Showing posts with label PhùngNCửu. Show all posts
Showing posts with label PhùngNCửu. Show all posts

27 January 2021

Thư Việt Nam

Cuộc sống này đáng trân trọng biết chừng nào

Em mừng lắm khi nhận được thư anh. Đợi đến cuối tuần, thư thả và tinh thần lắng đọng mới hồi âm cho anh.

Cảm ơn trời đất đã để anh em mình còn sống sót và còn liên lạc được với nhau sau ba mươi tám năm. Trong bấy nhiêu năm đã có biết bao nhiêu ly tan, tao loạn, nước mất nhà tan. Thật tội cho anh đã trải qua sáu năm trong ngục tù cộng sản, những giây phút lênh đênh «năm ăn năm thua» trên biển cả. Thật hãi hùng nhưng vẫn còn may mắn đến được bến bờ tự do. Còn biết bao người khác, trong đó những người thân quen đã chẳng bao giờ đặt chân được đến đất liền. Cảm nhận được mình xấu số nhưng còn may mắn trong số những người xấu số khác để thấy cuộc sống này đáng trân trọng biết chừng nào. Sau một thời gian lưng chừng hơn nửa tuổi thọ của một đời người lại mừng tái ngộ với cố nhân. Cuộc đời thật đẹp anh ạ!

Sau 30 tháng tư, em sống lây lất ở Sài-gòn mấy tháng rồi quay về Ban Mê Thuột với bố mẹ già. Em lập gia đình rồi chôn chặt cuộc đời ở đây không dứt ra được nữa. «Nàng dâu Hành Chánh» khóa 20 là bạn thân với Như Thương thời trung học. Cuộc sống dưới gọng kìm kẹp của cộng sản ở tỉnh nhỏ thật khốc liệt. Thòng lọng lý lịch đè con người miền Nam xuống đáy xã hội, phải cố thẳng lưng ngoi lên tìm chút không khí để thở theo cách riêng của mình. Em đã làm đủ mọi nghề tay chân để tồn tại cùng với nhà em và năm đứa con !!!!!. Năm 1995, Cộng đồng Pháp ngữ tuyển giáo viên dạy ngôn ngữ Pháp và các môn khoa học bằng tiếng Pháp cho chương trình song ngữ Pháp-Việt, em tham gia như giáo viên dạy toán bằng ngôn ngữ Pháp. Thế là thoát được nghề lao động chân tay vinh quang. Em chuyển về Sài-gòn từ 2007, khi các cháu tìm được học bổng toàn phần của chính phủ Hoa Kỳ và Singapore. Nhẹ gánh gia đình, hiện nay em chuyển sang dạy toán theo chương trình trung học Hoa Kỳ.

Một ngày cách đây mấy năm đang lang thang trên mạng, bất ngờ truy cập vào trang langchai*, cả một khung trời QGHC mở ra trước mắt. Mừng như người trôi dạt bao năm trên biển cả vớ được cái phao to! Mừng nhất là nhận ra tên anh, vui vì anh «được» phục chức «chánh hương hội» hay «tiên chỉ» gì đó em không nhớ. Em say sưa ngắm các bức sơn dầu anh họa. Sao anh tài hoa thế ! Ngày xưa ở Dalat mỗi lần ghé chỗ anh chơi, em thấy anh hay nghe nhạc, em cứ ngỡ anh chỉ thích nhạc thôi. Ngoài ra em còn thích đọc các bài viết của anh Trọng Đạt, đượm mùi thuốc súng, và « Paris có gì lạ không em » của anh Quan Minh. Một ngày ngỡ ngàng khi trang ĐS 14 đột ngột biến mất. Một thời gian dài không bỏ được thói quen vào langchai để rồi lại thẫn thờ khi trang ĐS 14 vẫn trống vắng.

Cảm ơn anh đã cho em truy cập vào tiengthongreo, êm đềm nhưng cũng thê thiết như tiếng thông reo dưới ánh ráng chiều ở Dalat 38 năm trước đây. Đọc bài Đừng khóc tôi, viết cho anh Lại Tịnh Xuyên nghe buồn quá. Don’t cry for me Argentina nghe càng da diết nữa! Em còn cả một kho tàng trong tiengthongreo để thưởng ngoạn, «nhâm nhi» và … bùi ngùi. Năm 2008 em quay lại thăm Dalat. Không gian xưa còn đấy nhưng mọi thứ đã thay đổi nhiều lắm và … không còn thông để mà reo nữa.

