Showing posts with label TâmThanh. Show all posts
Showing posts with label TâmThanh. Show all posts

15 May 2021

Truyện ngắn - Tâm Thanh

Căn cứ không quân Banak trong một ngày hè uể oải. Dưới nắng chói chang, đường bay trải dài loang loáng như có ai khéo tạt một vũng nước vuông vức ra tận vịnh Porsangen. Ba dãy trại sơn trắng, ghép thành hình chữ U nằm buồn như chợ chiều. Cái hăng-ga khổng lồ đóng cửa im ỉm. Tôi ngồi "gác kiểng" trên đài quan sát, mường tượng cảnh những chiếc máy bay F-16, F-5 tấp nập lên xuống hồi Nato còn đóng ở đây. Bây giờ chỉ còn đàn hải âu lười biếng lượn trên bầu trời trong. Giá tôi có thể thả cho đời trôi như thế. Tiếng chuông điện thoại reo. Tôi hấp tấp bắt máy:

- Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

- Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt Nam, đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn giúp họ không?

Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:

- Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

- "Muốn chứ"- ông thiếu tá có tật nhái lời, lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị, rồi tiếp -Nửa giờ nữa có người lên gác thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực thăng tới đón.

Bỏ điện thoại xuống, tôi mới bắt đầu tự hỏi: tại sao lại có người Việt nào lạc loài lên miền địa đầu giới tuyến này? Tưởng chỉ có mình tôi điên. Chắc là một du khách người Việt đi coi mặt trời đêm, quên đường về? Hay là một người từ Nga nhảy rào xin tịn nạn chính trị? Ôi! Nếu là một vụ tị nạn thì thật hấp dẫn. Tôi nhìn cây kim đồng hồ treo dưới chân dung quốc vương Harald và hoàng hậu Sonja nhích đi chậm chạp.

Tôi thay đồ dân sự xong lên trình diện. Ông thiếu tá thấy vẻ hăng hái khác thường của tôi, tò mò hỏi:

- Tại sao anh -tay tổ làm biếng- lại sáng mắt lên nhận việc này?

- Lâu quá tôi không được gặp người đồng hương.

Vâng, tôi đang phục vụ ở một nơi hẻo lánh cỡ như Lạng Sơn của Việt Nam, nhưng trong vòng 1000 cây số hình như chỉ có một người Việt. Và lý do tôi vận động đi quân dịch, mặc dầu đã quá tuổi bắt buộc, là vì sau khi ra trường, tôi xin việc mấy chục chỗ không được, đâm buồn chán, trống rỗng, muốn đi thật xa một phen. Hơi quá xa.

Từ bãi trực thăng đi vào phố chỉ chừng 2 km. Tana là một xã nhỏ cực bắc của Na-uy, giáp giới Phần-lan, và là một trong những con đường chính từ Nga sang. Từ vài năm nay, mùa hè ở đây tràn ngập du khách, nhiều nhất là người Nga và Phần-lan. Người địa phương, phần đông là thổ dân Same, nghe nói cũng giòng giống Mông-cổ, nhưng so với dân Viking, không gần gũi với tôi gì hơn. Xe chở tôi chạy qua một khu chợ trời náo nhiệt. Sau ngày Liên bang Xô-viết sụp đổ, người Nga tuồn cả núi quân nhu, quân cụ ra bán. Nào là "mũ nơm gà" Hồng quân Liên xô, huân chương, áo giáp, ống dòm, la bàn, nào là quần áo nhà bin h, tượng Lê-nin, Xít-ta-lin, bao cao-su... được bày la liệt trên lề đường, như một cuộc chiến vừa tàn. Ở vài góc đường, những cô gái Nga -rất dễ phân biệt với gái Na-uy nhờ nét mặt thanh tú, thân người thon nhỏ- ăn mặc phong phanh, mời mọc. Có lẽ đây là mấy cô mà bọn con trai trong trại thường to nhỏ, xuýt xoa mỗi lần đi phép về, và ông thiếu tá cũng đã cảnh cáo, nhưng vẫn không yên tâm, bắt cả trại thử máu thường xuyên.

Ty cảnh sát nằm sau nhà thờ. Người đón tôi là một ông trung sĩ cảnh sát, nhưng người điều tra lại là một cô sĩ quan xinh đẹp, tóc ngắn, da dẻ đỏ như đồng, chắc suốt mùa hè này chỉ tắm nắng. Cô tự giới thiệu là Marianne. Vào phòng thẩm vấn, tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng, không hiểu tại sao, khi thấy "đối tượng" thông dịch là một cô gái. Cô đang ngồi quay lưng về phía cửa ra vào, khi cô đứng lên, quay lại, tôi hoa cả mắt vì vẻ đẹp khác thường. Bị hớp hồn, tôi mở lời bằng một câu u mê:

14 September 2019

Truyện ngắn



Tôi không dám nhìn lâu vào đôi mắt của Gunnar, nó khẩn khoản quá. Tôi phải nhìn sang bên kia hồ Mjøsa, nơi có dẫy núi phủ mây trắng, dường như quanh năm. Mỗi lần có điều khó nghĩ tôi thường nhìn sang bên đó, dù đó là thắc mắc của đứa bé bảy tuổi không biết viết thư cho Ông Già No-en phải gián tem bao nhiêu, có bớt giá cho con nít không hay câu hỏi của một đứa con gái dậy thì nên mua cái áo hở ngực tới đâu.

