12 March 2020

Thưởng Thức Nhạc Cuối Tuần

Ca khúc Tóc Xưa
Nhạc: Ngô Thụy Miên Thơ Dương Văn Thiệt
Trình bầy: Ca sĩ Minh Châu.
                                                                                                                                                                  Riêng tặng bạn hiền HHSơn với nhiều cảm thông.

Ca khúc Tóc Xưa của Nhạc Sĩ  Ngô Thụy Miên  phổ nhạc bài thơ Tóc Xưa  của Dương Văn Thiệt. Bài thơ lấy cảm hứng  từ một chuyện tình tuyệt đẹp của một cặp đôi yêu nhau tử thủa đi học  cho tới khi bạc đầu và một tình bạn khắng khít thời còn học Trung học với nhau  ở Trường Nguyễn Trãi và Petrus Ký thập niên 70. Tất cả như một bức tranh đẹp về tình yêu, lòng chung thủy, nghĩa vợ chồng, sự chia cắt đầy nước mắt đan quyện cùng  tình bạn trong sáng tựa pha lê  làm nên ca khúc tuyệt vời như một dòng nước mát để lại  mãi mãi cho đời
                                                                                                                                      http://www.art2all.net/nhac/khekinhkha/tocthe.jpg

Nhưng có điều, khi thưởng thức ca khúc này, giới thưởng ngoạn rất ít người biết về tác giả bài thơ,  cũng như ngọn nguồn thai nghén ra tuyệt tác Tóc Xưa làm rung động lòng người. Lời thơ, mỗi câu, mỗi chữ như xé gan xé thịt lột tả tâm trạng đau đớn của người ở lại nhớ thương hiền thê ra đi vì bệnh ung thư.

Thật ra tác giả Dương Văn Thiệt không phải là thi sĩ, ông chỉ làm thơ tay ngang để tặng vợ là chị Thọ Chi. Trước năm 1975 ông là Bác sĩ còn chị  là Dược sĩ, làm việc ở Sà gòn.   Sau năm 1975, họ vượt biên và định cư tại Bolton Anh Quốc. Thời gian lâm bệnh,vợ ông bắt đầu rụng tóc và ông hằng ngày thu gom tóc để lại một ít làm kỷ niệm. Năm 2010,vợ ông mất, ông gom toàn bộ thơ tình ông làm tặng vợ và số tóc cất giữ cho vào áo quan  để người ra đi mang xuống tuyền đài. Sau đám tang ông giữ nguyên trạng căn phòng ngủ của hai người .để được sống tới cuối đời với những nỗi niềm như khi vợ ông còn sống bên ông.

Mãi ba năm sau trong khi dọn lại căn phòng ông bất chợt nhặt được sợi tóc của vợ còn kẹt trong gối. Đêm đó vì quá xót xa, không thể lột tả được nỗi buồn thương nhớ, ông đã sáng tác bài thơ Tóc Xưa mà trước đó ông mới chỉ sáng tác duy nhất bài thơ Nguyệt Lạnh trải lòng cùng người vợ quá cố.

Nhiều người cho rằng những bài thơ hay phải là những rung động đi thẳng từ tim ra mặt giấy mà không qua quá trình sàng lọc, chọn chữ, suy nghĩ. Bài thơ Tóc Xưa có lẽ vì vậy đạt tới nét tuyệt vời  nhất là hai câu kết

Tóc xưa giờ đã xa bay
Sợi buồn ở lại ngắn dài xót xa

Nghe bâng  khuâng như một tiếng thở dài xót xa hơn cả chuyện tình Romeo và Juliette vì chuyện tình này chỉ là sản phẩm tưởng tượng của Shakepear chứ không có thật.  Bài thơ hay và xúc động đến nỗi ngay năm đó, được sự đồng ý của tác giả, Bs N. M. Tiến  và  Bs L.V.Thu, đã cho đăng trên số báo xuân và gửi cho Nhạc Sĩ  Ngô Thụy Miên phổ nhạc vì họ cùng là bạn học của nhau ở Petrus Ký.

Tôi cũng  cảm nhận như nhiều người: quá khứ là một phần của cuộc sống vì quá khứ làm nền tảng cho hiện tại  và tương lai nên hình như ở tuổi 60-70, người ta thường hay nhắc đến, hoặc dùng chữ “Xưa” như mắt xưa, áo xưa, dáng xưa, người xưa,… để kể lại một câu chuyện, để nhắc lại một ngày tháng nào với nhiều hoài niệm? Có phải “Xưa” đó luôn là những kỷ niệm đẹp không hề phai tàn qua năm tháng, là những nỗi nhớ nhung chẳng hề quên lãng qua bao thăng trầm, đổi thay của cuộc sống? Có lẽ trong trái tim của tất cả chúng ta, “Xưa” cũng chính là nỗi mất mát, niềm tuyệt vọng nào đó đã thoáng qua nhưng mãi ở lại vĩnh viễn trong ký ức sâu thẳm nhất của đời mình”.