Sẽ còn nhiều dịp anh em mình nhắc lại khung trời Dalat. « Jeunesse, adieu, jasmin du temps ! J’ai respiré ton frais parfum. »

(Trích từ thư của một đồng môn, xin miễn hài tên)
__________
(*) "Làng Chài", tên Website của anh chị em CSV Vancouver, Canada, thiết lập từ rất sớm trước cả Web ĐS14, tiền thân của diễn đàn Tiếng Thông Reo. Web "Làng Chài" do đồng môn Vũ Minh Ngọc, ĐS16, chủ xướng, thiết trí và điều hành. (TTR)

11 December 2015

BÊN SÔNG, tùy bút

Tôi có một người bạn có anh trai du học ở Pháp đã hơn năm mươi năm, rồi định cư ở đây. Anh ta lập gia đình với một phụ nữ bản địa. Mới đây anh đưa vợ con về Việt Nam thăm gia đình ở trong một con đường nhỏ gần đường Tự Do, Sài-Gòn. Vợ anh muốn anh đưa đi thăm những nơi gắn với tuổi thơ của anh. Anh đưa ngay vợ mình ra bến Bạch Đằng, chỉ xuống dòng sông rồi nói: “Hồi bé anh thường ra đây tắm và bơi lội.” Bà vợ trố mắt kinh hãi: “Anh tắm dưới dòng nước bẩn và thối như thế này à?” – “Ừ, nhưng hồi đó nước trong và sạch, chứ không như bây giờ … Đó là dòng sông tuổi thơ của anh”. Nó đọng lại trong ký ức của anh một cách bền bỉ sau mấy mươi năm xa cách.

Tình cờ trở lại và đi dọc theo bờ hay băng qua chiếc cầu một con sông, chúng ta thường hồi tưởng hay liên tưởng đến một kỷ niệm nào đó. Nước và thời gian là hai hình ảnh đồng hành, cả hai di chuyển theo cùng một chiều bất khả vãn hồi: biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu!

Một lần đi thăm các lâu đài sông Loire (les châteaux de la Loire) ở miền trung nước Pháp, đứng bên phía lâu đài Amboise nhìn xuống dòng sông Loire, nước chảy dội vào chân cầu trắng xóa làm tôi chợt liên tưởng đến vần thơ mình yêu thích. Cảm giác thật bồi hồi!


Lâu đài Amboise
bên bờ sông Loire



Mai mốt em về đâu
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau.
               (Cõi Nghìn Trùng, Hoàng Trúc Ly)
Một lần dừng chân bên cầu, nhìn xuống dưới kia hồi tưởng ngày xa xưa ấy sóng nước lung linh soi bóng người con gái thuở nào. Bóng kỷ niệm chỉ còn là ảo ảnh, nhưng vẫn hiện rõ mồn một

DE CE PONT
De ce pont où tu te penchas
J’ai jeté ce soir mes filets
Pour reprendre à l’eau ton image.
                (De Ce Pont, Pierre-René Favre _ 1901-1949)
Hôm nao đứng bên cầu
Nhìn sông em cúi đầu.
Chiều nay anh thả lưới
Vớt lại dáng yêu kiều
               (Bên Cầu, Lãng Nhân- Phùng Tất Đắc dịch)
Tiểu sử của Pierre-René Favre, theo một tài liệu trước 1975, là người Pháp sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Ông rất giỏi tiếng Việt. Bài thơ chỉ vỏn vẹn ba câu nhưng ý tứ cô đọng như một bức tranh đi vụt từ quá khứ xa xăm đến hiện tại: chiều nay. Lãng nhân dịch động từ reprendre thành vớt lại cũng đã là rất khéo rồi! Còn image dịch là dáng càng hay nữa! Ta thường nói bóng dáng, gồm bóng chỉ vật thể hình thành từ ánh sáng, còn dáng hình thành từ cử chỉ hay dáng điệu. Dáng đậm nét quá khứ hơn bóng.

Nước vẫn chảy, thời gian vẫn trôi nhưng ai đó vẫn ở lại _ tôi đứng bên này … và ta ngồi lại _  không phải theo ý niệm không gian mà là trạng thái dừng của thời gian. Bên kia bờ, vùng dĩ vãng vẫn mịt mờ khói sương. Còn bờ bên này dĩ vãng chỉ còn lại bến hoang sơ, cây cỏ mọc hoang vu, hay lau lách động và u uất buồn.
Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
Thương về con nước ngại ngùng xuôi.
                      (Gởi Người Em, Hoàng Trúc Ly)
Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ.
Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia vẫn cứ chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.
                      (Ngồi Lại Bên Cầu, Hoài Khanh)
Bến sông này, bến sông này
Trăng xưa lạnh xuống hàng cây gục đầu
Người xưa chừ biết là đâu
Này trăng gió cũ này câu giã từ
Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm u uất buồn.
                      (Trông Theo, Hoài Khanh)
Hồn thi sỹ với bến bờ dĩ vãng, vốn vẫn luôn là bạn cố tri.
Con sông nào đã xa nguồn
Thì con sông ấy sẽ buồn với tôi.
                       (Hoài Khanh)
Vào thời tiền chiến, phương tiện đi lại tự động không nhiều. Đơn sơ chỉ là còn đò, chiếc thuyền gắn liền với bến sông, dòng nước. Cảnh chia tay có người đi, có người ngóng bên bờ.
Bến ấy ngày xưa người đi, vấn vương biệt ly
Gió cuốn muôn phương về đây, thấy bóng người về hay chăng.
…
Bến cũ chiều sương chờ mong, vấn vương lòng ta
Gió cuốn mây trôi về đâu, cố nén sầu lòng bao năm.
Lời mở đầu và kết thúc bản nhạc tiền chiến “Bến cũ” (1946) của nhạc sỹ Anh Việt đã rung lên một thời hoài niệm. (*)

