Showing posts with label A-3b Bút-ký. Show all posts
Showing posts with label A-3b Bút-ký. Show all posts

31 January 2016

XUÂN ĐOÀN TỤ, hồi ký

Cuối Đông 1980, nơi trại tù khổ sai Tân Lập, Vĩnh Phú, sau 6 tháng bặt tin nhà, không nhận được tiếp tế lại thêm bịnh nhược, tưởng chừng đi đứt, theo chân Đại tá Của, Tỉnh trưởng Bình Dương thượng đồi chè nghĩ khỏe, an giấc nghìn thu. Một buổi trưa đi lao động về, được thông báo lên Hội trường nhận quà từ gia đình gởi. Ôi! Thôi mừng như hết lớn.

Nào, xem cái gì đây! À, tới 2 bịch thuốc Lào ba số 8. Mấy tháng rồi thiếu thuốc, chạy đôn chạy đáo chớ bộ ít sao? Bụng đói, kéo vô e té mất, nhưng mà làm sao nhịn được, bèn xoe một bi nho nhỏ, kéo vô thiệt đã! Còn lon guigoz gì hấp dẫn thế nầy? Ra là thịt kho mặn, thượng phẩm nhất trần đời. Nhéo một miếng bỏ vô chén “sắn dui” là sơn hào, hải vị nhất bên Tàu. Đang khi tơ lơ mơ vì bi thuốc lào thứ hai thì nghe kẻng tập hợp đi lao động.

Mọi bữa, sắp hàng xong là ra cổng. Bửa nay sao lại dềnh dàng? Hóa ra đợi nghe đích thân Trại trưởng tuyên đọc … LỆNH THA nhân dịp Tết Nguyên Đán sắp tới!!!

Cả mười mấy đội, sáu bảy trăm nhân mạng đều nhốn nháo. Tiếng là Thiéu tá mà coi bộ đọc chữ không rành. Trong khi thiên hạ nhấp nha, nhấp nhổm, ông ê a đánh vần thật là sốt ruột. Tiếng ông thì nhỏ mà gã tù tui thì điếc lác sợ không nghe được nên mới nhờ anh bạn đứng kế bên nhắc chừng dùm. Quả nhiên lát sau bỗng thấy anh bạn nắm áo vừa giật vừa hô: có tên rồi kìa!!!

Tôi nghe rồi ngẩn ngơ như lạc vào trong mơ! Ở đời người ta thường nói: “Phước bất trùng lai”. Vậy mà gã khù khờ tui mới rồi vừa được phước lớn, giờ tiếp liền đại phước trong đời, thật là hi hữu!

Ngơ ngẩn hồi lâu mới giật mình, tỉnh lại bèn chạy u về phòng giam lo thu xếp đồ đạc. Bao nhiêu đồ dồn vô sac marin, chiếc thùng sắt để lại cho Thiếu tá Huấn, Chánh sở Tạo tác NQS như đã hứa.

Thiếu tá Tú, Thường trực thi đua mới hướng dẫn qua Khu B tạm trú qua đêm. Buổi cơm chiều mới thật là hào hứng. Trại khoản đãi giả biệt bằng cơm trắng thay sắn dui. Lại gặp Anh Nguyễn Mỹ, Trưởng ty Thuế vụ Biên Hòa cùng được thả. Hai anh em chén cơm trắng thịt kho thả cửa. Nôn nao, không sao ngủ được bèn làm đêm không ngủ. Bịch thuốc lào tới sáng đã khuyết một phần tư!

Đêm dài rồi cũng lại trôi qua. Sáng lại đã thấy cán bộ tới làm thủ tục ra tù. Lần cuối cùng lăn tay, nhận lãnh giấy ra tù. Cầm tấm giấy vàng úa mà nâng niu như lịnh thiên tào tha mạng! Rồi còn được lãnh lại 12 đồng đã ký gởi khi từ Miền Nam ra. Lại còn cho thêm túi gạo vài ký để ăn đường.

Bước lên chiếc xe cam nhông decapotable, mui trần tự chúc mình thượng lộ bình an.

Lần nầy, xe không chạy ra Bến Ngọc mà lại chạy băng qua Suối A Mai về phía Sông Thao. Chạy một đỗi ngang qua chiếc quán nhỏ bên đường, xe dừng lại cho đám tù mãn án sẵn tièn đó mua chút thức ăn đở dạ. Phong bánh khảo nhưn khoai lang mà tới hai đồng. Cái bánh chưng nhỏ xíu giá cũng như vậy. Thiếm xực thêm mấy điếu Đồ Sơn hạng bét là chẳn năm đồng.

