Showing posts with label A-7 Tạp Loại. Show all posts
Showing posts with label A-7 Tạp Loại. Show all posts

23 June 2022

Chụp Ếch, truyện đồng quê

Dường như tui biết bắt ếch từ hồi bốn năm tuổi. Ông Dương Năm, em rể của bà ngoại tui làm chứng vụ này. Ông thường ngồi trên ngạch cửa, trước hàng ba, coi đám con nít đùa giỡn. Có lần thấy tui té sấp, sải dài bốn chưn thì ông hỏi bắt được mấy con ếch. Rồi những lúc tắm mưa, khi bị trợt chưn té, cũng được hỏi có chụp dược con ếch nào không.

Thì ra quê tui có nhiều ếch. Người lớn hay bắt ếch. Con nít cũng bắt ếch. Chính cảnh sống trù phú ở đồng quê đã đẻ ra cái tiếng “chụp ếch” bất hủ đó. Ở chợ bị té thì bị kêu là đo đường hay đo ván chứ làm sao có ếch mà chụp. Chụp ếch! Vừa đau vừa mắc cỡ nhưng 2 tiếng dễ thương đó đã hóa giải ngay, giúp tui vui cười và lồm cồm đứng dậy giỡn tiếp. Rồi tới bảy tám tuổi thi chính tui đi chụp ếch thiệt.

Chụp ếch.

30 April 2022

Chuyện cũ rích nhàm chán và ngứa tai

Câu chuyện "Đầu Hàng" của ông Hồ Sĩ Khuê
Điền Thảo

Một buổi sáng ít tất bật, tôi lang thang trên internet đọc được một bài viết khá dài với đầu đề rất ngắn "Đầu Hàng" ký tên Vân Xưa Hồ Sĩ Khuê. Bài viết đăng trên trang "KBC Hải Ngoại". *

Chủ đích của bài viết không phải chỉ nhắm bênh đỡ cho tướng Dương Văn Minh (DVM) về chuyện đầu hàng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975 như đầu đề cho thấy, mà một phần quan trọng của bài viết nhằm chỉ trích hai nền cộng hòa của Miền Nam Việt Nam.

Dù chỉ trích nặng nề chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng ông Khuê cũng buộc lòng phải công nhận một điều: Việc tái định cư nhanh chóng và thành công cho hơn một triệu đồng bào Miền Bắc di cư vào Miền Nam. Những người di cư này trốn chạy cái gì tác giả không nói.
Tất cả người sống ở miền Nam đều đã chọn lựa tự do, không ai chối cãi được, kể cả bọn Cộng Sản mồm loa mép giải đã quen.
Trong tinh thần chọn lựa ấy, đồng bào di cư được đùm bọc đến nơi, đến chốn. Cũng không ai chối cãi được sự kiện này, khi các khu trù mật Vị Thanh, Cái Sắn, được thiết lập riêng cho người di cư mà không hề gây một xúc động tranh ghét nào của đồng bào tại chỗ.
Trên đây là một đoạn trích từ bài viết phác họa vài nét trong những thành công của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa mà tác giả cũng không thể phủ nhận. Có điều khi nhắc đến những thành quả ấy, ông Hồ Sĩ Khuê cố tránh không nói ra là ai đã có công định cư hơn một triệu dân di cư, vì biết rằng khi nói ra ông ta sẽ tự mâu thuẫn với những gì ông sắp sửa chỉ trích.

Ông không hề đả động đến những năm thanh bình thời Đệ Nhất Cộng Hòa trước khi Hà Nội hạ quyết tâm đánh chiếm Miền Nam gây chiến tranh du kích khắp nông thôn. Trong những năm thanh bình ấy một người đi làm nuôi sống được cả gia đình; những con đường hẻo lánh xuyên qua rừng rú, xe chạy thâu đêm, không sợ cướp bóc, chỉ sợ nai rừng ra đường ngơ ngác cản trở.

Một điều mẫu thuẫn khác khi ông hoan hô cuộc đảo chính 1.11.1963 lật đổ được chế độ "phong kiến" mà ông chỉ trích năng nề. Thế rồi những tướng tá làm đảo chánh lên cầm quyền ông Khuê còn xỉ vả nặng nề hơn nữa.Ông chửi bới không thương tiếc như một bọn "chó" "vô liêm sỉ".
"Cho đến khi không còn hy vọng tiếp tục vơ vét thêm được nữa, tập đoàn này đã phân tán chạy như một bầy chó đạp phải lửa, hối hả tháo thân cho kịp trước ngày Sài Gòn sụp đổ. Để lại an hưởng tài sản đã thụ đắc năm này qua năm khác, lúc cầm quyền trong nước, trên xương, trên máu, của lính, của dân, mà tiếp tục cuộc sống đế vương ở nước ngoài. Cố nhiên nay ra nước ngoài, bọn họ thừa tài sản, thừa học thức, thừa bộ hạ tay chân, thừa phương tiện. Chỉ thiếu có liêm sỉ, nên không ngần ngại sử dụng đủ mọi thứ mánh khóe, kể cả mánh khóe văn hóa, báo có, sách có, để hài cái tội đầu hàng của Dương Văn Minh."
Ngay cả công cuộc kháng cộng, ông cũng chỉ trích và cho rằng đó là thứ do Mỹ áp đặt lên quần chúng.
Tâm cảnh chung của toàn thể đồng bào từ lâu rồi đã chán chiến tranh vì thù ghét một chế độ cộng hòa giả hiệu, hết phong kiến đến quân phiệt, mà người Mỹ đã không thương tiếc phương tiện dựng nên, để chống Cộng bất chấp quần chúng trong nước.
Tác giả bài viết nhiều lần dùng chữ "phong kiến" tiền chế để mô tả cộc lốc thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Cho dù thế ông ta vẫn chưa hả dạ mà còn muốn hạ đo ván Đệ Nhị Cộng Hòa điều khiển bởi một "bè lũ quân phiệt".
"Nhằm mục đích chế ngự các thế hệ đang trưởng thành, không để cho thanh niên sinh viên học sinh rảnh tay phát động phong trào chống đối, nhà Ngô từ các biến cố tháng 11-60, tháng 2-62, cho đến tháng 11-63, rồi Thiệu/Kỳ từ 1967, đã dùng biện pháp động viên để ngăn chận. Người ta lùa vào các quân trường lớp sinh viên học sinh mà lựu đạn cay, giây thép gai, không ngăn được họ biểu tình phản đối vụ ông Diệm đàn áp Phật giáo, phản đối Thiệu/Kỳ âm mưu hồi sinh Cần Lao Công Giáo. Để khi họ tốt nghiệp, dùng quân kỷ mà giam lỏng lớp trẻ có học vấn cao vào hàng ngũ các chỉ huy cấp thấp của quân đội."
"Đến một lúc nào đó, họ nhận ra các đàn anh họ trong quân đội đành cũng bó tay trước sự ngu muội của người Mỹ, cho rằng chống Cộng chỉ cần có một bọn tay sai nắm trọn quyền binh, mà không cần đến quần chúng nhân dân trong nước. Tướng “ngồi chơi xơi nước” Dương Văn Minh điển hình tình trạng bó tay này. Cho nên dần dà tâm cảnh buông súng đã manh nha ở lớp sĩ quan trẻ."
Dương Văn Minh đâu có bị bó tay. Ông ta có nhiều dịp để hành động phá sập cái mà ông Khuê đả phá. Bằng chứng Dương Văn Minh đã làm đảo chánh thành công, lên làm quốc trưởng. Cờ đến tay cũng chẳng biết phất. Đến cả như một văn thư yêu cầu người Mỹ rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ , Dương Văn Minh cũng y những gì tòa đại sứ Hoa Kỳ viết ra cho mà đọc. Một con người như thế dân chúng Miền Nam kỳ vọng được gì? Hay tại vì lúc đó tướng Minh không có bộ óc tài giỏi của ông Khuê ra giúp sức. Chúng tôi là những thần dân của một vong quốc ghét cay ghét đắng những vị tài giỏi không chịu bương bả giúp nước trong cơn nguy cấp mà chỉ ru rú xó bếp đợi dịp để chỉ trích:
 "Hai mươi năm quân dân miền Nam chịu đựng cảnh người Mỹ bao che bất tài, bất công, tham nhũng, bè phái, của một “chí sĩ” lạc hậu và phong kiến, và nằm trong tay quân phiệt tiếp theo sau. Tất cả đều nhân danh đủ mọi thứ giá trị tinh thần tốt đẹp, trừ sự ngay thẳng, trừ ý thức trách nhiệm trước lẽ sống còn của quê hương đất nước."
Một bài viết đầy tiên kiến và thiên kiến như thế lẽ ra không nên đọc, mà nếu đã lỡ đọc phải thì cố gắng đừng bực bội vì bực bội mất vui vài phút vài giây

Giọng điệu của ông Khuê có khi nhiễm hơi hám của đám bất mãn mà Hà Nôi đã tập hợp lại trong cái gọi là "Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam".
"Một người được xưng tụng là chí sĩ mở đầu một chế độ gọi là Cộng Hòa, sau đó gán thêm vào mỹ từ Nhân Vị để che đậy bản chất độc tài, kỳ thị, gia đình trị, dần dà tách chính quyền xa hẳn nhân dân, đưa đến tình trạng biến Nhà nước và nhân dân thành hai đối tượng thù nghịch lẫn nhau. Nhà cầm quyền lo củng cố địa vị nên chỉ bận đương đầu với quần chúng trong nước, hơn là lo việc kiến thiết đất nước, hơn là lo việc xây dựng một xã hội đáng sống cho người trong nước. Khi thấy không có ai theo mình, lại dùng trò tố Cộng để khủng bố, đàn áp, mà chống nhân dân.."
Đọc xong đoạn này, người ta thắc mắc, sao HSK không thêm một câu nữa cho trọn hâu ý chẳng hạn như..."thế cho nên Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã tự phát, ra đời với một chính nghĩa sáng ngời chống phong kiến, chống quân phiệt do Mỹ dựng lên".

Nếu như tác giả thật sự có mặt trong hàng ngũ chiến đấu của Miền Nam và bị tập trung mới cảm nhận được đồng bào, ít ra ở Miền Nam chưa bị nhồi sọ, luyến tiếc chế độ Việt Nam Cộng Hòa như thế nào sau tháng Tư, 1975.  Cho đến giữa năm 1976, các trại tập trung tương đối còn dễ thở, chúng tôi một đám tù được đưa ra gần Biên Hòa lấy cát. Xe đi đến gần một khu chợ, một số bà con nhìn thấy nhận ra chúng tôi thuộc chế độ cũ bị tù đầy, bà con xúm nhau có cái gì thẩy lên xe cho chúng tôi cái đó: bánh mì, nải chuối ...Có người phát giác ra trễ cố gắng đuổi theo, nhưng làm sao mà chạy nhanh bằng xe được...

Cho đến bây giờ và mãi mãi tôi không bao giờ quên được những hình ảnh và hành động quý mến của người dân đối với đám tù thất thế vì thất trận. Ai bảo "Bạc như dân", điều đó tôi không tin.

Lớn lên dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, còn nhỏ tuổi, tôi chẳng trực tiếp nhận được gì gọi là ơn mưa móc của chế độ. Có chăng  là những năm thanh bình, đi học không đóng học phí, lớp học khang trang, thầy cô giỏi giang đĩnh ngộ. Thế nhưng nếu viết nên một lời khen chê vẫn ngại bị thiên lệch. Bởi vậy chỉ xin trích ra đây nhận xét của một cựu đảng viên Đảng CSVN, đại tá Bùi Tín, về ông Ngô Đình Diệm người khai sinh chế độ cộng hòa đầu tiên cho Việt Nam (Bởi vì chính chế độ CS Miền Bắc mới là cộng hòa bánh vẽ), một con người nếu như chịu tuân lệnh Mỹ đã không chết dưới tay đám tay sai ngoại bang:
“ Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân vật chính trị đặc sắc, có lòng yêu nước sâu sắc, có tính cách cương trực thanh liêm, nếp sống đạm bạc giản dị. Giờ đây chúng ta đã có những bằng chứng về lập trường của ông Ngô Đình Diệm : chống thực dân Pháp, giành lại quyền nội trị đầy đủ, không muốn Hoa kỳ can thiệp sâu, chống lại việc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và nước ngòai vào. Trong sự so sánh ấy, ông Hồ Chí Minh tỏ ra không bằng ông Ngô Đình Diệm. Về tinh thần dân tộc, ông Ngô Đình Diệm cũng tỏ ra hơn hẳn ông Hồ Chí Minh “. (Tâm Đạt Trần Thông: Mạn đàm Nguyễn Giang-Bùi Tín-Nguyễn Xuân Phong)
Bài viết của ông Khuê dài dòng nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có chỉ trích và hạ nhục, đọc bất cứ xó xỉnh nào trong Web của cộng sản cũng có. Thế nên không dám làm mất thêm thì giờ của quý anh chị.

