Và tình yêu đó tràn ngập căn phòng nhỏ. Joshua và bà Alice không còn biết đến sự có mặt của Hương.
            Joshua vùi cái mỏ cứng nhắc của nó vào cổ bà lão, mắt nó lim dim như tận hưởng một sự trao gửi thiêng liêng nào đó mà chỉ có nó và người nhận hiểu được. Mãi, bà lão mới tìm lại được tiếng nói của mình. Giọng bà ta yếu ớt và thanh tao khi đưa hai tay vuốt ve Joshua:
            “I love you too. Joshua! Mama love you!”
            Con Joshua kêu lên những tiếng nho nhỏ trong cổ họng và cứ để yên cho bàn tay bà lão vuốt trên từng mảng lông của nó. Những ngón tay nhăn nheo, xương xẩu kia như một cây đũa thần làm Joshua biến đổi hẳn. Nó không còn là con két xanh đứng hai chân trên thanh ngang suốt ngày cú rũ trong căn phòng đóng kín cửa. Nó không còn là tên tù bị giam lỏng trong bốn bức tường kín ở nhà Hương. Joshua lại nói với bà lão:
            “He hurt me!”
            Bà ta sờ lần trên ngón chân khuyết tật của Joshua như thương cảm rồi ôm Joshua vào lòng:
            “My poor baby! He’s gone! He’ll not hurt you anymore. Not anymore baby! He’s gone, baby! Do you miss me, Joshua?”
            Joshua lập lại y hệt như vậy:
            “Do you miss me, Joshua?”
            Bà lão bật cười:
            “No! Do you miss me, Mama?”
            Nó lại lập lại vẫn với giọng lảnh lót:
            “No! Do you miss me, Mama?”
            Tự dưng Hương cũng cười theo. Lúc ấy bà lão mới để ý đến sự có mặt của nàng trong phòng. Tay vẫn ôm Joshua, bà ta nheo mắt nhìn Hương:
            “Cô mang Joshua đến đây?”
            Câu hỏi này thay cho câu hỏi: “Cô là chủ mới của Joshua?”. Có lẽ bà Alice vẫn xem như chỉ có bà là chủ của Joshua. Và bất cứ ai đó đến sau bà chỉ là người thay bà săn sóc nó mà thôi. Hương thấy ngay điều này nên nàng chỉ mỉm cười và đáp gọn:
            “Vâng!”
            Hương cũng chẳng tự giới thiệu mình là ai mà bà lão cũng chẳng hỏi tại sao nàng lại biết tìm đến đây. Tự dưng nàng cảm thấy như sự có mặt của mình ở đây là thừa thãi nên  Hương lẳng lặng bước ra ngoài khi thấy bà Alice lại quay sang Joshua thầm thì những gì nàng nghe không rõ.
            Nàng đi dọc theo hành lang ra ngoài đến sân sau. Chẳng ai hỏi gì mà cũng chẳng ai để ý đến ai. Hương tìm một băng ghế dưới gốc cây. Bây giờ đã là tháng Mười. Trời đã dịu hơn. Nắng vẫn rực rỡ như những ngày hè nhưng sao lại mát hơn? Có lẽ mùa Thu đã đến ở đâu đó và đang bứt dần những chiếc lá ra khỏi cành. Một đành đoạn chia ly tất nhiên! Nàng dựa lưng vào băng ghế nhìn những chiếc lá khô lao xao trên đỉnh đầu rồi lìa cành. Có những chiếc lá còn tiếc nuối, bay lượn vài vòng trước khi rơi chạm mặt đất, có chiếc rơi thật nhanh chúi đầu lao xuống, có chiếc vẫn run rẩy, không chịu lìa cây. Và những chiếc lá còn lại trên cây đang nhìn lên trời xanh trên kia hay nhìn xuống mặt đất để tiếc thương thay cho những chiếc lá đã bỏ đi trước? Nhưng có một điều chắc chắn những chiếc lá còn lại trên những tàng cây kia nhìn thấy được nỗi ngậm ngùi trong nàng ở ánh mắt không còn trong nữa. Cuộc đời, con người, và những tương quan trong đời sống, tình yêu, nỗi chết, rồi cũng chỉ như thế thôi!
            Và rồi, Hương lại nghĩ đến hình ảnh trong căn phòng nhỏ sau lưng nàng: Joshua và bà Alice. Bà lão còn bao nhiêu thời gian để nói câu:”I love you too! Joshua!”, còn bao nhiêu thời gian nữa để ngập chìm trong yêu thương ấy?
            Joshua? Thời gian của con két xanh với những riềm vàng, đỏ, cam rực rỡ, là bao xa? Nhưng có lẽ chắc chắn lúc này, cả bà lão và con Joshua đều chỉ biết đến cái hạnh phúc trân quý tìm lại được nhau, có nhau, cho dù thời gian đang trôi qua và ngày mai, ngày hôm sau nữa và những ngày kế tiếp có còn đến nữa hay không!
            Nàng ngồi giữa cảnh trời bao la trong vắt trên cao kia trong những suy tưởng miên man. Thời gian qua bao lâu rồi? Hương nhìn đồng hồ: "2:30 chiều!" Nàng đã ở chỗ này lâu đến thế kia à? Đã đến lúc phải đưa Joshua trở về. Joshua phải trở về căn phòng của Duy và trở lại làm tù nhân trong một nơi chốn với đầy đủ thức ăn, nước uống, chỉ thiếu bàn tay của bà Alice!
             
            Khi Hương trở lại căn phòng số 210, cảnh tượng âu yếm lúc trước không còn nữa. Joshua đang đậu trên thành giường, còn bà Alice nằm trên giường với bao nhiêu dây nhợ gắn vào người: nào là dây truyền thuốc, dây truyền thức ăn. Trông bà ta có vẻ mệt mỏi. Cô y tá da mầu có nụ cười xinh tươi nhìn Hương rồi hỏi: “Cô quen thế nào với bà Alice?”
            Hương chỉ con Joshua:
            “Qua con két này!”
            “Thật à?”
            Câu hỏi tuy ngắn, gọn nhưng bao hàm nhiều câu hỏi khác nữa. Hương phải giải thích sơ sơ:
            “Bà ta là chủ trước của nó. Tôi đưa nó đến thăm chủ cũ. Vậy thôi!”
            “Cô tử tế quá!”
            Lần đầu tiên từ lúc gặp gỡ Hương thấy bà Alice nhìn nàng lâu hơn. Ánh mắt dịu xuống.
            Hương đến gần Joshua và gọi, nàng làm như nó hiểu: “Joshua! Đến lúc phải đi về..”
            Hình như nó biết nên cứ chần chờ. Mấy cái móng bấu chặt xuống thành giường, trừ ngón khuyết tật. Hương đến gần, nó càng nhích đi xa, mấy cái móng vẫn quặp chặt như một câu trả lời rõ ràng. Hương không biết phải làm sao! Joshua không huýt sáo như mỗi lần Hương gọi nó nữa! Như đọc được tất cả những ý nghĩ trong đầu của cả Hương và con Joshua, bà Alice gọi nó:
            “Joshua!”
            “Mama!”
            Cô y tá thích thú kêu lên:
            “Ồ nó nói được!”
            “Go home, Joshua! Go home!”
            Nó lập lại lời bà Alice:
            “Go home! Go home!”
            Nhưng vẫn không nhúc nhích, Joshua lại kêu lên:
            “Love ya, Mama! Go home!”
            Bà lão nhấc khẽ cánh tay đầy dây nhợ và xòe lòng bàn tay trắng bệch. Joshua bay lại, đậu trong lòng bàn tay bà lão. Nó dụi cái mỏ vào lòng bàn tay bà. Hương thấy bà ta nhắm mắt lại, không phải để đón nhận tình yêu như trước đây nhưng như một sự cam chịu hay một sự chống trả rất âm thầm nào đó. Bà lão lại nói với Joshua bằng một giọng thật nhỏ, như chỉ để cho mình nó nghe và hiểu:
            “Go home, baby! You can not stay here.. I have no home now! Go, baby!..Go..”
            Hương chợt thấy mi mắt nàng nặng trĩu. Quay sang người y tá, Hương hỏi một câu hỏi mà trong thâm tâm nàng cho rằng đây chỉ là một câu hỏi cầu may:
            “Nó ở lại với bà cụ được không cô?” Cô y tá lắc đầu: “Ở đây toàn là người bệnh, luật không cho phép người bệnh nuôi thú vật trong này.”
            Hương lặng im.
            Và Joshua. Hình như hiểu được tất cả những gì bà Alice nói gọn trong vài chữ đó, hay chỉ là những cảm nhận thiêng liêng giữa Joshua và bà Alice. Chỉ giữa con két xanh và bà lão. Nó bay lên và đậu vào vai Hương nhưng vẫn kêu lên: “Love ya Mama!”
            “I love you too, Joshua!”
            Mở mắt ra, nhìn Hương, bà lão ngập ngừng nói:
            “Cám ơn cô.. đã mang Joshua đến đây.. Thỉnh thoảng nếu được gặp nó thì.. vui lắm.”
            Hương đến gần, nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà Alice và nhẹ nhàng nói:
            “Mỗi tuần tôi sẽ mang Joshua vào thăm bà!”
            Bà Alice chợt nhắm mắt lại. Bà ta ngập ngừng:
            “Cám ơn cô.. cám ơn cô nhiều lắm!”
            Nàng đi ra và không nỡ quay lại nhìn căn phòng nhỏ có bà lão gầy gò với bao dây nhợ quanh người đang nằm đếm thời gian.
            Có tiếng thổn thức mơ hồ không biết là của ai? Của bà lão? Của Joshua? Hay của chính Hương?
             