Tình vẫn quyện theo gót chân tang bồng lãng du, cho dù đi xa nhưng vẫn nhớ đến và gìn giữ hình bóng ai đó suốt chặng đường đời: “Anh không giữ trong tay một kho tàng hay một danh vọng nào cả. Anh chỉ giữ có hình ảnh một buổi chiều, khi nắng vàng nhuộm mái tóc em” _ Dạ Chung-Hoàng Vĩnh Lộc. Đề tựa đẹp như thơ cho bài hát “Hình ảnh một buổi chiều” của Lâm Tuyền, hoài công phiêu bạt để cuối cùng dừng bước giang hồ tìm về chốn xưa, về con sông dĩ vãng để lại mong ngóng …
TIẾNG THỜI GIAN
Mùa đông xưa rét mướt, bên sông ngừng chân.
Chờ ai trong tê tái, lắng nghe chuông than.
                         (Nhạc Lâm Tuyền- Lời Dạ Chung)
Có những con sông gắn liền với một địa danh nào đó, như nói đến Paris là liên tưởng đến sông Seine. Paris hoa lệ, lộng lẫy, nhưng vẫn cổ kính, và đầy nét lãng mạn. Paris nổi tiếng không chỉ với những công trình kiến trúc làm du khách say mê mà còn cả dòng sông Seine với rất nhiều chiếc cầu, mỗi chiếc cầu có một vẻ đẹp riêng biệt cùng tuổi đời nhiều thế kỷ. Một trong những chiếc cầu đã trở nên vô cùng nổi tiếng, không phải vì tuổi đời hay vẻ đẹp của nó lấn lướt các chiếc cầu kia, mà chính bởi nó là chứng nhân của một mối tình tan vỡ được hồi tưởng lại bằng bài thơ bất hủ “Le pont Mirabeau”. Guillaume Apollinaire (1880-1918) sáng tác bài thơ này năm 1912, trích từ tập thơ Alcools xuất bản năm 1913 đã gây nhiều cảm xúc đối với nhiều người. Những ai yêu thơ Apollinaire, nếu có dịp đến Paris đều muốn một lần đến bên chiếc cầu này để cảm nhận nỗi vô vọng da diết của một cuộc tình ngắn ngủi, ly tan giữa ông và nữ họa sỹ Marie Laurencin (1885-1956). Âm hưởng bài thơ, qua dòng nước sông Seine chảy dưới cầu, liền mạch không chấm không phẩy, lững lờ và lạnh lùng trôi như dòng thời gian không trì hoãn, chẳng níu kéo, để mặc ai đó ngồi lại với vùng quá khứ lê thê qua dòng đời lặng lẽ, chậm chạp, đơn điệu, đêm xuống, giờ điểm.

Con sông đôi bờ. Dòng nước lững lờ trôi, mang theo dĩ vãng xa tít mù. Bờ bên này, ai đó ở lại với trạng thái tiếc nuối, ray rứt khôn nguôi: Les jours s’en vont, je demeure _ Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại.

LE PONT MIRABEAU

Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu’il m’en souvienne
La joie venait toujours après la peine

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l’onde si lasse

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

L’amour s’en va comme cette eau courante
L’amour s’en va
Comme la vie est lente
Et comme l’espérance est violente

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passé
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

                       Guillaume Apollinaire
***

CẦU MIRABEAU

Dưới cầu Mirabeau dòng Seine khắc khoải
Còn mối tình đôi ta
Anh có nên nhớ lại
Niềm vui mãi đến sau nỗi thống khổ

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

Tay trong tay nhìn nhau ái ngại
Dưới kia
Nhịp cầu đôi vòng tay ta vòi vọi
Sóng nước mệt mỏi thoáng nhìn ánh mắt thiên thu

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

Tình biệt ly như dòng nước xuôi nhẹ
Tình biệt ly
Nhưng sao dòng đời quá lặng lẽ
Cùng hoài bão sao quá mãnh liệt

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

Dòng thời gian thời gian trôi mãi
Riêng quá khứ
Cùng tình yêu không ngoái lại
Dưới cầu Mirabeau dòng Seine khắc khoải