Điền Thảo
29.4.2011
_____
*Vân Xưa Hồ Sĩ Khuê: "Đầu Hàng" (http://kbchaingoai.wordpress.com/2011/04/21/1833/)

07 October 2014

Việt Nam ơi! … Hãy tỉnh dậy đi!

Ký sự của một thiếu nữ gốc Việt tại Hong Kong

Nancy Nguyen

“…Đừng bao giờ nghĩ, đã có người khác lo, dân Việt nam đến 90 triệu con người cơ mà. Vì chính các bạn cũng hiểu, nếu không phải là bản thân các bạn, thì sẽ chẳng là ai cả. Chín mươi (90) triệu người VN là chúng ta! Là chính chúng ta! Chứ không phải ai khác. Chính các bạn, chứ không phải là ai khác, sẽ phải là những con người làm nên cuộc đổi thay…”
Day 0

Hồng Kông đón tôi thân thiện lạ thường. Trời hừng hực cái nóng miền nhiệt đới, phố xá chật chội chen chúc nhau san sát. Những con đường nhỏ xíu mà tới 2 làn xe chạy. Và người, cứ đan vào dòng xe đi mãi. Hongkong bé tẻo teo nên nhà cửa cứ thi nhau vươn đến tận trời xanh. Giữa ngổn ngang nhà hàng, tiệm thuốc bắc, và cơ man nào là tả phí lù hàng quán, tôi thấy thấp thoáng một Chợ Lớn của Việt Nam mình. Nếu cộng thêm tiếng còi xe inh ỏi và tiếng người mình gọi nhau í ới, thì đúng là Việt Nam mất rồi! Lại nghĩ … giá như …

Taxi đưa tôi vào khu trung tâm rồi … bỏ rơi tôi ở đó. Chẳng cần nhắc, HongKong cũng “tặng” cho tôi một cơn mưa bất chợt, hên, tôi đã kịp “tậu” xong một chiếc dù. Mưa, và tôi, giữa phố mênh mang. Nghe như vùng ký ức nào vẫy gọi. Nhớ một thủa xa xôi, có tôi và những cơn mưa cuối hạ. Giữa lòng đường trống, nhìn những con người hối hả lướt ngang, trong khoảnh khắc tôi đã ngỡ mình đang ở giữa Sài Gòn. Để rồi cay đắng nhận ra, có giống nhau nhiều đấy, nhưng quê hương … sẽ còn lâu lắm …

Ngẫm cũng hay, mọi con đường ở HK đều dùng song ngữ, và người HK nào cũng đều nói được hai thứ tiếng Anh - Hoa. Nên cái đứa ngờ nghệch từ bên kia quả địa cầu này chẳng khó khăn gì để tìm đến được ngay “điểm nóng”.


Phần 1

Dù đã được báo trước là các bạn trẻ ở đây biểu tình ... trên cả tuyệt vời, tôi vẫn không ngờ được những gì diễn ra trước mắt mình. Các bạn trẻ trong hình, tôi gọi vui là "tổ charge phone". Một đội hoàn toàn tự phát gồm các bạn sinh viên thay phiên nhau lại trực, bất cứ khi nào cũng có ít nhất 6, 7 bạn "có mặt tại hiện trường". Các bạn mang theo đầy đủ thiết bị, dây charge cho các loại phone thông dụng. Có cả một hệ thống sổ sách để ghi lại số phone của những người gửi. Người chụp chung với tôi trong hình là bạn trưởng nhóm, tên Sirius Lee. Sirius nói với tôi, bạn đọc được trên báo rằng mọi người than phiền chuyện phone hết pin nên đã tự nguyện mang đồ ra đây charge free.

Ở đây có nhiều bạn trực xuyên đêm. Ngủ gục ngay tại chỗ. Nhiều bạn đã "đóng đô" ở đây nhiều ngày liên tục. Hôm qua đến nơi, tôi đã ở lại nói chuyện với các bạn ấy đến tận khuya, và cũng gục tại đây một lúc :)

Vô cùng thật thà, trật tự, và hiếu khách, các bạn đón tôi như đón 1 người bạn thân :)


Phần 2

Bước ra khỏi "tổ charge phone" để đến khu biểu tình, tôi tiếp tục bị ... choáng tập hai. Trên tất cả các "ngõ vào" tự phát giữa các bức ngăn bê tông, là các bậc thang ... cũng tự phát nốt. Mọi người góp thùng, ghế, bất cứ vật liệu gì, để làm thành các bậc thang cho mọi người tiện bước qua. Tại tất cả các ngõ vô tự phát này, là các bạn sinh viên thay nhau đứng giúp đỡ người khác qua an toàn. Mỗi một ngõ vô luôn có từ 2 đến 3 bạn sinh viên chỉ đứng làm nhiệm vụ nâng, và đỡ người bước qua hàng rào chắn, để đảm bảo không có tai nạn sảy ra.

Bên trong khu vực biểu tình là vô số những lều tiếp tế. Họ dự trữ chủ yếu là nước uống, ruy băng vàng, ít thức ăn nhẹ, các dụng cụ cứu hộ y tế, và nhất là ... dù, rất nhiều dù. Các bạn chỉ phát không, nhưng tôi không có thói quen nhận miễn phí nên đã đề nghị trả tiền. Các bạn thẳng thắn: tất cả đều là đồ của người dân thành phố, chúng tôi không lấy tiền. Vâng. Tất cả đều là đồ của người dân HK tiếp vận cho các bạn trẻ. Rất nhiều người bảo tôi, mấy ngày nay đóng đường, việc đi lại khó khăn, tôi đi làm rất vất vả, NHƯNG HK CẦN NHƯ THẾ, PHẢI NHƯ THẾ, tôi không phiền.

Các bạn trẻ luôn luôn tự bảo nhau dọn rác và giữ bình tĩnh. Luôn luôn là như thế, trên mọi khẩu hiệu về tự do, dân chủ, phổ thông đầu phiếu, tranh đấu vì tương lai, là những khẩu kêu gọi nhau giữ bình tĩnh, và dọn rác.

HongKong ngày mai sẽ rất khác HK của ngày hôm nay. HK ngày mai, sẽ là 1 thế hệ hệ những con người có ý thức cao bậc nhất thế giới.



Phần 3

HongKong là một miền đất lạ lùng. Những người khởi xướng đầu tiên hết, cho một phong trào đòi dân chủ làm chấn động cả thế giới hôm nay, lại là những người rất rất trẻ. Trẻ đến nỗi theo “cái nhìn VN” thì các bậc phụ huynh có lẽ sẽ bảo các bạn ấy nên về bú cho xong bình sữa. Nói thế để biết rằng, thưa các bạn sinh viên, thanh niên VN, các bạn không hề là quá nhỏ cho cuộc chơi chính trị. ĐỪNG BAO GIỜ cho phép bất cứ ai bảo với bạn rằng “nhãi con biết gì”, hay “đã có người lớn lo!” vì chính các bạn cũng hiểu rằng tất cả những điều đó đều là ngụy biện!

Các bạn nên nhớ, các bạn có quyền bỏ phiếu từ năm 18 tuổi, điều đó đồng nghĩa với việc, mỗi cá nhân từ 18 tuổi trở lên đều đã đủ trưởng thành, trước pháp luật, trong suy nghĩ và nhận thức. Đừng bao giờ cho phép bất cứ ai, cá nhân, hay tổ chức nào bảo các bạn còn quá nhỏ. Nếu ai đó nói các bạn chưa đủ trưởng thành, hay hỏi họ câu này: Tổng bí thư thứ nhất của đảng CSVN tham gia chính trị lúc mấy tuổi, và được bổ nhiệm chức vụ tổng bí thư lúc mấy tuổi? Không ai, không cá nhân hay tổ chức nào được quyền bảo các bạn còn quá trẻ. Và, nên nhớ, các bạn không hề là quá trẻ để thay đổi vận mệnh đất nước này, dân tộc này.

Đừng bao giờ nghĩ, đã có người khác lo, dân Việt nam đến 90 triệu con người cơ mà. Vì chính các bạn cũng hiểu, nếu không phải là bản thân các bạn, thì sẽ chẳng là ai cả. Chín mươi (90) triệu người VN là chúng ta! Là chính chúng ta! Chứ không phải ai khác. Chính các bạn, chứ không phải là ai khác, sẽ phải là những con người làm nên cuộc đổi thay. Vâng, chính khối óc, chính bàn tay này, sẽ phải là khối óc, và bàn tay làm nên cuộc đổi thay. Không phải là ai khác, không phải là thế hệ nào khác.

Đừng bao giờ để bất cứ ai bảo với bạn rằng, VN nhỏ bé, phải đối đầu với TQ một cách khôn ngoan. Bởi chính các bạn hiểu sâu sắc rằng: Đó cũng là nguỵ biện! HK không có đến 1 người lính của riêng mình. Nhưng chính trong khó khăn đó, HK làm cả thế giới nghiêng mình ngả mũ. Đừng bao giờ cho phép bất cứ ai bảo các bạn hãy bỏ cuộc chỉ vì VN yếu hơn TQ nhiều lần. Vì chính các bạn biết rằng sức mạnh của tập thể còn mạnh mẽ gấp trệu cần súng đạn.

Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ, vì đó, là phần Người nhất trong mỗi một con người.

Ngày hôm nay HK xuống đường, bao giờ sẽ đến Việt Nam?


Phần 4

Bạn biết không, đôi khi, những điều phi thường nhất lại được diễn tả bằng những điều bình thường nhất trong cuộc sống.

Ngay từ khi tới, HongKong đã nắm lấy tay tôi, đưa tôi đi giữa phố phường chen chúc, thăm cơ man nào là khuôn mặt, những khuôn mặt làm cả thế giới xúc động, có khi nghẹn ngào. Chỉ đến khuya nay, khi ngồi lại bên nhau trong bữa tối, nhìn các bạn và vội vài miếng cơm trong cơn đói mèm. Tôi ngắm họ ăn say sưa đến quên cả trời đất, mới chợt nhớ ra một điều mình đã quên mất từ lâu: các bạn ấy cũng chỉ là những con người.

Thế giới nói về sinh viên HK như những chiên binh, những người hùng. Còn tôi, tôi thấy họ Người lắm, như chính tôi, NHƯ CHÍNH BẠN. Họ bảo với tôi, họ không hề gan dạ, quả cảm như báo chí ca ngợi. Họ cũng hèn nhát, cũng sợ hãi, Đại Lục có tất cả, còn họ, họ có gì? Họ thừa nhận hết, rằng họ cũng sợ bị thanh trừng, sợ từ nay về sau, có thể cuộc sống của họ sẽ không bao giờ còn như trước nữa. Rồi học hành, rồi công việc, rồi cả mẹ cha… Họ nói với tôi, như chưa từng được nói với bất kỳ ai khác, những trăn trở rất con người mà truyền thông không bao giờ thèm đếm xỉa tới. Có vài người đã khóc. Trong giọt nước mắt không đủ nặng để lăn trên gò má, chỉ đủ để làm khoé mắt long lanh dưới ánh đèn siêu thị, tôi thấy được những cuộc đời trần trụi. Rồi họ nhìn tôi, kiên nghị: Nếu bảo chúng tôi không sợ hãi, thì đó là nói láo, nhưng nếu HongKong cần, chúng tôi cũng vẫn sẽ dấn thân, bời vì, HongKong cần chúng tôi.

Ở HK, tôi thấy được sự vĩ đại của những con người bình thường. Và chính sự bình thường đó, làm nên điều vĩ đại.

“Bởi vì HongKong cần chúng tôi!” Tôi nghe khoé mắt mình cay, và ruột gan như có ai đem dao đến cứa. “Bởi vì HongKong cần chúng tôi!” lẽ đơn giản như thế, mà sao với dân tôi nó xa xôi nhường vậy…

Việt Nam ơi! … Hãy tỉnh dậy đi!

