Showing posts with label NNCường. Show all posts
Showing posts with label NNCường. Show all posts

28 March 2014

HÀ NỘI, MỘT HOÀI NIỆM

An  Bình

Sau khi dùng bữa tối, An ngồi lặng lẽ một mình nơi phòng khách tĩnh lặng và nhìn ra khung cửa kính phía ngoài.  Ánh đèn từng chiếc xe chiếu sáng con đường hiu quạnh rồi tắt ngúm trả lại sự êm đềm, lặng lẽ thường lệ cho khu phố chung quanh đã bao lâu như vậy.  Quá khứ ngập tràn tâm tư về Hà Nội, thành phố cổ kính, trang nghiêm, mang đầy tính thơ với liễu rũ bên hồ Gươm, tô điểm bằng Tháp Rùa, Cầu Thê Húc cong vút dẫn vào đền Ngọc Sơn luôn phủ trầm hương nghi ngút, thơm ngát, thành phố đã cưu mang An từ tấm bé, nơi chàng đã ngọng nghịu cùng run rẩy tay khi tập đọc, tập viết chữ Phú Lang Sa và chữ Việt đầu đời lại hiện về.

An không thể nào quên được nơi chốn đã cư ngụ tại phố Nguyễn Thượng Hiền, gần Hồ Ha Le (giờ gọi là Hồ Thuyền Quang)  Nhưng chàng lại thường xuyên ra Hồ Hoàn Kiếm vì hồ này nên thơ hơn hồ Ha Le nhiều tuy phải đi bộ xa hơn.

An dạo chung quanh hồ cùng với hai chị em láng giềng với An.  Lúc mỏi chân thì ngồi bệt xuống ven hồ và thi nhau xem ai ném những viên sỏi nhỏ rơi xuống hồ xa nhất hoặc thẩy ngang nhẩy trên mặt nước nhiều lần nhất để rồi thấy vật đó từ từ chìm nghỉm dưới mặt nước sâu phiá dưới.

Cô chị tên Trinh, cô em tên Mi, hai tên tiền định lạ và buồn như cuộc đời.  An tỏ vẻ thân với cô chị nên cô em hiểu ý An và từ từ lảng tránh những cuộc dạo chung ấy.  Trinh tỏ ý vui vì không còn cô em gái cứ quấn quýt sánh bước chung bên cạnh An nữa.  Tuy chỉ có hai người, nhưng vì e lệ, rụt rè thường tình trời ban cho phái nữ nên thường thì Trinh cúi đầu e lệ đi trước, còn An lẽo đẽo, ngẩn ngơ theo sau người bạn bé nhỏ, đôi khi lạng choạng muốn ngã vì vấp phải mô đất.  Hai người cứ lặng lẽ nối bước nhau như vậy thường thì cuộc dạo chung này chỉ chấm dứt khi người nhà đi tìm vì đã quá giờ dùng bữa cơm chiều khi thì Mi tìm, lúc là mẹ An vì chàng là con một chẳng có anh, chị hay em gái gì cả nên người Mẹ thường đi tìm con, đứa con trai duy nhất về nhà, sợ bị ai đó bắt cóc đi mất, bỏ bà ở lại bơ vơ trên cõi trần gian. Tuy vậy hình như cha mẹ của Trinh lẫn An đều hiểu tình cảm hai đứa trẻ dành cho nhau và chấp thuận mối tình nở sớm nếu tính số tuổi của cả hai người và mong mỏi hai đứa nên duyên vợ chồng với nhau khi khôn lớn.

Chưa kịp thề nguyền cùng đính ước gì với nhau vì có lẽ đều nghĩ rằng đã là của riêng nhau rồi thì hai người đành xa nhau vì nguyên do thời cuộc xa vời vợi xẩy đến mà cả hai, cũng như người dân của đôi miền đất nước Việt Nam đều không hiểu nguyên do vì đâu lại xẩy đến: Hiệp Định Genève chia đôi đất nước với ranh giới là Vĩ Tuyến 17.