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

                         Phùng Ngọc Cửu dịch, 1988.
_____________
(*) Bến Cũ, nhạc sĩ Anh Việt



_____________________

Bản bè góp ý:

Kính thưa Anh, Chị TTR,
Nhân đọc Tùy bút "Bên Sông" của Ông Phùng ngọc củu, trước đó (có) bài góp ý về bài Bonjour VN thật hay (Văn phạm thể phủ định). Ông PNC có thể cho biết thêm Về Pierre-René FAVRE, tác giả bài DE CE PONT vì tôi tìm hoài không thấy trên INTERNET.  Ngay cả các nhà thơ, văn đầu thể kỷ XX.
Với lòng quý mến tất cả các cựu QGHC.
Trân trong.
QT
 _____________

Hồi âm:

Thưa anh QT,

Cảm ơn nhận xét của anh về bài góp ý về lời bài hát Bonjour Vietnam của Marc Lavoine.

Riêng phần tài liệu nói về thi sỹ Pierre-René Favre, như đã trình bày, những gì tôi còn nhớ khi đọc trước 1975 một tuyển tập ngắn thơ Pháp của Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc dịch chỉ vỏn vẹn có vài dòng. Những gì Lãng Nhân nói về Pierre-René Favre cũng chỉ là bài thơ ba dòng, chứ không đề cập gì thêm nữa về các tác phẩm khác của thi sỹ này. Như thế có khi lại hay! Thi sỹ để lại cho đời có bấy nhiêu dòng thơ để ngưỡng mộ cũng đã là đầy đủ lắm rồi!

Tôi ngạc nhiên khi anh nói rằng tìm không thấy tài liệu nào về các nhà thơ và nhà văn Việt Nam đầu thế kỷ XX. Anh thử vào Google rồi đánh tên người muốn tìm kiếm xem sao. Chỉ e rằng anh không … đủ sức mà đọc thôi!

Thân ái
Phùng Ngọc Cửu
___________________

Kính Anh Phùng ngọc Cửu,
Cám ơn trả lời của anh, tìm không thấY P-R-FAVRE chớ không phải thi nhân VN. Anh có gan dám nhận tui làm em Văn nghệ không? (tui sanh năm 49).Thấy hình anh chụp (có lẽ khoảng năm 65-70) thi nhân mái tóc bồng bềnh, phía sau là dòng sông lửng lờ trôi, tui thấy Ông QGHC nào cũng hay quá nên làm gan hỏi đại, nếu không được thì thôi, đành chịu vậy.

Thành thật cám ơn Ạnh
QT

08 December 2015

Đôi điều cần nói rõ hơn về lời bài ca Bonjour Vietnam của Marc Lavoine

Nhân đọc bài mới đăng GIỚI THIỆU SÁCH “VIETNAM HISTORY: STORIES RETOLD FOR A NEW GENERATION”  trên TTR, tôi nhớ lại rằng hầu hết các bản dịch từ bản nhạc Pháp “Bonjour Vietnam” của Marc Lavoine tôi gặp từ trước đến giờ đều dịch câu “… ce que tu n’oses dire.” theo nghĩa phủ định như đoạn dịch trong sách dưới đây.
…
Raconte-moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés
Qui disent mieux que moi ce que tu n'oses dire

Dịch là:
Hãy kể cho con nghe về đế quốc ngày xưa và đôi mắt xếch của con
Những gì người không dám nói, mà con không tài nào diễn tả,

Chính chữ không dám nói này gây nên thắc mắc khó chịu, nếu như ta chịu khó suy gẫm một chút, bởi nó hàm ý rằng có uẩn khúc nào đó đáng xấu hổ trong lịch sử Việt Nam để đến nỗi “người” không dám nói ra mà để nét đôi mắt xếch của con tự nói ra thì hay hơn …

Nếu không trả lại sự chính xác ý nghĩa lời viết của Marc Lavoine sẽ dễ kết án rằng ông không hiểu lịch sử Việt Nam, cho rằng Việt Nam là một phần của Trung Hoa thì thật “oan” cho ông!

Ở đây cần bàn đến hai điều:

Thứ nhất, hình như, nếu người Châu Á thấy khó khăn hoặc không phân biệt được nét bề ngoài giống nhau giữa những người Châu Âu thì ngược lại, những người này nhìn người Châu Á nào cũng thấy mắt xếch. Vậy, liệu có nên võ đoán cho rằng Marc Lavoine nói rằng nét đôi mắt xếch của con trong bài ca xác định rằng con là người Trung Hoa?

Thứ hai, trạng từ (adverbe) NE trong tiếng Pháp không đi một mình để có nghĩa phủ định mà phải kèm theo, hoặc ne … pas, ne … point, ne … plus, ne … jamais, nul … ne, aucun … ne, rien  ne, personne ne, etc...

