Showing posts with label Nhan-T-Hà. Show all posts
Showing posts with label Nhan-T-Hà. Show all posts

11 May 2010

Cõi thơ

NỖI TUYỆT VỌNG CỦA THI NHÂN

Thi nhân đối diện với chính mình trong giây phút thiêng liêng nhất khi họ tự giam mình vào nỗi cô đơn tuyệt đối, giữa bốn bức tường trắng vô hình lúc đêm khuya tịch mịch. Trong cái khoảnh khắc ấy, tâm hồn họ mở ra đối thoại với nỗi khắc khoải và xúc động của mình và cũng ở đây họ viết lên những thông điệp huyền diệu và thăng hoa nhất. Mai Anh, một nhà thơ trẻ ở Pháp, cũng như bao nhiêu thi nhân khác, không phân biệt thời gian và không gian, đã không thoát khỏi cái ngoại lệ ấy. Cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết "Gã gù nhà thờ Đức Bà" của Victor Hugo , trong giây phút xuất thần, Mai Anh đã nhập hồn vào nỗi khao khát tuyệt vọng của Quasimodo, viết lên lời hoan ca xưng tụng tình yêu của một gã gù, với hình thù gớm ghiếc, trước Esmeralda, một kỳ nữ gypsy xinh đẹp, trong bối cảnh Paris của thời Trung Cổ với ngôi thánh đường Notre Dame âm u huyền bí.
Nhẩy múa đi Esmeralda của tôi! Và hát bản tình ca em vẫn hát Tôi muốn cùng em về bên kia, nơi đất cát Chết vì em là cái chết ngọt ngào
Quasimodo, một sinh vật nửa người nửa ngợm, sống trong thế giới duy nhất của gã là ngôi thánh đường Notre Dame, là những gác chuông hùng vĩ và các tượng thú vật với hình thù ma quái. Lần đầu tiên trông thấy Esmeralda, Quasimodo đã vượt ra ngoài những cấm đoán khắt khe, ra tay cứu vớt người kỳ nữ gypsy tuyệt đẹp, rồi đem nàng vào thánh địa Notre Dame thoát khỏi nanh vuốt của bọn cai trị thần quyền độc ác của Pháp vào thế kỷ 15. Giữ gìn bảo bọc Esmeralda như một con thú đực bảo vệ giống cái của nó, với trí óc của một bản năng sơ khai, Quasimodo lồng lộn điên cuồng khi phát giác Esmeralda bị bắt đem đi mất khỏi vòng tay bao bọc của nó. Quasimo đã lục lọi khắp mọi ngõ ngách của ngôi Thánh Đường đến hằng hai mươi lần mà không biết mệt mỏi, để khi hiểu rằng nàng không còn trong vòng tay bảo vệ của nó nữa, Quasimodo cuống cuồng lăn lộn trong đám chăn gối của Esmeralda, hôn hít và ôm ấp trong nỗi tuyệt vọng như để tìm lại hơi hướm của nàng, một sinh vật cái xinh đẹp nhất trên đời của nó. Sau khi chứng kiến cuộc hành hình của Esmeralda, Quasimodo đã tìm kiếm đến căn hầm nơi vất xác những kẻ bị xử tử để tìm lại thân xác người yêu dấu của gã. Dưới ánh trăng xanh man dại, gã gù ôm lấy xác nàng kỳ nữ gypsy, hân hoan kiên nhẫn chờ đợi cái chết đến với mình, để được thăng hoa với linh hồn người yêu dấu. Mai Anh đã hội nhập vào nỗi tuyệt vọng ấy và viết lên những lời thơ say đắm ca ngợi cái chết như một giải thoát để đi tìm niềm hạnh phúc đích thực Nhẩy múa đi Esmeralda của tôi!