Vấn đề hôm nay không phải là con tem, cái áo, mà tình yêu, hạnh phúc – Gunnar hỏi cưới, tôi phải trả lời ra sao. Gunnar đang tình cờ ngồi đúng cái ghế da mà ba tôi ngồi hôm đó, và tôi thì lại tình cờ ngồi đúng cái ghế da chị Lên ngồi, cái hôm kỳ cục đó. Chính ba tôi hôm đó, tại đây, đã gieo trong tôi nỗi nghi ngờ về tình yêu. Trong bao nhiêu năm nỗi nghi ngờ ấy ám ảnh trong người tôi, miên kỳ như mùi ngai ngái trên da bò.
Thế này:

*

Lên là chị em con dì với tôi, con lớn của dì Hoa. Chị có thân hình như một nữ lực sĩ bơi lội. Mỗi lần theo ba má tới thăm gia đình tôi, việc đầu tiên là chị tung tôi lên trời ba lần. “Nữa đi!” tôi cười khanh khách nói. Và chị tung ba lần nữa. Sau đó chị lên phòng khách ngồi nói chuyện với ba trong khi mẹ và dì Hoa vào thẳng bếp chuyện trò và nấu phở. Những người khác, như chồng dì Hoa và mấy anh chị lớn, ngồi trong phòng TV
nói chuyện, uống bia, uống nước ngọt, trước cái tivi mở để không.

Tôi nhảy vào lòng chị Lên, hóng chuyện, mặc dù không hiểu lắm ba và chị Lên nói gì. Thì thường là chuyện học hành và tập aerobic của chị Lên, chuyện báo đăng chó sói ăn thịt cừu, chuyện một tên cướp ngớ ngẩn, đánh cắp bưu điện để người ta tóm cổ tại chỗ.

Có lần hai người tranh luận con bò có răng hay không, ba nói bò không răng, chị Lên nói có răng... Tôi thầm đồng ý với chị Lên rằng con bò có răng mới gặm cỏ được, nhưng tôi im lặng, nghe sau lưng thân hình nẩy nở và rắn chắc của chị, khác hẳn thân hình nhỏ và mềm của mẹ.

Trong số những người bà con bên mẹ tôi, ba tôi không thích nói chuyện với ai cả; ba chê họ nói tiếng Na-uy dở quá, mà lại hay nói to, điếc cả tai; ba chỉ thích nói chuyện với chị Lên.

Tôi để ý lúc nói chuyện với chị, ba tươi tỉnh khác thường. Chị Lên hay vuốt tóc khiến tôi buồn ngủ, tai lơ mơ nghe tiếng nói đều đều của hai người xen kẽ với tiếng cười vang trong lồng ngực to của chị Lên. Có lần tôi nghe loáng thoáng ba đề nghị để ba tập lái xe cho chị Lên, và chị rất hào hứng, hai người hẹn ngày giờ nơi chốn. Lần khác ba khen chị Lên đẹp. Chị nói chị chẳng có cái gì đẹp. Ba nói bữa nào đi hồ tắm với ba, ba sẽ chỉ cho coi chị đẹp chỗ nào. Chị cười khanh khách nói “Có vợ rồi mà còn nói nhảm.” “Mặc kệ, giết vợ để lấy Lên tôi cũng sẵn sàng,” ba trả lời. Tôi nói hôm đó là cái hôm kỳ cục là vì thế.

07 August 2019

Chân dung một cô gái Việt Nam, truyện ngắn Tâm Thanh

Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

Văn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao.

Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là... người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách. Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.

“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.

“Nguyễn Thị Vân.”

“Ngày sanh?”

“25.12.1988.”

“Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:“Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.

“Nói chung... Tôi không có cha.”

“Tên mẹ?”

“Tôi không có mẹ.”

“Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”

“Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả...”

“Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”

“Không.”

“Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”

“Không biết. Người ta đưa tôi đi.”

“Người ta là ai?”

“Nói chung nà người giắt đi đấy.”

“Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”

“Tôi không biết đâu là biên giới.”

“Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”

“Không nhớ.”

“Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”

“Khoảng một tháng.”

“Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”

“Không nhớ. Không biết.”

Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ. Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:

“Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”

Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:

“Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy... Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”

Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi - vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:

04 December 2017

Ngôn Ngoại, truyện ngắn

Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một chuyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu ‘Cứ yên tâm’.

    Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói ‘bả không phải vợ tôi’? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.

    – Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!

    ‘Chát!’ Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời ‘vu cáo’ trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:

    – Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?

    Được dịp ‘đáp lễ’ sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:

    – Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.

    Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:

    – ‘Toa với lết’. ‘Lết’ đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà ‘lết’.

    Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:

    – Bà có biết đọc … xa tới đằng kia nổi không?

    – Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!

    – Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà … đái.

    Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:

    – Ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!

    Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận ‘tội ác’ của mình, chỉ giúp bà mở khóa

dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:

    – Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.

    Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:

    – Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?

    Tôi tính nói ‘bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu’, nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:

    – Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?

    Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lễ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:

    – Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!

    Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:

    – Ông bà tình ghê!

31 May 2015

Chiếc Áo Lính Chín Tuần Quang Trung

Nhân giỗ 49 ngày Nhà Văn Tâm Thanh

Nguyễn Đắc Điều

Đã là con người, ai cũng phải trải qua sinh lão bệnh tử, nhưng dường như chúng ta hiếm khi nghĩ cái chết sẽ đến với ta, cho đến khi bị lâm trọng bệnh.

Tâm Thanh đã trải nghiệm được khi bác sĩ thông báo cho anh mắc chứng bệnh nan y “ung thư tụy tạng”. Anh đã hoàn thành cuốn “chúc thư” Lệnh Triệu Ban Rồi-Một Trường Hợp Ung Thư, để cảnh báo mọi người và làm cách nào để sống quãng đời còn lại một cách phong phú và hạnh phúc.