Nancy Nguyen

23 July 2013

LẠC VÀO KHUNG TRỜI CŨ, tự truyện

Con đường nào lại chẳng có những đoạn mấp mô gập ghềnh. Cũng vậy chẳng có cuộc đời nào phẳng lặng, suông sẻ cả. Nếu cuộc đời lại gắn liền với nghề công bộc thì chắc chắn còn đa tạp hơn nữa. Đủ mọi thành phần xã hội phải tiếp xúc và đủ mọi tính khí phải hiểu để nương theo mà sống, mà giải quyết, mà đôi khi phải đối phó cũng nên. Kể về đời mình tất có cái vui cái buồn. Ai cũng thích cái vui, chẳng ai thích cái buồn. Nhưng đó là điều chân thực. (TTR)
Đây là những dòng tâm tình, nhờ một cơ duyên nào đó tự biết mình sắp “đi xa, đi thật xa, xa lắm”.  Do vậy, nếu vô tình lọt vào mắt của một vị nào đó, nhận thấy bản thân người này được nêu lên trong tự truyện, thì cũng xin vị đó không oán trách hay la mắng gì đối với lời trần tình hay nói bình dân hơn là sự trăn trối của kẻ sắp lìa cõi trần gian này.  Xin chân thành cám ơn.

Hình như ít lâu nay tôi có cái cảm giác mình sắp sửa đi xa, thật xa.  Tôi thấy lòng mình thật bình yên, thanh thản trước ý nghĩ đó nếu thực sự xẩy đến cho bản thân tôi.  Hạnh phúc chăng, có thể, vì thú thực với chính lòng mình, cho đến giây phút này, tôi vẫn chưa tìm ra ý nghĩa đích thực của hai chữ HẠNH PHÚC.  Nếu cho đó là sự êm ả, sự thoải mái đầy ắp những gì mình ước mong, đợi chờ của một đời người bình thường, thì thực sư tôi đã sống trong hạnh phúc, nhất là luôn có bên cạnh tôi người BẠN ĐỜI chung thủy, vẫn thường xuyên đi với tôi dù trong những giây phút oan nghiệt, đớn đau cùng cực của cuộc sống trên trần gian này. 

Dưới mắt gần như rất nhiều người mà tôi đã gặp, nói với nhau vài câu vô thưởng, vô phạt hoặc chỉ thoáng thấy nhau, gật đầu chào rồi bắt tay nhau theo đúng cung cách của một người có giáo dục gia đình (chứ không phải có bằng cấp này, nọ… ) thì tôi chỉ là một thứ “Công Tử Bột” chỉ biết ăn chơi, hưởng thụ mà chẳng biết cái gì cả.  Tôi chỉ khẽ “nhếch mép”, không tán thưởng mà cũng chẳng cần phản đối vì tôi tự nghĩ nhận xét đó chẳng ích lợi hoặc ảnh hưởng gì đến bản thân tôi, không làm tôi mập hoặc ốm đi, cũng không làm cái túi áo quần tôi đầy hay vơi hơn  trước.

Thực ra, Tạo Hóa đã cho tôi phải trải qua những gì có thể gọi là nghiệt ngã nhất, khó có người nào hoặc nếu có thì cũng rất ít người trên cõi đời này đã đi qua.  Qua những lời mô tả trong tác phẩm đã làm nhà văn người Nga, Solzhenitsyn, nổi tiềng và đoạt giải Nobel Văn Chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển năm 1970 thì những gì ông phải trải qua, đã nếm mùi Ngục Tù Cộng Sản trong “Quần Đảo Ngục Tù ” (The Golag Archipelago) hay “Tầng Đầu Địa Ngục” (One Day In The Life Of Denisovich) thì thật ra chẳng thấm vào đâu cả, đúng như tên gọi là tầng đầu địa ngục, nếu có chăng chỉ là tầng đầu tiên trong một building với nhiều tầng, trong đó có tôi, một mình, chỉ một mình tôi mà thôi, đang ở dưới basement tăm tối, không thể nào có thể tối hơn được nữa, của cái building đó.  Sorry, very sorry, Nhà Văn quá cố này khi đành phải phạm thượng mà thốt lên lời trên.

Ngày xưa tôi luôn là hình ảnh thật bụ bẫm của một trẻ thơ trên hộp sữa bột Babilac, luôn tươi cười và liếng thoắng như 1 trẻ thơ, ngày nay, trong khung trời của một Quốc Gia Hoa Kỳ đa chủng với lòng từ tâm, nhân đạo bao la khi đã cưu mang bản thân tôi, gia đình tôi cùng rất nhiều gia đình Người VN Tỵ Nạn Cộng Sản khác khác nữa, tôi mang tên “Cường Bụt” thì lúc bấy giờ các bạn tù của tôi đã không ngần ngại (và có lẽ đúng nữa) gọi tôi là “Cường Tỏi” (với nghĩa đen là tôi đã ăn nhiều tỏi băm nhỏ do “My House” tiếp tế để ngăn ngừa bệnh sót rét rừng tại khu tăm tối, bạt ngạt cây cối vùng Xuyên Mộc (Tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa), rất gần mật khu Mây Tào của VC ngày trước và cũng là nơi giao tranh với VC, gây tổn thất nặng nề cho những đơn vị TQLC  VNCH tham dự (tôi không còn nhớ rõ năm xẩy ra)  nghĩa bóng là họ tin rằng tôi không thể nào còn sống sót sau những trận đòn thù, nhục hình giáng xuống thân thể còm cõi tàn tạ của tôi khi bị biệt giam trong một chỗ tăm tối với hai chân đặt chéo vào nhau trong cùm cộng thêm hai tay bị còng sau lưng.

Những ngày còn thơ, những ngày dệt mộng lúc bắt đầu khôn lớn của tôi có thể gọi là tuyệt vời cho đến khi tôi tốt nghiệp Học Viên Quốc Gia Hành Chánh (QGHC) Ban Đốc Sự Khóa 14 và trấn nhậm nhiệm sở đầu tiên mà tôi đã mô tả đầy đủ trong truyện ngắn đầu tay QUẬN ĐẦU ĐỜI.  Thực sự ra tôi không hề có ý định vào học QGHC dù đã phải trải qua cuộc thi tuyển mà lần đầu tiên tôi tham dự thật là “trần ai khoai củ” (lựa khoảng 100 người trong số trên dưới 3,000 thí sinh) dự kỳ thi tuyển.  Tha thiết xin ai đó đó đừng kết tội tôi đã ăn cháo đái bát, vừa được ăn vừa được gói đem về hoặc là giờ này không được hưởng Ơn Mưa Móc do việc xuất thân QGHC đem lại nên mới ăn nói vô trách nhiệm như vậy mà chỉ vì bản chất lãng mạn, đến chết vẫn không chừa của tôi. 

Ngày xưa, lúc chưa lớn khôn, tôi đã đôi lúc theo chân người chú, một nhạc sĩ nổi tiếng VNCH với những nhạc phẩm hình như được giới thưởng ngoạn mến chuộng cho đến tận bây giờ (Chiều Tím, Tình Quê Hương… ) vào tận các khiêu vũ trường mà chẳng hề hiểu để làm gì (nơi chú tôi trình diễn với tiếng nỉ non, than khóc của cây violon, hoặc than thân trách phận thật trầm buồn, ai oán của chiếc kèn đồng saxophone alto) Người chú này, khi dẫn tôi vào trong các vũ trường, việc đầu tiên ông làm là ấn tôi ngồi vào 1 cái ghế  góc phòng không xa chỗ ông trình diễn và cho tôi 1 chai nước uống.  Tôi say sưa cùng ngẩn người chiêm ngưỡng ban nhạc cùng những cặp đang khiêu vũ, rồi thầm mong mình sẽ sống chết với cây saxophone alto như vậy cùng lả lướt trên sàn nhẩy như những đôi nam nữ đang ẩn hiện trước mắt tôi trong tiếng nhạc du dương êm đềm, dù lúc đó tôi chưa đủ lớn để khiêu vũ.   May mắn là giờ đây tôi đã thực hiện được gần như một nửa giấc mơ đó: việc thường xuyên dập dìu trên nhiều sàn nhẩy khác nhau tại nhiều nơi, nhiều thành phố dưới ánh đèn mờ, lấp lánh huyền ảo.  Gần đây tôi tình cờ quen biết một tay xử dụng loại kèn đồng này thật xuất sắc khi cho tiếng kèn đồng của anh như uất nghẹn, như cố kìm hãm nhưng rồi vẫn thoát ra trong nỗi ray rứt, nghẹn ngào thật thương tâm, trong một ban nhạc tại một thành phố cách nhà tôi trên 100 dặm trường (vì yêu mến tôi nghĩ đó là 1 ban nhạc địa phương.  Đúng là khi thương thì củ ấu cũng tròn)  Hình như rất ít ban nhạc có thành viên xử dụng cây kèn đồng này dù ngay tại Nam California, Thủ Đô Tỵ Nạn, tại sao lại có thể như vậy được nhỉ, khó quá chăng?!

17 February 2013

Chắc Tận Thế Mất!

Phiếm luận của Điền Thảo
Tờ rờ mờ sáng hôm kia chỉ có một cục vẩn thạch nhỏ đi lạc và lao vào khí quyển nổ tung trên không phận  Nga mà đã gây ra những chấn động nhiễu loạn từ trường cắt đứt điện đàm, miểng vung vãi làm bể cả nhà cửa và có đến 960 người bị thương!

Ngay buổi chiều lại có tin một vẩn thạch khác lớn hơn, đường kính khoảng 25m nghĩa là cao bằng một cao ốc hình hộp 7 tầng (3.5mx7) lại tính ghé thăm trái đất. Trên đường bay vòng quanh mặt trời, nó bay sát trái đất, lúc gần nhất chỉ cách hành tinh chúng ta có 27,700 km, 1 phần 10 khoảng cách giữa địa cầu và mặt trăng. Trái đất đang yên ổn(?) không muốn bị can thiệp, nhưng nhiều khi khách không mong đợi vẫn cứ đến. Phiền thiệt!

Vũ trụ mênh mông nên gọi đó là vẩn thạch, hạt bụi, chứ so với vóc dáng con người, thì đó chả phải là hạt bụi. Nó mà chui vào khí quyển theo góc nhanh nhất, cháy không hết, đâm vào vỏ trái đất mà nổ thì ôi thôi... , nhẹ thì trái đất rung rinh, mà lớn thì thành mùa đông nguyên tử, trái đất nứt ra dung nham trào lên, khói dầy đặc bao phủ hành tinh nhiều thập niên, sinh vật chết dần, càng lớn càng chết mau. Những con khủng long (dinosaurs) không còn nữa sau khi chỉ một vẩn thạch lớn đâm vào trái đất cách đây 50 triệu năm.

Thiên tai có vẻ ngày một nhiều. Đặc biệt là động đất. Hình thái động đất thường xẩy ra nhất khi hai lớp vỏ trái đất tiến sát, va chạm, đẩy nhau, một phía trồi lên, một phía sụp xuống (subduction). Trận động đất ngoài khơi phía tây đảo Sumatra ngày 26. 12. 2004 đã gây nên đợt sóng thần cao 30 mét tràn quét các bờ biển lân cận khiến 230,000 người vong mạng. Đó là thiên tai gây chết người nhiều nhất trong thời kỳ hữu sử. Gần đây hơn, trận động đất 9.03 cùng loại ngoài khơi Nhật Bản gây nên đợt sóng thần cao 40.5 mét. Trận động đất đã khiến đảo lớn nhất Honshu của Nhật xê dịch về phía đông 2.4 mét và làm nghiêng trục quay địa cầu từ 10 cm tới 25 cm. Trận động đất đã làm gần 16,000 người vong mạng và trên 6000 người bị thương.

Con người chết dễ như bỡn và rất nhiều bất ngờ. Cuối năm dẫn nhau tới bờ biển nghỉ mát, đang vui vẻ yêu đời bỗng sóng ập tới nhận chìm và cuốn phăng đi. Tuyết đổ đầy sân lối trước ngã sau quanh ngôi nhà khang trang nhiều người nhìn mà thèm, thế là xách xẻng ra xúc tuyết, trước là thi hành luật thành phố, sau là giữ đẹp cơ ngơi: đúng quá đi chứ lỵ! Nhưng có biết đâu tuổi già sức yếu, đâu có còn mạnh như xưa - mà chẳng có ai còn mạnh như xưa cả - xúc hoài tuyết vẫn còn, gắng thêm chút nữa cho xong. Tuyết quang, người mệt, vào nhà không còn ngồi nổi, lên phòng nằm để nghỉ ..... giấc ngàn thu, về với tiên tổ, bỏ lại ngôi nhà trả gần xong mortgage!