Trong một vài mệnh đề phụ, với số lượng hạn hữu, NE không có giá trị phủ định. Trong văn nói, thường thường người ta loại nó (NE) đi, hư từ NE được dành cho văn phong trang trọng hay trong văn chương. (Dans certaines propositions subordonnées, en nombre limité, ne n’a pas de valeur négative. Le plus souvent, la langue parlée le suprime, le ne se conservant dans la langue soutenue ou littéraire.)

Một trong những trường hợp hạn hữu nêu trên là, trong những mệnh đề so sánh, sau plus, moins, mieux, autre, meilleur, pire, plutôt, moindre, … người ta dùng ne nếu như mệnh đề chính ở thể xác định. (Dans les propositions comparatives, après plus, moins, mieux, autre, meilleur, pire, plutôt, moindre, on utilise ne si la principale est affirmative.)
Ví dụ:
-    Il est plus fin qu’on ne croit: điều đó tế nhị/tinh tế hơn người ta tưởng.
hoặc:
-    Il veut faire mieux qu’il n’est pratiquement possible: Anh ta muốn làm tốt hơn thực tế có thể có được.
và nhất là:
-    … qui disent mieux que moi ce que tu n'oses dire.

Do văn phạm “hiểm hóc” của ngôn ngữ Pháp thì đoạn:

 “Raconte-moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés
qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.”

Nên dịch lại như sau:

“Hãy kể cho con về đế chế xưa cũ cùng nét đôi mắt xếch của con
vốn nói rõ hơn là con nói những gì mẹ dám nói.”

Nôm na thì dịch là “Những gì mẹ dám nói ra _ kể cả con nữa _ cũng không rõ hơn là chính triều đại xa xưa cùng nét đôi mắt xếch của con nói ra …”

Một đôi điều suy nghĩ mạo muội. Không dám múa rìu qua mắt thợ.

Phùng Ngọc Cửu

02 April 2012

Thơ

POÈME FLOU
à une morte

Où va la pluie, le vent la mène
En tintant sur le toit
Et je me serrais contre toi,
Pour te cacher ma peine.

Le jardin noir aux arbres nus,
Ta petite lampe en veilleuse,
Tes soupirs heureux d’amoureuse,
Que sont-ils devenus?

J’écoute encor tomber la pluie:
Elle n’a plus le même bruit.

Francis Carco

**

NHẠT NHÒA BÓNG DÁNG
về một người đã khuất

Về đâu mưa ơi?
Gió cuốn mưa trôi
Bên thềm thánh thót
Từng hạt buông lơi.

Ngày ấy mưa bay
Ghì em trong tay
Âm thầm giấu kín
Nỗi niềm đắng cay.

Hàng cây trụi lá ngập vườn đen,
Trắng đêm thao thức tỏa ánh đèn.
Thở dài thỏa nguyện em ân ái,
Ngần ấy bây giờ biết ra sao?

Nay anh hằng lắng tiếng mưa sa:
Khác rồi, âm thanh tháng ngày qua!

Phùng Ngọc Cửu dịch, 1988

**
François Carcopino-Tusoli (1886-1958), bút hiệu Francis Carco, là nhà văn, thi sỹ, ký giả, sinh tại Nouméa (Nouvelle-Calédonie), và mất tại Paris. Ông là bạn của Guillaume Apollinaire và là cố tri của nữ văn sỹ Pháp Colette.

Ông gia nhập giới lãng tử (bohèmes) và được chào đón ở Montmartre với tác phẩm đầu tay Le bohème de mon cœur (1912) (Chàng lãng tử của lòng tôi). Ông viết và sáng tác nhiều, với các tác phẩm tiêu biểu: Homme traqué (1922) (người bị săn đuổi), được xem là tác phẩm gây xúc động nhất của ông, đoạt giải Grand Prix des romans của Hàn Lâm Viện Pháp, và Poèmes en prose (1948) (thơ xuôi).

Bất hạnh vì người cha độc đoán và bạo hành, ông co rút vào thi ca, nơi ông thể hiện sự nổi loạn nội tâm. Năm kế tiếp ra đời tác phẩm đầu tay, ông gặp nữ ký giả Katherine Mansfield, một “thiếu nữ thuần khiết và nổi loạn”, đã cùng ông khởi đầu một cuộc tình sóng gió và dang dở, một “cuộc tình tận tụy cho tàn phá” theo cách nói của ông, và đã khắc dấu ấn đậm nét cho đến ngày cuối đời của ông.