Cái đặc biệt của cuốn sách là nhân vật thứ nhất được gọi bằng “Bạn”. Vậy “Bạn” vừa là tác giả vừa là độc giả, đơn giản là những gì xẩy đến cho Tâm Thanh chắc sẽ xẩy ra cho “Bạn”. Hãy lắng nghe những gì Tâm Thanh chia sẻ:

RÚT NGẮN: LỆNH TRIỆU BAN RỒI
Một trường hợp ung thư – Lời cuối cho anh
***

TRONG BÚP SEN ĐỎ CHÓT ĐAU THƯƠNG
“Nguồn vui ngồi im lặng, mắt vướng lệ.
Trong búp sen đỏ chót đau thương”
Tagore, Lời Dâng
Đèn báo động: Đau đớn

Đau là một đèn cảnh báo, nhưng bạn coi thường triệu chứng.

Về phương diện thể lý, đau là một dấu hiệu cảnh báo nguy cơ, một cảnh báo rất tử tế của Tạo hóa. Cơ thể không biết đau có thể ví như chiếc xe hơi không có đèn báo thiếu nhớt, cạn dầu thắng, cứ chạy cho tới khi lao xuống vực thẳm. Khi chớm đau dễ chữa hơn, vì càng để đau nhiều càng khó trị. Có nhiều người cứ nhịn đau, tưởng mình nhịn đau giỏi, có biết đâu nhẹ không ưa ưa nặng.

Về phương diện tâm lý cũng vậy – buồn phiền, thất vọng, khổ não đều là một tiếng gọi nhân từ, một tiếng “tằng hắng” từ Trên, rằng có cái gì đó trục trặc, một biên giới nào đó bạn không nên vượt qua. Thí dụ ăn quá độ đau bụng; đau mà tiếp tục mê ăn, sinh bệnh. Nói xấu tha nhân, nói dối, xảo ngôn, nịnh bợ, khoe khoang…mỗi

lời đều có hậu quả là đau đớn. Bớt ăn bớt nói là giảm thiểu bệnh tật và tai họa, nhưng dễ gì, con gà thích gáy, con heo ham ăn, con người không ăn to nói lớn, thấy ngứa ngáy khó chịu…Biết mà không khoe nó ấm ức làm sao! Vì thế Trời thương cho ta một cơ năng tiết chế tự động – cơ năng biết khổ ! Khổ là một bộ máy tiết chế tinh vi, kềm hãm cho tâm khỏi sa đọa.

Đau khổ cũng giống như cái roi của một người cha hiền dậy con, thôi con đừng tham sân si nữa. Tham danh lợi, oán nhân, si tình là ba cám dỗ nặng nề nhất trên đời, mà cũng là căn nguyên của mọi mê lầm, hậu quả là tự hủy diệt. Vì vậy Trời còn thương người, luôn để mỗi căn nguyên đó - như một con rắn – phóng nọc độc. Lúc đầu nọc độc rất nhẹ, nếu bạn tỉnh táo tiếp nhận, nó sẽ biến thành thuốc ngừa. Bằng không, nó thành thuốc độc.

Hiếu sinh là một bản năng tốt, nhưng bám vào đời sống một cách ham hố, say mê quá đáng, cũng dễ chuốc khổ. Bạn thích ăn ngon, thích nhìn vẻ đẹp, thích nghe âm thanh du dương, thích được nịnh hót, thích được mọi người hâm mộ…Ai chả thế. Nếu ngũ quan không thoái hóa hao mòn đi theo thời gian, buộc bạn dừng lại…“thu quân về” hưu chiến, bạn sẽ trở thành lố bịch khi về già. Hiếu sinh nhưng đừng tham sinh.

Đau khổ, ơn gọi

Bạn được chụp thuốc mê lúc nào không hay, khi “tỉnh dậy” lại tưởng mình chưa được mổ, sờ nắn trong người, đầy dây nhợ, băng bó khắp nơi, tưởng thân xác này của người khác. Bạn vừa chết 7 tiếng đồng hồ! Sống dậy nhưng không biết có sống thật không. Lúc này bạn mới cảm nhận sâu sa hai chữ phù du hay vô thường; chứ trước đây bạn nói thuộc lòng, nói làm dáng, nói…chơi. Thực tế, bạn là người kém sức khỏe từ lâu, nhưng ngu muội tưởng mình được miễn trừ định luật hủy hoại. Bạn yêu đời, tốt; nhưng sai lầm khi tưởng thực tại này bền vững, bạn sống bằng ảo ảnh.

Tỉnh giấc, bạn cảm thấy mình vừa được kêu gọi về phận làm người…

Tha nhân là đồng hành chung phận. Những bệnh nhân nằm chung phòng với bạn, những người xách cặp đi ngược xuôi buôn bán ngoài kia, những đứa trẻ đang nô đùa trước cửa viện dưỡng lão… đều sẽ như bạn – già, bệnh, chết. Bạn “khám phá” ra nhiều người bạn xưa nay tưởng khỏe mạnh hạnh phúc, cũng đang xính vính vì bệnh nọ tật kia, bạn âm thầm thông cảm với họ. Ngược lại, một người quen khác bị bệnh viện chê, cho về nhà chuẩn bị hậu sự trong vòng từ hai tuần đến một tháng. Qua hai tháng người ấy còn sống, lại ăn uống được, đi lại được, bạn mừng; mỗi bước chân của anh là niềm vui của bạn. Với mọi người, sự đồng cảm gia tăng, nghi kỵ tan biến. Một “thói xấu không chịu được” của một người quen bỗng trở thành ngộ nghĩnh dễ thương. Giả như cái “thói” của ai kia có lần xúc phạm trực tiếp bạn, nhưng tưởng tượng người ấy ngày mai ngã bệnh, không còn “giở thói” được nữa, bạn có thương không? Chắc chắn là thương. Bạn mong người ấy khỏe mạnh sống lâu và tìm được bình an chân thật.