Ca khúc này đã được các ca sĩ Bằng Kiều, Thục Đoan, Bích Vân, Keith Đỗ v.v hát nhưng tôi vẫn thích giọng ca nhừa nhựa  phảng phất chút trầm buồn giọng ca Khánh Ly của ca sĩ Minh Châu thể hiện. Đó là lý do tôi chon Tóc Xưa  làm chủ đề cho chương trình Thường thức nhạc cuối tuần này để tặng cho chính mình, tặng cho em trai vì chúng tôi đều có hoan cảnh như Thi/Bác sĩ Dương Văn Thiệt.

San Jose 6-3-2020

TeHong



Chơi và đồ chơi

Phạm đức Thân

Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

Đầu năm dân VN ăn chơi cả tháng, thiết tưởng cũng là dịp để bàn về chuyện ăn chơi. Đề tài quá rộng lớn, bài này xin thu hẹp chỉ đề cập đến chuyện “chơi” trong ngôn ngữ.

Dĩ nhiên muốn chơi, phải có “đồ chơi”, cho nên cũng có đề cập đến “đồ chơi” nữa.

Theo B.L. Whorf cơ cấu ngôn ngữ của một dân tộc quy định kiểu dân tộc đó nhìn thực tại như thế nào. Ngôn ngữ chỉ là âm thanh hay dấu hiệu quy ước tùy tiện với ý nghĩa biểu thị tương ứng, tự bản thân chúng không có sạch bẩn. Nhưng do tập quán văn hóa xã hội của cộng đồng sử dụng, đã tạo nên những liên tưởng nơi người nghe, chúng mặc nhiên mang ý nghĩa hàm chỉ thái độ, tình cảm của người nói. Bởi thế mới có phân biệt lối nói hoặc từ ngữ “sạch – bẩn, thanh – tục”.

Người viết dẫn vào bài bằng lối nói thanh vì nếu không, sợ sẽ gây phản ứng ban đầu bất lợi, chứ thật ra nội dung chủ yếu của bài bàn về cái tục của ngôn ngữ, vì đó mới là điều lý thú. Còn nếu bàn về dâm tình một cách khách quan chính xác như y khoa và hàn lâm, dùng toàn những từ Hán văn hoặc Latin, không có khoác lác hoặc than phiền về kinh nghiệm cá nhân, nhận xét về vẻ hấp dẫn của ai đó, cũng như tức giận chửi thề… thì thật là tẻ nhạt, chẳng đáng bàn. Ví dụ: nếu “mềm nhũn, bất lực” cho thấy cả bầu trời u ám, buồn rầu, lo lắng của chủ nhân, thì “rối loạn chức năng cương cứng” chả gây được một cảm nhận nào. Tương tự “l.” gây bao ao ước, thèm muốn, còn “âm hộ” nghe bình thản làm sao.

Mặt khác, thích nghĩ tục, nói tục, nghe tục là bản tính cố hữu của con người. Như George Moore (1888) đã chỉ ra: “A taste of dirty stories may be said to be inherent in the human animal.” Vậy thì “chơi” và “đồ chơi” ở đây có nghĩa là “chuyện ấy” và “cái ấy.”

Thật vậy, từ khi con người biết nói và viết thì liền đã có nói và viết tục rồi. Các chữ cổ và hình (cái giống nam nữ, và cả giao hoan nữa) khắc trên vách hang động cho thấy từ thuở xa xưa đã có dâm tục. Đây là một hiện thực xã hội. Kịch thơ Hy La không thiếu những đoạn công khai nói về dâm tình, với mục đích giải trí hoặc kích thích, trong các tác phẩm của Aristophanes, Horace, Ovid…. Tường nhà chứa ở Pompei khắc hoặc phù điêu đầy những cảnh giao hoan. Những tượng thần Priapus ở Hy Lạp tồng ngồng hết sức tục tĩu. Đông Phương cũng không thua kém với Kinh Thi, Nghìn Lẻ Một Đêm, Kamasutra (Dục Lạc Kinh), các tượng dương vật bằng gỗ đá tại các nước Đông Nam Á … Anh có thơ của Chaucer, Dunbar… Pháp có farce (hài kịch) thế kỷ XIV….Ý có mỹ thuật và thi ca Florence thời Phục Hưng…. VN có ca dao tục ngữ…Đâu đâu cũng thấy tình dục là một chủ đề rất phổ biến trong kịch, thơ, ca hát, mỹ thuật….Và cứ thế phát triển bành trướng tới hiện đại với các phương tiện truyền thông đa dạng (in ấn, audio, video, internet…)