Ai bảo sức người vô hạn chứ như mỗ này thấy con người yếu xìu. Ngay cả những con người ý chí cùng mình như "Bác" Hồ hay những người có khối óc đầy mưu kế như  Mao quân "chủ tịch vĩ đại" lãnh tụ của cái xứ "vừa là đồng chí vừa là anh em" phía bắc, cả hai vị nhiều khi cũng có hiện tượng tiêu cực, nhất là lúc sắp vĩnh viễn lìa bỏ quyền lực mình đã tạo dựng được để về gặp Diêm Vương. Chuyên bí ẩn cung đình lọt ra ngoài truyền thổi rằng khi về già ông Hồ thường ngồi một mình và hay khóc. Còn Mao quân lúc sắp chết hỏi "cục phân" bác sĩ riêng của ông ta rằng: "Any hope?" (Còn chút hy vọng gì không?). Có lẽ những nhà độc tài chỉ khi gần chết mới thấy mình cũng chỉ là một con người yếu đuối và lắm khi bất lực.

Nhưng khi còn tráng kiện, họ coi trời bằng vung, luôn luôn tìm cách áp đặt ý muốn của mình lên người khác, lên thiên hạ. Khi hiểu ra quyền lực là gì thì họ bám chặt lấy nó, một mặt vì nó vuốt ve thỏa mãn những gì cái ngã muốn. Nguyên việc sai khiến được người khác phải cúi đâu răm rắp làm theo hiệu lệnh của mình thì cũng đã khoái chí lắm rồi. Hai là vì sau đó tiền bạc rủng rỉnh vô nhà, gia đình mũ áo xênh xang, họ hàng ăn theo vui vẻ.

Đó vẫn còn là chuyện nhỏ, nhằm nhò gì, vì cái hệ lụy nhiều lắm cũng chưa ra khỏi ngõ. Nhưng khi áp đặt ý định của mình lên cả một khối người, lên cả một đất nước thì sự việc sẽ nguy to. Để bè nhóm có lý do chính đáng mà cai trị, họ tìm mọi cách để biện minh. Đảng giành được độc lập thì đảng là người có quyền trị vì. Nếu đảng tha hóa sợ nội loạn thì tìm cách gây căng thẳng với những nước khác. Ai cũng biết tướng ngoài trận địa được phép tiền trảm hậu tấu. Dân nào nghe vậy mà chả sợ run lên cầm cập.

Trời đất và xã hội con người có những quy luật giống nhau. Hai lớp vỏ đại dương chèn nhau thì sinh động đất và sóng thần. Hai nước rồi hai khối chèn nhau tất sinh chiến tranh. Cả hai cùng gây dao động và chết chóc.

Chiến tranh chỉ xẩy ra khi hai bên (1) thấy không còn cách nào khác và (2) hai bên đều cho rằng mình sẽ thắng. Tất nhiên cuộc chiến nào cuối cùng cũng có kẻ thắng người bại. Như vậy việc tính toán đã hàm chứa 50% là sai, là lầm, là hố. Có nhiều yếu tố đưa đến sai lầm. Cái lợi khi chiến thắng lớn quá. Không dám đối đầu sẽ bị mất mát lớn quá và phù phiếm hơn: nhục nhã quá. Nhưng quan trọng nhất phải là tìm cho ra lẽ chính đáng để mà cai trị.

Ở phía tây, một nước Tầu to lớn quá, uy danh quá khứ huy hoàng quá không thể để một nước gồm dăm ba hải đảo ngang nhiên chiếm đất "của mình". Ở phía đông, có nhiều dấu hiệu tinh thần Phù Tang đang trỗi dậy. Chắc hẳn dân Nhật cũng biết rằng Mỹ sẽ chẳng bao giờ đứng mũi chịu sào để bảo vệ nhóm đảo Senkaku cho mình. Có thể dân Nhật tin rằng Mỹ sẽ không thể để cho nước Nhật bại trận trước một nước Tầu đang gây khó cho kinh tế và  thế chính trị của Mỹ. Nhật mà bại, Mỹ không còn đồn tiền tiêu vì Nam Hàn chắc cũng không còn cùng phe và Việt Nam hết đu dây.

Nước Tầu không có nhiều kinh nghiệm hải chiến như Nhật, nhưng lại có hậu phương lớn mạnh. Nước Nhật làm sao bỏ bom hết các thành phố kỹ nghệ của Tầu cùng một ngày cho được. Nhưng có một điều ít ai để ý là Hoa Lục có biên giới chung với 16 nước lận; lại nữa những nước này ít khi coi Bắc Kinh "vừa là đồng chí vừa là anh em" với họ.

Cho đến giờ này hai bên tỏ ra không nhượng bộ. Cuối năm qua Nhật đã mua lại ba đảo chính trong nhóm đảo này từ chủ tư nhân. Phía Hoa Lục đã liên tục phái tầu chiến ra vào nơi mà Nhật cho là lãnh hải của mình. Mới đây vào tháng giêng năm 2013, Bắc Kinh hê lên rằng họ sẽ tiến hành một cuộc điều tra thổ nhưỡng các hải đảo này như một phần của "chương trình bảo vệ quyền lợi hải dương của họ".

Không thiếu những nhà quan sát cho rằng chiến tranh khó tránh khỏi giữa hai cường quốc Á Châu. Nếu thật sự có chiến tranh, hệ quả khó lường.

Rất lâu trước khi mặt trời trở nên nguội lạnh, chính con người vì ham hố sẽ cùng với thiên tai đưa ngày tận thế tới nhanh hơn chăng?

Điền Thảo

29 January 2013

THẰNG KHÙNG

(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)
(Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - 
không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù)
Phùng Quán

"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.


Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
 

Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
 

Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.
 

Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
 

Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:

26 June 2012

Vì sao người Do Thái thông minh

và Việt Nam chúng ta có thể học tập được gì?

"Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này". Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không? Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam.

Bài viết dưới đây được lấy từ blog của tác giả Thanh Hằng trên mạng My Space. Nó được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là "Why Jews Are Intelligent" [1] (tạm dịch là "Vì sao người Do Thái thông minh"). Bài viết rất hay và có ý nghĩa nhưng chỉ có điều do được đăng ở một blog nên tính phổ biến không cao. Tôi xin phép đăng bài viết ở đây với hi vọng bài viết này sẽ đến được với nhiều người Việt Nam hơn. Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ TB của người Do Thái vào khoảng từ 107,5 đến 115 (sd15). Để so sánh thì IQ TB của thế giới là 100 và IQ của người Việt Nam (theo một khảo sát) là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này.Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ "thiên tài" (IQ>=140 - cũng là mức yêu cầu của VNHIQ) trong số dân. Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ "thiên tài" sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài).

Sau đây là bài dịch của tác giả Thanh Hằng:

"Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hêt từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới - số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài ngưởi chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, người sáng tạo ra chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái.

Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống. Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị cộng sản ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học ĐH Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao.

Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel, điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậy nó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.

Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân, chà là cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá. Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể. Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân. Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.

Ở Israel, hút thuốc là điều cấm kỵ. Nếu bạn là khách thì không nên hút thuốc trong nhà họ, họ sẽ lịch sự mời bạn ra ngoài để hút thuốc. Theo các nhà khoa học ở Đại học Israel, chất nicotine sẽ phá hủy những tế bào cơ bản trong cơ thể đồng thời ảnh hưởng đến gen và DNA (tế bào di truyền) dẫn đến sự thoái hóa bộ não.

Đồ ăn cho trẻ cũng luôn trong sự hướng dẫn của cha mẹ. Đầu tiên, hoa quả ăn cùng với hạnh nhân, sau đó là dầu gan cá. Theo đánh giá của tôi, những đứa trẻ Do Thái đều biết 3 thứ tiếng, ví dụ như tiếng Do Thái, Ả rập và tiếng Anh.

Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được học đàn piano và violin, và đây là điều bắt buộc. Làm như vậy vì họ tin rằng điều này sẽ làm tăng chỉ số thông minh của trẻ và sẽ khiến con họ trở nên thông minh. Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái ... 

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em được dạy các môn về kinh doanh, toán học, khoa học. Để so sánh , tôi có thể nhận thấy trẻ em ở California, chỉ số IQ của chúng khoảng 6 năm về trước. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biết nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học. Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái. Thiết kế mẫu thời trang mới nhất của Levis là của khoa kinh doanh và thời trang của trường ĐH Israel.

Đã bao giờ bạn thấy họ cầu nguyện chưa? Họ sẽ luôn lắc đầu vì họ tin rằng hành động này sẽ kích thích và cung cấp nhiều oxy cho não. Điều tương tự giống như người Hồi giáo khi cầu nguyện họ phải quỳ lạy cúi đầu. Và hãy xem những người Nhật Bản, cách họ cúi đầu và người Nhật Bản cũng có rất nhiều người thông minh, họ thích ăn sushi (thịt cá tươi). Liệu đây có phải là sự trùng hợp?

Trung tâm thương mại của người Do Thái tập trung ở thành phố New York, và chỉ phục vụ cho người Do Thái. Nếu ai đó trong cộng đồng Do Thái có ý tưởng hay có thể sinh lời, hội đồng người DT sẽ cung cấp khoản vay không lãi suất và đảm bảo việc kinh doanh này phải phát triển. Vì lý do này, Starbuck, Dell, Coca-cola, DKNY, Oracle, Levis, Dunkin Donut, các bộ phim Hollywood và hàng trăm hoạt động kinh doanh khác đều nằm dưới sự tài trợ của cộng đồng Do Thái. Sinh viên Do Thái tốt nghiệp từ khoa y dược ở New York được khuyến khích đăng ký với hội đồng này và được phép hành nghề tư với khoản vay không lãi suất này.

Hút thuốc sẽ khiến bộ não bị thoái hóa. Trong chuyến thăm của tôi đến Singapore năm 2005, điều khiến tôi ngạc nhiên là những người hút thuốc bị coi như đồ bỏ đi và giá một bao thuốc là khoảng 7 USD. Cũng giống như ở Israel, việc hút thuốc là cấm kỵ và Singapore đã hình thành cách quản lý giống như ở Israel. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết các trường ĐH của Singapore đều thuộc đẳng cấp cao, dù Singapore chỉ nhỏ bằng Mahattan. Hãy nhìn sang Indonesia, đâu đâu mọi người cũng hút thuốc và giá một bao thuốc chỉ rẻ bèo khoảng 70 xu USD. Và bạn có thể đếm được số trường ĐH của họ, những gì họ sản xuất, những gì họ có thể tự hào, công nghệ ư? Họ còn chẳng thể nói được thứ ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ của mình, vì sao họ khó có thể sử dụng Tiếng Anh thành thạo? Liệu đây có phải là do việc hút thuốc? Bạn hãy tự suy nghĩ nhé.

Trong bài nay tôi không động chạm đến vấn đề tôn giáo hay chủng tộc. Đó là vì sao người Do Thái khá kiêu ngạo, và vì sao họ luôn bị săn đuổi từ thời Pharaoh cho đến Hitler. Đối với tôi đó là vấn đề về chính trị và sự tồn vong.

Điểm cuối cùng trong bài này là liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ giống như những người Do Thái? Câu trả lời có thể ở dạng khằng định đó là chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống hàng ngày, cách làm cha mẹ, và tôi đoán rằng chỉ trong 3 thế hệ, việc này có thể làm được. Điều này tôi có thể quan sát được từ đứa cháu của tôi. Chỉ mới 9 tuổi cậu đã viết được bài luận 5 trang về đề tài ‘Vì sao tôi thích cà chua?’. Cầu chúc cho chúng ta được sống yên bình và thành công trong việc tạo ra những thế hệ tương lai tài giỏi cho nhân loại dù bạn thuộc bất kỳ chủng tộc nào.

Bổ sung: Theo truyền thống người Do Thái, những học giả, nhà khoa học được khuyến khích kết hôn với con gái của những thương nhân vì theo họ, con cái sinh ra sẽ là sự kết hợp của cả giáo dục hàn lâm và giáo dục thực tế. Chính sự coi trọng thương nhân và kinh doanh cũng như học vấn đã đưa họ lên vị trí hàng đầu trên thế giới và khiến cả thế giới ngả mũ cúi đầu. (khác hẳn với văn hóa " sỹ, nông, công, thương " của VN và Châu Á). Những chính sách của Hoa Kỳ trước đây và của Obama hiện tại cũng đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tài phiệt người Do Thái."

Chú thích:
  [1] http://shahidpages.wordpress.com/2009/03/31/why-jews-are-intelligent/
____________

Góp ý:
Bài nói về người Do Thái thông minh nhiều chỗ phóng đại quá xá cỡ thợ mộc!! Nói là người Do thái thông minh thì OK nhưng nếu nhất thế giới thì thế nào là nhất thế giới?