Bạn còn học được một bí quyết phòng bệnh: khi trời đất nổi cơn gió bụi thì đừng há miệng ra.

Sau hai tuần lễ nằm bệnh viện về, vợ con tíu tít vui mừng, bạn có cảm tưởng những con cá con tôm cũng chào đón bạn “welcome home”. Vợ bạn hỏi đùa nếu ăn con cá đĩa trong hồ cá mà hết ung thư bạn ăn không? Bạn đáp không. Hồi còn trẻ bạn từng giết gà vịt, bây giờ dù ăn thịt cá – nhưng kỳ lạ - bạn không thể giết con vật.

Bạn càng không thể giết con vật đã quen thân. Dù giết con cá trong hồ cảnh để chữa bệnh, bạn không làm – không phải vì vấn đề luân lý, mà vì tâm lý thôi.

Với Đấng Thiêng Liêng

28 May 2012

Việt Ngữ trước và sau 1975

Theo yêu cầu của một số thân hữu, Diễn Đàn xin đăng lại một bài viết rất hay về Việt Ngữ kiểu XHCN của tác giả Tâm Thanh. (TTR)

CHIÊU HỒI NGÔN TỪ
Tâm Thanh (Na-Uy)
Dưới một bề mặt bình yên giả tạo, Việt Nam ngày nay thực chất là một xã hội đại loạn – loạn chính, loạn pháp, thương luân bại lý và loạn ngữ.
Người tỵ nạn ra đi không mang theo hành lý nào ngoài chút di sản tinh thần, trong đó có ngôn ngữ. Trong gia đình, ta vẫn nói tiếng Việt, suy nghĩ như người Việt, và vì lý do nọ lý do kia, vẫn tiếp xúc với tiếng Việt nơi quê cũ. Người yêu tiếng Việt và để ý một chút các hiện tượng ngôn ngữ, sẽ đau lòng thấy tiếng Việt nơi đất Việt xuống dốc thê thảm. Hình bên cho thấy 10 người làm văn hóa tại Việt Nam tươi cười giữa màu đỏ chói cách mạng dưới khẩu hiệu “bánh trưng”. Một lỗi chính tả như thế trước hằng trăm (hay ngàn?) con mắt mà không ai thấy, tố cáo sự ngu dốt, nhưng ngu dốt không phải là một tội lỗi. Coi thường di sản tinh thần dân tộc mới là tội lỗi. Ráng vận động cho Vịnh Hạ Long được liệt vào hàng kỳ quan thế giới, trong khi bỏ bê tiếng mẹ đẻ, là phô trương cái cành mà hủy lấp cái gốc của văn minh – tiếng nói. Họ cử cán bộ ra ngoại quốc mở lớp Việt ngữ cho con em “Việt kiều”, trong khi cán bộ nói tiếng Việt sai, ngọng, chứng tỏ họ không định bảo tồn tiếng Việt, mà chỉ để đầu độc con nít.

Mục đích của bài này là trình bày sự bê bối của tiếng Việt tại Việt Nam bây giờ; sau đó, đặt vấn đề nên ứng xử như thế nào, trong đó tôi chủ trương “chiêu hồi” – không vất bỏ những chữ ta quen đóng dấu là “từ Việt cộng”, mà trả chúng về vị trí ngôn ngữ nguyên thủy của chúng, và sử dụng chúng một cách đúng đắn.

Nhưng trước hết những chữ nào đã bị đóng dấu lầm?

1. NHỮNG TỪ NGỮ BỊ ĐÓNG DẤU LẦM

Tôi chọn bảng “Đối chiếu từ ngữ VC và từ ngữ VNCH” (trong bài Nỗi buồn tiếng Việt sau 1975, Diễn đàn Điện tử Việt Nam) của tác giả Trần Văn Giang, làm khởi điểm bàn luận, vì nó phong phú nhất, tác giả là người nghiên cứu và viết nhiều về văn hóa, chính ông đã kêu gọi góp ý cho bảng đối chiếu công phu của ông.

Đôi khi tôi bắt chước ông, dùng chữ “VC” và “VNCH”. Nhưng tôi thích ý niệm “miền ngôn ngữ” hơn – để chỉ một bên là tiếng Việt, bên kia là đặc ngữ XHCN. Tôi cũng xin cáo lỗi trong phần chú thích ngoại ngữ tôi dùng tiếng Na-uy là tiếng quê hương mới của tôi, nhưng để độc giả ở xứ khác cũng thông cảm, tôi thêm tiếng Anh là tiếng tôi biết lõm bõm.

Trong hơn 200 cặp từ ngữ của ông TVG, tôi trích 25 cặp gồm 10 cặp đầu tiên, sau đó nhặt tình cờ

Từ ngữ VC Từ ngữ VNCH
ấn tượng - đáng ghi nhớ, đáng nhớ
bác sỹ, ca sỹ - bác sĩ, ca sĩ
bang tiểu - bang
bảo quản-  che chở, giữ gìn
bài nói - diễn văn
bèo - rẻ tiền
bóng đá - túc cầu
bổ sung - thêm, bổ túc
bồi dưỡng (hối lộ?) - nghỉ ngơi, săn sóc, chăm nom, ăn uống đầy đủ
bức xúc - dồn nén, bực tức
bất ngờ - ngạc nhiên
cách ly - cô lập
cảnh báo - báo động, lưu ý
chất xám - trí tuệ, thông minh
chế độ - quy chế
động thái - động lực
động não - vận dụng trí óc, suy luận, suy nghĩ
hoành tráng - nguy nga, tráng lệ, đồ sộ
huyện - quận
lý giải - giải thích (explain)
nâng cấp - nâng hoặc đưa giá trị lên
nhà khách - khách sạn
nhất quán - luôn luôn, trước sau như một
thị phần - thị trường
xác tín - chính xác
Nhận xét:

05 March 2012

Sách mới: Nụ Cười Xã Hội Chủ Nghĩa

... "Nội dung cuốn sách lại là một kho tàng rất lớn, ghi dấu một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử nước nhà. Đó là thời Hồ chí Minh du nhập chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam tàn phá văn hoá nghệ thuật, tàn phá truyền thống, nhân sinh quan của dân tộc ta từ vụ gọi là cải cách ruộng đất, vợ đấu tố chồng, con đấu tố cha, tình hàng xóm láng giềng thắm thiết hàng ngàn năm bị phá vỡ để thay vào đó là những nghi kỵ nhau, theo dõi nhau, báo cáo nhau bởi đó là chỉ thị của đảng, bởi đó là sự kìm kẹp của công an khiến mọi người phải biết sợ để mà sống...

Kể từ khi cộng sản chiếm miền Nam đến nay, không thể biết đã có bao nhiêu câu vè, chuyện tiếu lâm mang nội dung diễu cợt chế độ."

Chúng ta thường nói “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” nhưng thực tế cũng chưa hẳn như vậy. Không tin, mỗi người chúng ta thử vận dụng trí óc, xem còn nhớ được bao nhiêu câu vè và những chuyện cười xã hội chủ nghĩa?

Chính vì ý thức được điều đó nên anh Tâm Thanh đã bỏ thì giờ sưu tầm, biên soạn thành cuốn sách này. Đó là lý do mà tôi cho rằng cuốn sách nhỏ nhưng mang nội dung lớn, có giá trị soi sáng cho đời sau biết về thời cộng sản xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam." (Đỗ Tiến Đức)
____
Hình: Anh Nguyễn Đắc Điều, ĐS 7,  người lo việc in ấn, đang giới thiệu quyển "Nụ Cười XHCN" của đồng môn Ngô Thanh Tâm với cử tọa trong Dạ Tiệc Tân Xuân QGHC Nam California mới đây.

29 July 2011

Truyện ngắn

Mặc dù Việt Nam đã thống nhất sau ngày 30-4-1975 nhưng cảnh sống của hai miền Nam Bắc vẫn còn nhiều khác biệt. Đối với người miền Nam, miền Bắc có nhiều giai thọai hãi hùng khó tin nhưng có thật.

Mẩu chuyện dưới đây qua lối văn tả chân hiện thực của Tâm Thanh đã phác họa bức tranh cuộc sống xã hội miền Bắc, nơi mà giới bần cùng kéo lê tấm thân tàn ma dại, thê thảm hơn con chó nhà giầu, nơi mà bọn thống trị ăn trên ngồi chốc, dân đen lầm than đói khốn khổ ... qua những giai thoại kinh hoàng ấy khiến ta có cảm tưởng như thấy trong thế giới của C.V. Gheorghiu, tác giả Giờ Thứ 25.
Trọng Đạt 
Chó và người giữa Hà Nội
Tâm Thanh

Hai đứa con gái ngồi chồm hổm trên vỉa hè quan sát đám ma giữa khu phố cổ Hà Nội. Chúng nó đếm số xích lô chở hoa để đo lường đám ma to cỡ nào.
Đếm tới 58 thì một con hét to (lúc đó dàn kèn tây đã gần):
“Ê! Chí Mén! Ê ê! Mày làm gì thế?” Để kéo chú ý, con bé đứng lên, vẫy tay rối rít một thằng bé trong đoàn xích lô chở hoa, một đứa con trai mười bốn mười lăm nhún nhảy trên bàn đạp, đôi mông lép vẹo qua vẹo lại. Thằng bé vênh váo trả lời:
“Mày mù à!” Nó chỉ vào vòng cườm đặt trên xe.
Biết đám ma to rồi, hai đứa con gái ngưng đếm vòng hoa, một đứa ra nhặt hai đồng tiền mã. Con bé giơ đồng tiền trước mặt một chú người lớn đứng gần, hỏi tiền gì. Chú trả lời đô-la Mỹ, và tử tế thêm:
“Chúng mày là cái giống gì mà ăn giành với quỷ ma?”
Ai khác nghe nói thế chắc ớn xương sống, nhưng hai con bé chẳng sợ, mỗi đứa nhét một đồng tiền giả vào túi. Chúng chờ phường kèn tây đi qua, đứng dậy, phủi đít. Lúc đó mới thấy một con cao một con thấp. Con thấp trông mặt già dặn hơn, chừng mười lăm; con cao (hơn nửa tấc là cùng) non hơn, chừng mười ba. Cả hai da bủng beo, quần áo, đầu tóc lôi thôi lếch thếch. Không có nét gì chứng tỏ chúng là hai chị em, trừ cái gầy ốm như nhau, và cử chỉ ăn khớp.
Chúng len lỏi vào một ngõ hẻm ở phố Hàng Ngang tới căn nhà hai tầng chiều ngang lọt lòng 1,8 mét, chiều sâu 9 mét. Bốn hộ gồm cả thảy 23 người lớn bé ở trong bốn
H
buồng, trên hai dưới hai. Hộ ông Cát may mắn chỉ có hai người, nhưng bù lại buồng nhỏ hơn và nằm sát cầu xí chung. Bà Cát đang bắc ghế đẩu ngồi canh quần áo phơi. Một quần đùi đen đàn ông, một áo cánh xanh đàn bà và cái khăn mặt đỏ, chiếm vừa vặn khoảnh nắng trước cửa nhà. Bà canh để nắng di chuyển tới đâu, xích quần áo tới đó; và canh để khỏi bị cầm nhầm, hoặc có người chiếm vạt nắng hình thoi. Chung cư đã có chia phiên đi cầu, phiên tắm, nhưng chưa chia phiên phơi quần áo. Chị phó tiến sĩ ở tầng trên đã đề xuất ‘Kế hoạch vận dụng năng lượng mặt trời tại hẻm số 17C phố Hàng Ngang’, nhưng chưa được bốn hộ nhất trí. Điểm bất đồng chính là có hộ 2 người, hộ 7 người, không thể chia đều được.
“Chúng mày đấy à?” bà Cát hỏi. “Khớ không?”
Con chị – tạm gọi vậy – chìa đồng tiền mã ra khoe. Bà dòm vào giật mình, tưởng đô-la thật. Nhưng chợt hiểu ngay là bây giờ Hà Nội đã bắt đầu in giấy trăm đô-la làm tiền mã. Bà nói:
“Ông đợi chúng mày từ sáng giờ đấy!”
Hai đứa chưa biết trên gác phân chia ra làm sao, nhưng ở dưới đất này, hai hộ phân cách bằng vách cạc-tông đàng hoàng và có cửa đẩy. Hộ ông bà Cát nằm phía trong, kê được một cái bàn hai ghế đẩu, một cái chạn và một cái giường sắt. Cái bàn vừa làm bếp, vừa làm bàn ăn, vừa là bàn uống trà, hút thuốc lào. Ông đang ngồi chân co chân duỗi trên cái ghế đẩu duy nhất. Mặt ông vàng như miếng thịt trâu ướp nghệ. Phớt lờ sự xuất hiện của hai đứa nhỏ trước mặt, ông từ từ vo một bi thuốc đút vào lõ điếu. Ông vừa vin cái xe điếu cong ngậm vào mồm thì con bé hết kiên nhẫn, nó chìa đồng tiền mã ra. Ông ta cầm tờ giấy, ngắm nghía lẩm bẩm:
“Dưới đấy người ta làm sớm hơn trên này.” Ông gấp tám đồng đô theo chiều dài, châm vào ngọn đèn trên bàn. “Chúng mày mang tiền này về đây, tối người ta đòi, chết tao. Vì vậy tao phải gửi lại cho người ta.”
Đốt tiền mã xong, ông mở chạn lấy hai bát cơm đưa cho hai đứa. Chờ chúng ăn xong, ông hỏi:
“Khấn xem!”
Hai đứa đồng thanh đọc bài khấn trước khi đào mả:

04 March 2011

Truyện ngắn

Ba má tôi có căn nhà nhỏ đất rộng bên bờ sông Glomma, con sông hùng vĩ nhất Na-uy. Trong vòng 10 năm nhà đất khu này tăng gấp 20 lần. Thấy nhà bỏ không, thỉnh thoảng có người hỏi mua. Nhưng ông bà định sau này về đó dưỡng già. Tạm thời phải kiếm người cho thuê. Cần chọn một người đàng hoàng để vừa thuê vừa giữ nhà.

Mấy căn nhà khác ở Oslo, ba má giao cho công ty trung gian; nhà này ông bà giao cho tôi đăng trên nét, phỏng vấn và tìm hiểu các ứng viên. Gần năm chục người viết email, SMS và điện thoại. Tôi chọn 10 người cho coi nhà, còn bao nhiêu tôi nói ra để họ tự ý rút lui.

Những người tới coi nhà, ai cũng trầm trồ khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, nhưng đa số chê quá hẻo lánh, phải đi bộ hai cây số mới ra đường cái có xe buýt, muốn đón
xe lửa phải đi thêm 500 mét nữa mới tới trạm Sørumsand. [;Ba ứng viên đầu tiên đều muốn thuê. Nhưng cứ để đó. Tôi hồi hộp với người thứ tư, một người Việt.
Người Việt đa số thích ở nơi thị tứ. Người dự tính ở nơi
này không là ẩn sĩ cao nhân cũng là thất tình.
*
Ông tên Thật, dắt theo đứa con trai. Hai cha con đều trọc đầu. Tôi hỏi thằng nhỏ mấy tuổi, nó nói bảy, bằng tiếng Việt rất sõi và lễ phép. Trong lúc tôi hướng dẫn ông đi coi nhà, thằng nhỏ leo lên cái chòi trên cây, ngồi nhìn xuống sông Glomma.

Tôi nói với khách:

“Cái chòi tôi mới cất mùa hè cho mấy đứa cháu. Tôi đóng chắc lắm. Chú đừng lo.”

“Cám ơn cậu, thằng đó leo trèo như khỉ con, cậu cũng đừng lo.”

Ông Thật khoảng 50 mà thân thể như thanh niên, thần thái khoan thai như ông già. Ông tỏ vẻ thích nơi này ngay khi bước vào vườn. Nhưng tôi vẫn nêu trở ngại:

“Em bé đi học hơi bất tiện?”

“Không sao đâu. Chúng tôi xoay xở được. Cùng lắm kommune sẽ cho taxi đưa đón.”

Tôi quên không nghĩ đến trường học nào cũng có dịch vụ này. Tôi nêu trở ngại khác:

“Chú có xe hơi không?”

“Không. Nhưng tôi đi bộ quen rồi. Hai cây số đối với tôi không thấm thía gì.”

“Chú làm việc ở đâu?”

“Tôi làm tại hãng gạch fibro ở Lillestrøm. Tôi sẽ trả tiền nhà đúng hạn.” Như đã quen với việc phỏng vấn thuê nhà, ông tự trình bày thêm, “Chắc cậu cần người tham khảo. Thú thật, tôi quen nhiều người Việt, nhưng không ai thật thân để có thể cho cậu biết về cho tôi. Chỉ có ông bà chủ đó biết rõ tôi thôi.”