Như sương mù ẩn hiện trong tâm hồn, thơ của Francis Carco ray rứt cố nhân, hoài niệm hình bóng cũ nhạt nhòa qua lắng đọng tiếng mưa sa. Mưa là chìa khóa mở cánh cửa quá khứ của ông, là “chất thơ” thường hiện diện trong các tác phẩm của ông, cũng như Paul Verlaine, trông mưa rơi lại thấy nỗi buồn lay động.
Mưa khóc trong tâm
Như mưa trên phố
Buồn nào âm thầm
Thấm dần trong tâm.
Lãng Nhân, Phùng Tất Đắc dịch
Il pleure dans mon cœur
Comme il pleut sur la ville.
Quelle est cette langueur
Qui pénètre mon cœur?
Paul Verlaine
Còn bức ảnh minh họa cho bài thơ Poème flou lại gợi nhớ đến một hình ảnh khác, nặng ân tình và trầm thiết theo lời thơ của Lamartine:
Je te dois une larme au bord de mon tombeau.
Nợ em giọt lệ bên bờ mộ bia.
Sài-Gòn 06-12-2011
Phùng Ngọc Cửu

24 March 2012

Bút ký viết từ VN

Viết mail hàng ngày, xem thông tin hàng ngày thành thói quen không thể thiếu được đến độ không còn thắc mắc tại sao mọi thứ lại sẵn có và nhanh ngang với tốc độ của … ánh sáng như vậy. Chợt nhớ rằng mình rất ít khi ra bưu điện trừ phi gửi bưu phẩm, chẳng bao giờ đọc báo (thổ tả) trong nước, và cũng chợt nhớ rằng từ lâu, lâu lắm rồi không còn nghe radio nữa. Giờ đây tin tức tràn ngập trên mạng, không có thì giờ để đọc hết. Màn sắt hay màn tre, tường lửa hay tường khói đều trở thành vô dụng trong chính sách hỏa mù, che mắt thiên hạ. Bỗng dưng nhớ lại và thấy thèm những giây phút lén lút nghe tin tức đài BBC hay VOA của thời mà bức màn sắt còn đắc thắng buông xuống, ngăn chận mọi thông tin từ bên kia thế giới tự do khiến cho cả dân tộc bị mù lòa, câm điếc.

Tháng ba năm hai nghìn mười một, nghe BBC tiếng Việt sắp kết thúc chương trình phát thanh sóng ngắn, mặc dù đã không còn nghe chương trình này từ khi có trang mạng bbc.co.uk/vietnamese, tôi vẫn thấy buồn buồn như một điều gì đó thân thiết của cuộc sống mất đi! Lúc đó tôi muốn gửi đến, dù không thành, các anh chị trong chương trình BBC tiếng Việt từ thuở “khai thiên lập địa” đến phút cuối farewell party lời cảm ơn chân thành đã mang lại cho người Việt từ lâu lắm cái thuần khiết của thông tin mà tự thân họ cảm nhận và đối chiếu.

Tôi bắt đầu nghe đài BBC từ năm 1967 lúc còn là học sinh lớp đệ ngũ, trung học đệ nhất cấp. Cơ duyên này chỉ đơn giản là do một người bạn tặng cho bố tôi một chiếc radio 2 bands, hiệu Sanyo. Có lẽ ngày ấy tôi còn trẻ chưa hiểu biết nhiều về thời cuộc nên cũng chẳng mở radio làm gì, có chăng thi thoảng để nghe nhạc, mặc dù luôn ý thức rằng Miền Nam Việt Nam đang có chiến tranh ác liệt. Tôi vẫn tự xem mình là chủ nhân chiếc radio bé nhỏ này vì cả gia đình tôi không ai có nhu cầu nghe radio cả.

Thế rồi cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân bùng nổ. Ban Mê Thuột cũng như hầu hết các tỉnh thành trên toàn cõi Miền Nam chìm trong bom đạn, pháo kích, và biển lửa đang lúc mọi người cúng tổ tiên ông bà. Gia đình tôi bỏ nhà cửa chạy lánh nạn vào trung tâm thị xã vì xung quanh ngoại ô VC đã tràn ngập cả rồi. Tôi cũng bỏ lại tất cả nhưng chiếc radio bé bỏng thì luôn mang kè kè bên mình. Mỗi sáng, chiều, tối đều đặn tôi mở đài BBC nghe tin tức trong khi bom đạn rì rầm ngoài xa hay chát chúa ngay trong trung tâm thị xã. Nhờ thế, tôi biết được khá rõ tình hình chiến sự, những thành phố nào trên toàn cõi Miền Nam bị tấn công, những thành phố nào bị tàn phá và thiệt hại nặng nhất.