Mặc Bích
(Nhìn Ra Bốn Phương)

12 February 2025

Trả Nợ Ân Tình, truyện ngắn


Đầu mùa hè, vợ chồng tôi đến thăm gia đình cô con gái và ở lại chơi khoảng một tháng. Vợ chồng cháu phải đi theo sở làm, một công ty lớn, di chuyển đến thành phố Las Vegas, và vừa mua được ngôi nhà ở vùng ngoại ô, với khu vườn khá rộng nằm bên bờ hồ Mead. Đây là thành phố du lịch có những sòng bài nổi tiếng. Tôi không hứng thú mấy với chuyện bài bạc, nên chỉ ghé lại các nơi này một vài lần cho biết. Hơn nữa, dù mùa hè chỉ mới bắt đầu, mà khí hậu đã nóng bức, tôi ngại ra ngoài, chỉ muốn nằm nhà nghỉ ngơi và đọc sách. Thỉnh thoảng ra vườn tưới cây hay xuống bờ hồ hóng mát và ngắm trời xanh.

Một hôm, trước khi đi làm, cô con gái đưa cho tôi cái chi phiếu, nhờ giao lại cho người làm vườn. Tiền trả cho ông hàng tháng. Cứ ngày thứ ba mỗi tuần là ông ghé lại làm việc ở khu này, cắt cỏ, tỉa cây và dọn dẹp, làm vệ sinh hồ tắm. Cô con gái còn bảo, bác ấy rất đàng hoàng tư cách, mọi người ở đây đều rất tin cậy và quí mến bác. Tuần trước, tôi cũng đã trông thấy ông đến làm việc trong vườn, nhưng vì ngoài trời khá nóng và đúng lúc đang mải mê đọc một cuốn sách, nên tôi chưa có dịp gặp ông.

Khi thấy ông gom dụng cụ bỏ lên xe, tôi nghĩ ông đã xong công việc, mở cửa bước ra chào, cám ơn và đưa cho ông cái chi phiếu, bảo cô con gái nhờ trao lại. Thấy trên mặt đầm đìa mồ hôi, tôi mời ông vào nhà uống với tôi một lon bia lạnh. Ông nhìn đồng hồ, đưa tay phủi ít bụi cỏ vướng trên áo quần, ngần ngừ, định từ chối. Tôi nắm tay ông kéo lại bộ ghế nhựa nằm dưới gốc một cây bơ phủ bóng, bảo:
– Hay là mình ngồi ở đây để anh thoải mái hơn.
Tôi chạy vào nhà lấy bia, nghe tiếng ông nói vọng theo:
– Tôi chỉ uống với anh đúng một lon, để tí nữa còn phải lái xe đi

Tôi mang bia và mấy cái nem chua ra. Chúng tôi vừa uống bia vừa nói chuyện. Đúng như lời cô con gái, ông là một người hiểu biết và có tư cách. Mái tóc bạc màu muối tiêu và khuôn mặt đượm buồn mang ít nhiều khắc khổ, đã không làm mất đi cái vầng trán cao, đôi mắt sáng, khuôn mặt biểu hiện một con người khí khái và nghị lực. 

Ngồi với nhau khoảng hơn mười phút, ông cám ơn và đứng dậy xin cáo từ vì còn phải sang làm vườn cho các nhà kế cận. Ông bắt tay tôi và hẹn thứ ba tuần sau ông sẽ đến sớm để tâm tình nhiều hơn. Dù chưa biết nhau nhiều, nhưng qua cái bắt tay, tôi có cảm giác là ông cũng có chút cảm tình, quí mến tôi.

Lần thứ hai gặp nhau, chúng tôi có nhiều thì giờ tâm tình và biết về nhau nhiều hơn. Chính điều này đã làm chúng tôi trở thành bạn, khá thân tình.

Trước kia, anh phục vụ trong Binh chủng Lực Lượng Đặc Biêt. Sau khi binh chủng này giải thể anh được bổ sung cho một đơn vị Biệt Động Quân. Một năm sau anh được thăng cấp thiếu tá. Bị thương trong một cuộc hành quân qua Cam Bốt, anh được thuyên chuyển về một Tiểu Khu miền duyên hải Quân Khu 2, quê anh, và phục vụ ở đây cho đến ngày mất nước.

Vợ của anh là cô giáo dạy ở trường tiểu học quận lỵ. Ngày anh vào tù vợ anh mang thai đứa con đầu lòng hơn năm tháng, và cũng không được “lưu dụng” trong chế độ mới bởi ảnh hưởng lý lịch của chồng.

Sau đó, những ngày cuối tuần rảnh rỗi, anh thướng hú tôi sang nhà anh chơi. Anh bảo:- Tôi thường ở nhà một mình, ông cứ sang đây, bọn mình nhậu thoải mái và kể chuyện xưa chơi.

Căn nhà cũ nằm giữa khu vườn khá lớn có nhiều cây ăn trái, và những khóm hoa được anh cắt tỉa rất công phu. Có cả một hòn non bộ, nước chảy róc rách, trông rất yên ả, thơ mộng. Cùng độ tuổi với anh, nhưng tôi thua anh rất xa về chuyện cần cù với bàn tay khéo léo. Nhìn khu vườn nhà, tôi biết là anh đã bỏ ra rất nhiều thì giờ và công sức. Lần nào đến chơi, anh cũng làm cơm, nướng thịt và hai anh em uống cạn mấy lon bia. Có khi tôi phải ngủ một giấc, đến gần tối mới về nhà. Một lần, được tin anh bị bệnh, vợ tôi theo tôi đến thăm anh, giúp anh làm vài món ăn và dọn dẹp nhà cửa bếp núc.

Mấy năm sau này, từ khi cô con gái sinh đứa con đầu lòng, vợ chồng tôi thường xuyên lên ở giúp cháu, nên thường gặp anh hơn và dần dà trở nên thân thiết như anh em.