Mặc dù từ đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện thuyết tiến hóa Darwin về nguồn gốc con người là khỉ, nhưng do ảnh hưởng của tôn giáo và văn hóa nhiều thế kỷ trước, thiên hạ vẫn bám víu vào quá khứ, sợ sự thật cuộc sống trước mắt, tránh nói trực tiếp đến các hoạt động sinh lý cơ bản (ỉa, đái, làm tình…) cũng như các cơ quan liên hệ, vì chúng nhắc nhở con người cũng chỉ là một loài động vật, không phải thần thánh. Thành thử con người đã tìm cách nói quanh co, không thành thật để diễn tả cáí giống, các hoạt động làm tình, bài tiết. Nói dối là điều không thể thiếu được để cho cuộc sống dễ chịu hơn.

Người ta đã tránh nói tục bằng nhiều cách:

– nói trại đi: đíu, đếch, ị, ể, kít, lìn, bòi, dế, tè…
– dùng ngoại ngữ: âm hộ, dương vật, giao hợp, sít-nớp, síc-nai, nô-he…
– viết tắt: C, L, con xê, cái lờ, ĐM ….
– nói trừu tượng hoặc phiếm định: nó, ấy, cái ấy, chuyện ấy…
– nói lái: nắng cực, đá bèo, lộn lèo…
– dùng uyển ngữ: vưu vật, mây mưa, trăng hoa…
– nói gián tiếp, bóng gió, xa gần: chỗ kín, của quý, chăn gối…
– nói giảm thiểu, tỉnh lược: lỗ, cọc, ngủ, biết, có gì, ăn nằm, làm bạn…
– nói dài dòng (tránh 1 âm tiết, đặc tình của từ tục): thám hiểm Ngọc Long Cung…
– dùng điển cố: cõi Bồng Lai, Cực Lạc, Thiên Thai, đỉnh Vu Sơn..

Thật ra mấy cách chót nói trên trộn lẫn với nhau rất khó phân biệt rạch ròi; và cũng còn rất nhiều cách tương tự không thể kể hết, vì trí tưởng tượng của dân gian thì phong phú vô cùng. Ví dụ: bướm, lá, hoa, nghêu, sò, trai, hến, chim, cò, kiếm, dựng cột buồm, may tay, may máy, vầy duyên loan phụng, vác cầy qua núi, kim kê áp noãn… Tùy theo muốn diễn tả thi vị, hài hước, hay thông tục người ta có thể ví von, so sánh, lửng lơ, úp mở… đủ cách, đủ kiểu… Việt ngữ chưa ai thống kê, nhưng English có trung bình vài trăm cách nói thay cho mỗi chữ cock, cunt, fuck.

Tuy nhiên, những từ cấm kỵ có một hấp lực đặc biệt, đó là tính sơ khai. Chúng ít bị ảnh hưởng của tiến hóa, giữ được nhiều sức mạnh nguyên thủy. Chúng nhiều tính biểu thị cụ thể, rất ít tính trừu tượng của ngôn ngữ. Chúng tự hiện diện như là phỏng tạo của hành động hơn là lối nói của ngôn ngữ. Chúng rất sát với những thôi thúc, thèm khát là bản năng cội nguồn của con người. Thảo nào người ta thích nói tục, nghe tục, chửi tục, đố tục, đối tục…nhận thấy trong ca dao, tục ngữ, tiếu lâm tục, thơ văn của văn nhân.

Mảng nói tục lớn nhất là ca dao tục ngữ dân gian, vì không có tên tác giả, nên ai cũng có thể tùy hứng, tùy khả năng, phóng tâm đóng góp mà không sợ bị nhận diện.

Tha hồ khêu gợi, kích thích, tạo hình ảnh sống động để quyến rũ, gây cho người đối thoại có cùng một hứng thú như mình. Kiểu thơ Bút Tre (ngắt chữ câu thơ trên đem xuống câu dưới để bién đổi nghĩa) là một đóng góp hiện đại vào kho tàng văn học dân gian.
Mấy em mặc váy đánh cầuLông, bay phất phới trên đầu các anh.
Hình thức tổ chức xã hội mọi thời, mọi nơi thường được điều hành qua kiểm soát tình dục cho nên tính dục là đề tài nổi bật, và ngôn ngữ tục rất phổ biến, vì có thể dùng để phản kháng xã hội, giai cấp thống trị, chống lại các giá trị, và có khi còn để lăng nhục, nguyền rủa qua chửi thề tục tĩu (thường dùng bộ phận cơ thể hoặc súc vật để ví von). Vd. thằng c. luộc, thằng mặt l., thằng bú c., thằng ăn cứt, con mặt mo, con đĩ ngựa…mà English thường có tương đương; thằng chó đẻ (son of bitch) đồ con hoang (bastard) đồ chó cái (bitch), prick, cunt, asshole…