“Tôi nghĩ tôi chỉ cần nói chuyện với chủ hãng gạch.”

Lúc chia tay, tôi lấy một bịch táo đưa cho thằng nhỏ nói:

“Em đưa về cho mẹ làm bánh. Táo anh mới hái trước khi em tới.”

Nó lắc đầu không nhận táo, nói:

“Em không có mẹ”.

Ông Thật gật đầu xác nhận, bảo con nhận táo, ông sẽ làm bánh táo cho nó ăn. Nhân tiện tôi hỏi thêm:

“Chú ở Na-uy bao lâu rồi?”

“Mười bảy năm.”

“Khá lâu chớ. Vậy mà cháu không biết chú.”

Ông cười hiền. Tôi nghĩ trong đầu nếu cho người Việt thuê, tôi sẽ chọn cha con ông này. Chắc họ sẽ không làm phiền hàng xóm Na-uy, ba má tôi sẽ không bị mắng vốn.

Ông chủ hãng gạch fibro nói tốt về ông Thật, chăm chỉ, lương thiện, đáng tin cậy, nhân viên chính ngạch. Ông kết luận đùa, “Ông ta như ông thầy tu.”

Ba má tôi bảo dù sao cũng nên thăm dò thêm trong giới người Việt, cho chắc ăn. Lỡ ra ông Thật cho mấy ông Việt Nam ở lậu thuê lại trồng ‘cỏ’ thì phiền phức lắm. Đang phong trào. Ba má tôi, lúc mới sang Na-uy, có tham gia hội hè khá tích cực, nhưng từ ngày kinh doanh phát triến lớn, không còn thời giờ. Vì thế trong vòng quen biết của chúng tôi, không ai biết ông Thật. May mà bà vợ ông chủ hãng gạch lại biết rõ – bà theo đạo Phật.

Ông Thật trước đây là nhà sư. Ông bị loại thanh lọc ở Hồng Kông. Hội Cư sĩ Phật giáo can thiệp cho ông sang Na-uy để coi một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Oslo. Sáu năm ở trại tị nạn, ông chuyên cần học tiếng Anh, nên bây giờ nói năng lưu loát, rất thích hợp cho một ngôi chùa quốc tế, có nhiều Phật tử Thái, Việt, Na-uy, Sri Lanka, Malaysia. Ông thuyết pháp hay, sống đạo hạnh. Phật sự đang vượng thì thấy ông bồng về một đứa bé sơ sinh. Lúc đầu tưởng ông làm phước cứu nhân độ thế, Hội Cư sĩ để yên cho ông nuôi đứa trẻ. Thay tã, pha sữa, tắm rửa, tập đi, cõng đi rừng, một tay ông. Sau có nhiều thư tố giác đứa bé là con ông, kết quả của một vụ phá giới. Đọc thư, dù nặc danh, nhiều người đặt dấu hỏi – À há, chớ sao ông cưng thằng bé dữ vậy?
Ban Trị sự chùa gồm 11 thành viên, trong đó các thành viên Thái, Na-uy đề nghị phải điều tra cho rõ ràng, nhưng 7 thành viên Việt Nam đòi giải nhiệm ông thầy ngay, để lâu sợ mang tiếng chung. Bà hội trưởng, một người Na-uy, khăng khăng cho rằng căn cứ trên mớ thư nặc danh mà kết án một vị trụ trì, là việc làm thiếu từ bi, nếu không muốn nói là thiếu khôn ngoan. Nhưng bà phải chiều theo quyết định của 7 thành viên Việt Nam là những người đóng góp tài chánh nhiều nhất. Ông thầy một mực im lặng. Ông im lặng dắt con – lúc đó 3 tuổi – ra đi.

*

Ứng viên cuối cùng là một người có tên Erikson, chắc Thụy-điển. Người Thụy-điển sang Na-uy làm việc là chuyện quá thường, từ bác sĩ, y tá, tới thợ tay chân, đứng quầy rượu, chẳng việc gì họ từ (Ba má tôi có hai nhân viên người Thụy-điển). Nhưng anh Thụy này khai làm thợ mộc, nên tôi chú ý – anh có thể giúp sửa chữa cái nhà khi cần. Cũng sắp cần. Tới khi gặp mặt, tôi mới biết anh ta người Estonia, nói tiếng Thụy-điển, tên Thụy điển.

Anh Estonia cho tôi số cá nhân rất lạ, 5 con số sau cùng, khi cộng trừ theo công thức của Phòng Hộ tịch, ra số của đàn bà. Tôi ra cảnh sát khu vực hỏi thì cảnh sát nói số cá nhân ngụy tạo. Họ phanh phui ra đương sự có liên lụy trong một vụ đốt nhà. Tôi hỏi thêm chi tiết, cảnh sát bảo họ không có quyền nói thêm. Họ mách tôi
có thể đọc Báo Người Lao động địa phương. Tôi vào internet tìm kiếm. Thuê người đốt nhà mình là chuyện không lạ gì trong phim trinh thám và trong hồ sơ công ty bảo hiểm. Cách nay không lâu, ông chủ một ngôi nhà gần cầu Strømmen thuê anh Estonia đốt nhà mình. Lý do vì chủ nhà được một công ty xây cất đề nghị mua ngôi nhà tồi tàn với giá rất bở. Công ty chỉ nhắm miếng đất rộng 4 mẫu. Nếu bán đất xong chủ nhà muốn bưng cái nhà đi đâu thì bưng, không thì họ cũng giỡ. Nhưng chủ nhà vướng một người thuê dài hạn, hợp đồng 3 năm. Người thuê nhà là một nhà sư. Khi anh Estonia vừa tưới xăng quanh nhà, tính châm lửa thì nhà
sư bắt gặp. Ông bảo kẻ đốt nhà ngưng tay, vì con ông đang ngủ, không được làm rộn nó. Rồi ông nói: “Anh về nhắn với người sai anh là cuối tháng tôi trả nhà, không cần đốt.”