Nhìn tấm ảnh, tôi khen:
– Trông ông bà rất đẹp đôi. Lúc trẻ chắc chị nhà là cô giáo hoa khôi của một trường nào đó. Mấy cháu cũng đều rất dễ thương.
Anh ngượng ngùng một tí, rồi làm tôi bất ngờ:
– Đây là bà vợ thứ nhì và hai cháu lớn là con riêng của bà. Chỉ có thằng nhỏ nhất là con chung của bọn tôi.
Tôi tò mò, không kịp giữ ý:
– Chắc bà chị trước đã qua đời khi còn ở Việt nam?
– Không, bà vẫn còn sống và đang ở trên Houston.
Tôi vội vàng nói lời xin lỗi. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên, anh giải thích:
– Bà bỏ tôi sau hơn một năm vào tù, lấy một người đàn ông khác, sau đó dắt theo đứa con gái vượt biên từ năm 1979.
Trầm ngâm giây lát, anh nói tiếp:
– Và từ đó bà không hề liên lạc với tôi, mặc dù có vài lần tôi viết thư riêng nhờ người mang đến cho bà, để chỉ hỏi tin tức đứa con, nhưng không hề nhận được hồi âm. Bây giờ, nếu còn sống, đứa con gái của tôi cũng đã gần bốn mươi tuổi, nhưng chắc chắn nó không hề biết tôi là cha của nó.
Tôi cố tìm một lời an ủi:
– Với vợ con và niềm hạnh phúc mới sau này, chắc anh cũng đã nguôi được nỗi buồn?
Anh cười:
– Thực ra khi mới biết tin, dĩ nhiên tôi buồn lắm, nhưng rồi sau đó lại mừng cho mẹ con bà. Chứ nếu ở vậy mà chờ tôi, thì cuộc đời của mẹ con bà không biết sẽ ra sao? Lúc còn ở trong tù, đêm nào tôi cũng nằm cầu nguyện cho mẹ con bà được yên lành, hạnh phúc với gia đình và quê hương mới. Tiếc là khi ấy tôi không thể liên lạc được để nói lên điều này cho bà được yên lòng.
– Tôi nghĩ điều đó chắc không còn cần thiết, bởi đã đối xử cạn tình với anh như vậy, chắc bà cũng chẳng có hối hận điều gì.
Anh trầm ngâm:
– Xem vậy chứ đàn bà cũng dễ xúc cảm, nặng lòng trắc ẩn lắm. Dù gì, tôi cũng thấy thương và tội nghiệp cho bà.
Đến chơi khá nhiều lần, nhưng vợ chồng tôi chưa bao giờ gặp người vợ của anh bây giờ. Một hôm chúng tôi bất ngờ và vô cùng ngạc nhiên khi nghe anh tâm sự về bà:
– Bà ấy rất ít khi có ở nhà. Bà sống ở các sòng bài. Khi nào không kiếm được tiền bà mới về đây, nhưng sau đó, khi có được đồng nào bà lại đi ngay. Trước kia, tôi bỏ ra tất cả tiền bạc dành dụm và vay mượn thêm của ngân hàng để sang lại cái tiệm ăn, cho bà làm chủ. Buôn bán cũng khá lắm, nhưng sau đó phải bán để trả nợ cho bà. Đồ đạc trong nhà này, cái gì còn bán được bà cũng đã bán hết, nên chẳng còn một thứ gì đáng giá.
– Sao anh và các cháu không khuyên giải, can ngăn bà? Vợ tôi hỏi.
– Cũng may, tôi đã cố gắng hết sức lo cho hai cháu đầu, con của bà được vào đại học. Cả hai đều học xa nhà, nên tôi tìm cách nói dối để các cháu yên lòng mà học hành, còn thằng con trai út, lúc ở với tôi còn nhỏ, nên chẳng chú tâm điều gì, cứ tưởng mẹ nó đi buôn bán làm ăn. Sau này, khi thấy cháu lớn khôn, không muốn ảnh hưởng đến chuyện học hành và tương lai của nó, tôi gởi cháu vô nội trú một trường Công giáo. Không thấy mẹ, lâu lâu cháu cũng hỏi thăm, không biết là cháu có biết gì không, nhưng chẳng thấy nó buồn hay thắc mắc điều gì. Tôi nghĩ có cho các cháu biết cũng vô ích, chỉ làm hại các cháu. Hơn nữa, khi đã lâm vào con đường cờ bạc rồi, cũng giống như thuốc phiện, khó mà quay lại được.
– Đến bây giờ hai cháu lớn cũng chưa biết? Tôi hỏi anh.
– Sau khi tốt nghiệp, hai cháu về nhà sống một thời gian chờ xin việc. Lúc ấy hai cháu mới biết.       Năn nỉ, can ngăn, rồi làm dữ cũng đều vô ích. Sau này hai cháu có việc làm rồi lập gia đình, ra ở riêng. Khi hết tiền bà chạy đến xin, xin vợ không được bà xin cả chồng. Tội nghiệp hai thằng chồng đều là Mỹ hết. Cuối cùng tụi nó sợ quá, phải dọn nhà đi nơi khác và không cho bà biết. Sau này, thấy tôi quá khổ sở với bà, hai cháu rất giận mẹ, đề nghị rồi hối thúc tôi bỏ bà, chuyển đi nơi khác ở. Hai cháu thương tôi, lúc nào cũng xem tôi như cha ruột và luôn tỏ ra biết ơn tôi đã hết lòng lo lắng cho hai cháu.
– Chắc anh không nghe theo hai cháu, nên bây giờ vẫn còn ở lại đây. Tôi hỏi
Anh cười, thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra:
– Không được! Tôi bảo với hai cháu là ba còn nợ mẹ rất nhiều, mà dù có phải khổ sở, chịu đựng suốt cả đời vì mẹ con, cũng chưa trả hết được. Hơn nữa đã là vợ chồng, ba đâu có thể nhẫn tâm bỏ bà trong lúc bà bị sa lầy.

Sau đó anh ngồi kể cho vợ chồng tôi nghe:
– Bà là cứu tinh của tôi. Trước kia, có một thời nhà cha mẹ bà ở gần nhà tôi. Bà là con một của một gia đình giàu có. Khi ra tù, vợ con đã bỏ đi, tôi không có chỗ để ở, lại mang theo bệnh tật từ trong tù, nên chẳng làm được việc gì. Không hiểu sao lúc ấy bà lại cưu mang tôi, và can đảm lấy tôi làm chồng. Lúc ấy bà có tiền, làm chủ một vựa trái cây và buôn bán thuốc tây, cà phê. Lúc đầu, thấy tôi khổ sở, bà nhận tôi vào làm công và bảo dọn tới nhà bà ở vì căn nhà sau, có một phòng bỏ trống. Cả hơn nửa năm tôi mới khỏe lại và bắt đầu phụ giúp công việc buôn bán với bà. Nhưng bà chỉ giao cho tôi lo việc sổ sách. Bà thường lo lắng chăm sóc cho tôi, và cuối cùng tỏ tình với tôi.  Khốn khổ hơn là có một tay cán bộ kiểm lâm CS từ miền Bắc chuyển vào, đã theo đuổi, tán tỉnh bà, thỉnh thoảng mang đến cho bà những bộ bàn ghế được đóng bằng gỗ quí, nhưng bà nhất quyết chối từ. Ban đầu hắn tưởng tôi là người làm công hay bà con trong nhà, nhưng sau này, khi biết bà đã lấy tôi, hắn tìm mọi cách hãm hại tôi. Bà bỏ tiền mua cả đám công an, nên tay kiểm lâm sợ, bỏ cuộc. Hơn nữa nghe nói hắn đã có vợ con ở ngoài Bắc. Có lần tôi hỏi, vì sao bà thương và lấy tôi khi tôi trong cảnh thân tàn ma dại. Bà cười, bảo là ngày xưa, lúc còn là cô con gái mới lớn lên bà đã thầm yêu tôi, bà thích lính chiến, nhất là bộ áo quần bông với cái bê-rê xanh của LLĐB, oai hùng lắm, nhưng tôi không để ý đến bà.  Đúng vợ chồng là cái số. Sau này bà lấy một thương gia, nhưng ông mất sớm. Nhờ vậy, sau 75, bà còn giấu được một số vàng để bây giờ có vốn buôn bán nuôi con.

Những lần chính quyền địa phương gọi tôi, diện tù “cải tạo” đang trong thời quản chế, đi làm công tác thủy lợi, bà đều thuê người đi làm thay. Sợ bọn chúng cưỡng bách tôi đi Vùng Kinh Tế Mới, bà làm hôn thú và dù rất khó khăn, bà cũng chạy cho tôi được vào chung hộ khẩu với gia đình bà. Với lòng biết ơn và quí mến, tôi đã hết lòng yêu thương bà và hai đứa con của bà. Tôi dạy kèm thêm, nên hai cháu đều là những học sinh giỏi của trường, luôn vâng lời, lễ phép dễ thương. Tôi xem hai cháu như con ruột của mình. Một năm sau, chúng tôi rất vui mừng khi có một đứa con chung, là thằng con trai, giống tôi như đúc. Tuy nhiên, cứ mỗi lần nhìn nó, tôi lại nhớ đến đứa con gái đầu lòng với người vợ trước. Từ lâu rồi tôi không liên lạc đươc, nên chẳng biết bây giờ nó ra sao. Chỉ mong ông trời thương, để có một ngày cha con được gặp lại.

Anh ngừng câu chuyện ở đây, lim dim đôi mắt, nhưng ngay sau đó lại nở nụ cười. Tính anh như  thế, tôi chưa khi nào thấy anh buồn điều gì lâu. Tôi thầm nghĩ, khi người ta chịu đựng quá nhiều thử thách trong cuộc đời, thì dường như buồn vui gì cũng như nhau thôi.
Tôi cười theo anh, và nói đùa:
– Không ngờ ngày xưa ông anh cũng đào hoa ghê. Đến bước đường cùng mà vẫn có người đẹp yêu tha thiết.
Anh quay sang tôi cười, giải thích thêm:
– Bọn mình là lính mà. Người lính lại càng không thể phụ ơn những người đã từng cưu mang, sống chết với mình. Cũng như anh em mình đâu có thể quên những đồng đội đã chết, đã hy sinh một phần thân thể vì mình, phải không?

Tôi im lặng, không trả lời, chỉ thấy thương và càng quý trọng anh. Người lính chưa bao giờ bại trận, nhưng cuối cùng đã phải làm người thua cuộc. Qua bao nhiêu thử thách vẫn còn giữ được cái sĩ khí, lòng bao dung và nhân cách của mình.