Bài có nói 50% giải Nobel là của người Do thái là sai! Trong số khoảng 105 giải văn chương Nobel tôi chưa thấy tác giả Do thái nào được phát. Các nhà đạo diễn nổi tiếng hàng đầu thế giới, bậc sư là người Nhật Akira Kurosawa, Tầu Trương nghệ Mưu, Ý  Victorio de Sica, Pháp Jean Renoir... chưa thấy ông đạo diễn tài tử Do thái nào nổi tiếng. Nhạc sĩ nổi tiếng nhất thế giới như Beethoven, Mozart là người Do thái?  cChưa thấy nhạc sĩ Do thái nào nổi tiếng.

Họ giỏi tài chánh, buôn bán, business nhưng  họ dựa vào người khác. Họ ở đậu nhiều nước và ăn bám vào các nước khác. Hitler nói đúng: người Do thái chỉ là ký sinh (parasite), họ vào các nước tân tiến rồi làm ăn, cho vay lấy lãi, ăn trên ngồi  trốc nhưng tự họ không lập được một nước mà phải dựa vào người khác.

Họ có giỏi một số phương diện nào đó chứ không phải cái gì cũng giỏi, cái giỏi nhất là láu cá, ăn bám vào nước khác

TD

02 June 2012

Chuyện vui mà buồn!

Tiếng Việt Mới

Đồng-hồ không người lái có cửa sổ của tôi chỉ ba giờ rưỡi chiều. 
Trong máy bay, ngồi nhìn ra cửa sổ bên ngoài, tôi lặng nhìn đất nước thân yêu, và tôi chợt thở dài. Thấy vậy, người hành-khách ngồi bên cạnh quay sang hỏi:
- Trông anh có vẻ căng lắm?  Ngồi trong nội-thất chiếc phi-cơ mà trông ông hình như bức-xúc làm sao?
- Vâng thưa ông, tôi về Việt-Nam lần này là lần thứ nhất, sau bốn mươi năm xa nhà nên có phần hồi-hộp, tôi đáp.
- À, ra thế, tâm-trạng ông hiển-thị trên nét mặt rõ lắm. Ông rời xứ lâu như vậy, tôi đoán lúc trước ông phải là du-sinh đi chuyên tu ở đâu đó; người Việt mình vốn trọng-thị vấn đề học-vị lắm mà.
- Vâng, ông đoán không sai, lúc trước, tôi có được đi du-học bên Pháp, nhưng thú thật với ông, riêng tôi không coi-trọng bằng cấp cho lắm, nhất là thời-buổi này- tôi nói tiếp.
- Tôi thống nhất ông, chủ-yếu là phải biết triển-khai tính năng-nổ, rồi tranh-thủ vào đó, khẳng định tài-nghệ mình thì mới thành công một cách tiên-tiến được.
- Ông muốn nói là ông đồng ý với tôi, điều quan trọng là mình phải khai-triển tính siêng năng tháo vát, cố gắng sao cho tài-nghệ mình được công nhận để có thể thành công mỹ-mãn? tôi hỏi lại cho chắc.
- Đúng vậy. À này, ông cũng nên cập-nhật lại ngôn-ngữ văn-hoá hiện-đại của mình đi thì hơn.Chúc ông thư-giãn và đi tham-quan tốt những cảnh-quan nước nhà.
- Cám ơn ông.
Một lúc sau, gần đến cửa khẩu Tân Sơn Nhất, người lái cho biết Trung tâm quản lý đường bay đã cho phép phi-cơ đáp xuống đường băng. Chúng tôi đã đến Sài-Gòn.
Vào đến trạm kiểm tra, người cán-bộ hỏi tôi:
- Hộ-chiếu đâu?
- Dạ thưa, hộ-chiếu là gì ạ? tôi ngớ ngẩn hỏi lại.
- Giấy tờ du-lịch do cơ-quan chủ quản cấp chứ là gì nữa? Xin ông nghiêm-túc một chút - người cán-bộ sẵng giọng.
Tôi chìa sổ thông-hành ra.
- Ông sống bên Mỹ à? Bang nào? người cán-bộ hỏi tiếp.
- Dạ thưa , tiểu bang New Jersey .
- Đem vào bao nhiêu kiều-hối?
- Dạ thưa, kiều-hối là gì ạ? tôi lại ú ớ.
- Ông không biết từ này à? Ông đừng có linh tinh nữa, khẩn trương lên đi, người cán-bộ bắt đầu sốt ruột.
Hoảng quá, chắc ông ta nói tôi vớ-vẩn và dục tôi phải nhanh lên. Nghĩ đến chữ "hối-xuất", tôi đoán mò.
- Dạ, ngoại-tệ tôi có 1000 mỹ-kim.
- Thôi được rồi, ông đi đi. Có vấn nạn gì thì cứ đến Phòng công-tác người nước ngoài mà hỏi.
- Cám ơn Ngài.
Lấy hành-lý xong, qua trạm hải-quan, không có gì để khai quan-thuế, tôi bước ra ngoài.
Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Mới đến có vài giờ mà đã ấn-tượng như vậy.
Dáo dác nhìn quanh, tôi vẫy một cái tắc-xi để về khách sạn.
Thấy cái mặt "nai vàng ngơ ngác" của tôi, bác tài-xế chào hỏi:
- Hoan nghênh ông, chắc ông là Việt-Kiều về thăm nhà? Lần này về, ông có dự-kiến làm gì không, em chỉ giúp cho?
- Ờ, xem nào, ăn ngon thì ông đề-nghị đi đâu?
- Muốn ăn ngon thì em xin đề-xuất  nhà hàng này, em đảm-bảo chất-lượng, thực đơn cao-cấp, giá rẻ, ông có thể ăn uống vô-tư, chứ đừng có mà đi tìm những nơi hoành-tráng khác, có khả năng đắt khủng lắm, bình quân 100 Đô-La một người đó, nhất là nếu ông là người nước ngoài.
- Ui chao,có thể trung bình 100 Đô? Quả nhiên đắt khủng khiếp thật.
- Nhưng ngược lại, ông vào mấy tiệm chui thì cũng có khả-năng bị chũm lắm đấy.
Đúng rồi, những nơi lén lút, không ai kiểm-soát, bị gạt là cái chắc.
- Thi thoảng, ông có muốn đi tươi mát để hộ lý cho khoẻ không? bác tài hỏi tới.
- Tươi mát? Hộ lý? ông muốn nói gì? Tôi hỏi lại
- Thì chuyện quan-hệ đàn ông - đàn bà đó mà? Về Việt-Nam, ai mà không biết cái đó? bác tài cười mỉm chi.
- Thôi, cám ơn ông, chắc không cần đâu. À về đến khách sạn tôi có xa không? tôi ngượng-nghịu đánh trống lảng.
- Từ đây vào thành phố không có đường cao tốc, nhưng đi giờ này không sợ ùn-tắc đâu, nếu không gặp tai tệ nạn trong một sự cố giao-thông gì, sẽ nhanh lắm.
- Không có xa-lộ, nhưng giờ này, nếu không gặp tại nạn xe cộ hay cản trở lưu-thông gì thì chả sợ kẹt đường, sẽ nhanh thôi. Tôi lẩm bẩm trong đầu như để học khoá cấp-tốc tiếng Việt mới.
Bác tài-xế nói xong, phóng vun vút và chẳng bao lâu tôi về đến khách sạn.

Đăng ký xong, tôi lên phòng nằm xem chiếu bóng hộp chỉ được năm phút là lăn quay ra ngủ một mạch đến sáng.

Mấy hôm sau, một người bạn sinh-sống tại đây liên-hệ với tôi và đề-nghị:
- Tụi tao có quy-hoạch một buổi tiểu-trà để chiêu-đãi mày thứ bẩy này nhé.
- Cám ơn tụi mày đã định làm một buổi tiệc nhỏ để thết-đãi tao. Về đây chơi, có thổ-công như tụi mày thì nhất rồi.
Tối hôm đó, tôi đến nơi hẹn. Nhà hàng này cũng nhỏ, nhưng rất sạch-sẽ, tươm-tất, có cả một ban nhạc sống nữa. Không biết mấy thằng bạn quỷ có mưu mô gì nhưng chúng đã bố-trí một cuộc gặp, cho tôi ngồi cạnh M., một cô gái xinh trẻ, rồi lấy máy ảnh kỹ-thuật số ra chụp tôi với em.
Nói chuyện, ăn uống một lúc, tôi làm ly cà-phê cái nồi ngồi trên cái cốc, còn đang miên man suy-nghĩ thì M. lay tôi, gọi:
- Anh ơi (cô ấy chỉ bằng tuổi con tôi mà dám gọi tôi bằng "anh"), anh đang tư duy gì vậy? Bên kia, mấy người nghệ-nhân đang chơi nhạc kìa, mình ra hát đôi đi, hay là anh thích múa đôi ?
Mấy thằng bạn cũng đốc vào nên tôi cũng đành ra sàn nhẩy với M.
- Anh ơi, bên Mỹ, anh làm nghề gì, thu-nhập tầm được bao nhiêu? M. bắt đầu hỏi chuyện.
Trời ơi, tiền lương tôi khoảng bao nhiêu, cô ấy hỏi làm gì? Tôi trả-lời qua loa cho xong, nhưng M. tiến-công tiếp:
- Anh ơi, em phát-hiện là em cảm thấy rất hứng-thú với anh. Anh là đối-tượng của em rồi, em hồ-hởi quá. Hay là anh quản-lý đời em đi anh?
- Tôi quản-lý đời cô hay cô quản-lý đời tôi đây? Nhưng thí-dụ như tôi chịu thì mình như thế nào? Tôi hỏi đùa.
- Trước hết, mình phải tuyên-bố.
- Tuyên bố gì?
- Tuyền bố là lễ hứa-hôn đó anh. Sau đó, anh mua cho em một căn hộ; và lần hồi, mình sẽ đả-thông nhau, rồi mình sẽ...
- Trời ơi, tôi làm gì có tiền mua nhà cho cô?
- Em nghe nói bên Mỹ, ai cũng sở-hữu một căn hộ mà, anh bán nó đi rồi sang đây mua hộ cho em. Sang bên này, anh bảo-quản tốt cho em, em sẽ ủng-hộ anh triệt để. Anh xử-lý cho em đi, nhe?
(Quan-hệ, ủng-hộ kiểu này thì hệ-quả chắc phải bị cao huyết áp, tai-biến mạch máu não sớm !!!)
Cứ thế cô tích-cực tiến-công tôi hầu gia tăng sức ép đến mức tầm cỡ:
- Anh ơi, anh đừng có chảnh với em mà, em giản đơn lắm.
Chảnh? Lần đầu tiên trong đời, tôi nghe chữ này, hỏi ra, mới biết là "làm bộ", "làm eo".
Cuối cùng, M. đột-xuất ra chiêu độc:
- Anh ơi, bú mồm em đi.
Xốc quá, choáng quá, tôi bất-tỉnh tại chỗ.

Vài hôm sau, tôi muốn ra Huế chơi. Hỏi dưới văn-phòng khách-sạn xem trạm xe-lửa ở đâu, người tiếp-viên cho tôi biết:
- Cục đường sắt  gần đây thôi. Ông đi bộ cho mát, hôm nay đài thuỷ-văn cho biết trời đẹp lắm.
Ngoài nhà ga, tôi mua một vé đi Huế.
- Một vé tầu-lửa đi Huế? Ghế mềm hay ghế cứng?
- Cứng thì bao nhiêu? Mềm bao nhiêu? tôi hỏi lại.
Rốt cuộc, giá không xê-xích bao nhiêu nên tôi mua ghế mềm, ngồi cho sướng ... bàn toạ.

Đến nơi, tôi đi thăm vài danh lam, thắng cảnh xong, ngồi nghỉ chân một lúc rồi tôi phải hỏi một ông khách qua đường.
- Xin lỗi ông, tôi đang đau bụng quá, gần đây có chỗ nào cho tôi đi không ạ?
Ông khách chỉ sang bên nọ và trả-lời:
- Cuối đường có cái nhà ỉa kia, ông lại đó đi. Nhưng còn tuỳ ông đi nặng hay đi nhẹ nữa, vì đi nặng thì dịch-vụ đắt tiền hơn.
- Trời!!!
**

Đến đây, tôi chợt thức tỉnh. Hoá ra chỉ là một giấc mơ, nhưng sao hãi-hùng quá. Lâu lắm rồi, tôi không được về thăm nhà, bây giờ có về, không lẽ tôi phải có thông-dịch viên đi theo sao?
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...
Tiếng nước tôi, tiếng nói đồng-bào tôi mà sao nghe lạ tai quá? Bây giờ, khi xem phim với phụ-đề tiếng Việt, tôi lại còn khó hiểu hơn là không có phụ-đề nữa; đọc những bài thâu lượm trên Internet thì nhiều khi cứ phải đoán mò, và khó chịu làm sao khi đọc chữ "Y" cứ bị thay thế bằng "I".
Nhưng điều tôi không thể hiểu nổi là tại sao có những tờ báo Việt-Nam bên Mỹ này cũng hùa theo cái "phong-trào" ấy, như để "khoe" là mình "văn minh hiện đại" (?)
Vẫn biết sinh-ngữ nào chả biến-đổi cho thích-hợp với thời-đại nhưng sao thay đổi "khủng" quá? Không biết cụ Nguyễn Du hay cụ Trần Trọng Kim, nếu còn sống sẽ nghĩ gì về tiếng Việt mới này? Hay có lẽ chúng tôi quá "cổ hủ"? Dầu sao đi nữa, chúng tôi sẽ không cầm bút để viết lịch-sử Việt-Nam nên chúng tôi chắc chắn là sai lầm.