Thế là xẩy nghé tan đàn, thế là vĩnh viễn chia lìa, đôi khi một gia đình chia hai, chẻ ba, xé nhỏ, kẻ ở lại phương Bắc, người xuôi Nam.  Bố Mẹ An lôi tuột chàng di cư vào Nam trên chiếc máy bay DC 3 của Pháp, gia đình Trinh Mi chọn ở lại Miền Thăng Long Ngàn Năm Văn Vật vì còn nhiều bất động sản chưa kịp bán hết để rồi cha mẹ Trinh Mi chết thảm sau cuộc đổi đời đó không lâu vì cuộc đấu tố với tội địa chủ do Cộng Sản Việt Nam cố tình dựng lên để gây chia rẽ.

An và Trinh gạt lệ trước khi nghìn trùng xa cách cùng hẹn hò sẽ gặp lại nhau vào một ngày không xa và không ngờ điều đó là sự thật, dù là sự thật não nề, bi đát sau này: giữa người thắng và kẻ thua, giữa cai tù và tên tôi đồ của chính quyền mới vì đã phạm phải một tội đáng chết bằng bị tùng xẻo, chết từ từ vị bị gọt da, xẻ thịt, cắt từng ngón tay, lóc gân chân: tội đi theo “ngụy quân, ngụy quyền” để “bán nước, hại dân”.

Trinh chọn vào ngành công an của Cộng Sản vì muốn mọi người quên đi gốc gác địa chủ của cô và quan trọng nhất là nhà cầm quyền lúc bấy giờ muốn vậy để tô son, điểm phấn cho chế độ còn cô em Mi trôi giạt phương trời nào thì không ai rõ.  Cao Xanh đã nghiệt ngã để Trinh gặp lại An khi nắm quyền sinh sát một đội tù gồm khoảng 40 người lẫn lộn quân nhân, công chức, cảnh sát các cấp của Chế Độ Miền Nam chậm chân nên còn kẹt lại Việt Nam sau biến cố Tháng 4 Đen Năm 1975, trong đó có An.

Đôi trai gái tình tự năm nào đã gặp lại nhau như vậy.  An dù đã lớn tuổi hơn xưa nhiều, nhưng nét mặt không khác mấy nên có lẽ Trinh đã nhận ra và nàng xuống tay trả thù như để rửa nhục cho chế độ.

An quằn quại đau đớn, khổ sở, chết dở, sống dở dướt sự hành hạ dã man, tàn bạo của cai tù cái Việt Cộng tên Trinh: bị cùm hai chân chéo vào nhau, hai tay còng sau lưng vì An toan tính vượt ngục bằng cách khoét vách tường đắp bằng đất của trại giam vào ban đêm.  Đằng nào thì cũng chết, chết trong hy vọng sống còn nếu cuộc vượt ngục thành công cho dù xác xuất nhỏ nhoi thì vẫn hơn và chàng đã bị bắt lại trong khuôn viên trại tù khi vừa chui ra khỏi lán tù.

Mỗi ngày được hưởng một xuất cơm thiu đựng trong cái gáo dừa sứt mẻ thêm chút muối hột rắc vào cùng một gáo dừa khác đựng nước uống. Với chân tay bị cùm cùng còng chéo sau lưng như vậy, vì bản năng sống còn, An chỉ còn biết cố trườn, lết đến chỗ gáo dừa đựng cơm, nước mà gục mặt vào liếm láp y hệt một con chó ghẻ lở, đói khát.

Quần áo một bộ tù xanh nhạt duy nhất với dấu chữ “Cải Tạo” đóng bằng hắc ín đen ngòm phía sau lưng, bám trên người An đã lâu, rách bươm, mục nát.  Bị cùm trong thùng connex do quân đội Mỹ để lại và chẳng có thứ gì lót cái lưng trơ xương nên chàng lại càng cảm thấy buốt lạnh tận xương tủy về đêm và nóng hừng hực như đổ lửa làm tan da, nát thịt vào ban ngày.  Với điều kiện sống như vậy, vào lúc đó, An không thể nghĩ rằng chàng có thể tồn tại đến ngày hôm sau.