Những lần gặp tôi, trong các câu chuyện anh thường nói về chuyện lính. Anh kể cho tôi nghe những trận chiến mà anh đã từng tham dự. Từ lúc những buổi đầu trong các toán Delta, sau đó đóng đồn biên phòng, rồi sau này ra Biệt Động Quân, và cuối cùng là Địa Phương Quân. Anh say sưa kể từng chi tiết, địa danh, từng tên của những người lính đến các cấp chỉ huy. Trong lãnh vực này, trí nhớ của anh lại trở nên phi thường. Tất cả như nằm sẵn đâu đó trong lòng anh. Nhiều lần anh bảo với tôi là anh đã sống với nó, với cái quá khứ ấy. Anh còn ví von: “lúc trước ông nhà thơ Phùng Quán đã từng tâm sự là khi ngã nhờ vịn những câu thơ mà đứng dậy, còn với tôi thì đã bao lần thất chí, đã nhờ những hình ảnh quá khứ này để có thể đứng lên. Không có một thời làm lính, một thời trong chiến trận, chắc tôi đã quỵ ngã từ lâu rồi.”

Cuối cùng thì vợ chồng tôi cũng gặp được bà vợ bây giờ của anh. Mùa hè năm ngoái, anh làm đám cưới cho cậu con trai út. Đứa con chung duy nhất của hai người. Cô dâu lại là con của một người bạn HO của anh, mà tôi cũng quen biết, vì từng ở chung một trại tù ngoài Bắc. Anh nhờ vợ chồng tôi đi họ bên phía đàng trai, và phụ giúp anh sắp xếp công việc trong ngày hôn lễ. Ngày đám cưới, chúng tôi đến nhà anh sớm hơn giờ hẹn để phụ sắp xếp bàn thờ và lễ vật. Rất bất ngờ khi thấy có cả chị ra đón bọn tôi ngoài cửa. Có lẽ anh đã giới thiệu trước ít nhiều về vợ chồng tôi, nên chị nở nụ cười thật tươi chào đón và gọi đúng tên chúng tôi. Vợ chồng tôi khá ngạc nhiên, bởi chị khác hoàn toàn với hình ảnh người đàn bà mà chúng tôi tưởng tượng bấy lâu nay với không mấy cảm tình. Xinh đẹp, vui vẻ nói năng lưu loát, và dễ thân thiện. Chỉ có ốm hơn so với trong ảnh, và thoáng một chút mệt mỏi, bơ phờ. Buổi chiều, trong tiệc cưới, khi người MC giới thiệu gia đình nhà trai, anh chị cùng vợ chồng hai cô con gái bước lên sân khấu đứng bên cô dâu chú rể, cúi đầu chào khách. Tiếng vỗ tay của thực khách như thay cho lời hâm mộ một gia đình đẹp đẽ, hạnh phúc. Tôi bỗng thấy một chút xót xa, tiếc nuối trong lòng và thầm mong là biết đâu nhờ đám cưới của cậu con trai, mà chị sẽ trở về với con người cũ, để hai người còn có bên nhau trong hạnh phúc ở những năm tháng cuối đời.

Cuối tuần sau ngày đám cưới, anh đưa chị ghé đến chơi, mang biếu chúng tôi hai chai rượu và một hộp trà. Anh bảo là quà “lại quả” hôm đám cưới, anh chị chia cho chúng tôi để mừng cho hai cháu.  Khi vợ tôi ngồi chỉ cho chị cách thức làm nem Ninh Hòa, mà chị rất thích, anh rủ tôi ra ngoài vườn, vui mừng bảo là chị ấy đã hồi tâm, vì sau ngày đám cưới thấy các con hạnh phúc vui vẻ, sau đó các cháu tâm tình khuyên giải bà, nên từ bỏ mọi thứ đam mê sai lầm để sống với tôi trong tuổi già, vợ chồng săn sóc hôm sớm có nhau.  Anh hy vọng lần này bà đã thức tỉnh. Hơn nữa tuổi tác cũng đã nhiều, bà thấy sức khỏe sa sút thường hay mệt mỏi. Tôi nắm hai tay anh mừng rỡ, và nói vài lời, ngưỡng mộ sự bình tĩnh, chịu đựng và tấm lòng bao dung của anh. Tôi lấy trong túi áo ra bốn tờ vé số Power Ball vừa mới mua trưa nay. Đặc biệt số độc đắc xổ chiều nay, sẽ hơn ba mươi triệu Mỹ kim. Tôi chia cho anh ba tờ, bảo:
– Hy vọng ông trời sẽ cho thêm anh chị điều may mắn.
Anh cười:
– Cám ơn bồ, nhưng thường là “phúc thì bất trùng lai, mà họa thì vô đơn chí!”
Tiễn anh chị ra xe, bắt tay nhau trong tiếng cười rộn rã.

Khoảng ba tuần sau, anh gọi phone báo cho chúng tôi một tin không vui. Chị ấy đang nằm trong bệnh viện. Bác sĩ vừa khám phá chị bị ung thư vú trong thời kỳ cuối. Vì quá lâu, không khám bệnh, nên không phát hiện được, bây giờ đã di căn, không biết có cần giải phẫu hay không. Chúng tôi chạy lên bệnh viện thăm chị. Thấy chúng tôi, chị nở nụ cười, nhưng trông khá mệt mỏi, bơ phờ. Anh  luôn bên cạnh, đút thức ăn, săn sóc an ủi chị. Anh bảo tối nào, theo yêu cầu của chị, anh cũng ngồi bên cạnh đọc các chuyện chiến trường, chuyện lính cho chị nghe.

Bệnh viện quyết định không giải phẫu, chỉ cấp cho một số thuốc để đưa chị về nhà. Các cháu đều về thăm. Sống bên cạnh chồng cùng đầy đủ các con, chị vui và hạnh phúc lắm. Chúng tôi đến thăm, dù không được khỏe, nhưng chị rất tỉnh táo, nằm kể cho các con nghe về cuộc đời mình, ân hận đã có một thời sa ngã vào con đường bài bạc, làm khổ sở và xấu hổ gia đình. Chị cũng nắm chặt tay anh, nói rất yêu và biết ơn anh đã hết lòng lo lắng đùm bọc vợ con trong những năm tháng khó khăn, xin anh tha thứ về thời gian chị đã có lỗi lầm.

Anh ngồi bên cạnh, cúi xuống hôn trên trán chị:
– Lúc nào anh cũng yêu em, cầu xin ơn trên cho em sống khỏe mạnh để anh tiếp tục lo lắng, trả nợ cho em. Món nợ ân tình lớn lao, mà cả đời này anh cũng không thể trả hết được cho em.
Nước mắt của chị ràn rụa trên đôi gò má hóp. Tôi thầm nghĩ đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc. Cho dù có chút xót xa.

Chị đã mất vào khuya hôm ấy. Theo lời anh kể lại, suốt đêm anh nằm với chị, ôm chị trong vòng tay rồi ngủ mê lúc nào không biết. Khi giật mình thức dậy thì chị đã ra đi tự lúc nào.

Vợ chồng tôi có mặt trước khi đưa chị vào nhà quàn bệnh viện. Chị nằm như đang say ngủ, nét mặt bình yên, thanh thản.

Và lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh khóc.

Phạm Tín An Ninh

11 November 2024

Câu Chuyện Yếu Lòng

Câu chuyện dưới đây xẩy ra đã lâu và bài viết đã đăng trên TTR. 

Nhưng khi đọc lại người ta thấy như sự việc mới xẩy ra hôm qua, rất mới, rất gần gũi, trong đó những rắc rối gây phiền toái rất khó chịu mà một nam nhân yếu lòng rất dễ vướng mắc. Nói khác đi, đó là một tai vạ mà hễ có đàn ông là có nó. Xin mời đọc, nhất là giới mày râu để hy vọng mỏng manh rằng khi gặp phải sẽ chạy thoát được. (TTR)


Báo chí và giới truyền thông Pháp từ lâu vẫn gọi Ông Dominique Strauss-Kaln tắt là DSK – cựu Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế FMI. Câu chuyện tuy xảy ra ở thành phố New York, Hoa Kỳ, nhưng có liên quan tới Paris, vì ông DSK là một người Pháp. DSK, 62 tuổi, là chính khách thuộc đảng Xã Hội Pháp, từng giữ chức Bộ Trưởng liên quan đến kinh tế, tài chánh vào những năm 1991-1993 và 1997-1999 và được chọn làm Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế từ tháng 11-2007. Ông là một người được dư luận Pháp coi là sáng giá, nếu ra tranh cử Tổng Thống Pháp vào tháng 5.2012, sẽ đánh bại được ông Sarkozy, Tổng Thống đương nhiệm. Nhiều người thân cận đều tin là DSK sẽ từ chức TGĐ/FMI trở về Pháp chuẩn bị ra tranh cử Tổng Thống với danh nghĩa đảng Xã Hội.

Nhiều người đang chuẩn bị và chờ ông thì đột nhiên một biến cố lớn xảy ra cho ông. Vào lúc 4:30 pm ngày 14.5.2011 tại phi trường J F Kennedy, New York, ngay trước lúc chiếc máy bay Air France cất cánh bay về Paris, DSK bị cảnh sát Hoa Kỳ lên máy bay bắt ông và đưa về cơ quan cảnh sát. Lý do là một phụ nữ da đen tên Nafissatou Diallo, 32 tuổi, người gốc xứ Guinée, Phi Châu, nhân viên dọn phòng ở khách sạn Sofitel, NY báo với cảnh sát là trưa hôm đó bà bị DSK cưỡng hiếp trong phòng của ông. Hai tờ báo lớn New York Times và New York Post đưa lên trang nhứt những tin tức có tính cách cáo buộc DSK. Ông biện lý Cyrus Vance Jr. Cũng có những lời lẽ nặng nề đối với DSK.

