ĐỊA DANH MIỀN NAM
Hoài Việt Trương An Ninh, ĐS14
”Hoành Sơn nhứt đái, vạn đại dung thân”, câu “sấm” của Trạng Trình dành cho chúa Nguyễn, như một định mệnh đã khởi đi cuộc Nam tiến cứ... tuần tự nhi tiến. Từ đó, xứ “đàng trong” lần lượt dài ra, cuối cùng đến tận mũi Cà Mau. Riêng danh từ miền Nam, khởi đi từ thời có tên gọi là Gia Định Thành dưới quyền tổng trấn Lê văn Duyệt vào đầu thế kỷ 19, bao gồm phần đất từ Bình Thuận đến tận Cà Mau. Lần lượt sau đó, vào năm 1834, thời vua Minh Mạng, Gia Định Thành được đổi ra “Nam Kỳ lục tỉnh”, tức là”Gia, Biên, Vĩnh, Định, Giang, Hà”.
Theo lịch sử cận hiện đại, cụ thể giai đoạn quốc gia Việt Nam Cộng Hòa hình thành từ 1956, miền Nam được hiểu gồm từ miền Đông, tức Long Khánh trở vô miền Tây tận mũi Cà Mau.. Trước 1975, tỉnh giáp ranh cuối cùng miền Trung là Bình Tuy, và sau ngày 1975 có lúc được phân định lại, một phần nhập vào Đồng Nai, phần kia ghép vào tỉnh Thuận Hải, coi như vùng trái độn. Trước năm 1975, vì là thời chiến, miền Nam về phương diện quân sự, được chia ra 4 vùng chiến thuật, miền Nam gồm lảnh thổ thuộc vùng 3 và vùng 4. Mặt khác,về địa thế đất đai, nhìn chung miền Nam thuộc thế đất bình nguyên, hoàn toàn khác với miền Trung, nơi mà không kể các vùng biển duyên hải, là gồm cao nguyên với cái xương sống là dảy núi Trường Sơn chạy dài mãi tận giáp ranh vài tỉnh miền Đông. Nơi đây ta thấy rơi rớt những ngọn núi không cao lắm, nằm lẻ loi như núi Bà Đen tại Tây Ninh, Thất Sơn ở Châu Đốc và Châu Thới (Biên Hòa)...
Về lảnh thổ đất đai là thế, về từ ngữ “địa danh” xin được hiểu là tên của một nơi, một địa phương căn cứ vào yếu tố, dữ kiện nào đó. Thí dụ: Cà Mau là địa danh, vì nơi nầy là rừng tràm đước, với lá cây rơi rụng chất chồng khiến nước có màu đen, và theo tiếng của ngừơi Thủy Chân Lạp (Cam Bốt) gọi là”tưk –khmau” (nước đen). Riêng tên gọi “An Xuyên” (thời Việt Nam Cộng Hòa) hay Minh Hải (sau 1975) chỉ là ‘cái tên” được nhà cầm quyền đặt cho. Xem như thí dụ trên, ta thấy địa danh Cà Mau được hình thành bởi 2 sự kiện là “nước đen” và bắt nguồn từ ngôn ngữ người Miên. Căn cứ vào sự kiện vừa phân tích, chúng ta sẽ hiểu vì sao một địa danh dược hình thành và hầu như sẽ vĩnh viễn tồn tại, như Sài gòn đã còn mãi dù ngay sau ngày “tháng tư đen”người ta đã nhanh chóng đổi tên là "thành phố HCM".
Trong khuôn khổ loạt bài nầy, chúng tôi sẽ trình bày tóm lược về địa danh miền Nam, nhưng trước tiên xin sơ qua về cách đặt tên tại miền Bắc. Đây là vùng đất được hình thành từ hàng ngàn năm trước, là thời kỳ nước ta bị ảnh hưởng khá nhiều về văn hóa, ngôn ngữ của Trung Hoa, nên một số những đia danh là tiếng Hán Việt, hay trong lối đặt tên thường theo ngữ pháp tiếng Hán.. Vài thí dụ được nêu ra như: Thăng Long, Bạch Long Vỹ, Sơn Tây, Hà Nội. Hà Nội được hiểu là phía bên trong (nội) của con sông Hồng Hà. Một số dịa danh các nơi miền thượng du, giáp ranh Trung Hoa, nơi có nhiều sắc dân thiểu số, mang những tên như Lào Kai, Mường khương. . . Trở vô miền Trung, nhứt là vùng đất cố đô Huế, với núi Ngự, sông Hương. Thêm nữa, cũng có các địa danh bắt nguồn từ tiếng Chàm, vùng đất từ xứ Huế vào tận Phan Rang., thí dụ Phan Rang là do tiếng” Panduranga “ mà ra v.v. .