Và hát bản tình ca em vẫn hát Tôi sẽ ôm em cho lá bay xào xạc Nghĩa địa buồn, em ngủ tôi thức canh Nhẩy múa đi Esmeralda của tôi! Và hát bản tình ca em vẫn hát Tôi muốn đi theo em, đến nơi vườn thơm ngát Chết vì em, với tôi, cuộc sống mới bắt đầu
Sau khi nàng kỳ nữ Gypsy xinh đẹp kia bị bọn cai trị độc ác đem ra hành hình, người ta không còn trông thấy Quasimodo xuất hiện ở ngôi thánh đường Notre Dame nữa, không ai biết nó đã đi đâu và làm gì. Mãi hơn hai năm sau khi vụ xử tử người kỳ nữ gypsy, ở một căn hầm hoang phế, người ta phát hiện trong những bộ xương trắng ấy, có hai bộ xương một nam và một nữ ôm dính chặt với nhau. Khi họ đem tách rời hai bộ xương kia ra, bộ xương với cái cột sống dị dạng bỗng tan rã thành cát bụi. Tuy thế, Mai Anh không phải là nhà thơ duy nhất đã ca ngợi tình yêu và cái chết. Robert Desnos (1900 - 1945), một trong những nhà thơ cự phách thuộc trường phái Siêu Thực của Pháp, cũng đã để lại những bài thơ tuyệt tác ca tụng tình yêu và nỗi tuyệt vọng của thi nhân trước nàng thơ của mình. Sinh trưởng giữa hai cuộc thế chiến, Robert Desnos bị ám ảnh trước cảnh chết chóc và tàn khốc của chiến tranh. Thi nhân luôn khao khát mơ ước một thế giới không thù hận, ở đấy chỉ có tình người và nàng thơ yêu dấu. Trong bài thơ "La voix de Robert Desnos", thi sĩ đã tạo dựng một thế giới riêng của mình. Nắm trong tay cái quyền lực vô biên, thi nhân một mình hô phong hoán vũ, mời gọi những tai họa của thiên nhiên, cuồng phong và bão táp, những cơn sóng thần và địa chấn, hiệu lệnh cho những biểu tượng của sức tàn phá do chiến tranh và những bất trắc do nhân loại gây ra: những tay đao phủ thủ, những kẻ đào huyệt, những kẻ sát nhân tàn ác. “Tôi chiêu gọi những sinh vật nằm vương vãi ở các miền quê hẻo lánh Thân xác của những cây sồi non vừa bị chặt ngã Tôi lên đàn hô phong hoán vũ Hiệu triệu những đợt sóng thần Những cơn địa chấn… …. Tôi hiệu triệu những kẻ đào huyệt, kêu gào những kẻ sát nhân Tôi thét gọi những tên đao phủ thủ, những tên chuyên treo cổ người… …. Desnos cũng không quên kêu gọi người mình yêu dấu. Thi nhân đã gọi lên ba lần, với những lời khẩn khoản và tìm kiếm hình bóng thương yêu vẫn ở ngoài tầm tay vói…
Tôi kêu gọi người tôi yêu dấu Tôi mời gọi người tôi yêu dấu Tôi khẩn cầu người tôi yêu dấu” “ j'appelle celle que j'aime j'appelle celle que j'aime j'appelle celle que j'aime “
Robert Desnos với uy lực của thi nhân, trong thế giới do chính mình dựng nên, đã khuất phục được những kẻ hung bạo nhất, những tai họa khủng khiếp của nhân loại. “Cuồng phong xoáy tròn trong miệng ta,