Ngày thứ hai 16.5, DSK bị giải ra trước tòa án quận hạt Manhattan NY. Mặc dù luật sư của ông DSK xin đóng tiền ký quỹ một triệu đô la, xin giao hộ chiếu, để xin cho ông được tại ngoại hầu tra, nhưng bà chánh án M.C. Jackson từ chối, cho biết DSK bị cáo buộc về 7 tội danh và cho lệnh tạm giam DSK ở nhà tù Rikers Island NY. Công luận Pháp xúc động trước cảnh ông DSK bị còng tay với bộ mặt phờ phạc, râu lởm chởm, trước công chúng và ống kính của các ký giả Mỹ, và cho rằng luật pháp Hoa Kỳ không tôn trọng quyền được coi là vô tội của một người mới chỉ bị nghi ngờ phạm tội, nhưng chưa có án xử.

Ngày 18.5, đại bồi thẩm đoàn gồm 23 người họp kín để nghe nguyên cáo N. Diallo kể lại nội vụ. Cũng hôm nay, ông DSK gởi thư xin từ chức TGĐ cơ quan FMI.

Ngày 19.5, DSK ra trước Toán Án Tối Cao của Liên Bang NYork, các luật sư lại xin cho ông được tại ngoại hầu tra. Ông chánh án M. Obus chấp thuận với điều kiện đương sự phải đóng số tiền thế chân một triệu đô la, cộng với số tiền ký quỹ bảo đảm 5 triệu đô la, bị chỉ định cư trú, phải mang vòng kiểm soát bằng điện tử, phải tự trả tiền thuê một nhân viên an ninh trông chừng thường trực có võ trang. DSK được đưa ra khỏi nhà tù Rikers Island ngày 20.5.

DSK trước sau đều không nhận tội cưỡng hiếp N. Diallo, chỉ nhận có sự giao hợp nhưng với sự thuận tình của nguyên cáo.

Văn phòng biện lý Cyrus Vance Jr vẫn tiếp tục cuộc điều tra. Mỗi lần DSK xuất hiện ngoài đường, những phụ nữ trong Hiệp Hội Bảo Vệ Phụ Nữ, những nữ nhân viên trong công đoàn về khách sạn dàn chào và đả đảo ông ta.

Sau khi thu thập những tin tức điểu tra, báo NYTimes bắt đầu dịu giọng với DSK và đưa ra những bằng chứng bất lợi cho bà N.Diallo.

Để phản ứng, bà N.Diallo mở cuộc họp báo, chắc hẳn là theo lời cố vấn của các luật sư của mình, diễn tả lại với cử chỉ lúc mà bà cho là bị ông DSK cưỡng hiếp trong phòng số 2806, khách sạn Sofitel. Nhưng người ta thấy sự xúc động của bà có nét giả tạo, cách diễn tả của bà như đóng kịch, nên không có hiệu quả thuyết phục.

Ngày 22.8, ông biện lý C.Vance Jr gọi bà N.Diallo tới văn phòng thông báo, theo kết quả điều tra, bà đã nói láo trong những lần cung khai bất nhứt về việc tố cáo ông DSK cưỡng hiếp bà, bà đã khai gian trong lý lịch để xin tỵ nạn ở Hoa Kỳ, bà có tới 6 đường dây điện thoại chứ không phải một như bà đã khai, có bằng chứng cho thấy bà là thành phần trong một đường dây buôn ma tuý. Do những lẽ đó, văn phòng biện lý của ông sẽ đề nghị toà án huỷ bỏ lệnh truy tố ông DSK.

Ngày 23.8, toà án New York triệu tập phiên họp, có mặt hai bên nguyên và bị cáo cùng luật sư của hai phía. Sau khi nghe phó biện lý trình bày kết quả điều tra, ông chánh án M.Obus đã tuyên bố chấp thuận lời yêu cầu của công tố viện, huỷ bỏ lệnh truy tố hình sự ông DSK về 7 tội danh đã báo cho ông trước đây và tha bổng ông.

Ngay sau đó luật sư của bà Diallo đưa đơn lên tòa Thượng Thẩm xin huỷ đề nghị tha DSK của biện lý, nhưng tòa Thượng Thẩm bác đơn.

Trước đó, qua những tin tức điều tra về nội vụ, luật sư của bà N.Diallo biết là vụ án về phần hình sự sẽ bị huỷ bỏ, ngày 4.8 đã đưa đơn kiện ông DSK về phần dân sự để đòi bồi thường thiệt hại. Theo luật pháp của Hoa Kỳ, một vụ án có thể đem kiện về hai phần hính sự và dân sự riêng biệt. Toà đã nhận đơn. Nhưng vụ kiện về dân sự thường kéo dài một hai năm.

Được trả tự do, ông DSK cùng bà vợ đã về Pháp ngày 4.9.

Nhưng cái nạn của ông DSK vẫn chưa dứt. Song song và cùng thời với vụ án Diallo ở Mỹ, bên Pháp cô Tristane Banon, một nữ ký giả và văn sĩ, đâm đơn kiện ông DSK ở Pháp đã toan cưỡng hiếp cô trong một buổi phỏng vấn DSK dành cho cô năm 2003. Thẩm phán đã đòi và nghe lời khai của cả hai bên và đã cho đối chất, sau đó đã tuyên bố không có bằng chứng rõ rệt về việc DSK toan cưỡng hiếp, nhưng xác nhận ông DSK có xâm phạm tình dục cô T.Banon; tuy nhiên theo luật của Pháp sự việc xảy ra đã 8 năm, tội danh nầy đã bị thời tiêu, và tuyên bố xếp hồ sơ.

Vẫn chưa hết. Theo tin tức gần đây, ông DSK bị nghi ngờ, trong thời gian một, hai năm gần đây, có dính líu vào một đường dây cung cấp gái mại dâm hạng sang ở một khách sạn ở Lille, một thành phố miền bắc nước Pháp, với tư cách của một người thụ hưởng. Nhiều người trong đó có một số giới chức công quyền đã bị bắt giữ để điều tra. Có lẽ ông DSK cũng sẽ được cảnh sát mời để lấy lời khai.

Sau vụ Diallo bên Mỹ, tuy DSK được tha bổng về phần hình sự, nhưng qua tin tức báo chi về đời sống tình dục của DSK (cũng nên biết bà vợ hiện tại của ông là người thứ ba, sau khi ông đã lần lượt ly dị với hai người vợ trước), uy tín chính trị của ông xuống rất thấp, có người còn cho là sự nghiệp chính trị của ông coi như tiêu tan. Chính DSK có lần đã tự nhận ông có một điểm yếu về phía phụ nữ.

Câu chuyện bổn phận vợ chồng

Tháng 5.2011 vừa qua, Toà Thượng Thẩm Aix-en-Provence ở miền nam nước Pháp đã xử y án của Toà Sơ Thẩm cho ly dị một cặp vợ chồng và buộc người chồng phải bồi thường thiệt hại cho người vợ 10.000 euros. Lý do là hai người đã cưới và ăn ở với nhau đã 21 năm, có hai đứa con, nhưng người chồng không mặn mòi lắm với chuyện chăn gối. Mặc cho những cố gắng hâm nóng của chị vợ, anh chồng vẫn không tha thiết, không tích cực và thú nhận lửa tình trong anh đã nguội với thời gian, vì sức khoẻ, vì công việc, vì mệt nhọc... Nhưng luật về hôn nhân lại qui định chuyện tình dục là một yếu tố quan trọng, một bổn phận để duy trì đời sống chung của vợ chồng.

Thế mới biết, trong chuyện đó, các đấng mày râu thuộc hạng tả xung hữu đột hoặc ngược lại xuội lơ đều dể mắc nạn thằng nhỏ hại thằng lớn.

NQMinh

16 October 2024

Hồn Ma Bên Bờ Sông Dakbla

Trần Bạch Thu

Tôi lên Kontum sau chiến cuộc “mùa hè đỏ lửa” năm 1972, phố xá vẫn còn dấu vết đổ nát, hoang tàn chưa dọn dẹp, nhà cửa ở khu phố chính, một vài căn vẫn còn trống hoác, trơ những mảng tường cháy đen còn ám khói. Ngoài ven thị xã, đây đó trong sân nhà mấy hố bom cày còn đọng nước chưa ai lấp. Dọc theo đường Nguyễn Huệ đi vòng lên phía Phương Nghĩa mọi người vẫn còn nhắc lại mấy hôm đầu hồi cư về đây, xác súc vật lẫn xác người vẫn còn nằm rải rác ven đường bốc lên mùi thúi rửa.