Nhưng thôi, đất nước tôi không còn là đất nước tôi, tôi cũng không còn thẩm-quyền gì để phê-bình, tôi chỉ có quyền buồn (ít ra, cái tư-do này, không có chính-quyền nào có thể cấm-đoán được). 
Tôi buồn, nhưng thôi, như đã chia-xẻ trong bài "Thế-hệ bánh mì kẹp", chỉ vài mươi năm nữa, vấn-đề này sẽ không còn là vấn-đề nữa, một khi chúng tôi sẽ lũ-lượt rủ nhau đi hết. Lúc đó, chúng tôi sẽ lại được nói lại "tiếng Việt cũ" với bố mẹ, ông bà chúng tôi.
Ôi, tiếng nước tôi.

Vân Hà
5.2012

30 May 2012

Viết theo lời kể của một cô gái người Bắc.

"Việt Cộng Con"

Đương nhiên, tên của tôi không phải là “Việt Cộng Con” rồi. Và tôi cũng không phải là Việt Cộng, xin bảo đảm một trăm phần trăm.

Tên tôi là Trinh, Trần Thị Ngọc Trinh. Tôi lấy chồng là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Con trai tôi tên là Nam, cháu nay đã được năm tuổi rồi. Mỗi lần về thăm nhà, cháu luôn luôn hãnh diện khoe với ông bà ngoại:
“Ông ơi, bà ơi, cháu là con của Lính Cộng Hòa đấy.”
Tức là, tôi không có dính dáng gì đến Việt Cộng cả. Vậy thì tại sao tôi lại có cái tên... “Việt Cộng Con”?

Theo lời bố tôi kể lại, bố mẹ tôi quê quán ở Phú Thọ, sau chuyển về Hà Giang. Đến năm 1979 thì mới về Hà Nội ở. Lúc đầu, gia đình tôi không có "hộ khẩu", phải sống tạm bợ ở gầm cầu. Hàng ngày, ba mẹ tôi đi ra chợ, bến xe hàng hay là bến xe lửa xuyên Việt đứng chờ công việc làm, ai nhờ việc gì thì làm việc nấy, thông thường là khuân vác, đẩy xe, cưa cây... Kiếm được việc làm không phải dễ, vì ba mẹ tôi là dân mới tới, thường bị đám người sống lâu năm ở chợ tranh dành đuổi đi đừng ở nơi xa chứ không cho đứng ở gần chợ.

Một hôm, có một đoàn người gồm đa số là đàn bà từ miền Nam vào, nhờ đẩy hàng đi Hà Giang. Hà Giang cách Hà Nội cả trăm cây số, đám đầu nậu không biết địa thế, hơn nữa, vì Hà Giang gần núi, có nhiều sơn lam chướng khí, nên không ai dám nhận đi hàng, bọn chúng mới gọi bố mẹ tôi đến mà bố thí cho việc làm. Tưởng đi đâu chứ Hà Giang thì bố mẹ tôi sống ở đó từ nhỏ, biết từng góc rừng, từng con đường mòn xuyên qua núi. Thì ra đó là những người vợ, con của Lính Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Từ Hà Nội đến Hà Giang thì có xe hàng, nhưng từ Hà Giang tới các trại tù thì phải gánh hàng đi bộ nhiều ngày mới tới.

Bố mẹ tôi chịu cực khổ đưa những người khách hàng đến tận nơi, chờ họ gặp người thân xong xuôi rồi lại đưa họ trở về ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những người này cám ơn bố mẹ tôi và tặng tiền nhiều lắm. Sau chuyến đi đó, bọn đầu nậu đứng bến có vẻ nể nang bố mẹ tôi, không dám dành mối như trước nữa. Thực ra, cũng vì không có đứa nào biết đường đi nước bước ở Hà Giang và những vùng xa xôi có trại tù cải tạo, nên bố mẹ tôi hầu như được độc quyền đưa đón thân nhân những người tù cải tạo. Những người này vừa tử tế lịch sự, vừa cho tiền thưởng khá, vì thế, cuộc sống của gia đình tôi mới đỡ vất vả. Nhờ có ít tiền, bố mẹ tôi mới... mua được hộ khẩu ở Hà Nội và cho anh em chúng tôi đi học. Trong thời gian đưa đón những người Miền Nam này, bố mẹ tôi đã được họ tin tưởng, vui vẻ nói chuyện và còn chỉ dẫn cách nấu những món ăn ở Miền Nam, như là bánh xèo, bánh phồng tôm, chả giò... Đã có một lần, một nhóm người vì phải mang theo nhiều hàng, lại già yếu bệnh tật, nên đã nhờ bố mẹ tôi vào Nam để mang hàng từ đó ra ngoài Bắc cho họ. Nhân dịp này, họ đã đưa bố mẹ tôi đi chợ mua những món hàng cần thiết và đãi bố mẹ tôi ăn một bữa no say.

Đến khi những người đi thăm thân nhân tù cải tạo vơi đi dần, bố mẹ tôi liền giải nghệ mà mở một quán ăn nhỏ, chuyên bán những “Món Ngon Miền Nam”. Thời gian đó, bất cứ món hàng nào có xuất xứ "Miền Nam" đều được dân miền Bắc thèm muốn, mua bằng hết, từ cây kim sợi chỉ, nói chi tới những Món Ngon Miền Nam. Cửa hàng của bố mẹ tôi vì thế mà lúc nào cũng đông khách.

Học xong đại học, tôi xin đi làm cho chính phủ, thời gian rảnh thì phụ bố mẹ tôi trông coi công việc. Cửa hàng bán những món ăn Miền Nam của bố mẹ tôi càng ngày càng phát triển, không những chỉ bán hàng ăn, bố mẹ tôi còn mở công ty, mua nhiều loại hàng ở Miền Nam đem ra Bắc bán nữa.

Trong thời gian làm việc, tôi đã được tiếp xúc với một số bạn bè đi du học trở về, đa số đều nói ngoại ngữ rất khá, và đều vào Sàigòn làm việc, chứ không chịu ở lại ngoài Bắc, dù rằng Hà Nội mới là thủ đô. Tôi bắt chước bạn bè, xin bố mẹ tôi cho vào Nam làm việc, nhân tiện làm đầu cầu mua hàng trong Nam đem ra Bắc.

Vào tới Sàigòn rồi, đi làm một thời gian rồi, tôi mới thấy là giữa những người giữ chức vụ cao, được 
gọi là "lãnh đạo cơ quan" mặc dù là học thức kém, tầm mức hiểu biết về việc làm rất là hạn chế, nhưng lại là những người ngồi mát ăn bát vàng, hống hách với dân chúng nhiều nhất. Càng tỏ ra khó khăn, họ càng được hối lộ và lấy đuợc nhiều tiền trong công quỹ. Những người có bằng cấp, biết làm việc và phải tiếp xúc với dân chúng nhiều như chúng tôi thì lại bị đẩy cho làm việc thật là nhiều. Và cũng vì sự hống hách quan liêu của cấp trên, mà chúng tôi bị vạ lây, bị dân chúng miền Nam ghét bỏ. Thậm chí, chỉ nhìn thấy chúng tôi, hoặc chỉ cần nghe giọng nói của chúng tôi thôi, họ đã bỏ đi, không quên nói nhỏ với nhau: "Cái đồ Bắc Kỳ... thấy ghét"

Mặc dù những điều kiện mà chúng tôi giải thích, là do cấp trên đòi hỏi, chứ chúng tôi không hề muốn làm như vậy.

Một vài lần, tôi được dịp may tiếp xúc với những người ngoại quốc tới làm việc chung với chúng tôi, họ có kiến thức rất cao nhưng lại nói chuyện rất lịch sự. Cũng có những lần tôi được tiếp xúc với vài du khách đến nhờ làm thủ tục, tôi thấy họ nói chuyện cũng thật là hòa nhã và rất hiểu biết. Tầm mắt và kiến thức của tôi được mở rộng ra, tôi muốn được đi du học để mở mang trí tuệ, và cũng để có thể giúp cho công việc làm ăn của gia đình tôi được phát triển hơn. Tôi đem việc này ra bàn với bố mẹ tôi, cả hai đều đồng ý, nhất là ông bà nội của tôi. Chọn nơi học mới là điều khó khăn hơn cả. Đa số các bạn bè của tôi chọn đi học ở Mỹ (nhất là những đứa có cha mẹ có quốc tịch đảng), tôi lại thấy Úc là xứ sở hiền hòa có nhiền nét về văn hóa nghệ thuật, nên tôi đã chọn môn học về Tài chánh ở trường Đại Học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), Melbourne, nước Úc.

Dù là đã có một ít vốn liếng tiếng Anh đã học ở trường học cũng như trường đời, nhưng ngày đầu tiên đến giảng đưởng nghe giảng bài, thú thực là tôi như con vịt nghe sấm, chẳng hiểu ông Giảng viên tóc vàng nói cái gì cả, vì giọng của ông hoàn toàn là giọng Úc, khác xa với những phát âm theo tiếng Mỹ mà tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Môn học kế tiếp thì tôi lại còn thua nặng hơn nữa, vì Giảng viên này gốc ngưởi Ấn Độ, tiếng Anh của ông còn pha nhiều âm thanh R R R thật là khó nghe.

Hai năm trời trôi đi thật nhanh, ngoài giờ học, tôi xin đi làm thêm ở những nhà hàng ăn ở đường Victoria, khu vực Richmond. Những nhà hàng này tuy bán món ăn Việt Nam nhưng đa số khách hàng lại là người da trắng, nên nhờ đó mà tiếng Anh của tôi đã khá hơn trước và cách phát âm cũng vì thế mà đổi hoàn toàn theo giọng Úc.

Cuối cùng, tôi đã học xong cái bằng Master và sửa soạn khăn gói về nước. Bạn bè của tôi đa số xin ở lại Úc làm việc và sinh sống, tôi không có ý định ở lại, chỉ muốn về phụ giúp gia đình mà thôi.

Tôi mua vé máy bay về Sàigòn trước, nghỉ ở đó một ngày gặp bạn bè rồi mới về Hà Nội ở luôn. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông trung niên, ông không bắt chuyện với tôi mà chỉ ngồi im lặng, lâu lâu lại nhìn vào cái hộp sắt gắn kín đang cầm trên tay. Mãi khi xuống phi trường Changi để nghỉ hai tiếng, ông mới mở miệng nhờ tôi cầm dùm cái hộp sắt để đứng lên lấy hành lý để trên khoang xuống. Cái hộp tưởng là bằng sắt nhưng lại là hộp bằng nhôm rất nhẹ.

Ngồi trên ghế chờ đợi, ông mới cho tôi biết đó là cái hộp đựng tro của vợ ông. Vợ ông mới qua đời tuần trước, đã được hỏa táng và ông đem về Việt Nam để ở nhà mẹ vợ, theo lời trăn trối của vợ ông trước khi chết.

Tới phi trường Tân Sơn Nhất, ông chào và cám ơn tôi một lần nữa rồi ai về nhà nấy. Tôi không biết tên ông là gì và ông cũng chẳng bĩết tôi là ai?

Một năm sau, tôi quay trở lại Úc để dự lễ phát bằng cấp cho đứa em tôi. Đang đi trên đường Victoria, thật là ngạc nhiên, tôi đã gặp lại ông khách đi chung máy bay hồi nào. Ông cho tôi biết đã đem tro tàn của người vợ về xong xuôi rồi, đã đi làm trở lại. Tôi cũng cho ông hay là tôi đã xin được việc làm và đang làm việc ở Sàigòn, nhân dịp dự lễ phát bằng cấp cho đứa em, tôi xin nghỉ một tháng để đi thăm những thắng cảnh Úc mà trong suốt hai năm đi học tôi không có thì giờ đi đâu cả. Lần này ông cho tôi số điện thoại và nói nếu tôi muốn đi chơi thăm phong cảnh, ông sẽ xin nghỉ đưa tôi đi cho vui.