Rồi tôi đã thấy thân quen với nhạc hiệu của đài cùng tên các anh chị trong ban Việt ngữ. Ngày đó tôi đã phân biệt giọng đọc của các anh Hữu Đại, Xuân Kỳ, Đỗ Văn, v.v... và sau này là chị Lan Anh, Hồng Liên (không còn nhớ rõ lắm các anh chị xuất hiện trên chương trình vào những thời điểm nào). Không hiểu vì sao tôi lại tin chắc (hay tưởng tượng) rằng các anh chị ấy phát âm đúng giọng Hà Nội, giọng nói và cốt cách mà tôi chỉ được biết qua những nhân vật trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn: trầm, ấm, điềm đạm, chuẩn mực chứ không “chua”, trịch thượng hay áp đảo, có khi còn rất “hỗn” là đằng khác như của nhiều người tự nhận là chuẩn, là chính thống của đất Hà Thành hôm nay ...(*)

Sau biến cố Mậu Thân tôi vẫn nghe BBC nhưng không đều đặn lắm vì phải lo học hành cho đến ngày Ban Mê Thuột thất thủ. Lúc đó tôi đang học ở Sài Gòn, cả gia đình tôi bị kẹt ở Ban Mê Thuột nên tôi rất cần thông tin, và có lẽ tin tức khả tín nhất về tình hình chiến sự thì không đâu nhanh và chính xác bằng BBC. Thế là tôi nghe BBC đều đặn hơn.

Thành thật thú nhận rằng tôi “nghiện” BBC rất nặng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi thực sự hiểu được thế nào là “bức màn sắt” nên càng ôm chặt lấy chiếc radio bé bỏng hơn bao giờ hết. Tôi quay lại Ban Mê Thuột với bố mẹ già và ngày ba buổi kín đáo lên gác nghe BBC, volume vặn nhỏ tối đa!

Sau đó tôi bị điều vào vùng kinh tế mới dạy học, cách thị xã Ban Mê Thuột 40 cây số, mãi tận trong rừng. Trong trường mấy chục giáo viên đều đỏ và hồng cả, chỉ mỗi riêng tôi không “giây giưa” tí màu sắc nào của hàng ngũ này. Tất nhiên, là dân miền Nam lại “nghiện” nặng BBC nên tư tưởng không thể nào thông được. Thế nhưng việc nghe BBC đều đặn trong một môi trường như vậy trở nên vô cùng khó khăn và nguy hiểm, trong một ngôi trường mà mọi sinh hoạt không khác một trại bộ đội tí nào. Này nhé, xuất nhập trường đều phải trình báo với tay hiệu trưởng vốn là thương binh bộ đội, cặp mắt lúc nào cũng dò xét. 7 giờ sáng học sinh vào lớp, thế là việc nghe chương trình BBC buổi sáng xem như đi đoong! Buổi tối thì giáo viên bị lùa văn phòng soạn bài bên chiếc đèn dầu hột vịt leo lét, thế là lại vĩnh biệt chương trình BBC buổi chiều lúc 7 giờ hay 7giờ 30 gì đó. Chỉ còn vớt vát chương trình lúc 9 giờ 30 tối, nhưng lại bị phân công gác trường hai đêm một lần, gác theo ca, phòng FULRO đột nhập vào trường … cướp lương thực. Tôi gác “chay”, nghĩa là không bao giờ được phát súng. Vả lại, ai mà giao súng cho một tên không giây tí mảu đỏ nhỉ. Càng tốt! Rất may ca của tôi bắt đầu từ lúc 9 giờ 00 đến 11 giờ. Vì thương con đi dạy học xa trong rừng, lo sợ bị sốt rét nên bố tôi may cho tôi một chiếc áo khoác bằng vải poncho, có một cái túi khá rộng bên trong. Đây là nơi tôi đựng chiếc radio. Cẩn thận cắm dây nối headphones dấu bên trong áo, nhét vào hai tai, kéo fermeture áo đến tận cổ, dựng cổ áo thật cao để giấu hai sợi dây headphones màu trắng ... Thế là an toàn! Công việc còn lại là kéo fermeture áo xuống, lùa tay vào mở đài, dò đài, rồi kéo fermeture lên ... Vì không muốn gián đoạn chương trình một giây phút nào nên tôi luôn mở và dò đài trước đó. Có một chương trình tiếng nước ngoài phát ngay trước BBC tiếng Việt nên tôi dò sẵn và nghe chờ mặc dù chẳng hiểu họ nói gì. Sau này tôi mới biết đó là chương trình BBC tiếng Miến Điện. Tôi quen với ngữ điệu này đến nỗi bây giờ nếu có du khách nào phát âm ngôn ngữ này ở giọng cuối câu thì tôi nhận biết ngay họ là người Miến Điện...! Đứng ở cuối hiên dãy phòng nhà ở giáo viên lợp tranh vách phên tre, tôi chong mắt nhìn vào màn đêm, chiếc áo poncho kín hơi nóng phát khiếp nhưng tôi cố chịu đựng, căng thẳng ngong ngóng chờ nhạc hiệu BBC ...