Nhiệm mầu thay Quyền Năng cao cả của Thượng Đế, An sống sót sau những đòn thù giáng xuống thân thể còm cõi của chàng và thất thểu về lại dương thế như bộ xương khô biết đi mà trở về nhà với vợ dại, con thơ ở Sài Gòn khi chúng thả chàng ra sau sáu năm bị đầy ải.  Tiếp theo những vất vả gian nan thăm nuôi chồng trong trại tù Cộng Sản, vợ An lại tần tảo chăm sóc chồng chóng bình phục khi đi tù về và rồi lại lo cho An vượt biển.  Sau nhiều chuyến đi thật bị lộ phải bỏ nửa chừng cũng như bị lừa, An đã đến được bến bờ tự do, bến mà mọi người đều cho là ảo mộng vì xa xôi quá, là viễn vông, là mộng tưởng, là hoang đường: hải đảo Pulau Bidong của Malyasia rồi cuối cùng đặt chân lên nơi định cư An đã sinh sống từ ngày đó cho đến tận bây giờ: thành phố New York nơi Tượng Nữ Thần Tự Do ngự trị với cây đuốc tỏa sáng trên tay như để hướng dẫn mọi người đến được vùng trời tự do.

Cai tù VC tên Trinh hoàn toàn biến mất khỏi cuộc đời An cũng như ý nghĩ của chàng kể từ khi Cộng Sản chuyển trại nhốt An xoành xoạch cho đến tận ngày hôm nay .

Dù sao thì An cũng mong mỏi Trinh luôn được an bình trong cuộc sống dù biết rằng cô bạn nhỏ bé ngày trước khó mà tồn tại trong mọi cuộc thanh trừng nội bộ của Cộng Sản vì bản tính Cộng Sản là đa nghi và chúng đã tồn tại vì đã áp dụng triệt để cùng cứng ngắc nguyên tắc căn bản này.

An hy vọng sẽ gặp lại cô bạn thanh thanh, dễ mến ngày xưa này để cùng nhau nhắc nhở lại những ngày đánh đáo, nhẩy dây với nhau và cùng nhau thưởng thức món bánh tôm thơm lừng trên đường Cổ Ngư tình tứ nằm uốn mình giữa hai hồ nổi tiếng trong số hàng nghìn hồ của Hà Nội: Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch.

Đâu đây tiếng hát nữ mềm mại vang lên thật tha thiết, ngọt ngào và trữ tình:
“….Hà Nội ơi những ngày vui đã qua đi, 
Biết người còn nhớ nhung chi, hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi dáng huyền ngây ngất đê mê
Tóc thề thả gió lê thê, biết đâu ngày ấy anh về….”
Phải, sâu thẳm trong tâm thức, An vẫn mong muốn có ngày trở về lại Miền Đất thanh lịch ngày xưa: Thăng Long Thành cổ kính trong thơ mộng, hiền hoà nhưng trang nghiêm nhưng rồi lý trí An ngăn cản, không muốn chàng trở về Quê Cũ khi quân thù vẫn còn ngự trị, làm mất đi hình ảnh thân yêu một thời.
“…Quê Hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai…”
New York City, Tháng 4 Đen Năm 2014
An Bình Nguyễn Ngọc Cường  ĐS 14
tức Người Bên Lề Nữu Ước

31 March 2011

Quanh một niềm đau

Cuộc Tao Ngộ Không Mong Đợi

Nguyễn Ngọc Cường

Cơn mưa tầm tã vào ngày Thứ Tư 23 Tháng 3 Năm 2011 đã đón vợ chồng chúng tôi qua Orange County, California, một hiện tượng lạ tại vùng nắng ấm Nam Cali ít khi mưa này. Chúng tôi đã nhiều lần, nếu không muốn nói là rất nhiều lần tới đã vùng Little Saigon mà hầu như chưa bao giờ được hưởng cơn mưa lớn ở đây cả. Có thể đất trời đã khóc cho chúng tôi khi lần này qua chỉ để nhận xác và làm tang lễ cho đứa con gái thân yêu đã lìa đời vì một cơn bệnh bất ngờ vào mấy ngày trước đó tại Fountain Valley Hospital khi tuổi đời còn quá son trẻ.