Xe xuống chiếc phà ọp ẹp trẩy Sông Thao vào lúc xế chiều. Đường ra Hà Nội chừng như còn xa lắm! Nhưng mãi rồi Cầu Thăng Long cũng thấp thoáng xa xa. Chiếc cầu mới vì chuyên viên Tàu cộng rút về trước cuộc chiến 1979 nên việc xây dựng còn dang dở. Xe cam nhông tù thả chen chúc cùng xe đạp cả người gồng gánh vượt cầu phao vào buổi chiều tà. Từ nơi rừng núi mới ra nơi nhộn nhịp lòng cũng thấy vui. Nhưng xe không vào Hà Nội mà lại chạy về hướng Tây Nam. Ủa xe chạy đi đâu vậy cà? Tối mịt xe mới dừng lại trước cổng đèn điện sáng choang, biển đề rõ ràng: Trại Cải Tạo Hà Tây. Lòng thầm hỏi: có lẽ nào cái “giấy ra trại” nầy lại là đồ dổm!?

Phân vân bước vào cổng trại, tới trước dãy phòng giam mới tinh xem “hoành tráng”. Trại kiểu mẫu sát cạnh Thủ đô xã nghĩa do Đội trưởng Đội tù xây dựng, cựu Tướng Nguyễn Hữu Có thực hiện xem ra có khác! Người mang thùng nước chè xanh tiếp đãi “khách” mới tới Hilton Hà Tây lại là Trung tá LLĐB Trần Hoàng cũng từ Tân Lập “thuyên chuyển” ra đây năm ngoái mới kề tai bỏ nhỏ: Cứ yên chí! Chỉ trọ ở đây một đêm thôi, rồi mai ra ga Hàng Cỏ xuôi Nam. Mừng cho bạn từ âm ty trở về dương thế!

Sáng hôm sau được lịnh lên đường, đến Ga xe lửa Hàng Cỏ vào lúc 9 giờ, lòng mừng khắp khởi.

Mới từ trên xe phóc xuống đã thấy ai đó níu áo hỏi: “ Cái “Giắc kết” nầy năm choạc, bán không?” Năm chục đồng khi ấy là lớn lắm vì lương công nhân mỗi tháng chỉ có $40. Gã cựu tù mới một ngày toan phát mãi, may anh bạn đi bên cạnh chận lại bảo chờ giá. Quả nhiên giá tăng gấp đôi tút suỵt, tiền trao cháo múc liền một khi! Vậy là dư sức ăn đường, lẫn cà phê, thuốc lá.

Có sẳn tiền mới tính tìm cà phê uống. Nghe nói cà phê Hợp tác xã chỉ có năm hào một tách nhưng mà nhạt như trà xanh, lại phải đứng xếp hàng mua. Dzụ nầy coi bộ không khá nên mới ngó dáo dác tìm cà phê chui. Bước lần vào ngỏ hẻm bên kia đường là thấy ngay căn phố hẹp, vừa đủ kê hai chiếc bàn thấp nhỏ xíu. Mới hừng sáng mà đã thấy bàn bên kia hai trự chắc là đại gia nên trước mặt có hai lon bia Heineken và … một gói ba số 555 vàng chóe. Gã tân thường dân thấy bắt ngợp mới rụt rè hỏi bà hàng cà phê bao nhiêu một tách. Bà cười bảo: Chỉ một đồng năm hào thôi! Thây kệ, cứ thỉnh một tách cho ngon lành. Lại thêm một điếu ba số cho nó giông giống sáu năm về trước.

Chợ Đồng Xuân chỉ cách Ga Hàng Cỏ vài trăm thước mà nghe nói cũng “phức tạp” lắm nên chẩng dám lại xem, bèn trở lại ga chực chờ cho chắc bụng. Cả ngày trôi qua suông sẻ nhưng đến khoảng bảy giờ tối, cái bụng bắt đầu trở chứng, đau mướt mồ hôi. Hồi ở trong tù cùng đường nên không biết sợ, giờ sắp thượng tàu hỏa qui hồi cố quận nên thật là sợ lắm. Thầm nghĩ: Chẳng lẽ số xui tận mạng vậy sao?! Anh bạn ngồi bên thấy vậy cũng thương nên mới dúi cho hai viên thuốc, lại còn cho thêm hai ống thuốc Atropine, cẩn thận dặn: Đây là thuốc chích, tôi chắt chiu từ bấy đến nay. Chỉ khi nào đối đế lắm mới uống đại thử coi!