Một đêm, rất may không phải ca tôi gác, mấy gian nhà tranh phòng học và phòng ở của ban giám hiệu bị phóng hỏa. Mấy chục giáo viên nhốn nháo, náo loạn, còn các giáo viên nữ vừa ôm đồ chạy vừa khóc như ri. Ngay sáng hôm sau hai xe chở đầy công an áo vàng ở thị xã BMT vào điều tra vụ đốt trường. Họ ở lại trường mấy ngày để lùng xục. Nhiều nghi can bên ngoài trường và vùng lân cận bị điệu đến trường để xét hỏi, lấy cung, và bị đánh đập ngay trong phòng học còn lại ... Thấy thật chóng mặt! Tôi rất lo, không biết mình có bị điều tra oan hay không. Nhưng một nỗi lo khác là phần nghe chương trình BBC buổi tối của tôi sẽ bị gián đoạn. Lý do là trước kia mỗi phòng tranh, vách nứa, nền đất có ba giáo viên ở, mỗi người có giang sơn một chiếc giường nhỏ nên tôi rất thoải mái lúc 9 giờ 30 tối. Từ hôm gian nhà ban giám hiệu bị phóng hỏa, mỗi tối lão hiệu phó vác mền qua ngủ nhờ giường tôi. Cái này mới gay go làm sao! Tôi suy nghĩ ghê lắm, cuối cùng quyết định “gác chương trình” một thời gian vì lý do an toàn. Thế nhưng càng đến gần 9 giờ 30 tối “ma lực quyến rũ” khiến tôi phải mặc chiếc áo poncho vào, nai nịt kín đáo và lên giường nằm chờ. Quái quỷ! 9 giờ 25 rồi mà giọng lão hiệu phó nói chuyện vẫn cứ oang oang bên tai, mà lại nói với tôi mới chết chứ. Cuối cùng tôi chợt nghĩ đến cách quay mặt vào vách, giả vờ ngáy ro ro. Thế là lão ta lầm bầm ...”Mới đó đã ngủ!” Tôi kín đáo mở radio. Khốn khổ, chiếc đài cũ quá nên mỗi lần mở máy lại kêu rồ rồ một lát. Tiếng lão hiệu phó lại lầm bầm bên tai, “Tiếng gì rì rầm như tiếng sấm, ... chắc mưa ở đâu đó.” Tôi thấy lạnh cả cột sống! Tôi nhớ đời buổi “nghe lén” hôm ấy. Thế mới biết ăn vụng và nghe lén mới thú vị làm sao!

Sau khi đoàn công an rút đi, tôi thấy nhẹ cả người. Sau đó lại nghe ban giám hiệu rỉ tai nhau: vụ phóng hỏa là do một học sinh lớp bảy người dân tộc Mường chủ ý đốt trường ... Còn tôi dạy thêm vài tháng rồi nhận lệnh tập trung đi lao động cải tạo tư tưởng hơn nửa năm. Sau đó tôi quyết định tự cho mình “mất dạy”, bỏ ra ngoài lao động chân tay kiếm sống nuôi vợ con.

Tôi vẫn nghe BBC ngày ba buổi, thi thoảng bỏ chương trình buổi chiều vì không chuẩn bị kịp và thích nhất chương trình buối tối vì yên tĩnh và chuẩn bị tốt để nghe hơn. Tôi vẫn nhớ những buổi chia tay chương trình BBC của các anh chị thuộc “thế hệ đầu”, tâm sự với thính giả về bước đường phục vụ chương trình, về trường hợp được đài BBC tuyển dụng ở Hà Nội những năm đầu thập niên 1950 ra sao, khi mà người biết ngôn ngữ Anh lúc đó ở Việt Nam còn hiếm lắm. Ngoài các phát thanh viên đa phần là người Bắc, sau này tôi còn nhớ và thích giọng miền Nam tưng tửng của anh Xuân Hồng. Ngoài tin tức chính xác xảy ra bên đây và bên kia mức màn sắt mà tôi nắm được, BBC radio tiếng Việt còn cho độc giả một khối lượng tin tức thời sự và kiến thức cập nhật về mọi khía cạnh của cuộc sống mà không một phương tiện truyền thông nào vốn cực kỳ dồi dào và ra rả bên đây bức màn có thể thay thế được.

Tôi vẫn nghiện bbc.co.uk/vietnamese. Đó là chương trình mà tôi mở ra trước tiên ngay sau khi khởi động máy vi tính. Thế nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được nhạc hiệu - theo điệu Pasodoble thì phải -  và “Đây là đài BBC Luân Đôn” của chương trình phát thanh nhiều năm trước, khi mà trong không khí mùi chiến tranh còn nồng, tiếng đạn pháo kích còn rít lên hay tiếng bom còn rền vọng từ xa, cùng giọng đọc bằng tiếng Việt trầm ấm vẫn phát ra từ chiếc radio đồng hành nhỏ bé và cũ kỹ của tôi.

Phùng-Ngọc Cửu

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...