Dù sự thực phũ phàng đã rõ ràng như vậy nhưng chúng tôi gần như chưa chấp nhận nổi tin dữ này nên dự định không thông báo đến bất cứ bằng hữu nào mà chỉ làm tang lễ cho cháu trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình mà thôi. Nhưng rồi có lẽ do Thánh Ý Chúa nhân từ cũng như do đứa con gái vắn số hiện về thúc giục nên cô Phương L’amour Cosmetic đã thông báo đến người bạn thân của cô là anh chị Đinh Viết Cư, Đốc Sự 15, hay tin và từ anh Cư, tin buồn đã chuyển đến bằng hữu của chúng tôi, cũng như quý anh chị Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh ở khắp mọi nơi.

Người Bạn Đời của tôi rất dễ xúc động, nàng đã khóc ngất vào những đám tang của vài người thân lớn tuổi qua đời trước đây, huống chi lần này lại là tang lễ đứa con gái thân yêu, nên mấy ngày trước đó tôi đã bối rối lại càng thêm lo lắng mà không biết phải làm sao, nên vốn đã khó ngủ lại càng thêm trằn trọc ít ngủ hơn. Cuối cùng thì ngày mà tôi lo ngại nhất cũng vẫn lặng lẽ tới, Chủ Nhật 27 Tháng 3 Năm 2011, ngày thân bằng quyến thuộc tới viếng xác cháu trước khi thân xác cháu trở về với cát bụi. Hiền Thê của tôi đã khóc không kìm chế. Ơn Trên đã diệu kỳ thêm sức mạnh thể xác cũng như tinh thần để tôi còn đứng vững và tỉnh táo hầu tiếp nhận tình nghiã bạn bè trong ngày rất khó khăn của gia đình chúng tôi. Tất cả khuôn mặt thân yêu của bạn bè giờ đây đều hiện rõ trong tôi. Các anh chị đến với chúng tôi tại Peek Funeral Home, dự Thánh Lễ Nhà Thờ Tam biên, Nhà HoảThiêu xác đứa con gái, đã làm dịu hẳn cơn đau đang cào xé tâm can. Dù các anh chị không muốn nói đến nhưng trong thâm tâm, tôi cảm thấy cần nêu lên để lòng bớt áy náy đối với ân tình quý anh chị và thân hữu đã dành cho gia đình chúng tôi.

Đặc biệt nhất trong quý thân hữu tham dự tang lễ là chị Kiều Chinh. Dù đôi chân không được toàn hảo cho lắm nhưng chị vẫn cố gắng tới thăm cháu và ngồi lại với cháu trong thời gian dài, rất dài. Trong tình đồng môn Học Viện Quốc Gia Hành Chánh các anh chị đã đến với chúng tôi: Lê Xuân Sướng, Cao Văn Hở (CH 1) La Trung Chánh (CH 2), Bùi Bỉnh Bân, Nguyễn Trường Phát (CH 4) Riêng anh Phát thật là chí tình, trong khi chờ bay về lại Virginia anh đã nhờ người quen chở về Quận Cam đến thăm cháu rồi lại tất tả ra phi trường Los Angeles, anh Nguyễn Văn Sáu (TS 4, người có công thông báo đến các anh chị Cựu Sinh Viên QGHC) anh chị Nguyễn Đắc Điều lặn lội từ San Diego, anh chị Thái Hà Chung (ĐS 6) anh chị Đỗ Tiến Đức, Lê Tấn Nhiễu (ĐS 7), anh chị Lê Danh Đàm, Nguyễn Ngọc Liên, chị Vân Phương Trí Bảo, Vũ Mạnh Hùng (ĐS 8), anh chị Lưu Văn Trang, Nguyễn Đình Đức, Chị Nguyễn Ngọc Oanh (ĐS 9), Anh Trần Ngọc Thiệu, Lê Văn Quan (ĐS 11), Anh Nguyễn Đăng Luận, Nguyễn Kim Hương Hỏa (ĐS 12), anh Đặng Mạnh Hùng, Cao Xuân Thức (ĐS 13). Khóa ĐS 14 của cá nhân tôi tham dự khá đông, các chị Cao Minh Tâm, Nguyễn Ngọc Khanh, anh chị Lê Trình, anh Phạm Thành Châu, Bùi Đắc Danh, Nguyễn Văn Ảnh, Nguyễn Văn Thi, Lê Đình Kịp, Phạm Công Xuân, Trương An Ninh, Huỳnh Văn Quế, Nguyễn Đức Tín, Hoàng Văn Lợi, Từ Công Phụng, Nguyễn Thế Vĩnh, Lâm Hữu Xưa, Lâm Bỉnh Kiệt, Hà Hải Sơn, Đinh Ngọc Tề, Nguyễn Đăng Độ, Khương Phục Hưng, Nguyễn Hữu Lượng, Nguyễn Ngọc Diệp, Lữ Thế Liêm, Nguyễn Duy Đông, riêng anh Dương Văn Vàng là người đầu tiên của lớp ĐS 14 gọi điện thoại hỏi thăm cùng thong báo rộng rãi đến các bạn khác, anh chị Đinh Viết Cư, Phạm Cao Tăng, Nguyễn Thế Tạo, Nguyễn Ngọc Du (ĐS 15), anh Nguyễn Công Lượng, Nguyễn Văn Viễn (ĐS 16) Anh Chu Tất Tiến (ĐS 21).