Có nhà tâm lý cho rằng nói tục là thủ dâm bằng lời. Những tưởng tượng phóng túng về dâm tình thuở thiếu thời bị dồn nén, nay trưởng thành , có thể được giải tỏa, bộc lộ qua nói tục. Người khác coi nói tục là mặt nạ của sợ hãi trong tiềm thức. Do phức tạp của tâm lý con người, nói tục mà không biết rằng chính là để che dấu một hãi sợ nào đấy, và cứ tưởng là được tự do ăn nói, trả thù xã hội thượng lưu. Nói tục cho phép giải tỏa tâm lý những giận dữ, thất vọng, dục vọng, phản kháng, lo âu….được dùng để tự vệ, phê bình, phản kháng, tấn công, trừng phạt cũng như kích thích, quyến rũ…

Nói tục là cấm kỵ, là đại tác phẩm của vô danh, cho nên trước đây không được ghi chép, mà thường là truyền khẩu. Ngày nay do nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu, nhất là với phương tiện internet phổ biến, đã có những sưu tầm nhất định. Đáng kể là Mạc Thực Thái Doãn Chất, trong bài online “Cái Ây và Chuyện Ấy trong Ca Dao Tục Ngữ” đã thu thập khá nhiều, đủ dùng làm ví dụ dẫn chứng cho phần về ca dao tục ngữ của bài này; cho nên người viết đã không đưa thêm những ví dụ mình sưu tầm được. Đã hẳn tựa bài cho thấy ông chú trọng đến ca dao tục ngữ, và hầu như không đề cập thơ văn tục của văn thi sĩ

Thật ra văn thi sĩ cũng có làm văn thơ tục, nhưng số này rất ít, vì chắc là ngại dị nghị của xã hội, không được tự do như tác giả vô danh của ca dao tục ngữ. Trừ Hồ Xuân Hương có một số bài thơ tục và câu đối, còn là chỉ thấy lưu lại rất ít thơ văn tục của các vị khác (ví dụ: Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Nghè Tân, Phan Bội Châu, Tú Mỡ, Bùi Giáng…). mà phần lớn là câu đối và nói lái. Với họ nhiều phần đây là một kiểu chơi chữ phục vụ một mục đích xã hội. Đây có thể là dịp bộc lộ những động lực bị dồn nén, những nhu cầu bản năng thầm kín. Đồng thời muốn thử xem phản ứng của xã hội hoặc người đối thoại; cũng như khẳng định mặt bản năng nguyên sơ của cuộc sống, chống lại sức mạnh cấm đoán của chung quanh. Có thể coi đây là một trò chơi của thượng lưu ưu tú sành điệu. Dưới đây là vài vd tiêu biểu ít người biết.

SƯ: Thông ba sáu bộ chân kinh, dẫu chẳng La Hán Kim Cương, cũng cao tăng đắc đạo.

HXH: Dù hay ba vạn chín nghìn, không biết méo tròn ngang dọc, thì cũng đếch ra người.

HXH: Khi khép tối om om, quân tử tò mò nhìn chẳng thấy.
           Lúc mở ra toang hoác, anh hùng tấp tểnh đứng coi

Nguyễn Đôn Dư vịnh Cái Bật Lửa:
Lẹt đẹt hồi lâu lửa chẳng raNgán thay cái quẹt của ông giàCon cò chắc đã mòn khu ốcViên đá e khi hỏng ruột gàĐè xuống kéo lên thêm hỏng trụcBấm qua bóp lại muốn trầy daDầu đà xì bậy tim đà ướtToan vất nhưng mà có kẻ la
Bài thơ dưới người viết được nghe đọc nhưng không rõ tác giả:
Không tai không mắt lại có đầu
Chui vào hang thẳm lún rất sâu
Bịt một cái khăn không mặc áo
Mang hai cái đãi, có chòm râu
Khi vui ngúc ngoắc làm ra vẻ
Lúc mệt ủ ê giống đứa sầu
Uống rượu ở đâu mà chẳng biết
Vừa ra khỏi cửa mửa như trâu.
Phan Minh Phụng vịnh Tờ Báo… Hại” (có nhiều nói lái)
Chỉ đáng vò đi để độn lòCâu đây móc đó đọc buồn soPhao đi đồn lại nhiều tin quấyVùi lộn chôn lầm lắm hạm toBịa cảnh canh khuya cô tú đợiBầy trò đêm tối lính đồn loHãy xem đạo Dụ ghi điều luậtĐồn lại tin sai phạt mấy bò
Người viết cũng có bài nói lái “Tìm Đạo Tu”
Lại đồn cụ Bắc có cốt tuChán cảnh mây mù ảm đạm thuThiên hạ chẳng thương nhau mà sốngChiến tranh chi để đạn bay mùẦm ầm đánh thức con công ngủNgã lộn phèo dưới ánh điện luKhắp chốn cảnh ruồi bu kiến đậuKhông còn chỗ đứng, tìm đạo tu.
Nhân đây xin bàn rộng sang liên hệ giữa tính dục và ngôn ngữ, vì giữa chúng thường có liên tưởng. Người ta thích nói tục, nghe tục có lẽ do cái lưỡi cái tai hình như cho nhiều khoái cảm, nhiều liên tưởng đến cái ấy, chuyện ấy.