Đau quá nên đâu biết đã chín giờ tối, có lệnh lên tàu hỏa. Tay kéo lê chiếc sac marin, bước thấp, bước cao lê lết lên tàu. Điều kỳ lạ là mới vừa ngồi xuống, thở phào, chợt nghe cơn đau dịu xuống, rồi vong bặt. Vì quá vui mừng nên vậy chăng?

Xe lửa vừa phì phò lăn bánh, đã thấy anh Thiếu úy CSQG con nhà Nước Mía Viễn Đông

lần theo các dãy ghế tìm gặp mặt anh em. Chẳng là anh nầy mắc nợ anh em đồng đội cũng nhiều. Anh khiên gỗ trên núi, té vẹo cột sống, mỗi khi đứng lên là thân mình cứ bật ngửa ra phía sau. Từ đó mà đi, mỗi khi đi lại đều phải có anh em dìu đở. Ngay trong chuyến hồi hương nầy, mỗi khi lên xuống xe đều phải có người cõng. Vậy mà giờ đây, sau một ngày được thân nhân (đặc biệt được thông báo ra Hà Nội chờ đón) đón về khách sạn săn sóc cho chỉ có một ngày là có thể tự mình lần đi được mới kỳ! Người ta thường bảo: Con người khi lâm nguy hoặc quá vui mừng thường nẩy sinh thần lực, có khi là như vậy chăng?

Trăng mười bảy tháng chạp trên bầu trời đất Bắc mờ hơi sương, vàng vọt mà trong tâm tưởng vẫn thấy huy hoàng sáng chói. Từ 1975 đến 1981, đây có lẽ là đợt thả tù đông đảo nhất bởi vì ngang qua mỗi tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, mỗi nơi đều có rước một nhóm tù được thả.

Sau một ngày, hai đêm, xế chiều ngày thứ hai thì tàu đến Ga Phan Thiết. Biết rằng phải vài ba tiếng nữa mới tới Biên Hòa, nhà ta mà vẫn cứ ràng buộc đồ đạc sẳn sàng. Xe vừa tới Trảng Bôm bỗng nghe loa phát thanh loan báo: Vì quá trễ, xe sẽ không dừng lại ở ga Biên Hòa. Vậy là tiu nghỉu, thất vọng mới bàn với ông năm Huệ, Đại úy Quân cảnh: Khi tới Ga Biên Hòa, thế nào xe cũng chạy chậm lại, mình nhảy đại xuống được không? Ông năm Huệ lắc đầu, biểu: Không được đâu! Mình yếu rồi. Nhảy như vậy nguy hiểm lắm. Chi bằng để tới Bình Triệu, đi xe Lam về hay hơn.

Nói là nói vậy nhưng khi xe ngang qua ngả ba Vườn Mít là đã thủ thế. Khi thấy hàng bực cấp dẫn lên dãy phố, nơi mái ấm sáu năm về trước là không kìm lòng được: Hấp một cái, cái bồng thảy trước. Người nhảy vọt liền theo, bất kể hàng rào kẻm gai Úc chờn vờn trước mặt. Thân mình lăn long lóc vào hàng rào phải liều mạng nắm đại vào dây kẻm gai gượng dừng lại. Mặc cho bàn tay máu tuôn, vẫn hiên ngang đứng lên, ôm cái bồng đi bươn lên bực cấp. Chỉ thấy con đường vào nhà ta trước mặt, bất cần chuyện chi khác!

Vừa quẹo vô hẽm, đã thấy người vợ yêu lầm lủi đẩy chiếc xe đạp cũ đi ra. Gã liệng đại cái bồng xuống chạy lại. Cô giáo nhà ta chẳng biết chuyện gì. Chừng ngó lại thấy ông chồng đứng đó! Cả hai nhìn nhau như trong giấc chiêm bao.

Tỉnh hồn lại liền bảo: Mau vô nhà, bàn tay bị thương chảy máu. Bà xã buồn bả nói: Nhà ở dâu mà vô? “Mất dạy”người ta lấy căn phố lại rồi! May, tui lại dọn dẹp trả nhà mới gặp ông đây! Thôi mau về căn chòi của mình đi. Nó ở kế bên nhà Ông Một, phía sau Trường Ngô Quyền đó.