Đặc biệc nhất là các chị Thái Hà Chung và chị Nguyễn Ngọc Liên đã cùng xướng Thánh Ca nhiều giờ liền trong Tang lễ. Riêng các anh chị Thái Hà Chung, Đỗ Tiến Đức và Lê Danh Đàm đã quan tâm thay phiên nhau đến tận nơi chúng tôi cư ngụ trong thời gian tạm ở Nam Cali, để an ủi, nâng đỡ tinh thần, giúp chúng tôi đứng vững không bị sụp đổ trong suốt thời gian tang lễ. Anh chị Thái Hà Chung và Lê Danh Đàm còn luôn để ý đến tôi hầu có thể giúp đỡ kịp thời, vì theo nhận xét của các anh chị đó thì bề ngoài tuy tôi không khóc nức nở như nhà tôi nhưng trong lòng thì tôi rất yếu đuối, có thể ngã qụy bất cứ lúc nào. Ân tình nặng này làm sao chúng tôi có thể trả hết.

Hồi tưởng lại sự việc này tôi không khỏi ngậm ngùi xúc động về tình bạn cao đẹp các anh chị đã dành cho vợ chồng chúng tôi. Tạ ơn Thiên Chúa đầy quyền năng đã ban cho chúng tôi một món quà vô giá, đó là sực tận tâm săn sóc của quý bằng hữu khi chúng tôi gặp khó khăn về mặt tinh thần.

Trong giờ phút đau thương lại may mắn có một điều lý thú bất ngờ xẩy đến khiến nhà tôi tuy đang khóc cũng phải bật cười. Đó là anh Lê Danh Đàm (ĐS 8) khi tham dự tang lễ chợt thấy người em ruột của anh là anh Bác Sĩ Tuyên cũng hiện diện. Anh Tuyên cho biết anh là bạn bè của anh chị chồng đứa con gái chúng tôi. Anh Đàm liền phán một câu : “Như vậy tôi đi phía đàng gái, còn em trai tôi đi phiá đàng trai” khiến mọi người đều cười vang.

Giờ đây, sau cơn đau đớn tột cùng tưởng chừng khó vượt qua nổi của sự mất mát quá đỗi lớn lao này, tôi đã ngộ ra, dù rằng chỉ một phần nhỏ, rất nhỏ, lẽ vô thường của cuộc sống trên trần gian.

New York, Rạng sáng Ngày 31 Tháng 3 Năm 2011
Nguyễn Ngọc Cường

18 September 2010

Nhớ Tâm Triều: Vài cảm nghĩ về tập truyện ngắn của ông

Đời Sống Hai Lần

Phạm Xuân Huy thường tạo nên những cảm nghĩ tốt đẹp cho những người đối diện dù là mới gặp ông lần đầu qua cách ăn nói nhẹ nhàng, mềm mỏng. Đặc biệt ông rất cẩn trọng trong việc dùng chữ để không gây phật lòng cho bất cứ một ai. Qua đó có lẽ mọi người đều nghĩ rằng nhân vật này hình như được sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh hoàn toàn đầy đủ, được đời đãi ngộ về mọi phương diện.