Thế là chúng tôi quen nhau. Ông tên Thanh, là Lính Cộng Hòa, ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông là một Chuẩn Úy 18 tuổi mới ra trường, đánh trận đầu tiên và cũng là trận cuối cùng của đời lính. Ông có hai đứa con nhưng chúng nó đi làm ở Tiểu bang khác, lâu lâu mới về thăm nhà, còn tôi, tôi ba mươi lăm tuổi rồi, và chưa có ý định gì về tương lai cả.

Về lại Sàigòn, chúng tôi vẫn tiếp tục emails qua lại với nhau. Có một lần ông về Việt Nam thăm tro tàn của vợ và nhân dịp đó đi chơi uống cà phê với tôi. Qua năm sau, tôi muốn trở lại Úc một lần nữa để đi thăm Đảo San Hô ở Queensland, Thanh cũng xin nghỉ để đi chơi cùng với tôi.

Thanh đã ngỏ lời muốn cưới tôi làm vợ. Suy đi nghĩ lại, tôi tuy còn độc thân nhưng đã lớn tuổi rồi (so với Thanh thì tôi còn nhỏ lắm), nên đồng ý làm vợ Thanh.

Thanh làm bữa tiệc gia đình để ra mắt tôi với hai đứa con và bạn bè. Hai đứa con của Thanh nói toàn tiếng Anh, tụi nó không có ý kiến gì, miễn thấy ba nó vui là được rồi. Lần đầu tiên gặp những người bạn của Thanh, tôi vui miệng kể lại cuộc đi chơi ở Đảo San Hô: “Thật là... Hoành Tráng chưa từng thấy. Đi xem đảo xong, chúng em đi phố mua hàng, chỗ nào cũng bán Khuyến mãi, thích ghê..”

Cả nhà đang ồn ào, tôi chợt thấy không khí có vẻ im lặng sau khi tôi nói chuyện, những người bạn của Thanh nhìn tôi có vẻ e dè lắm, họ vẫn nói chuyện, nhưng hình như không có nói chuyện với tôi. Một bà vợ của người bạnthân của Thanh đã hỏi thẳng tôi:
“Cô là... du học sinh hả? Lấy chồng già để... được ở lại Úc hả?”
Khi vào trong bếp lấy thêm đồ ăn, tôi thoáng nghe một người nào đó nói nhỏ với Thanh:
“Mày lấy... Việt Cộng Con đấy à?”
Tôi nghe Thanh trả lời:
“Đâu phải ai nói giọng Bắc cũng đều là Việt Cộng hết đâu!”
Tiệc cưới của chúng tôi mới là phiền phức, mặc dù chúng tôi chỉ tổ chức đơn giản thôi, nhưng bạn bè của Thanh nhận thiệp mời, họ đều có vẻ ngại ngùng, không muốn tham dự. Thanh nói với tôi:
“Ông Hội trưởng của anh họp cả hội lại để lấy quyết định... có dự tiệc cưới của anh hay không? Họ quyết định... đi với tư cách cá nhân mà thôi, vì dù sao cũng là bạn bè.”

Tôi ngần ngừ nói với Thanh:
“Anh ơi... nếu thấy khó khăn quá, hay là... mình đừng có lấy nhau nữa... Sao họ lại... kỳ thị với em như vậy? Em nói tiếng Bắc, vì em sinh đẻ ở ngoài Bắc, chứ em đâu có tội tình gì đâu?”
Thanh an ủi tôi:
“Em cũng phải hiểu cho họ, họ cũng như anh, đều là những người bị bọn Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm đất nước, bắt tù bắt tội sống chết đủ điều. Suốt ngày họ nghe cái giọng Bắc kỳ mạt sát họ, nó thấm vào đầu, nên không thể có cảm tình với cái giọng Bắc được. Anh hiểu em, nhưng họ chưa hiểu và chưa thông cảm cho em. Cứ để một thời gian, họ sẽ hiểu em đó mà.”
Tôi sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên cháu là Nam. Ngày thôi nôi, anh chị nó đến dự, vui vẻ thay phiên ẵm em, đứa con gái út của Thanh ẵm em vừa cười vừa nói: “My... baby brother” Những người bạn chúc mừng Thanh... “Đáo Mã Thành Công”.

Khi tôi tháo chiếc dây chuyền hộ mạng của tôi đeo vào cổ cho Nam, một bà ngạc nhiên nhìn sợi giây mà hỏi tôi:
- “Cái gì vậy?” 
- “Dây chuyền hộ mạng của em đấy.” 
- “Đẹp quá nhỉ! Ai khắc mà đẹp quá, hình như là hai cái mặt chữ khắc trên gỗ đen thì phải.”
Chồng tôi biết tôi có sợi dây chuyền này, nhưng coi đó là đồ nữ trang của tôi thôi, nên chẳng để ý đến. Khi thấy ai cũng nhìn vào nó, tôi vui miệng kể lại lai lịch của sợi giây chuyền cho tất cả cùng nghe:

Tôi sinh ra ở Hà Giang. Nói là Hà Giang chỉ để cho có nơi có chốn trên bản đồ mà thôi, chứ thực ra, nơi tôi sinh ra không có tên trên bản đồ miền Bắc. Đó là một nơi ở giữa rừng núi âm u không có vết chân người.

Theo bố tôi kể lại, vào thời năm 1954, khi mọi người dân đều muốn di cư vào Nam, gia đình tôi gồm có ông bà nội, ba mẹ tôi và gia đình của các bác các chú đã gồng gánh từ quê lên Hải Phòng, để xuống tầu di cư vào Nam. Khi đang ở trên đường thì gặp một đám người khác cũng nhận là đi di cư và biết có một con đường tắt đi Hải Phòng rất gần, thế là cả bọn theo chân đám người này. Đến chiều tối thì có xe hàng tới chở tất cả, nói rằng đi xe cho chóng đến nơi. Xe chở đi tới một vùng rất xa, tài xế cho mọi người xuống mà nói rằng, nghỉ đỡ đêm nay, sáng mai sẽ có xe khác tới chở thẳng đến Hải Phòng. Ai cũng vui mừng trải chiếu ra ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, có xe tới đón thật, nhiều xe lắm, xe nào cũng chở đầy người. Mọi người vui mừng kéo nhau lên xe đi Hải Phòng. Xe đi cả ngày trời vẫn không tới vùng biển như mọi người mong đợi, trái lại, xe chở mọi người tới một nơi đầy lính canh có súng. Những người lính này chĩa súng bắt tất cả ngồi im không dược hỏi han gì cả, họ khiêng từng miếng vải nhà binh tới phủ kín xe rồi bắt đầu chạy suốt đêm. Đến sáng mới tói nơi, cả bọn được đẩy xuống xe để bị chỉa súng bắt đi bộ vào trong rừng. Tới nơi, cán bộ tập họp mọi người lại, kết tội cả nhóm là đã phạm tội phản lại nhân dân, bỏ trốn vào miền Nam, bị đầy vào đây đến bao giờ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, sẽ được về với nhân dân.

Đến lúc đó, mọi người mới biết rằng đã bị bọn Cộng sản đưa người ra dụ dỗ đi theo chúng để rồi bị đi đầy vào vùng rừng núi âm u không biết ngày về. Lâu lâu lại có từng đoàn người khác hoặc được xe chở, hoặc bị xiềng xích đi bộ ngang qua để tới những nơi xa xôi hoang vắng khác được gọi là “Cổng Trời”.

Vào khoảng năm 1960, có thêm một nhóm tù nữa được đưa tới Cổng Trời, đám người này thỉnh thoảng được ra ngoài làm rừng, họ tự xưng là “Biệt Kích Miền Nam” được thả ra Bắc để hoạt động, chẳng may bị bắt.

Tôi sinh ra vào năm 1973 ở cái vùng rừng núi âm u, trại tù của những người muốn di cư vào Nam năm 1954 và trải qua thời thơ ấu ở giữa nơi núi rừng trùng điệp không bóng người này. Khi tôi được năm tuổi, một hôm đi theo cha chặt mây, đã bị ngã xuống hố sâu. Bố tôi bất lực nhìn thân xác của tôi mà không có cách nào để cứu. May thay, một nhóm Biệt kích đi ngang, thấy vậy đã thòng dây đu xuống tận vực xâu mà cứu tôi lên và đưa cả hai bố con tôi về tận nhà. Từ đó, lâu lâu những người Biệt Kích này lại đi ngang vào thăm gia đình tôi. Người Biệt kích cứu tôi nhận tôi làm con nuôi và đã gỡ sợi dây chuyền ông đang đeo để đeo vào cổ tôi mà nói: “Tặng cho cháu cái bùa hộ mạng đó.”
Ông giải thích cho bố tôi biết, sợi dây chuyền này do ông đẽo gỗ trong rừng mà khắc thành hai chữ BK tức là Biệt Kích. Các chú này đã khuyên bố mẹ tôi nên tìm cách về thành phố mà sống, chứ đừng ở mãi nơi rừng hoang cô quạnh này mà bỏ phí cuộc đời của những dám con cháu.

Năm 1979, khi Trung cộng bắt đầu đánh Miền Bắc, những Biệt Kích đã bị đem đi nơi khác, bố mẹ tôi nhớ lời các Biệt Kích mà tìm đường trốn về Hà Nội, vì thế, tôi mới được đi học và sống cho đến ngày hôm nay.

Khi tôi kể xong câu chuyện, mọi người đều thay nhau cầm lấy sợi dây chuyền của con tôi một cách trân trọng và quý mến. Người bạn mà trước đây gọi tôi là “Việt Cộng Con” là người đầu tiên hỏi tôi:
“Gia đình của chị bị đưa đi... vùng kinh tế mới Cổng Trời đấy à?Chỉ vì muốn di cư mà bị đầy ải suốt hơn hai mươi năm trời đấy sao? Bọn Việt cộng chúng mày sao mà tàn ác thế! Cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình chị, những người Việt Nam yêu Tự Do, còn sống được cho đến ngày hôm nay.”

Tôi mỉm cười nói thêm vào:

“Tôi cảm ơn Trời Phật và cảm ơn Chúa nữa. Ông bà chúng tôi không đi tìm Tự Do vào năm 1954 được, thì đến đời cháu tức là đời của chúng tôi, chúng tôi đã tìm được Tự Do rồi đấy. Nhờ các anh Biệt Kích Miền Nam mà tôi được cứu sống, nhờ lời khuyên của các anh mà bố mẹ tôi mới dám trốn vùng cải tạo để về được tới Hà Nội. Cũng nhờ những bà mẹ, bà vợ của những người Lính Miền Nam bị tù cải tạo mà bố mẹ tôi mói có cuộc sống đáng sống. Các anh chị thấy không, nhờ tình người, nhờ những người Miền Nam mà chúng tôi mới sống đến ngày hôm nay, chứ đâu có bác nào đảng nào cứu giúp chúng tôi đâu? Cũng vì thế mà dù có ai nói gì thì nói, tôi cũng cứ lấy người Lính Cộng Hòa mà tôi quý mến.”

Từ hôm đó, tôi thấy tất cả bạn bè của Thanh đã thay đổi thái độ với tôi. Các anh đã gọi tôi là “Chị Thanh” và các bà đã gọi tôi bằng “Trinh” hoặc là “Cô Em Gái Bắc Kỳ”.

Con tôi đã được năm tuổi rồi, cháu đã đi học mẫu giáo, tôi có thì giờ đi tìm một công việc tạm thời. Tôi tìm đến một văn phòng Luật Sư của người Việt để xin làm Điện Thoại Viên. Ông Luật Sư phỏng vấn tôi xong, nói với tôi:

“Để chú sắp xếp cho cháu làm hồ sơ nhé, còn công việc nghe điện thoại, chú sẽ tìm người khác”
Tôi thông cảm với ông Luật sư, mọi người vẫn còn... ác cảm, còn... kỳ thị với giọng nói Bắc Kỳ của tôi.

Tôi xin lỗi đã nói như vậy, nhưng thật sự tôi không biết dùng chữ gì để nói về hoàn cảnh của tôi.
Chồng tôi đã thông cảm với tôi, anh Thanh đã nói với tôi:

“Người ta nói “Cái áo không làm nên ông thầy tu” Nhưng thực sự cái áo đã làm cho người ta nhìn lầm nguời mặc nó là thầy tu. Em không những nói giọng Bắc, em còn dùng những từ ngữ mà cái đám Việt cộng thường dùng, ngay cả những người Miền Nam hay những người Lính Cộng Hòa mà nói cái giọng đó, cũng bị ghét, nói chi là Bắc Kỳ rặt như em.