Tưởng rằng bà vợ nói ví von cho đở tức nhưng nhìn kỷ lại đúng là sự thật: Mái chòi nhà ta nửa thiếc, nửa tôn. Vách xộc xệch, nửa ván nửa tăng. Nhưng dẫu vậy vẫn là nhà của ta.

Vừa mở cửa rào bà xã vừa hô: Trí ơi, ba mầy đã về đó! Đây là đứa trai út, mưới bốn tuổi, mới theo mẹ ra Bắc thăm ba hồi năm ngoái nên không thấy lạ. Mới hỏi gái Chi đâu thì đã nghe tiếng kêu từ phía trước nhà: Từ dưới bàu rau muống bước lên cô gái nhỏ, quần vải đen , ống thấp, ống cao. Ngày ra đi, con tôi là bé gái xinh đẹp vùa chín tuổi. Giờ đây, trước mặt là cô gái nhỏ cao kều tuổi mười lăm, giống hệt cô thiếu nữ tay lấm, chân bùn ở Làng quê Bưng Cầu thuở trước. Mãi mới thấy cậu ba Lễ đi học nghề thợ máy ỏ Saigon đạp xe về tới. Chàng nầy là đứa vóc dáng thấp nhỏ nhất nhà, nay đã là thanh niên mười bảy xem ra cũng tu mi, nam tử. Cuối cùng là cậu cả Nghĩa, mãi đi giang hồ vụn rồi cũng về tới: Ôi thôi! Nhìn không ra! Chàng thanh niên tuổi mười chín cao trên thước tám. Đúng là vai năm tấc rộng, thân mười thước cao, oai hùng như Từ Hải.

Niềm vui sum họp đơn sơ mà thấm thiết, chỉ như vậy là đủ, mặc cho sự thế xoay vần ra sao!?

QUE SERA SERA! WHAT WILL BE WILL BE!

Nguyễn Nhơn

27 April 2015

Cuộc Đào Thoát Ly Kỳ Của Một Tù Nhân "Cải Tạo" Trốn Trại qua Kampuchia

Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù đuợc đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này.

Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long.Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.

Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẻm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc bố trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.

Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.

Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp.

Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẻm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luởi dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.

Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…

Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi uớt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu huớng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là  biết để đi cả ban đêm.

Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào.

Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.

Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.

Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra.

Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt.

Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài.

Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại.

Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đem trăng lên dễ thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.

Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay.

Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.

Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ.

Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chổ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc.

Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn rào tre.

Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có thêm hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn.

Bình chui ra truớc là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng. Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nuớc với đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt.

Đến lớp hàng rào kẻm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẻm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ.

Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc.

Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xìn hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.

Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa.

Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.

Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu hẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới.

Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm. Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần.

Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đuờng chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó.

Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuỗi theo để bắt chúng tôi.

Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chổ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lỡ có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi đuợc bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì.

Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chổ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng.

10 March 2015

Chuyện Ông Đạo Dừa

Nguyễn Văn Nghĩa 
(ĐS 15)
 Thân chào các bạn,

Trước đây, ĐS15 (dường như Bác Cư) có FW một bài viết về Ông Đạo Dừa. Lê Thành Nghiêm gợi ý tôi viết kể chuyện Ông Đạo Dừa. Cách nay khoảng 2 tuần, trên diễn đàn Thụ Nhân 1-2, anh Kinh Nguyen có chuyễn bài viết “Những ngày tù chung với Ông Đạo Dừa” của tác giã Hoàng Ngọc Giao, viết theo lời kể của Ông Joseph Cao ở Paris. Tôi có vài nhận xét về bài viết này cũng như có đôi điều viết thêm về Ông Đạo Dừa, kể lại những gì tôi được biết về Ông Đạo Dừa, tức Tu Sĩ Nguyễn Thành Nam, các bạn có thì giờ rảnh xem chơi.

Tôi sinh năm 1943, suốt thời niên thiếu đến khi hết trung học 1964 tôi sống ở Bến Tre.