Sự thật thì hoàn toàn trái ngược, ông đã long đong về mọi phương diện kéo dài hầu như suốt cả cuộc đời ông. Ông mang trong lòng một vết thương ra^'t lớn, thật sâu đậm. Cuộc đổi đời bi thảm của cả miền Nam Việt Nam vào cuối tháng Tư năm 1975 đã đảo lộn mọi giá trị xã hội khiến thuyền tình mà ông đã khổ công dệt mộng cùng bồi đắp qua bao nhiêu năm tháng bằng tất cả ân tình đầy ắp đã lạnh lùng tách bến, bỏ ông bơ vơ với những đớn đau, khắc khoải, dằn vặt bên cạnh những đọa đầy, hành hạ trong các trại tù khổ sai của Cộng Sản dưới mỹ từ Trại Cải Tạo.

Dù vậy ông vẫn tạo ra cho riêng mình một cách sống thật thanh thoát, an nhàn ngay cả trong những tình trạng nghiệt ngã nhất. Tất cả mọi chuyện đối với ông đều như cơn gió thoảng, chẳng việc gì làm ông bận tâm, không điều gì ông cho là quan trọng. Có lẽ triết lý sống này đã giữ ông luôn luôn tươi mát cả nơi hình dáng bề ngoài lẫn trong tâm tưởng. Thái độ ung dung, tự tại này đã giúp ông vượt lên cao mọi khổ đau trong đời, dù là những cơn đau cào xé con tim hay những cơn đau thể xác qua sự hành hạ, trả thù tàn nhẫn của các cai tù Cộng Sản.

Ông không bị vùi dập trong khổ đau, ông không tuyệt vọng trước nghịch cảnh. Ông đã thăng hoa. Ông đã biến nghịch cảnh cùng khổ đau thành những ý nghĩ tuyệt vời trong trí óc. Thay vì than thân, trách phận hay than thở với những bất hạnh, ông đã dùng hết mo.i cố gắng để ghi nhớ trong tâm những việc đã xẩy ra. Và giờ đây tại miền đất tạm dung này, trong những giây phút rảnh rỗi, ông lục lại trong tâm khảm để ghi ra tất cả những gì đã xẩy ra vào những lúc cùng cực của cuộc đời ông. Kết quả của cố gắng đó là tác phẩm Đời Sống Hai Lần của Tâm Triều Phạm Xuân Huy.

Qua tác phẩm này chúng ta không hề thấy ông than vãn, oán trách số mệnh mà ông chỉ nhẹ nhàng kể ra những câu chuyện để giải thích lý do cho đến bây giồ đã ngoài lục tuần mà ông vẫn còn độc thân. ".. Cái hạnh phúc nhất trong đời người là ngày đám cưới mình, sau đó là ngày làm đám cuới cho con cái. Thế nhưng cái hạnh phúc tuần tự trên cho tới ngày hôm nay với cuộc sống độc thân trọn kiếp, tôi chưa bao giờ được hưởng..."

Đó là lời phát biểu của ông trước cử tọa đông đảo trong buổi ra mắt tác phẩm Đời Sống Hai Lần tại Hội Quán Little Saigon Radio ở Quận Cam vào buổi trưa ngày 24 tháng 3 năm 2002.

Thay vì dùng những dòng chữ cay nghiệt để oán trách cố nhân bội bạc, số phận bèo bọt, thì người đọc lại chỉ thấy toàn là những chất thơ mộng, lãng mạn và tình tứ để mô tả những cảnh đời ông đã trải qua, một cuộc đời gồm toàn những sự tàn bạo, nhẫn tâm, phản bội, đắng cay, xấu xa vây quanh. ".. Thế rồi em lại ra biển, đi trên bãi cát mênh mông kỷ niệm, đếm dấu chân lẻ loi không còn nằm bên dấu chân anh..." (Bài Hoa Trên Rừng, trang 49) .

Ngay cả trong những lúc ở tận cùng nỗi khổ đau của một tình yêu tan vỡ ông cũng vẫn nhẹ nhàng, tế nhị, thơ mộng và đầy xúc cảm. "... Đêm nay, thêm một mùa trăng ly hương trào thương nhớ, Duy tìm lại Hương cố nhân qua những tình khúc của Cung Tiến khi xưa cả hai cùng yêu thích. Từ một "Hương Xưa" nức nở thổn thức, đến "Nguyệt Cầm" ai oán quặn đau ... " ( Bài Bản Thông Điệp Mưa, trang117). Văn là người. Thật vậy, những người đã tiếp xúc với ông chưa bao giờ nghe ông nói không tốt về ai, ngay cả người đã từng không được tử tế lắm đối với ông, đã từng đưa ông đến hoàn cảnh không mấy sáng sủa thì ông cũng chỉ nhẹ nhàng bảo có lẽ đó là số phần của ông.