Bão táp đem những mầu sắc đến tô điểm đôi môi ta
Mưa gió và sấm sét quấn quít dưới chân ta
……
Kẻ đào mồ cũng đã dừng tay và đến chờ hiệu lệnh của ta
Kẻ sát nhân chào đón ta"
Nhưng thất vọng thay, cái quyền lực vạn năng ấy vẫn không thể nào đem lại niềm hạnh phúc tối thượng đến với thi nhân. Nàng thơ mãi mãi là một cái bóng chập chờn xa vời, thi nhân không thể vói tới được. Ba câu thơ cuối của bài thơ đã nói lên được nỗi tuyệt vọng khôn cùng ấy
"Thế nhưng người ta yêu đã không nghe lời ta nói Người ta yêu nào có nghe Người ta yêu chẳng bao giờ đáp lại lời ta nói”
Desnos đã lập lại ba lần như nói lên nỗi đau đớn để đối đáp lại ba câu thần chú mà thi nhân đã dùng để vời triệu người ông yêu dấu ở phần đầu của bài thơ.
“celle que j'aime ne m'écoute pas celle que j'aime ne m'entend pas celle que j'aime ne me répond pas.” (La voix de Robert Desnos)
Có lẽ tâm hồn của thi nhân chỉ đạt đến mức độ xúc cảm cao nhất và thơ của họ cũng đam mê cuồng nhiệt nhất khi họ hoài niệm về một cuộc tình tuyệt vọng. Một người nữ được tôn lên ngôi thần tượng, nhưng mãi mãi ở ngoài tầm vói của họ. Đối với thi nhân, chỉ còn một cách duy nhất để họ có thể đến và hòa nhập vào với người mình yêu là tìm đến cái chết, nơi không còn những giới hạn gò bó của vật chất, của một không gian vời vợi. Không còn những cái hèn hạ xấu xa của những hình thù gớm ghiếc dị hợm. Nơi ấy chỉ còn cái tinh túy long lanh của những linh hồn, của tình yêu, của những gì cao quý nhất trong tâm hồn của những con người với nhau. Có lẽ không còn một thi sĩ nào ngoài Desnos đã làm nên những lời thơ ca ngợi tình yêu tuyệt diệu hơn thế: “Một sáng mùa Xuân trên con đường Malesherbes, Vào một ngày trời mưa, Trước khi em đi ngủ lúc rạng đông, Tôi vời triệu hồn ma thân thiết của nàng, và em hãy nói rằng chỉ có mình anh là người đã yêu em nhiều và tiếc rằng em đã không biết điều ấy. Hãy nói rằng em đã không có gì phải hối tiếc: Vì trước đây Ronsard và Baudelaire đã từng ca ngợi nỗi sầu muộn của những người đàn bà già nua và đã chết, chính họ là những kẻ đã khinh bỉ tình yêu trong trắng. Em, khi em chết, Em vẫn đẹp và quyến rũ. Anh rồi cũng đã chết, hoàn toàn gói trọn vào thân xác bất tử của em, trong hình ảnh ngây dại của em mãi mãi hiện diện ở giữa những kỳ quan miên viễn cùa đời sống và vĩnh cữu, nhưng nếu anh còn sống Tiếng nói ngọt ngào của em, ánh mắt long lanh của em, Mùi hương của em và của mái tóc và còn nhiều những thứ khác nữa vẫn còn sống mãi trong anh, Ở mãi trong anh, và anh chẳng phải là Ronsard hay Baudelaire, Anh chỉ là Robert Desnos, kẻ đã từng biết và yêu em Vì đó là những điều đáng kể Và kẻ không muốn được nhắc nhở tới vì bất kỳ một điều gì trên mặt đất đáng khinh bỉ này”.
“En moi qui ne suis ni Ronsard ni Baudelaire, Moi qui suis Robert Desnos et qui, pour t'avoir connue et aimée, Les vaux bien. Moi qui suis Robert Desnos, pour t'aimer Et qui ne veux pas attacher d'autre réputation à ma mémoire sur la terre méprisable." (Non l’amour n’est pas mort - Robert Desnos 1926)
Có lẽ định mệnh cũng đã chiều theo ý của thi nhân. Trong những năm cuối cùng dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã, Robert Desnos bị quân đội phát xít Đức bắt giam sau buổi trình chiếu đầu tiên cuốn phim “Bonsoir Mesdames, bonsoir monsieur” dựa trên sự dàn dựng của ông. Desnos bị giam tại trại tập trung Buchenwald, rồi sau đó bị chuyển đến Terezine ở Tiệp Khắc khi quân đội Đồng Minh tiến vào giải phóng nước Pháp. Khi cái thế giới hòa bình, nơi có tình yêu nhân lọai và người yêu dấu của ông ngự trị, mà thi nhân hằng mơ ước trong bài thơ "La voix de Robert Desnos ", đã đến với nước Pháp, Desnos đã chọn tình yêu và cái chết như con đường tìm đến niềm hạnh phúc riêng của mình. Vì dù hòa bình đã đến với nước Pháp và Châu Âu, cái thế giới đầy tình người ấy vẫn thiếu vắng một tình yêu ông hằng tìm kiếm, nơi mà Desnos đã ba lần gọi tên người ông yêu, nàng ca sĩ cabaret Yvonne George, thế nhưng nàng vẫn không nghe được những lời thơ thắm thiết của thi nhân.
“celle que j'aime ne m'écoute pas cele que j'aime ne m'entend pas celle que j'aime ne me répond pas.”
Robert Desnos mất vì căn bệnh truyền nhiễm typhus vào năm 1945, chỉ vài ngày sau khi trại tập trung Terezine được quân đội Đồng minh giải phóng, để tìm đến tình yêu và hạnh phúc vĩnh cửu của thi nhân.
“Anh chỉ là Robert Desnos, kẻ đã từng biết và yêu em Vì đó là những điều đáng kể Và kẻ không muốn được nhắc nhở tới vì bất kỳ một điều gì trên mặt đất đáng khinh bỉ này”.
NHAN TỬ HÀ