Trong ký ức tôi còn nhớ, từ đầu thập niên 50, Bến Tre dưới thời Tỉnh Trưởng ngưới Pháp là Thiếu Tá Jean Leroy, phụ tá Nội An cho J. Leroy là Ông Tư Mưu, tức Thiếu Tá Võ Công Mưu, có biệt danh là “Hùm Xám Bình Đại”, thân phụ Ông Võ Long Triều (cựu dân biểu hạ viện đệ nhị CH, đơn vị Kiến Hòa. Ông Triều từng nói chuyện xưng hô “toi, moi” với Nguyễn Cao Kỳ, trước 75 là chủ nhiệm nhật báo Đại Dân Tộc, cùng vài “báo chí bạn bè” như Điện Tín, Đối Diện... mấy tờ báo có nhiều ngòi bút được mài sắc nhọn “đâm sau lưng chiến sĩ” khi mũi súng họ đang hướng về phía quân thù.

Khoảng gần cuối thập niên 50, chắc khoảng 1958, (hay 1959?), Ông tôi bệnh nằm điều trị ở BV Nguyễn Đình Chiểu (Kiến Hòa) dãy A, song song với đường chính trước BV. Một hôm ngưới ta đưa Ông Đạo Dừa vào dưỡng bệnh. Dãy nhà này mỗi phòng có 2 giường bệnh nhân. Ông Đạo Dừa không chịu vào nằm phòng mà yêu cầu được ngồi thiền tọa ngoài hành lang. (Nghe nói là trước đó Ông Đạo Dừa bị giữ ở Ty CSQG Kiến Hòa một thời gian).

Ông Đạo Dừa ngồi trên tấm đệm vải có chổ tựa lưng, choàng chiếc áo vàng một tay để ra ngoài, tóc Cậu Hai rất dài, xoắn, quấn quanh đầu, phần cuối còn vấn thành búi tóc phía sau, có khi búi tóc nằm trên đỉnh đầu. Cậu không tịnh khẩu, vẫn nói chuyện bình thường, nhiều người hiếu kỳ đi ngang ngừng lại nhìn, có người hỏi chuyện. Cậu Hai đeo một “bình bát” ngang thắt lưng, có người hỏi, Cậu trả lời là đựng mấy thứ cần thiết, có vé máy bay từ Pháp về.... Mỗi ngày Cậu Hai được BS khám bệnh như những bệnh nhân khác.

Ngồi tịnh thiền ở hành lang được ít hôm, có lẽ vì người hiếu kỳ làm bận rộn(?), Cậu Hai Đạo Dừa yêu cầu được lên ngồi trên auvent bên trên lối vào chính của dãy A. Đệ tử phải dùng thang để Cậu Hai leo lên. Tôi không rõ BS có leo thang lên để khám bệnh cho Cậu hay không, và tôi cũng không rõ việc vệ sinh cũng như ẩm thực của Cậu Hai như thế nào.

Khoảng đầu thập niên 60 tôi có nhiều dịp đi Mỹ Tho qua lại phà Rạch Miểu. Ngày ấy, phía đuôi Cồn Phụng còn là đất phù sa mới bồi, toàn là những cây bần và hai bên cồn giáp sông Tiền có xen cây lá dừa nước, cả phía trong cũng chưa có gốc dừa nào cao, dân cư không thấy ai. Hình ảnh  Ông Đạo Dừa ngồi lơ lửng trên ngọn dừa đong đưa qua lại trong gió qua nhiều năm tháng (!) trên Cồn Phụng - như bài viết của Ông Hoàng Ngọc Giao: "Ổng ngồi như thế đã mấy năm trời..." tôi chưa bao giờ thấy. Hay là Ông Joseph Cao thấy trong giấc mơ? Tôi nghe nói lúc đó Ông Đạo Dừa ngồi trên ngọn dừa ở Phước Thạnh, sau có lúc Ông qua ấp 3 Xã Hữu Định. Còn bài viết thì nói ngồi ở Cồn Phụng từ thời thuộc Pháp(?!) mà chính nhân vật Joseph Cao có thấy(?).

04 March 2015

Khúc Quanh Cuộc Đời

Để nhớ về bạn Phạm Văn Thắng

Vũ Minh Ngọc 
ĐS16/QGHC

Những ngày bận rộn cho kỳ thi ra trường và trình luận văn vào những ngày cuối năm 1971 rồi cũng qua đi, nhưng vấn đề đáng lo là nơi nào sẽ là nhiệm sở khi ra trường, vì sẽ tùy vào kết qủa cuối năm… Điểm tốt nghiệp của tôi cũng không mấy cao, nhưng giờ chót, một sự may mắn bất ngờ đến với tôi là kết qủa của khóa học anh văn do Hội Việt Mỹ tổ chức, mà Học Viện giới thiệu sinh viên đi học.. Với kết qủa đó, theo bà An, Chánh sở Học Vụ đã ghi thêm cho tôi 6 điểm vào điểm ra trường, khiến tôi vọt lên hạng thứ 16 trong danh sách thí sinh tốt nghiệp. Nhờ đó, tôi chọn Bộ Nội Vụ để đi địa phương, thực hiện một giấc mơ từ hồi còn trẻ.