*

Tôi nghĩ nhà sư Việt Nam có con thì không ai khác hơn ông Thật. Hèn chi cha con đầu trọc lóc. Một nhà sư
phá giới bị săn đuổi có nỗi khổ tâm, tôi sẽ nói với ba má cho ông ấy giữ nhà. Tôi đang bấm điện thoại cho ba má thì chuông điện thoại tôi reo. Một người Việt Nam khác đòi coi nhà. Tôi nói có người thuê rồi, bà ấy cãi quảng cáo chưa xóa, rồi năn nỉ coi nhà, “Không cho thuê cũng được, xin cho tôi coi!” Giọng nữ trong trẻo và lý luận kỳ cục buộc tôi nhượng bộ cho xong. Quá hẹn nửa giờ bà ấy chưa tới, tôi đã mừng, tôi sẽ bẻ mấy trái táo cuối cùng theo như má tôi dặn, rồi khóa cửa về thăm bồ. Tôi ăn thử một trái – rất giòn, ngọt dôn dốt. Táo Na-uy đây. Lát nữa tôi sẽ ghé cho cô bồ một bịch để tạ lỗi suốt tuần không đưa cô đi chơi. Người đàn bà tới đột ngột – một cô gái thì đúng hơn. Trẻ và đẹp không thua gì bồ của tôi. Cô xin lỗi vì không dự trù đi bộ từ nhà ga tới đây hết nửa giờ.

“Tôi đã nói rồi, ở đây bất tiện đi lại lắm.”

“Mặc kệ, anh cứ cho em thuê đi!”

“Ít nhất cô cũng phải coi nhà đã chớ!”

“Em không cần coi. Coi ngoài đủ rồi.”

Nói vậy, nhưng khi tôi vào nhà, cô vào theo. Vào bếp, cô ngồi xuống, than mỏi chân. Và bắt đầu kể về mình. Ý là tả oán để tôi cho thuê nhà. Đồng hương phải đối xử khác – nhưng tôi làm biếng pha cà phê, lát về phải dọn dep, tôi xẻ táo mời cô ăn đỡ. Cô không ăn, cứ ngồi kể về nhu cầu cần nhà, nhắc đi nhắc lại mười lần cùng câu “Nó nghịch lắm, cần chỗ chạy nhảy như nhà này là hợp không đâu bằng.”

“Thế hiện giờ mẹ con cô ở đâu?”

“Nó chưa về với em. Còn gửi nhà người ta. Tự không có nhà mà.”

“Còn cô?”

“Em ở nhờ nhà con bạn.”

Có cái gì không thật trong lời nói và ánh mắt người đàn bà trẻ này. Tôi nghĩ không nên dây dưa.

“Thưa cô, như tôi đã nói, có người thuê rồi. Cô nài nỉ đòi coi nhà thì tôi chiều ý. Nhưng tôi không thay đổi
được.”

Cô òa lên khóc. Tôi hơi sợ cô có mưu đồ gì đây. ‘Cô nam quả nữ’ – như lời ba má tôi thường nói – trong
ngôi nhà thanh vắng, cộng với tiếng khóc đàn bà, sẽ có thể mở màn cho một bi kịch khôn lường. Tôi đứng lên,
từ từ, nhưng cương quyết.

“Thú thật với cô, nhà này của ba má tôi. Ba má tôi đã quyết định rồi! Xin lỗi cô. Bây giờ tôi phải về. Cô
cần ra ga xe lửa, tôi sẽ đưa cô đi.”

Cô vẫn ngồi, gục mặt xuống bàn khóc. Tôi đứng chờ. Ngớt khóc, cô ngồi ngay người, nhìn vào mặt tôi
hỏi:

“Em phải làm gì để anh giúp em?”

Cau mày một lúc tôi mới trả lời được đúng ý mình:

“Cô phải nói thật!”

Lúc đó cô mới bắt đầu kể cô đã bỏ đứa con ruột bảy năm trời. Bây giờ cô đã làm xong hết thủ tục để đòi
con. Cơ quan Bảo nhi chỉ còn điều kiện một nơi ở tử tế. Tôi chợt nghĩ tới cha con ông Thật. Biết đâu một
tình cờ đã đưa cả ba người tới căn nhà bên sông Glomma. Tôi thả bong bóng thăm dò:

“Bây giờ con cô đang ở với cha nó, phải không?”

“Dạ không. Nó ở với một ân nhân. Ba ruột nó là một người không xứng đáng nhắc tới. Một con quỷ dâm
dục. Còn nó đang ở với một vị Bồ Tát.”

*

Hôm giao chìa khóa nhà cũng là buổi từ biệt giữa cha con, thầy trò. Thằng bé khóc nức nở. Bảy năm bồng bế, thay tã, cho ăn uống, dạy dỗ, thương yêu, nay bỗng chia cắt, nó không khóc sao được. Ông thuyết phục con, từ sáu giờ chiều tới khi trăng lên, mà nó cứ nấc cứ lắc đầu. Nhà tu hành cũng không cầm được nước mắt. Nhưng cuối cùng ông ngồi kiết già trên sàn, ôm nó vào lòng. Ông niệm Phật, đọc kệ bên tai nó , xen vào những lời an ủi, dỗ dành. Người mẹ đứng chắp tay cung kính. Tôi cũng bị lôi cuốn, chắp tay.

Cuối cùng nó gục đầu vào ngực ông, gật đầu.

Tâm Thanh

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...