29 April 2010

Nhân 30 tháng Tư

TƯỚNG TED SERONG (1915-2002)
MỘT ANH HÙNG VÔ DANH
CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM
Trong một cuộc điều trần trước Ủy Ban Quan Hệ Quốc Tế của Quốc Hội Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1976, về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trước sự xâm lăng của quân Cộng Sản Bắc Việt, Graham Martin, cựu Đại Sứ Mỹ tại Nam Việt Nam đã phúc trình rằng "Quốc Hội cấm chỉ các nhân viện Hoa Kỳ trong mọi hoạt động cố vấn cho phía Việt Nam, họ chỉ giữ vai trò cung cấp các dịch vụ hậu cần (logistical) mà thôi" Do đó, những nhân vật chủ chốt trong chính phủ VNCH đã phải mời một vị Tướng lỗi lạc đã về hưu của một quốc gia khác để cố vấn về kế hoạch rút quân đội từ các Tỉnh phía Bắc thuộc Vùng I và II nhằm bảo vệ các vùng trọng điểm kinh tế phồn thịnh xung quanh Saigon. Giới lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã không thể quyết định dứt khoát về kế hoạch này. Sau đó đến tháng 3 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đích thân mời vị cố vấn không phải là người Mỹ này và hỏi rằng “Liệu bây giờ có quá trễ để thực hiện kế hoạch đó hay không?”

Vị Cố Vấn này chính là Tướng “Ted” Serong của quân đội Hoàng Gia Úc, là một cố vấn quân sự Tây Phương phục vụ lâu đời nhất của các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Tốt nghiệp từ Trường Huấn Luyện Quân Đội Hoàng Gia tại Duntroon vào năm 1937, trải qua các kinh nghiệm già dặn về chiến trường khắp vùng Đông Nam Á Châu, Thiếu Tá Serong được các sĩ quan tham dự khóa huấn luyện về phưong thức chống quân phiến loạn bỏ phiếu chọn làm Cố Vấn Chiến Thuật Quận Sự cho Miến Điện. Vai trò này của Serong đã khiến giới quân sự và tình báo Mỹ lưu ý, do đó vào năm 1961 Bộ Trưởng ngoại giao của Mỹ lúc bấy giờ là Dean Rusk đã yêu cầu Canberra gởi Serong đến Nam Việt Nam. Thiếu tá Serong chỉ huy một nhóm gồm 30 sĩ quan, có lẽ là những sĩ quan xuất sắc nhất đã được tuyển chọn trong việc tác chiến, để giữ những vai trò trọng yếu của Lực Lượng Đặc Biệt tại Quảng Ngãi thuộc Quân Khu I.

Vào đầu tháng 9 năm 1962, Tướng Serong đưa ra nhận xét rằng các báo cáo của Cố Vấn Quận Sự Mỹ quá lạc quan về các biến chuyển quân sự tại Nam Việt Nam. Trên thực tế lúc đó miền Nam mất dần các vùng lãnh thổ của mình, chính sách Ấp Chiến Lược tại nông thôn không đạt được kết quả mong muốn vì chính quyền cho phát triển chương trình này quá nhanh mà không có thời gian để củng cố cho vững chắc. Trong khi đó các quan điểm của ông trình bày trước Hội Đồng An Ninh Hoa Kỳ về việc huấn luyện và áp dụng các chiến thuật chống du kích được Hội Đồng tán thưởng và chấp thuận.

Sau cuộc chính biến tháng 11 năm 1963 đưa đến cái chết của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tình hình Nam Việt Nam trải quan một giai đoạn cực kỳ bất ổn. Nhiều cuộc đảo chính xảy ra liên tiếp, đem đến sự thay đổi các tướng lãnh trung thành của các chính phủ trước. Dưới một hoàn cảnh như thế, hiển nhiên không có một sách lược an ninh xã ấp nào có thể thực hiện hữu hiệu được trên quy mô toàn lãnh thổ. Đến năm 1964, tình hình cuộc chiến trở nên nguy ngập, 9 tiểu đoàn trừ bị của miền Nam Việt Nam hầu như không còn tồn tại vì không đủ túc số, hoặc vì một phần lớn do các binh sĩ đào ngũ hoặc do sự tổn thất nặng nề trên chiến trường. Điều này đã đưa đến việc Tổng Thống Lyndon Johnson quyết định đem quân đội Mỹ vào Việt Nam.