Bố tôi là một công chức gìa làm trong sở nhân viên bộ Nội Vụ cũng mong cho tôi được đi làm nghề công chức, một cái nghề mà người đã theo đuổi từ hồi trước năm 1945. Cả một đời tận tụy với chức nghiệp, mà phần thưởng tinh thần duy nhất là tấm huy chương Hành Chánh Bội Tinh đệ Nhất hạng trước ngày về hưu.

Ngày trình diện Bộ Nội Vụ cùng đi chung với hơn 30 anh em trong lớp, việc lựa chọn địa phương cũng tùy thuộc thứ tự khi tốt nghiệp… Nhìn danh sách các Tỉnh có nhu cầu nhận các Phó Đốc sự mới ra trường.. tôi nghĩ, toàn là những khúc xương khó nuốt.

Lúc đó, mới lập gia đình, đứa con đầu lòng sắp ra đời.. tôi phân vân không biết chọn về đâu, cuối cùng, đành lấy Saigon là tâm điểm và coi tỉnh nào gần nhất là chọn thôi.. Danh sách các Tỉnh có nhu cầu thật dài, chạy dọc từ Quảng Trị đến Long Xuyên.. Vùng 1, vùng 2, vùng 4 lại qúa xa xôi, nhìn vào vùng 3 chỉ có duy nhất Tỉnh Bình Long với 2 chỗ… Nơi nào rồi cũng vậy, sống chết có số.. Bình Long cách xa Saigon 90 cây số về hướng đông bắc. Thôi đành nhắm mắt đưa chân..

* * 

Cầm Sự vụ lệnh trong tay, tôi hẹn Phạm Văn Thắng cùng gặp nhau ở bến xe đò Nguyễn Hoàng, gần ngã 6 Saigon. Hôm đó là chủ nhật 12 tháng 1 năm 1972. Tôi và Thắng lên xe đò Kim Phụng đi nhận nhiệm sở, để kịp trình diện vào sáng ngày thứ hai 13/1/1972. Chiếc xe đò chở đầy người, ì ạch chạy hơn 3 tiếng đồng hồ, từ Saigon lên Hớn Quản, một địa danh mà nhiều người biết đến hơn là An Lộc, nơi Tòa Hành Chánh Bình Long tọa lạc..

Để đến An Lộc, chúng tôi phải vượt qua tỉnh Bình Dương, qua khỏi Bến Cát, Rồi Lai Khê nơi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 trú đóng. Chiếc xe đò Liên Thành phải ngưng lại mất hơn 1 tiếng vì có cuộc giao tranh giữa lực lựợng bảo vệ doanh trại Sư Đoàn 5 tại Lai Khê với một vài tên đặc công việt cộng đang tìm cách tấn công và phá hoại vào bộ Tư lệnh Sư đoàn.. nhưng chúng đã thất bại. Rời Lai khê, chúng tôi đặt chân lên Quốc lộ 13, con lộ sau này đã ghi những chứng tích lịch sử với tên “Quốc lộ máu”

Tôi không rõ nguyên nhân nào, ở điểm chốt đầu tiên (cây số 0 QL13) là một khúc đá thật cao, hình một cái đinh nhọn, cắm thẳng xuống mặt đất.. có người cho rằng, người Mỹ đã đóng đinh trên Quốc lộ vì phong thủy hay trừ yểm gì đó, vì con lộ này đã thấm qúa nhiều máu của cả 4 thành phần: dân chúng, lính VNCH, lính Hoa kỳ và bộ đội Cộng sản… Chắc họ cũng có nguyên do nào đó.. Chiếc xe đò tiếp tục lăn bánh vượt qua các địa danh Bầu Lòng, Bầu Bàng rồi qua Quận Chơn Thành với Xã Hưng Long..Từ đây, đất và bụi đỏ bao trùm quanh Quốc lộ 13, càng tiến gần vào An Lộc, thì đất càng đỏ thẫm, và được bao phủ bằng những khu rừng cao su xanh thẫm, Bình Long được bao quanh bởi các đồn điền cao su của người Pháp.