Cái tai tượng trưng cho giống cái. Ngoáy tai cho nhiều khoái cảm, và phụ nữ dễ bị quyến rũ bởi lời đường mật. Xưa ở Ai cập, phụ nữ ngoại tình bị hình phạt cắt tai và ở VN cô dâu bị phát hiện mất trinh trước khi về nhà chồng sẽ bị bêu xấu bằng con lợn quay bị cắt tai. Tục lệ khác là đến tuổi lấy chồng con gái được xỏ dái tai để đeo bông tai, là chỉ dấu sẵn sàng làm vợ. Huyền thoại các nước đều có chuyện những đấng tôn giáo, dị nhân thường sinh ra từ lỗ tai (Phật, Gargantua…). Cổ văn Latin ghi rõ “Virgo Maria, Mater Christi, quae per aurum concepisti”, Maria, mẹ Ky-tô thụ thai qua tai, cho nên được gọi là Đức Mẹ Đồng Trinh. Một truyện dân gian Jugoslav có tựa là “Usi meggu nogama” (Tai Giữa Cẳng Chân) cũng là ám chỉ cái ấy.

Cái tai cũng liên hệ với nói lái, vì nói lái, nghe lái thú hơn viết lái, đọc lái. Nói lái chủ yếu về tai nghe, viết lái nhiều khi làm lái mất tác dụng vì đọc lái bằng mắt có khi không nhìn ra lái. Nhiều người không nhận ra điều này, thành thử giải thích câu thơ HXH “Trái gió cho nên phải lộn lèo” chỉ nói lái “lộn lèo” mà bỏ qua “trái gió”. Chữ này nói lái lên nghe thành “d[gi]ái chó” rất hợp với “lẹo l.”. Tương tự, đọc bằng mắt bài thơ sau, lái giảm tác dụng; nhưng nếu nghe bằng tai, “tr” dễ trở thành “ch”, tác dụng khác hẳn.
Cô kia sao cứ trông Trời (-chơi chồng)Để tôi xin nguyện làm Trời cô trông (-làm chồng cô chơi)Trông Trời sướng lắm phải khôngTrời mà trông lại còn mong nỗi gì (-chồng mà chơi lại)
Cho nên người ta bảo “nói lái, nghe lái”, chứ không bảo “viết lái, đọc lái.” Trường hợp sau dùng cho việc ghi lại, sưu tầm, nghiên cứu. Nói lái là một đặc điểm ưu việt của Việt ngữ, được dùng nhiều, nhất là trường hợp muốn che dấu cái tục. Anh Pháp cũng có nói lái nhưng chỉ có thể sử dụng hạn chế.

Ví dụ nói lái Pháp (contrepèterie):

– très chaud (nóng quá) - trop cher (đắt quá)
– ne pas connaitre d’orgie sous un tel marasme (trầm cảm như vậy, không thiết truy hoan)
ne pas connaitre d’orgasme sous un tel mari (chồng như vậy, không thấy cực khoái)

Ví dụ nói lái Anh (spoonerism):

– Go and take a shower (đi tắm vòi sen)
Go and shake a tower (đi rung cái tháp)
– I must send the mail (tôi phải gửi thư)
I must mend the sail (tôi phải vá buồm)

Thơ Bút Tre cũng đòi hỏi phải nghe. Nếu nhìn đọc đúng chính tả, với dấu phẩy đúng chỗ, thì không còn thấy nghĩa đã biến thái thế nào. Độc giả nhìn bài thơ sau, đọc bằng mắt đúng chính tả sẽ thấy không còn là thơ BT nữa.
Anh đi công tác Pờ-Lây-Cu, dài dằng dặc biết ngày nào raCòn em em vẫn ở nhàCửa, mình em mở kẻ ra người vào.
Cái lưỡi còn cho nhiều khoái cảm hơn tai, có nhiệm vụ nói và cung cấp khoái khẩu khi ăn. Lưỡi tượng trưng cái giống đực, ngoáy vào tai biểu thị động thái giao hoan hết sức gợi cảm, hoặc là rót váo tai lời ngon ngọt để quyến rũ, hoặc là thuyết khách như Tô Tần Trương Nghi ngày xưa làm tới Tể Tướng. Thật đúng với câu “Có lưỡi là có tất cả”, nhất là đôi với các lão niên yamaham vẫn còn thích nguyệt hoa cho dù thằng con đã yếu.