Trở vô miền Nam, như chúng ta được biết, trước đây vài trăm năm có ngừơi Thủy Chân Lạp (để phân biệt với Lục Chân Lạp, tức phần đất Cam Bốt và một phần Lào hiện nay). Sau đó, từ khi các nhóm như Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu. . là những viên quan nhà Minh không phục nhà Thanh, chạy sang xin với vua Việt Nam khai phá đất đai, cũng góp phần vào việc khai sinh các dịa danh. Tìm hiểu về địa danh miền Nam, chúng ta phải biết qua về lối sống, cách sinh hoạt của cư dân gồm Việt, Miên, Tàu ( mà lúc đầu đa phần là người Tiều)., chúng ta sẽ rất thích
thú hiểu ra vì sao xuất hiện nhiều tên lạ và ngồ ngộ, mà chắc chắn không tìm thấy nơi hai miền kia của đất nước. Xem như trên, ta đễ dàng hiểu ra vì sao, ngoài những địa danh từ tiếng Miên, còn một ít từ tiếng Trung Hoa nói chung và cả tiếng “Tây” nữa.
Thêm nữa, phát sinh từ tinh thần thoãi mái bình dị của người dân Nam phần, một số địa danh d0u7o75c khai sinh từ những căn cơ thật thông thường, dung dị đến không ngờ. . Dĩ nhiên, địa danh miền Nam thật nhiều, trong bài chỉ có thể đề cập những trường hợp đặc trưng. Trong nội dung trình bày, tài liệu góp nhặt chắc chắn không ít sai và thiếu sót hoặc giải thích hay dự đoán chưa mang tính thuyết phục. . . Trở lại vấn đề, ta thấy trước tiên, về ngừơi Cam Bốt (Khmer), họ thường có tập quán sống quần tụ trong một xóm, tiếng của họ gọi là”SÓC”, riêng người Việt mình gọi là xóm, tức một khu sinh sống của một nhóm người mà thường có những sinh hoạt, nghề nghiệp giống nhau.Về địa hình đất đai, miền Nam là bình nguyên, đất đai bằng phẵng và thường thấp, có những nơi úng hay ngập nước, nên nơi nào đất cuộn cao thành”GIỒNG” hay “GÒ” cao chắc chắn các ông đều thích chọn để cất nhà làm nơi cư trú. Ngược lại, là những địa thế thấp, bên đường nước chảy, thường nước tràn làm ngập quanh năm (ngập lênh láng?), nên khai sinh địa danh có chữ LÁNG đứng đầu. . Cũng có nơi vùng đất trủng hẳn xuống , có nước và cây cỏ mọc thường là đưng, lát, cỏ ống. . và là những nơi sinh sôi nẩy nở các loại cá tôm, rắn rùa. .mà người miền Nam gọi là “BƯNG”. Cũng tương tự như vậy, nhưng nếu là một vùng to rộng và thường nước sâu quanh năm thì gọi là “LUNG” . Một địa hình cũng na ná như lung , nhưng nhỏ và và thường chỉ có nước vào mùa mưa, đó là “BÀU”( các hình thái trên thường không nhiều và hầu hết chỉ xuất hiện nơi miền Tây “đồng chua nước mặn” mà thôi.. Cũng liên quan đến địa hình có nước, được gọi là “ĐẦM”, tức chỗ trủng quanh năm có nước, thường là chỗ tận cùng của con sông, phình ra và nước tụ lại, là nơi sinh sống của cá tôm. . Loại hình thái nầy đa số xuất hiện ở miền Trung (tỉnh Phú Yên củ).Riêng các vùng miền Đông, có các TRẢNG, là những nơi khá rộng và trống trải, không cây cối um tùm, cũng là nơi quần tụ của cư dân. Kế tiếp, nước ta nói chung và miền Nam nói riêng thật nhiều SÔNG, RẠCH, mà theo thống kê có khoản 3000 con sông có chiều dài từ 20 cây số. Để cụ thể hơn, con RẠCH là một sông nhỏ (nhưng cá biệt cũng có con rạch to) và như chúng ta biết”trăm dâu đổ đầu tằm, trăm sông chảy ra biển”. Miền Nam ngoài những con sông riêng rẻ, còn lại là hai hệ thống sông là: hệ thống Sông Đồng Nai và sông Cửu Long, tất cả đều chảy ra biển. Nơi tiếp giáp nước đổ ra biển là”CỬA SÔNG” . Tiếp theo, liên quan đến sông và không cần phải nói, muốn ngang qua sông rạch, người ta phải bắc CẦU... Thêm nữa, sông rạch tự nhiên cũng chưa đủ, nên vì nhu cầu giao thông hay quân sự, hoặc cần thóat nước trong vấn đề thiết kế đô thị.. . ,người ta lại đào những con KÊNH (KINH), thông thường những con kinh nầy khá thẳng và “chạy” qua những địa điểm do con người tính trước. Thêm nữa, nơi các con sông lớn như sông Tiền, sông Hậu, Đồng Nai. . thường do hiện tượng nước xoáy, lắng đọng những cụm đất, lâu ngày tích tụ, cây cối các loại lau lách mọc chằn chịt càng giúp phù sa tích tụ biến thành những CỒN hay CÙ LAO (lớn hơn cồn).