Thành phố An Lộc lần đầu tiên xuất hiện dưới mắt tôi, ngơ ngác như một người từ quê lên tỉnh.. Tôi và Thắng tìm một khách sạn tạm trú qua đêm để hôm sau lên Tòa Hành Chánh Tình trình diện.. Buổi hoàng hôn đầu tiên thật hữu tình… áng chiều rọi những hình dáng những cô gái thượng trở về bản sau một ngày đồng áng, hiện rõ dưới ngọn đồi Đồng Long, cửa vào An Lộc… Phố xá nghèo, tập trung tại Xã Tân Lập Phú, con phố chính của chợ An Lộc. Tuy không thơ mộng như “phố núi cao” của Pleiku, nhưng cũng thuộc loại.. đi dăm phút, trở về chốn cũ.. Tôi nhìn Thắng thầm nói.. đây là nhiệm sở của mình sao Thắng?

Buổi sáng thức dậy thật sớm, sương mù của núi rừng vẫn còn phủ ngang ngọn cao su, đêm đầu tiên xa nhà, lạ chỗ và chắc là đang hồi hộp nghĩ đến ngày đầu tiên đi làm! Tôi và Thắng đến Tòa Hành Chánh Tỉnh thật đúng giờ, như một đức tính cần thiết của một công chức gương mẫu, người thư ký tòa Tỉnh bảo chúng tôi ngồi chờ gặp ông Phó. Đợi một lát, được đưa vào trình diện, ông Phó Vinh khóa ĐS 8, Sau vài câu chuyện hỏi thăm, ông phó Vinh dẫn chúng tôi lên gặp Đại Tá Tỉnh Trưởng Trần Văn Nhựt.. Ông Tỉnh cao lớn như tây, vui vẻ đón chúng tôi.. Sau khi thảo luận với Phó Vinh, ông cho hay là có hai chỗ, một Phó Quận Chơn Thành và một là Trưởng Ty Nội An và để chúng tôi tự chọn. Thắng nhường tôi chọn trước.. Vì mê nghiệp làm Phó, vả lại Chơn Thành gần Saigon hơn (60km) nên không ngần ngại, tôi chọn đi làm Phó Quận Chơn Thành..

Được ông phó Vinh giới thiệu với các Ty sở nội thuộc thì mới hay dân QGHC ở đây không có đất dụng võ.. Phó Quận Lộc Ninh bị bắt, Quận bị chiếm.. Các Trưởng ty phần lớn là Tham sự gìa và chuyện Thắng ra làm Nội An là chuyện đương nhiên. Sau bữa ăn trưa thì tôi nhận Sự vụ lệnh đi Chơn Thành ngay để thay thế một bạn ĐS15 chuẩn bị đi nhập học trường Sĩ Quan Thủ Đức. Cầm tờ Sự vụ lệnh tôi thấy một điều không biết hên hay xui, Sự vụ lệnh mang số 13/THC/BL/HC ký ngày 13 tháng 1 năm 1972 và đi nhậm chức bằng quốc lộ 13. Tôi không rõ lúc đi có phài là 13g13p13g hay không, nhưng lúc đó cũng trưa lắm rồi.

Cuộc đời làm phó của tôi bắt đầu từ đây!

Bình Long, một tỉnh lỵ nằm về phía Bắc của Sài gòn, cách khoảng trên 90 cây số, trước đây chỉ là một thị trấn nhỏ mang tên Hớn Quản thuộc Tỉnh Thủ Dàu Một, sau đổi thành Bình Dương. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, để đáp ứng nhu cầu hành chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Tỉnh Bình Long với 3 quận: An Lộc, Lộc Ninh và Chơn Thành. Tỉnh Bình Long nằm giáp biên giới Campuchia về phía Bắc và Tây Bắc, Đông giáp Tỉnh Phước Long,