Em cứ giữ cái giọng Bắc Kỳ của em, nhưng em đừng... Hoành Tráng, đừng... Bức Xúc nữa, có được không?”

Tôi suy nghĩ... Đúng! Chồng tôi nói đúng.

Nhập Gia Tùy Tục – Nhập Giang Tùy Khúc.

Tôi đã lấy chồng Lính Cộng Hòa rồi, mà tôi lúc nào cũng có cái giọng Bắc Kỳ Hai Nút (75, Bắc kỳ chín nút tức là Bắc kỳ 54) thì ai mà chịu nổi.

Bây giờ, tôi không còn... “Xử Lý” nữa, mà tôi phân tích, tôi tìm hiểu từng trường hợp mà giải quyết cho thỏa đáng. Mỗi khi đi ra ngoài đường, nghe tôi nói chuyện, không còn ai quay lại nhìn tôi rồi bỏ đi chỗ khác nữa.

Đôi khi, những ông bà bạn của anh Thanh vẫn gọi tôi là “Việt Cộng Con”

Nhưng họ nói chỉ để mà đùa dỡn mà thôi, chứ không còn châm chọc như trước nữa.

Riêng phần con tôi, cháu Nam, lúc nào cháu cũng khoe:
“Con là con của “Lính Cộng Hòa” mà!”
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY.

NGUYỄN KHẮP NƠI

Lời bàn:

Thật đúng là cái thiên đường CS do chính một người thổ công miền Bắc kể lại . Những người miền Nam bại trận 1975 đã xơ xác rạc rầy rồi mà khi ra thăm nuôi thân nhân tù cải tạo tại miền Bắc còn được người dân miền Bắc coi là giầu có khá giả. Thật tôi nghiệp cho cái kiếp ngựa trâu bị đọa đầy đói khát hơn nửa thế kỷ, cũng may mà Mỹ bãi bỏ cấm vận 1992, may mà các nước Tư bản xúm vào đầu tư và Việt Kiều gửi tiền về cho thân nhân họ mới ngóc đầu dậy để được thấy tí ánh sáng văn minh. Chúng ta phải mừng cho họ. Người dân miền Bắc họ biết là bị lừa bịp mà cũng phải cắn răng chịu đựng vì chúng có lưỡi lê, chúng cai trị bằng lưỡi lê. Nay người miền Bắc hiện nắm giữ hết các chức vụ béo bở tại miền Nam , họ làm chủ hầu hết các cơ sở dịch vụ thương mại công cũng như tư lớn tại miền nam VN, đa số là đảng viên hoặc có họ hàng hang hóc với cán bộ sao vàng bảng đỏ (sang vào, bỏ đảng). Người miền nam cũ phần nhiều đi ngoại quốc hoặc bán nhà cửa đi nơi khác, chịu lép vế trước kẻ chiến thăng Winner takes it all. (TĐ)

09 May 2012

Bài viết chân tình mà thấm thía đăng trên Bauxít VN

Tản Mạn Mùa Hè

Hà Văn Thịnh

Trong tất cả những mùa Hạ, dù có đỏ lửa hay không mà tôi đã biết, chưa có mùa Hạ nào lại nhiều buồn đau và day dứt như năm nay... Có lẽ, không cần nói thì ai cũng biết rằng nguyên nhân chính làm nên những nỗi buồn là những gì tôi và nhiều người khác chứng kiến, ngày một đáng... buồn hơn, giống như giá cả mỗi ngày, càng ngày càng có nhiều nỗi xót xa, uất ức hơn và, càng ngày thì sự chất chứa của những bức bối, càng trở nên ngột ngạt hơn...

Dịp Lễ năm này, tôi về thăm mẹ già và các em, cháu chắt ở Vinh. Đi đâu cũng nghe thấy tiếng ta thán (có khi thầm thì, ngó trước nhìn sau rồi mới lào phào) của người dân. Thậm chí, một người bạn là lãnh đạo cấp Sở nói với tôi rằng, “Nói thật, tôi không biết đang đi về đâu” (!). Anh ấy không nói rõ “cái gì” hay “ai” – kinh tế, văn hóa..., đang “đi”, thành thử tôi cũng chẳng dám đoán mò, bởi thời buổi này viết sai là chết, có khi chưa sai cũng chết. Anh bạn kể cho tôi nghe một câu chuyện thú vị: Anh ấy viết bài về học tập chính trị, trong đó có câu đại ý – học tập một đàng, làm một nẻo thế này thì ngọn lửa Diên Hồng đã tắt trước khi... học. Tòa soạn báo sửa lại là “ngọn lửa Diên Hồng đang bùng cháy mạnh mẽ”. Kể xong, bạn tôi văng ra một câu: “Thế có chán đời không, biên tập như thế thì viết làm đếch gì nữa” . Một người bạn khác, cũng ở cấp lãnh đạo thì nói với tôi và vài người khác là nhìn thấy cảnh đập dùi cui vào đầu, vào mặt những nông dân ở Văn Giang, đập cả vào đầu hai phóng viên của VOV, anh không thể cầm lòng được. Khi nói câu ấy, tất cả chúng tôi thấy mắt anh đỏ hoe, còn mắt chúng tôi thì có lẽ cũng hơi cay cay một tẹo gọi là... Anh ấy mơ ước rằng các quan chức địa phương hành xử như thế phải bị kỷ luật, những người dùng dùi cui đập vào mặt dân, vào mặt phóng viên VOV phải bị đuổi khỏi ngành...! Hình như anh bạn tôi là cháu đích tôn của Chử Đồng Tử? Tại sao chính quyền thực hiện cưỡng chế quyết liệt và tàn bạo thế là câu hỏi của tất cả mọi người khi đề cập đến vấn đề này. Tại sao hai phóng viên, Người Nhà Nước chính hiệu, bị đánh đập dã man mà tất cả đều im gần giống với bồ thóc? Đọc bài của nhà báo Võ Văn Tạo mà đau, mà xót: Nhà báo Việt Nam khổ HƠN... chó! Nhất là, thời điểm của việc cưỡng chế, xét theo ý nghĩa xã hội là phi chính trị và thiển cận vô cùng bởi nó xảy ra chỉ vài ngày trước khi người ta hát khắp nơi “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng...”. Tôi không thể trả lời ngoài cái ý nghĩ giả định (chẳng biết đúng hay sai, nếu sai, nhờ quan chức nào đó dạy bảo dùm): Đó có thể là thông điệp rất rõ ràng rằng những người có trách nhiệm ở Văn Giang không từ bất kỳ thủ đoạn nào, bất kể người dân bị bức bách và đau đớn ra sao, miễn là thực thi được ý chí quyền lực của họ và “thông báo rõ ràng” cho dư luận biết để mà sợ, biết để mà thôi những ngo ngoe...

Lòng dân như thế, cán bộ như kia thì thử hỏi, làm sao mà vui cho nổi? Có một điều đáng mừng là không phải tất cả quan chức đều bịt mắt bưng tai đâu. Họ hiểu và cũng dám nghĩ, dám nói lắm như hai dẫn chứng tôi vừa kể trên, chỉ có điều là cũng chỉ nói ở mức độ... thì thào.

Chẳng bao giờ tôi cắt nghĩa nổi tại sao chính quyền lại tàn nhẫn, trắng trợn và ghê gớm đến thế trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang. Không còn gì để nói về cái thảm thê của mấy chữ khôi hài của dân, vì dân. Coi dân như cỏ rác về địa vị, coi dân như kẻ thù về mặt ý thức quyền lực, coi dân như đối thủ bất cân xứng về quyền lợi, coi dân như một lũ ngu dốt đầy khinh miệt, xét về mặt xã hội và, coi dân như một đám ô hợp không thể nào động đến cái lông chân của vương quyền, xét về mặt tư cách cai trị - là những hình ảnh thật rõ ràng mà các nhà sử học đời sau sẽ nhớ. Ít nhất là nhớ! Nghe đâu người ta đang đổ lỗi cho clip giả (?). Giả mà không bắt được, không tống giam mới tài (!)...

Ngày 30.4, có tin nói rằng máy bay khu trục của Trung Quốc xâm phạm – khiêu khích ngay trên không phận chủ quyền của Việt Nam, rằng TQ chuẩn bị triển khai dàn khoan dầu 30.000 tấn ở Biển Đông... Đến nước này mà còn u mê, nghếch ngốc tin vào sự hữu hảo của bành trướng Trung Hoa thì có họa là bị điên hoặc là mắc chứng bệnh ngu xuẩn bền vững.

Những câu chuyện trong mấy ngày nghỉ lễ bàn rất nhiều về đất đai, về những biệt thự “sống nhờ lương” hoặc là sướng nhờ... của quan chức cao cấp, về những tài sản không thể đo đếm được... Chợt nhớ trong chuyến đi công tác mới đây ở Phan Rang, tôi nghe mấy vị già cả kể, nào là ngày giải phóng Phan Rang (17.4) – chốt chặn ác liệt nhất trong toàn bộ phòng tuyến Xuân Lộc, hàng vạn con sâu dài từ 5 đến 10 cm bò lổm ngổm đầy đường. Không biết loài sâu ấy có giống với rất nhiều sâu bây giờ (như Chủ tịch nước đã nói) hay không? Người dân kể chuyện mẹ của ông Thiệu không thèm vào Sài Gòn ở với con trai mà vẫn cứ bán bánh canh ở chợ Phan Rang, rằng ngôi nhà của thân mẫu TT VNCH nhỏ và đơn sơ lắm. Nghe đâu, khi xây cất nhà cho mẹ, ông Thiệu không đồng ý trưng thu -  lấn đất của nhà hàng xóm, bằng chứng là mấy cây dừa trên 50 năm tuổi làm hàng rào giữa hai hộ gia đình vẫn còn nguyên. Người dân còn kể cho tôi nghe rằng các quan chức địa phương muốn làm đường trải nhựa vào con hẻm có nhà thân mẫu của TT nhưng ông Thiệu không đồng ý, với câu nói đại ý, nếu rải nhựa thì mọi con hẻm tương tự ở Phan Rang đều phải được rải như nhau...

Mấy chục năm là quãng thời gian không hề ngắn đối với một quốc gia dù đứng dưới bất kỳ góc độ muốn tư biện nào. Mọi ý đồ đổ lỗi cho chiến tranh hay thiên tai, “khủng hoảng chung của thế giới”, thực chất chỉ là muốn khỏa lấp cái trì trệ, kém cỏi của tư duy kinh tế - xã hội hiện đại. Để chứng minh cho điều này, lịch sử nhân loại không hề ky bo: Chỉ cần nhìn vào sự tương phản tàn nhẫn giữa hai miền Nam – Bắc Triều Tiên là đủ để biết sai lầm của quyền lực đã gây ra những hậu quả khủng khiếp và tồi tệ như thế nào! Những người tự xưng là cộng sản ở Triều Tiên có thể bất chấp tất cả - kể cả số mệnh của đất nước, của hàng triệu người dân miễn là bảo vệ được quyền lợi khổng lồ được sinh ra từ “nguyên tắc” cha truyền con nối.

Tôi ngắm mấy tấm ảnh tôi chụp căn nhà nhỏ (xin nhường sự phân tích, nhận xét cho bạn đọc) của thân mẫu ông Nguyễn Văn Thiệu, ngắm ảnh cái “biệt thự” ven biển của ông, dành cho riêng ông mỗi khi về thăm quê (nghe đâu nguyên trạng đến 90%) trong những ngày hè bức bối để chiêm ngẫm về một cái gì đó thật khó lý giải từ vô thức. Chợt giật mình vì “mới ngộ” (như lời Đức Phật – prajnã) được một trong những điều tối giản của hiểu biết: Lịch sử bị bóp méo cũng nguy hiểm chẳng khác chi tội giết người bởi nó giết chết sự thật, giết chết cả niềm tin của cả một thế hệ. Tôi chẳng phát hiện được gì nhiều nhưng chắc chắn đã thu được một điều: Căn nhà nhỏ đó không thể mang tính thuyết phục của bằng chứng về sự tham nhũng ghê gớm của ông Thiệu, như tôi đã từng được dạy, không chỉ một lần!

Trump Không Biết Làm Thế Nào Để Kết Thúc Cuộc Chiến Với Iran

Thomas L. Friedman,   “ Trump Has No Idea How to End the War With Iran ”   The New York Times Chuyển ngữ:  Lương Định Văn Tôi đến Tehran lần...