Vào tháng 10 năm 1964, Thiếu Tướng Walter Cawthorn, chỉ huy Lực Lượng Tình Báo Úc, trong chuyến khảo sát tình hình các nước vùng Đông Nam Á, đã chỉ thị Serong tiếp tục ở lại Việt nam với lời nhắn nhủ “Hãy cố đem lại cho tôi 10 năm”. Trong 10 năm như thế sẽ đủ cho các chính phủ của Singapore, Mã Lai, Nam Dương và Thái Lan củng cố lực lượng quốc phòng để ngăn chặn làn sóng của các tổ chức phiến loạn thuộc khối Cộng Sản Quốc Tế. Điều đó cũng được chính Tướng Serong đã xác nhận những nỗ lực của chính mình và nhiều nhân vật khác của Nam Việt Nam nhằm đem đến sự củng cố và phát triển kinh tế cũng như tăng cường khả năng phòng vệ của khối Đông Nam Á trước hiểm họa Cộng Sản tại Á Châu.

Tướng Serong được bổ nhiệm vào chức vụ Cố Vấn Cao Cấp về chiến lược chống quân phiến loạn cho các Tướng lãnh chỉ huy của Quân Đội Mỹ tại Việt Nam, từ thời của Tướng Paul Harkins cho đến William Westmoreland. Serong đã được đặc phái đến phục vụ cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để làm Cố Vấn cho Chính Phủ VNCH về việc việc thành lập Lực Lương Cảnh Sát Dã Chiến trong các hoạt động về quân sự và chính trị.

Serong chính thức rời khỏi quân đội Úc vào năm 1968 với chức vụ Thiếu Tướng (Brigadier). Về sau này nói đến lý do tại sao ông đã rời quân đội Úc, Serong cho rằng “Tôi rời quân đội Úc vì tôi đã tìm được một đường hướng phục vụ cho đất nước hữu hiệu hơn bằng cách hoạt động bên ngoài quốc gia mình hơn là bên trong hàng ngũ của chính nước mình. Đó là sự lựa chọn giữa việc hoặc ngồi lại trong chiếc xe của mình và từ đó cố lèo lái nó hoặc nhẩy ra khỏi xe và đẩy nó đi, thì tôi đã quyết định nhẩy ra và đẩy nó đi”. Do đó, ông tiếp tục lưu lại phục vụ ở Việt Nam trong vai trò Cố Vấn An Ninh và Tình Báo cho chính Phủ VNCH, cũng như Cố Vấn cho Ngũ Giác Đài trong việc thành lập các chính sách của chính phủ Mỹ dưới thời của ba vị Tổng Thống J. Kennedy, L. Johnson và R Nixon.

Tướng Serong cũng đã từng giảng dậy tại Trường Cao Đẳng Quốc Phòng của VNCH dưới sự lãnh đạo của Tướng Vĩnh Lộc với mục đích huấn luyện các sĩ quan Quân Lực VNCH trở nên một quân đội chuyên nghiệp và hữu hiệu hơn. Thế nhưng từ Sài Gòn nhìn ra đại cuộc, Tướng Serong trở nên bàng hoàng khi Quốc Hội Mỹ bắt đầu thay đổi cái nhìn của họ về cuộc chiến Việt Nam, đưa đến việc cắt tài trợ và sau cùng là cuộc kết thúc cay đắng vào năm 1975 khi quân đội VNCH không còn đủ đạn dược để tiếp tục chiến đấu với quân Cộng Sản Bắc Việt.

Tháng 12 năm 1974, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm yêu cầu Tướng Serong thiết lập kế hoạch để cứu vãn VNCH. Serong đã đề nghị di tản quân đội từ Quân Khu I và II, dựa trên lập luận 2/3 của các lực lượng chiến đấu được huy động và bố trí tại đây, trong khi khả năng kinh tế của vùng chỉ vào khoảng 1/3 của quốc gia và khối dân số chỉ bằng 1/10 của toàn quốc. Hy vọng sinh tồn của VNCH là rút ngắn các tuyến tiếp vận trên một mặt trận quá dài kéo ra tận phía Bắc của lãnh thổ, cũng như việc rút quân về miền Nam sẽ làm chậm bước tiến của quân thù vì họ cần phải ổn định các khu vực chiếm đóng và gặp nhiều khó khăn hơn. Điểm quan trọng là việc di tản quân đội và dân chúng phải được thực hiện ngay trong vài tuần lễ nếu chúng ta thực sự muốn có cơ hội tiếp tục cuộc chiến đấu. Vào lúc đó, Tổng Thống Thiệu đã không thể chấp thuận kế hoạch này, lý do chính vì điều này có nghĩa là bỏ rơi Cố Đô Huế.