Có nhà ngữ học còn cảm giác như lưỡi là cơ quan thích hợp để nói chuyện dâm tình, vì âm vòm lưỡi “l” mềm trơn dễ uốn nắn, có mặt trong hầu hết những từ (liên hệ xa gần đến dâm tình) của nhiều nước trên thế giới. Xin chỉ liệt kê từ của vài nước quen thuộc; lewd, lustful, lascivious, lecherous, lickerish, libidinous, voluptuous, fellatio, cunnilinctus (Anh), leicho (Hy Lạp), lecken (Đức), lingere (Latin), lécher (Pháp), leccare (Ý), lamer (Tây Ban Nha), lizat (Nga)…VN đóng góp không nhỏ về điểm này: l., (lấp) liếm (láp), luồn lách, lẹo (tẹo), lép nhép, lả lơi, lạch, lai láng, lạc thú, lụi, lọi, lèn, lang chạ, lênh láng, lông lá, lông l., lau lách, lắc lư, lặn ngụp, lăng loàn, lăng nhăng, lăn lộn, lấp, lắp (ghép), lấp ló, lặn lội, lầy nhầy, len lỏi, lèo lái, lên, lông lốc, lụi khoan….toàn từ dễ liên tưởng tới cái ấy, chuyện ấy.

Lê văn Siêu từ lâu đã chỉ ra rằng Trung Hoa có chữ tượng hình dùng hình ảnh để minh họa ý, nhưng VN có tiếng tượng hình dùng âm thanh để diễn tả ý. Ông liệt kê những ý tương ứng với các âm Í, U, Ơ, Ị, Ọ, ẤP, ẬP, ÓT, ÚT, ONG, OĂN, OAY, OM, ÓP, UỐT, UA. Vd âm Í chỉ cái gì nhỏ nhít, như ti hí, bé tí, chuột chí… Không thấy ông nói gì đến âm ÍT, ỊT. Theo người viết hai âm này chỉ cái gì tắc tị, bịt kín. Ví dụ: khin khít, tắc tịt, bịt, đen kịt, khìn khịt. Các phụ âm Đ, C, K, T toàn là những phụ âm tắc, sắc gọn, đanh, chắc nặng, đòi hỏi một sự bung ra, tạo nên các từ CẶC, COCK, CUNT nghe thật mạnh mẽ. Đ kết hợp với âm ỊT tạo nên từ Đ.T diễn tả sống động động tác làm tình, với liên tưởng chỗ bịt bị xịt để bung ra giải tỏa căng thặng. Các từ fuck (Anh) foutre (Pháp) không thể nào tạo được một âm hình tuyệt vời như thế. Mặt khác, có lẽ người miền Nam hiền hòa hơn, nên ĐỤ, ĐÙ thiếu hẳn sức mạnh của Đ.T ở miền Bắc.

Ngôn ngữ cũng có mầu sắc phái tính, thường được đặt ra bởi phái nam áp đảo phái nữ suốt chiều dài lịch sử . Cho nên các từ về tình dục phản ánh cái áp đảo này. Với âm đ đanh sắc, các từ đ., đéo, đụ, đánh, để, đục, đẽo, đâm, đút, đè, đụng, đồ, đì… cộng thêm các từ (hãm) hiếp, phá trinh, xỏ, xiên, thọc, thụt, bề, chơi, làm, xơi tái… cho thấy vai trò chủ động của phái nam trong chuyện ấy. Nữ luôn luôn bị thiệt thòi, trong thế thụ động: mất trinh, thất thân, tiêu đời, bị này bị nọ…

Nói tục đôi khi không cưỡng lại được. Đó là do bệnh hội chứng (Gilles de la) Tourette. Bệnh nhân bị co giật, nói tục, chửi thề. Nguyên nhân hiện chưa xác định. Có thể do gien di truyền. Có thể do một hóa chất nào trong não tác đông. Có thể một hệ thống thần kinh kiềm hãm các nói tục bị xáo trôn khiến các tục tĩu này bung ra, không thể kiềm chế. Hiện chưa có trị liệu nào bảo đảm hiệu quả. Nhưng cũng may là bệnh phát từng cơn không phải liên tục suốt ngày.

Trên đây là những nhận xét chủ yếu về nói tục, mặc dù cũng có điểm qua vài bài thơ tục. VN chưa được giải phòng về tình dục như các nước Âu Mỹ, cho nên viết tục còn rất hạn chế, chỉ có lác đác một số ít thơ và câu đối, không có lấy một mảng dâm thư đúng nghĩa dù nhỏ nhoi, mặc dù trên net nhan nhản các đoản văn tục tĩu của các netter tài tử. Tình trạng này khiến chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ về ngôn ngữ tục VN, cũng như từ điển chuyên ngành ngôn ngữ tục. Người viết phải tham khảo ngoại văn để tìm hiểu kết quả nghiên cứu của họ.