Tòa Hành Chánh Bình Long
sau trận chiến mùa hè đỏ lửa 1972

Nam giáp Bình Dương và phía Tây giáp Tỉnh Tây Ninh. Diện tích tỉnh Bình Long với 2,140 cây số vuông, có nhiều núi đồi thấp và rừng rậm, hầu hết ở phía Bắc và phía Đông. Về phía Nam ít núi hơn hoặc là núi thấp như núi Đất cao khoảng 108 thước. Về hệ thống sông ngòi, con sông chính là sông Bé và sông Sài gòn, Sông Bé ở phía Đông chảy dọc từ Bắc xuống Nam và nằm trên ranh giới hai Tỉnh Bình Long và Phước Long. Sông Sài gòn nằm song song với sông Bé, nhưng nằm cạnh biên giới Tỉnh Tây Ninh và có những chi lưu chảy qua Tỉnh Bình Long như những con sông: Prek Thléa, Tonglé Cham và sông Cây Da. Bình Long là một vùng đất đỏ rất phì nhiêu và chịu ảnh hưởng khí hậu với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười Một và mùa khô từ tháng Mười Hai đến tháng Tư. Những trục lộ giao thông chính là Quốc Lộ 13 nối liền Bình Long với Bình Dương để dẫn vào Thủ đô Sài gòn. Ngoài ra Liên Tỉnh Lộ 13 là một trục giao thông quan trọng để liên lạc với các Tỉnh phụ cận. Về dân cư, với trên 76.000 người, đa số là người Kinh và rất đông đồng bào Thượng thuộc các sắc dân Stiêng, Mọa, Tà Mun, người Việt gốc Chàm và gốc Khmer. Những tôn giáo chính là Phật giáo, Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo, thờ cúng Tổ Tiên và Thần Linh..

Riêng Quận An Lộc bao gồm thành phố tỉnh lỵ rộng khoảng 760 cây số vuông, qui tụ trên 45.000 dân, tập trung trong Xã Tân Lập Phú. Với rừng rậm và đất đỏ, Bình Long được bao quanh bởi những đồn điền cao su rộng ngút ngàn. Dọc Quốc Lộ 13, từ Tân Khai dẫn vào An Lộc, những rừng cao su xanh rì và xếp hàng thẳng tắp, là những hình ảnh thiên nhiên và hùng vĩ của Bình Long... An Lộc được bao quanh bởi những ngọn đồi Gío, đồi 100 và đồi Đồng Long.. là những hình ảnh đẹp thiên nhiên, nhưng lại mang những giá trị chiến lược về lãnh vực Quân sự. Về lãnh vực Hành chánh, Tỉnh Bình Long gồm 3 Quận Chơn Thành, An Lộc và Lộc Ninh. Quận Chơn Thành, một quận nhỏ gồm hai xã Hưng Long và Minh Thạnh. Chơn Thành với trên 10.000 dân nằm trên trục giao thông Quốc Lộ 13 (lên An Lộc) và Liên Tỉnh Lộ 13 (qua Sông Bé-Phước Long). Qua khỏi Chơn Thành, sẽ gặp các địa danh Tàu Ô, Tân Khai, Xa Cát, Xa Cam, Xa Trạch rồi bước vào Tân Lập Phú, thị trấn trù phú như cái tên được đặt cho.. Xa hơn phề phía Bắc, là Quận Lộc Ninh nằm sát biên giới Việt-Campuchia, bao bọc bởi rừng rậm và rừng cao su và là nơi sinh sống của rất đông đồng bào Thượng.

 Chỉ hơn 3 tháng sau khi nhậm chức phó Quận Chơn Thành, tôi cảm thấy ngao ngán cho số phận làm “phó” của mình… nhà ở (chứ đừng nói là Dinh) không có. Mướn nhà ngoài quận thì được khuyến cáo là không nên vì mất an ninh, những ngày đầu, khi màn đêm xuống, thay bộ bà ba đen, vào nhà này xin ngủ trọ, nhưng thực sự vòng ra ngõ sau để đến nhà khác tạm trú qua đêm, những người Hoa, họ dấu mình và tránh sự dòm ngó vì buổi tối Việt Cộng thường lẻn về phá hoại. Sau đó, tôi đành phải  “mua” lại từ một nghĩa quân một cái lô cốt nhỏ bé, phòng ngủ là một hầm phủ bao cát để tránh pháo kích, nằm ngay trong Chi khu.. Sau ngày nhậm chức, ông Quận dẫn đi giới thiệu với các hàng quán và dặn: là ông Phó có ăn uống gì thì đem bill vào cho Quận trả.. Nhưng đời mà, bố bảo tiệm nào dám đòi, nên tôi ăn đồng nào, trả đồng đó. Rồi những sự “chào mừng” khác cũng đến, người thư ký ban kinh tế quận cho hay, các thương gia sẽ gom chung mua đồ dùng cho "dinh" ông phó.. nhưng chỉ là lời nói xuông và qua đi, và tôi đã từ chối.

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...