Ông đã vẽ ra một mẫu người thật là chung thủy. Ở vậy không lập gia đình, chờ người xưa, có lẽ đây là cuộc đời của chính ông. Hơn ba mươi năm sau nghe tin người yêu trở lại cuộc sống đơn chiếc ông đã găp lại người đó . Hãy nghe ông ngỏ lời cầu hôn người xưa : ".. Triều ơi, Hãy nghe anh đây này: Anh trở lại định cư ở Cali cũng chỉ vì đợi mong cố nhân. Gặp lại người mình muốn gặp và chờ mong từ lâu. Hôm nay em và anh chính là cơ duyên định mệnh, em không được chạy trốn nữa. Anh và em không thể cô đơn hơn được nữa. Triều ơi! Hãy lắng nghe đây, giữa trời mây lồng lộng trong tiếng biển giao hòa chứng giám, anh xin chính thức ngỏ lời cầu hôn em, từ giờ phút này .." (Bài Nụ Mai Vàng, trang 72)

Ông lại còn có lòng nhân để nhắn nhủ những người đang có một mái ấm gia đình, một nơi trú ẩn êm ả mà ông đã suốt đời tìm kiếm vẫn chưa hề có, chớ vì một vài va chạm nhỏ trong cuộc sống lứa đôi mà phụ rẫy người bạn đời : " ...Thật là hú viá, lẽ ra suýt nữa Thủy Ly cũng đã lạc lối vào một con đường nguy hiểm, chẳng biết đi về đâu, và mất hút đường về .." ( Bài "Lạc Lối" trang 133)

Sau khi thưởng thức xong mười bẩy truyện ngắn trong tập truyện Đời Sống Hai Lần của Tâm Triều Phạm Xuân Huy, người đọc bỗng cảm thấy hình như tác giả đã phải chịu cảnh bất công. Một con người đức độ, thủy chung, sống hết lòng cho tình yêu lại phải trải qua nhiều cảnh đời cay đắng, oan trái trong tình trường để rồi giờ đây bước vào lứa tuổi cuối đời vẫn còn tơ vương đến tình đầu, vẫn còn mong mỏi gặp lại người xưa, vẫn còn ao ước được đi nốt con đường trần đầy tục lụy với người thương ngày trước. Nhưng có trắc trở và thổn thức như vậy thì chúng ta mới được cơ duyên để cầm trên tay tập truyện thơ mộng, lãng mạn và đầy xúc cảm này.
Chúng ta đã có nhiều lý do để hãnh diện là một Cựu Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, thì giờ đây lại có thêm một lý do nữa để tăng thêm lòng hãnh diện đó: Đồng Môn của Nhà Văn Tâm Triều Phạm Xuân Huy với tác phẩm Đời Sống Hai Lần.

Nguyễn Ngọc Cường, ĐS14
New York
________________

Út Như Thương chưa có cơ duyên đọc được tác phẩm ĐỜI SỐNG HAI LẦN của cố nhà văn TÂM TRIỀU PHẠM XUÂN HUY, nhưng qua lời viết trân trọng giới thiệu và thương tiếc một người bạn vừa qua đời của anh Nguyễn Ngọc Cường, dường như ... Đỉnh cao của Đau Khổ là Nghệ Thuật hay cuối con đường Đau Khổ là bắt đầu của con đường Nghệ Thuật chăng ?

Xin nghiêng mình trước một nhà văn đã hiến dâng cho Đời và cho Người chút trầm hương của tấm lòng thuỷ chung nhân hậu

Thân kính,
Út NT

Trump Không Biết Làm Thế Nào Để Kết Thúc Cuộc Chiến Với Iran

Thomas L. Friedman,   “ Trump Has No Idea How to End the War With Iran ”   The New York Times Chuyển ngữ:  Lương Định Văn Tôi đến Tehran lần...