Theo các nhà nhân chủng và tâm lý, hiện tượng nói tục, viết tục là phổ biến trên thế giới. Luôn luôn có người muốn văng tục để giải tỏa tâm lý, viết tục để kích thích, khêu gợi tình dục, vì tình dục không thể thiếu trong đời sống. Tuy nhiên cần hạn chế, không thể đi quá trớn, sẽ gây phản cảm, cọ xát, thiếu lịch sự trong xã hội. Mặc dù tình dục được giải phóng nhưng các từ tục tĩu vẫn có những mức độ chấp nhận khác nhau. Những từ cấm kỵ như cock, cunt, fuck, shit, ass… vẫn chưa được dùng thoải mái.

Thiết tưởng chỉ cần thay những English trên bằng c., l., đ., cứt… ta có thể áp dụng kinh nghiệm của họ vào xã hội VN thì cũng chẳng sai!

Phạm đức Thân
Nguồn: Tác giả gửi

06 March 2020

CÁI KHÔN, cười tí tỉnh,

Trong lúc đợi xe buýt, một ông Bác học tài giỏi nói với người nông dân cũng đang đợi xe rằng:
- Trong khi đợi xe chúng ta chơi trò đố nhau đi để giết thời giờ. Tôi học cao, bác là nông dân vậy tôi ăn bác một đồng thì bác ăn tôi 10 đồng nhé!

Bác nông dân suy nghĩ rồi gật đầu đồng ý. Ông Bác học đố trước:
- Tại sao bánh xe người ta làm tròn mà không làm vuông?

Người nông dân suy nghĩ một lúc, không được bèn lấy một đồng trả cho ông Bác học.
Ông Bác học hỏi tiếp:
- Tại sao chiếc tàu to lớn lại nổi được trên mặt nước?

Người nông dân chẳng hiểu gì cả và đành móc túi ra trả ông Bác học một đồng nữa.
Ông Bác học khoái chí đố tiếp:
- Vậy chớ nhờ gì mà máy bay bay được trên trời không bị rớt?

Người nông dân nghĩ "Phải chi ông đố lúa phân thì dễ, mấy cái này chẳng hiểu gì cả!" và đành lấy đồng bạc thứ ba trả cho ông Bác học và nói:
- Tới phiên tôi đố ông nhé! Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân khi chiều thì bò xuống lại có tới chín chân?

Ông Bác học suy nghĩ dữ dội lục cả bộ óc vĩ đại đã chứa biết bao nhiêu sự kiện về động vật cũng chẳng có con nào như thế và sau một hồi lâu đành móc 10 đồng trả người nông dân và hỏi:
- Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân, chiều xuống núi lại có tới chín chân?

Người nông dân không trả lời mà chỉ lẳng lặng móc một đồng trả cho ông Bác học rồi nói:
- Tôi không biết!!!

(Lụm trên Internet)

05 March 2020

LẶNG LẼ RA ĐI

(Nhân dịp Lễ Truy Niệm Hòa thượng Quảng Độ.)

Hôm nay Thứ Bảy, 29-2-2020.  Một ngày đặc biệt.  Bốn năm dương lịch mới có một lần nhuận.  Với tôi, hôm nay, cũng là một ngày đặc biệt.  Tôi được môt người bạn trẻ, đưa đến chùa Liên Hoa, Houston, dự lễ truy điệu hòa thượng Quảng Độ. 

Người bạn trẻ nói rất đơn giản.  Một người 45 năm can trường, liên tục tranh đấu bất bạo độmg.  Chịu đựng tù đày, gian khổ. Vì tự do tôn giáo.  Dân chủ nhân quyền.  Cho đất nước.  Cho toàn dân.  Một người khí phách.  Đầy đủ bi, trí, dũng.  Hãy đến vinh danh Thầy.  Bạn trẻ nói ngắn gọn. Với tôi, thật chí lý.

Sau năm 1982, những buổi sáng Chủ nhật, tôi chở Mẹ tôi đến Thanh Minh Thiền Viện để nghe Thầy giảng.  Tôi được nghe theo.  Chúng nó lấp ló quanh đây.  Thầy vẫn tự tin, khoan thai, bình thản, từ tốn, nhẹ nhàng, vui tươi, hiền hậu.  Hình ảnh còn đậm nét trong trí nhớ.