Đang còn phân vân không biết sẽ trú ngụ nơi đâu. Thường thì anh em mới lên đáo nhận nhiệm sở hay mướn nhà ngoài phố ở chung với nhau cho tiện việc đi làm hay ra phố chợ, còn những ai độc thân thì được cho biết có một căn nhà gỗ hai tầng còn bỏ trống được gọi là “biệt điện” vì trước đây là nơi dừng chân nghỉ trưa của vua Bảo Đại khi đi kinh lý vùng đất nầy, nhưng ít có ai chịu đến đây ở vì vắng vẻ và hơi sợ, nhất là cư dân xung quanh hay đồn đại với nhau là khu nhà nầy có ma, ngay cả ngôi biệt thự ngói đỏ khang trang nằm bên kia đường gọi là “công quán” cũng ít có người chịu đến tạm trú dù chỉ một vài ngày.

Đây là một khu đất rộng, rậm rạp trồng nhiều cây vông (bã đậu) cao vút giáp giới bờ tường, khu doanh trại của các cố vấn Mỹ, nằm gần sát dốc cầu Dakbla về phía bên thị xã. Đứng trên thành lan can ngôi nhà biệt điện nầy, ta có thể nhìn thấy cả một vùng trời nước bát ngát mênh mông bên bờ sông, cảnh núi đồi xa xa thật hùng vỹ và thơ mộng, tôi rất thích nên xin dọn vào ở ngay. Có thể mọi người lo sợ về an ninh, nhưng tôi nghĩ nhà nằm sát tường rào khu nhà cố vấn Mỹ chắc cũng không đến nổi nào, hơn nữa dưới chân cầu Dakbla luôn luôn có Nghĩa quân thuộc trung đội gác cầu ngày đêm nên có lẽ cũng không sao.

Thật đúng là ngôi nhà hoang từ lâu không có người ở, bếp núc lạnh tanh, sau nhà có một cái giếng nước lâu ngày không ai “cảo” (vét) nên lá cây đổ ngập lên đến gần bờ thành. Mọi người đồn rằng bộ đội miền Bắc chết không kịp kéo đi đã bị quăng xác xuống giếng, nghe cũng hơi ớn, nhưng rồi tôi mướn người xuống cảo giếng cũng chẳng thấy đâu và nước giếng ở vùng đất Kontum cát trắng nầy, đặc biệt là ở nơi nào cũng vẫn mát ngọt như nhau, ngay cả giữa lòng phố thị bên cạnh trường trung học Hoàng Đạo, phía sau dãy phố cổ đường Nguyễn Huệ có một “Giọt nước” trũng, lộ thiên lâu đời, nước ngọt phún chảy ra quanh năm và cư dân đông đúc ở xóm bên kia con dốc thường hay ra đây lấy nước về dùng tự do.  

Tôi sắp xếp dần, nhà cũng tươm tất và ấm cúng, trong nhà có bộ sa lon bằng gỗ thông sơn véc ni bóng láng do Thiếu tá Phan, chỉ huy trưởng Thiết đoàn 8 gởi tặng cùng với bộ giường ngũ dã chiến bằng sắt và một số vật dụng cá nhân. Sinh hoạt ổn định, không khí trong lành, có người tới lui, thỉnh thoảng tôi có rủ một số anh em đến chơi, có khi ngủ lại qua đêm trong căn nhà tôn rất rộng ở bên hông biệt điện. Thật vui vẻ, có hôm các bạn còn hỏi với nhau:

        - Có ai thấy ma “nữ” nào không?

Thư Của Người Khách Âu Đến Thăm Và Viết Về Hà Nội

Bức thư rất vui qua lối viết dí dỏm của tác giả (TTR)

** 

Em thân yêu!

Anh tới Hà Nội đã được hai tuần rồi. Chắc em cũng biết, hai tuần trong đời một con người không đáng là bao, nhưng em cứ tin rằng hai tuần ở đây mang lại cho anh nhiều cảm xúc hơn hai mươi năm ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Thế giới của chúng ta rộng lớn và kỳ lạ, và Hà Nội có cả hai đặc tính đó, đã vậy còn kỳ lạ và rộng lớn một cách vẻ vang.

Đấy là một thành phố không lớn lắm em ạ, nhưng rõ ràng ai sống ở đấy cũng tự hào. Sự tự hào này có nhiều cách diễn đạt, ví dụ như có rất nhiều món ăn kiêu hãnh mang tên Phở Hà Nội, ô mai Hà Nội, bánh Trung Thu Hà Nội… Nhưng chủ yếu người đi đường thích nói mình là người Hà Nội. Có lẽ đấy là thành phố duy nhất có người trí thức, người nông dân, người nhập cư, người vãng lai và người Hà Nội.

Thành phố này có một khí hậu tuyệt vời, không nóng và không lạnh, không quá nắng và cũng không quá mưa. Và có sự âm thầm rất khó tả. Nếu nửa đêm, em có dịp đi bộ trên vỉa hè, nghe rõ từng tiếng bước chân mình và nghe lá cây trên đầu xào xạc, mùi hoa sữa (rất giống sữa tươi!) bay bay, cam đoan em sẽ có một cảm giác lâng lâng đến nghẹn ngào.

Kiến trúc ở đây có cổ kính, có hiện đại, có nửa cổ kính, nửa hiện đại, thậm chí có cả sự pha trộn cực kỳ phong phú ví dụ như cái cột thì cổ kính còn cái mái thì hiện đại. Điều ấy rõ nhất ở những vùng mới xây dựng ven đê. Đến nỗi anh vô cùng hối tiếc khi ngày xưa mình đã mất tiền đến Hy lạp và đến La mã để xem các công trình. Chỉ cần đến Quảng Bá là thấy tất cả.

Anh hay lang thang một cách hào hứng trên những con phố cổ ở trung tâm. Lang thang bằng đôi chân của mình vì đấy khéo là cách tốt nhất để nhẩy, để chạy, để nhón gót hoặc để luồn lách qua đủ các thứ xe cộ, quang gánh, hàng quán la liệt, phong phú, rực rỡ, lộn xộn, lơ lửng ở tứ phía.

Em sẽ không khi nào tưởng tượng nổi người ta có thể chất nhiều thứ đến thế và trưng bày nhiều thứ đến thế trên một vỉa hè nhỏ hẹp đến thế. Nếu anh là chủ một con tàu vượt đại dương, anh thề sẽ mời một người dân Hàng Ngang hay Hàng Đào làm thuyền trưởng vì ông ta có thể xếp một triệu khách lên một con tàu có sức chở một trăm người.

Tuy đi lại vất vả như thế, anh không khi nào thấy mệt em yêu ạ, vì chỉ cần di chuyển vài mét là anh có thể ngồi xuống, nghỉ ngơi ở một quán nước trà trên vỉa hè. Ai cũng tưởng trà đạo của Nhật là vô địch. Họ nhầm. Trà chén ở Hà Nội đúng mới là một tôn giáo thực sự.

Từ thanh niên đến ông già, từ ông xích lô đến ngài tiến sĩ đều có thể cầm cái chén bé xíu trong tay, ngồi cả ngày và uống kiên nhẫn từng giọt trà một (bởi nếu không uống từng giọt thì chả có cách nào ngồi lâu tới vậy!). Khi ngồi xuống đấy, qua các câu chuyện khách khứa trao đổi với nhau, anh cũng biết được toàn bộ tình hình Trung Đông, giá vàng, giá đô la, ai sắp làm tổng thống Mỹ và ai sắp trở thành hoa hậu. Rõ ràng đấy không phải là một quán nước thông thường, mà là những trạm phát thanh, do những người thành thạo, có tâm huyết đảm nhiệm một cách tình nguyện. Thậm chí, anh còn tin rằng, nếu em phản bội anh, đi với kẻ khác tại Paris, thì chỉ cần ngồi ở một quán nước vỉa hè anh cũng biết, vì chỗ này có đủ mọi tin tức trên đời, đã thế còn lan truyền cực nhanh.

Nếu không đi bộ thì anh đi xe. Thành phố này người ta dùng xe máy để đi và xe hơi để khoe, vì đi xe hơi có thể chậm hơn đi xe máy rất nhiều nhưng nhiều người vẫn mua với mục đích ra “oai”.

Anh không nhớ “oai” dịch ra tiếng Anh như thế nào nhưng ở tiếng Việt, từ ấy rất quan trọng. Tuy “oai” không phải thức ăn, không phải nước uống, càng không phải quần áo nhưng nhiều người thà không ăn, thà không uống, thà không mặc quần áo chứ cương quyết không “oai”. Họ có khả năng dành dụm, tích cóp, phung phí bất tận cho “oai” chứ không cho bất cứ gì khác.