Đầu năm 1975, Tướng Serong thông báo cho Tổng Thống Thiệu thời hạn chót cho việc tái phối trí quân đội phải kết thúc nội trong Tháng Hai này và ông cũng đã nói với Đức Tổng Giám Mục Thuận rằng ngài nên chuẩn bị vì sẽ tái diễn một chuyến di tản như năm 1955. Vào giữa tháng 3, BộTrưởng Ngô Khắc Tĩnh thông báo rằng Tổng Thống Thiệu muốn tham khảo ý kiến với Tướng Serong. Serong nói với Ngô Khắc Tĩnh rằng cuộc chiến đã kết thúc, chỉ kéo dài trong vòng ba tuần lễ nữa thôi. Tổng Thồng Thiệu từ chức và rời khỏi Việt Nam vào ngày 21 tháng 4.

Đêm hôm đó, một nhóm các sĩ quan VNCH đến tư dinh của Tướng Serong ở đường Phan Đình Phùng để tham khảo ý kiến của ông khi vị lãnh đạo của họ đã đào tẩu. Serong khuyên các sĩ quan này rằng họ không có hy vọng gì để chiến thắng. Ông sẽ cố gắng can thiệp để các lực lượng quân đội đang chiến đấu ở phiá Bắc và Tây Nam của thành phố Sài Gòn tìm cách tháo lui ra cửa biển để gặp Hạm Đội Thứ Bẩy của Hoa Kỳ hầu cứu lấy mạng sống của mình. Tướng Serong là một trong những người sau cùng đã rời khỏi Việt Nam trên chiếc trưc thăng di tản trên nóc của Toà Đại Sứ Mỹ vào ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Tướng Serong đã quyết định tiếp tục phục vụ cho sứ mạng do chính mình đặt ra sau khi Chính Phủ Úc đã rút quân đội của họ ra khỏi Việt Nam. Sự quyết tâm của ông trong việc cứu vãn miền Nam Việt Nam có thể gói ghém trong một giả thuyết do chính ông đặt ra trong cuộc Hội Thảo tại Tổ Chức Nghiến Cứu và Phát Triển (RAND) vào năm 1970 như sau: Trường hợp có hai người leo núi , một người treo ở phía dưới sợi dây và tùy thuôc vào người leo phía trên. Tuy nhiên chiếc cuốc cắm vào vách núi của người phía trên không còn vững nữa vì vách đá sắp tan vỡ, câu hỏi là khi nào thì người phía trên sẽ cắt dây? Cuộc Hội Thảo đưa ra nhiều giả thuyết để giải đáp. Câu hỏi này sau cùng được đưa ra cho Tướng Serong và câu trả lời là: Chúng ta không cắt dây mà cả hai đều cùng rơi với nhau.

Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày Quốc Hận, bài viết này nhằm bày tỏ lòng cảm phục, kính trọng và tri ân đến một vị Tướng lỗi lạc đã hết lòng với chính nghĩa tự do dân chủ của quân dân cán chính miền nam Việt Nam. Câu hỏi sau cùng còn lại là nếu Tổng Thống Thiệu thực hiện cuộc di tản chiến thuật vùng I và II 6 tháng trước khi quân đôi Cộng Sản bắt đầu đánh chiếm Ban Mê Thuột thì liệu có thể thay đổi được tình thế của Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ hay không?

Nhan Tử Hà


(Viết dựa trên tài liệu từ “ There to the bitter End” By Anne E. Blair , và “ Ted Serong: The Life of an Australian Counterinsurgency Expert” Beede, Benjamin R.)

Trump Không Biết Làm Thế Nào Để Kết Thúc Cuộc Chiến Với Iran

Thomas L. Friedman,   “ Trump Has No Idea How to End the War With Iran ”   The New York Times Chuyển ngữ:  Lương Định Văn Tôi đến Tehran lần...