Đi xe máy ở Hà Nội, theo anh, quan trọng nhất không phải cần biết luật giao thông, mà chỉ cần biết bấm còi và không giật mình khi nghe đứa khác bấm còi. Ngày đêm, tiếng còi xe vang vang trên từng góc phố, từng hàng cây, từng con đường, trở thành một bản nhạc hùng vĩ, bất tận. Anh có cảm giác bây giờ mà hạ cánh xuống Paris không nghe tiếng còi nữa, anh sẽ nghĩ đấy là một thành phố ma. Cũng như tất cả các thành phố hiện đại khác, ở Hà Nội có kẹt xe, và cũng như tất cả người dân khác, khi kẹt xe người ta phải nhăn nhó. Nhưng với tính sáng tạo bẩm sinh và khả năng nhanh nhẹn cao độ, dân Hà Nội lúc kẹt xe không ngồi im đọc sách hoặc cầu nguyện.

Họ phi lên vỉa hè, phi vào các ngỏ nhỏ và nếu có thể "phi" lên cả ngọn cây. Ai cũng phi và ai cũng tìm cách lách nhanh hơn người khác cho nên sự kẹt xe thường được tự giải quyết rất gọn gàng. Anh đặc biệt thích những lúc trời mưa, khi mà ngồi trên xe máy nước ngập ngang đùi, thỉnh thoảng có cảm giác một chú cá chạm vào chân, chưa khi nào ở trong thành phố mà anh gần thiên nhiên đến thế. Đã xuất hiện những tin đồn khi phố thành sông, có nhiều người đi làm về chỉ cần rũ ống quần là có nửa ký cá rơi ra, không cần mua ở chợ. Những người may mắn còn vớ được cả lươn. Còn ếch nhái thì nhiều vô kể. Nhưng ếch nhái thì tính làm gì?

Kỷ niệm sâu sắc nhất khi ở đây có thể xảy ra rất hồn nhiên, rất bất thình lình và rất đời thường lúc ta đến các tiệm ăn. Hà Nội có rất nhiều tiệm ăn, và có nhiều món ngon khủng khiếp, được chế biến cầu kỳ, truyền từ đời nọ sang đời kia.

Nếu như ở châu Âu, tới tiệm ăn phải đặt chỗ trước thì ở Hà Nội chỉ cần phải chuẩn bị tinh thần. Ở các tiệm ăn này, tiền bạc không là gì cả, chỗ ngồi không là gì cả, khách khứa cũng không là gì cả mà bà bán hàng là tất cả. Bà ấy có thể tươi cười (điều này khá hiếm) bà ấy có thể hầm hầm và mắng mỏ xa xả (điều này khá thường xuyên).. Khách ăn không hề tự ái, và cũng không được tự ái bởi không ăn thì “biến” để đứa khác ăn.

Nhân tiện nói thêm "biến" là một từ rất phổ biến ở đây. Ta có thể bị kẻ khác hô “biến” ở bất cứ chỗ nào, kể cả lúc chia tay với người yêu. Nhưng chắc em cũng hiểu, phần lớn anh không biến vì anh đâu phải là thần thánh, anh chỉ đứng sững sờ.

Tất cả những chi tiết ấy chỉ chứng tỏ ẩm thực Hà Nội cực kỳ tinh tế và ngon miệng. Nó tinh tế đến mức để thưởng thức nó, khách hàng sẵn sàng hy sinh tiền bạc, thời gian, sức lực và đôi lúc cả danh dự của mình. Những món ăn này đã vượt lên trên những giá trị thông thường, trở thành thiêng liêng đến mức mọi thứ khác đứng cạnh đều trở nên tầm thường.

Nếu ở Paris, sau khi dùng bữa, hai đứa mình gọi hai cốc cà phê thì ở Hà Nội, hai đứa có thể ra “trà chanh chém gió”. Điều phi thường là thứ nước ấy chả có trà cũng chả có chanh. Nó có gì thì quỷ sứ cũng không biết nhưng ai uống cũng vung tay chém vào không khí trên vỉa hè khiến muỗi bay tán loạn. Ở các quán trà chanh này nếu anh có bảo mình là Tổng thống Pháp chắc cũng có người tin và nếu không tin cũng chả ai cười, vì ở đây mọi người đều có chức vụ cao hoặc quen với ai đó chức vụ cao.

Nói tóm lại, sau một ngày đi bộ, đi xe, ăn uống và chém gió, anh đã cảm thấy nhịp sống trẻ trung, say sưa, đầy sôi động của Hà Nội. Và anh nghĩ mình rất khó xa nơi đây, mình yêu nó từ lúc nào như yêu một cô gái dễ thương, vừa đỏng đảnh, vừa ngây thơ vừa phá phách, vừa nhí nhảnh vừa cau có, quyến rũ vô cùng.

Anh hy vọng em bỏ hết mọi thứ, bay sang đây với anh, và hai đứa sẽ nắm tay nhau đi dưới hàng cây, để hoa sấu (tên một loại hoa sinh ra quả vừa ngọt vừa chua) rơi lên tóc.

Anh của em
Pie.

02 October 2024

Mối Tình Đâu, truyện ngắn

- Nguyễn Ngọc Rao

Năm 1946, tôi là một đứa con trai lên 8 tuổi. Lúc đó tôi sống với cha mẹ tôi cùng với một chị gái và ba em trai tại một làng quê nghèo khó. Làng tôi nằm sát bên con sông Hồng [Hồng Hà] và ở cách tỉnh lỵ Nam Định [thuộc miền Bắc Việt Nam] khoảng 40 cây số. Vì hầu hết các gia đình trong làng đều theo đạo Thiên Chúa [đạo Công Giáo] nên làng tôi còn là một xứ đạo.

Hầu hết dân làng sống bằng nghề cày ruộng, trồng rau, nuôi gà vịt, hoặc nuôi tằm làm tơ. Riêng gia đình tôi chuyên về trồng ngô, khoai, sắn, chuối, và cũng có nuôi một con lợn hạch và một con trâu đực để cho thuê.

Vì dân nghèo quá nên làng chưa bao giờ có trường học. Năm bảy gia đình tương đối khá giả thì hoặc cho con trai đi học chữ nho với ông đồ nho duy nhất trong làng, hoặc cho con trai đi học chữ quốc ngữ ở một trường làng cách đó khoảng mười cấy số. 

Khi còn nhỏ, nhờ gia đình khá sung túc, bố tôi được đi học chữ nho trong 5 năm và học chữ quốc ngữ đến hết bậc tiểu học. Do đó bố tôi không gửi tôi đi học ở đâu cả mà tự lo việc “dậy vỡ lòng” cho tôi. Nhờ vậy khi lên khoảng 6 tuổi tôi đã biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ thông thạo rồi. Tôi lại cũng biết lai rai làm thơ nữa vì bố tôi rất thích làm thơ và đã sáng tác ra nhiều bài thơ. [Trên thực tế tôi không gọi bố tôi là “bố” mà là “thầy”.] Bố tôi đã dự định sẽ gửi tôi đi học trên Huyện [Quận lỵ] khi nào tôi được 9 tuổi, nghĩa là sang năm 1947 ; nhưng dự định này bị cản trở vì hoàn cảnh đã thay đổi ngay trước đó.

**
Vào khoảng giữa năm 1946, cuộc sống trầm lặng từ bao nhiêu thế hệ trong làng tôi đột nhiên bị xáo trộn hoàn toàn. Một số trai tráng trong làng bỏ nhà, bỏ công ăn việc làm đi “tham gia kháng chiến”, nghĩa là đi gia nhập vào hàng ngũ Việt Minh với mục đích đánh đuổi thực dân Pháp. Cũng vì làng tôi là một xứ đạo nên một số trai tráng đông hơn lại gia nhập Phong Trào Công Giáo Cứu Quốc do đức cha Lê Hữu Từ [giám mục địa phận Phát Diệm] khởi xướng, và họ hoạt động tự vệ chống Pháp ngay tại làng.

Bố tôi đứng đầu đội ngũ Công Giáo Cứu Quốc của làng nên phải hoạt động ngày đêm trong tổ chức đó và hoàn toàn bỏ lãng công việc làm ăn cũng như không còn thì giờ để dậy tôi học nữa.

Có một gia đình rất xa lạ đột nhiên đến cư ngụ tại làng tôi. Gia đình này gồm có hai vợ chồng và ba người con. Tôi nghe nói họ là “dân Hà Nội tản cư”, nghĩa là những người dân vùng Hà Nội đã phải bỏ chạy tới đây để tránh những cuộc đụng độ vũ trang càng ngày càng khốc liệt xảy ra giữa quân đội Việt Minh và quân đội Pháp tại Hà Nội và các vùng lân cận.

11 September 2024

Đằng sau cuộc chiến,

Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua một thời lửa đạn,  cuối cùng cũng khốn khổ trong ngục tù sau lần bại trận oan khiên. Ra khỏi tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại những bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như được đất trời thương xót chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác.

Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi tôi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Bọn tôi xem nhau như anh em ruột thịt. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và cha mẹ sống bằng nghề trồng hoa, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù” về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài 1 hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi  đưa Kỳ ra một chiến thuyền của HQ để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất.

Theo đơn vị rày đây mai đó, tôi không có dịp gặp lại Kỳ. Đến khi nhận được lá thư gởi từ quân trường Thủ Đức, tôi mới biết là sau khi được chữa trị tại QYV Nguyễn Huệ Nha Trang, Kỳ được nhận theo học Khóa 23 SQ Thủ Đức và chuyển về ngành Công Binh. Tôi có nhận thêm vài lá thư của Kỳ, từ hậu cứ chuyển ra. Những bức thư đã viết từ 4, 5 tháng trước. Tôi hồi âm, nhưng không thấy trả lời. Tôi đoán là Kỳ đã ra trường và thuyên chuyển đến một đơn Công Binh nào đó. Mất liên lạc nhau kể từ dạo ấy.

Mùa hè 2010, trong tiệc cưới cậu con trai lớn của một người bạn cùng lớp thời trung học, tổ chức tại thành phố Cologne của Đức, tôi bất ngờ gặp lại Kỳ. Nếu hôm ấy người MC không giới thiệu những người khách đến từ phương xa, và với cái tên khá đặc biệt của tôi, thì có lẽ Kỳ và tôi đã không nhận ra nhau. Sau khi chào hỏi, Kỳ dắt tay tôi đến bàn bên cạnh, giới thiệu vợ Kỳ và vợ chồng cậu con trai. Thì ra Kỳ là sui gia với anh chị bạn của tôi. Cô con dâu của Kỳ là chị của chú rể trong tiệc cưới hôm nay. Vui mừng như gặp lại người thân trong nhà bao năm bặt tin nhau, nhưng chương trình tiệc cưới đang tiếp tục giới thiệu gia đình hai họ, nên Kỳ hẹn ngày mai sẽ đón vợ chồng tôi đến nhà dùng bữa cơm mừng cho cuộc trùng phùng và sẽ có rất nhiều chuyện để tâm tình.

* * *

Cuối năm 1966. Vừa chấm dứt một cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Đa Nhim bảo vệ an ninh cho công trường xây dựng nhà máy thủy điện. Sau gần hai ngày hành quân tảo thanh quanh khu vực Sông Pha, chưa kịp nghỉ ngơi, đại đội tôi lại có lệnh biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận, tham dự một cuộc hành quân hỗn hợp. Ông trung úy đại đội trưởng vừa mới đi phép. Không có đại đội phó, tôi là trung đội trưởng thâm niên nhất, được ông tiểu đoàn trưởng chỉ định xử lý thường vụ.

13 July 2024

Trần Hoài Thư, Một Người Gương Mẫu

Phạm văn Duyệt


Thời gian gần đây đã có nhiều bài viết tưởng niệm Trần Hoài Thư.

Hầu hết các tác giả là người thân, bạn bè gởi gắm nỗi niềm tiếc thương cho cuộc ra đi của anh về miền miên viễn.

Tuy cả đời chưa được cơ duyên gặp gỡ, nhưng tôi vẫn cảm thấy như có cái gì thôi thúc phải viết vài dòng tâm tư về một chiến sĩ văn võ song toàn này.
 
Vừa đi lính Thám Kích, mang cấp bậc Thiếu Úy trung đội trưởng, vừa miệt mài với văn chương chữ nghĩa trải hơn nửa thế kỷ ròng rã, anh đã đóng góp công sức bảo vệ miền Nam suốt bao năm chinh chiến. Ra nước ngoài, giả từ binh nghiệp, anh vẫn ngày đêm đam mê sách báo, lặn lội khắp nơi để sao chép lại những áng văn thơ của 20 năm văn học tự do, lưu lại cho đời cả mấy công trình đồ sộ mà ít ai làm được. 

Thế rồi đến ngày Anh cô đơn, trở thành tuyệt vọng. Nỗi buồn trống vắng mất người bạn đời, mà có lần anh đã nói là rất sợ cảnh "từ ly", đến nỗi chỉ một tháng sau vội vàng theo chân chị, giả từ trần thế.

Là người chồng chung thủy, tận tụy chăm sóc nâng niu vợ hiền suốt hơn 10 năm trong Nursing Home.

Thành danh trước 75, có bài đăng khắp các tạp chí văn học nổi tiếng ở Saigon, xuất bản hơn 
30 tác phẩm.

Một đời rất chân tình với bạn bè chiến hữu, được nhiều người thương mến.

Nhớ mãi hình ảnh anh cặm cụi nắn nót từng chữ ký đề tặng sách cho bạn bè thân hữu. Hỏi ai không cảm động và bày tỏ nỗi lòng cảm ơn anh.

Tôi có người bạn tâm giao là Anh Hà Trung Liêm, Chủ Biên Báo Quốc Dân, cũng là một Thầy Giáo gương mẫu, từ tiểu bang Nebraka có nhã ý gởi tặng  quyển THƠ TUYỂN TOÀN TẬP của TRẦN HOÀI THƯ qua đường bưu điện tới Anh Võ Thành Nhân, Giám Đốc Đài Truyền Hình SBTN--DC/VATV nhờ chuyển giao. Sau đó anh Nhân dù rất bận rộn, cũng quyết tâm tìm cho ra nhà, hoan hỷ trao tận tay người nhận tại Sydney nhân chuyến đi công tác dài ngày khắp nhiều nước Á Châu. Mối thịnh tình đặc biệt của hai Anh đã không quản trở ngại khó khăn để giúp tôi có được hơn 500 bài thơ của Họ Trần là điều tôi mãi ghi nhớ.

Gần cuối tháng 4/2024 Chị Ngọc Yến ra đi. Anh Liêm ngậm ngùi  cho biết hung tin.
Là độc giả hâm mộ thơ văn Trần  Hoài Thư, tôi mạo muội gởi email, kèm bài thơ Vô Ưu chia buồn cùng Anh:

Cũng đành vùi chôn một kiếp 
Cho trọn tình Chàng nghĩa Thiếp em ơi 
Quên đi gian khổ cuối đời 
Chờ anh sum họp dưới trời vô ưu 

Dạo đó Anh Liêm cho hay Anh Thư đang những ngày bệnh hoạn trầm kha, cô đơn trống vắng, mất người bạn đời. Trong tâm cảnh đớn đau tột cùng, anh đã mau chóng theo chân chị về nơi Tiên Giới. 

Dẫu sao anh cũng đạt thành ước nguyện, xuất bản Tập Thơ cuối đời rất trang nhã và chung sức với nhà văn Phạm văn Nhàn sưu tầm in ấn 2 Tuyển Tập Thơ Văn, gói gọn trong gần 6.000 trang, bao gồm hàng trăm tác phẩm giá trị của văn chương miền Nam, để lại cho đời di sản quý báu mà anh hằng mơ ước phải hoàn thành trước khi nhắm mắt xuôi tay.

Xin nguyện cầu Anh Chị đoàn tụ nơi suối vàng, tiếp tục những ngày tháng đằm thắm thương yêu.
Với phong cách sống cống hiến, quên mình, khoan dung, độ lượng, vị tha, nhiệt tình, can trường, yêu nước, giúp người, hăng say học hành, chăm chỉ làm việc và cả đời quý trọng văn chương...Anh xứng đáng làm Tấm Gương Sáng cho những thế hệ mai sau.

Chưa kịp gởi tới anh vài cảm nghĩ sau khi đọc xong tác phẩm Thơ Toàn Tập, thật là đáng tiếc. Biết bao dòng thơ truyền cảm dạt dào, đặc biệt nhất là bài Hoa Đồng mà tôi thích học thuộc lòng. Xin trích lại vài đoạn dưới đây:

Ngày đầu tiên gặp em
Si tình mà không dám ngỏ 
Em đứng giữa vườn 
Tưới cà tưới cải 
Anh ngẩn ngơ nhìn như phải chiêm bao 
Sân nhà em lấm tấm hoa ngâu 
Khế cũng trổ hoa 
Rụng bên bờ giếng nước 
Chiều chậm xuống 
Nhả lên trời khói trắng 
Mất...mất...dần trong ánh nắng hoàng hôn...

Em xinh vô cùng giữa vườn xanh trổ bông 
Khiến bướm ong quên buổi chiều sắp ngủ 
Bướm trắng bướm vàng tham lam nhụy nở 
Để si tình càng nẩy nở hồn anh...

Từ đấy mỗi lần trước khi qua sông 
Anh vẫn dừng lại bên nhà 
Để nhìn em gái nhỏ 
Áo bà ba giữa vườn xanh rau cỏ
Xinh xinh cỏ nội hoa đồng...
Cau mới trổ buồng, trái nhỏ non non
Khi cau lớn em nhớ để dành cho anh em nhé...

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...