Rồi Thầy bị bắt giam lần nữa. Vẫn bền gan vững chí.  Vẫn lặng lẽ bất khuất.  Không sợ hãi.  Không khuất phục.  Không than van.  Sau nhà tù nhỏ, đến nhà tù lớn.  Thầy bị quản thúc.  Cô lập suốt đời.  Không được liên lạc với ai.  Ở giữa Sài Gòn đông đúc.  Một mình.  Như Phan Châu Trinh.  Một mình ngoài Côn Lôn.  Số phận hai nhà tranh đấu bất bạo động của hai chế độ khá giống nhau.  Can trường như nhau.  Pháp chẳng làm gì Phan Châu Trinh.  Nhưng không cho Phan Châu Trinh làm gì.  Chúng cũng chẳng làm gì Thầy.  Nhưng không cho Thầy làm gì.  Phan Châu Trinh ra nước ngoài đòi hỏi dân quyền.  Thầy ở lại trong nước tranh đấu dân chủ.  Lịch sử Việt Nam sẽ ghi nhận.  Chiến sĩ bất bạo động thứ hai sau Phan Châu Trinh là Thích Quảng Độ.

Đứng đầu sóng ngọn gió.  Thầy nhứt định không đưa Giáo hội vào tay quốc doanh.  Ông Gandhi sống với người Anh văn minh.  Đối xử theo pháp luật.  Nếu ông Gandhi ở với chúng.  Lũ côn đồ gian ác.  Không biết ông Gandhi có đủ sức chịu đựng như Thầy hay không?

Chỉ tới cuối cùng.  Khi đã đi hết một vòng.  Sinh, lão, bệnh, tử.  Thầy dừng lại.  Nhiều người thương tiếc. Tương lai sẽ ra sao. Quỷ sứ thì mửng. Nhưng chúng vẫn sợ. Phá rối tang lễ.

Nhìn hình Thầy đi vào thiên thu.  Thầy vẫn bình thản.  Vẫn an nhiên.  Khi chết cũng như khi sống.  Bỗng nhiên tôi nhớ đến 4 câu thơ của Alfred de Vigny, xin tạm ghi lại ý nghĩa:
“Rên rỉ, khóc than, cầu xin đều là hèn nhát . Hãy thi hành một cách cương nghị nhiệm vụ lâu dài và nặng nề của bạn. Trên con đường mà Số phận đã đưa đẩy bạn đi. Rồi sau đó, như tôi đây, đau đớn và chết không nói năng chi.”  
Nguyên văn:  
“Gémir, pleurer, prier est également lâche 
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le Sort a voulu t'appeler.
Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler.”
Vâng, Thầy không rên rỉ, chẳng than van.  Tranh đấu đến sức cùng lực kiệt.  Rồi lặng lẽ ra đi.  Trở về cõi Phật.  Không nói năng chi.  Hậu sự đơn giản.  Theo đức người xưa ...

Kính vĩnh biệt Thầy.  Vị anh hùng bất bạo động.

Trần Gia Phụng
(Houston - Texas)

03 March 2020

Trung Cộng - Từ Rất Lâu Tôi Đã Biết

Lê Phú Khải

Sau hoà bình 1954, hiệu trưởng trường Hoa văn Việt Bắc Lê Phú Hào (chú ruột của tôi) được cử sang Bắc Kinh làm phóng viên thường trú cho Việt Nam Thông tấn xã. Ông Hào đã học Hoa văn qua tiếng Anh từ một giáo sĩ Trung Quốc không biết tiếng Việt.

Biết 4 ngoại ngữ thành thạo (Pháp, Anh, Hoa, Tây Ban Nha), dưới vỏ bọc “phóng viên thường trú”, ông là một điệp viên chiến lược của Việt Nam tại Trung Quốc. Trong hồi ký Đèn Cù của Trần Đĩnh viết: “Phóng viên Việt Nam Thông tấn xã kiêm tình báo Lê Phú Hào đi tham quan đồng lúa kiêm “sân chơi trẻ con”…” [Đèn Cù, trang 140, NXB Người Việt Books 2014].

Ảnh: Lê Phú Hào (người thứ hai từ trái sang) và cố vấn Lê Đức Thọ (đứng giữa) tại Hội đàm Paris 1973. (Ảnh tư liệu)

Hằng năm, mỗi lần về nước báo cáo công tác, ông thường rủ tôi đi chơi, khi thì đi Hồ Tây ăn bánh tôm, bơi thuyền trên hồ, khi thì đi Bắc Ninh mua tranh dân gian Đông Hồ để mang sang Bắc Kinh làm quà cho bạn bè quốc tế. Cứ mỗi lần đi chơi như thế, ông thường kể cho tôi những chuyện về Trung Quốc cộng sản. Vì thế, tôi là một trong những người Việt Nam biết rất sớm về bộ mặt thật của cộng sản Trung Quốc từ lúc “tình hữu nghị Việt – Trung” còn nồng ấm, từ lúc bình minh của hai chế độ cộng sản!

Ông kể, Trung Quốc mời các nhà báo phương Tây ở Bắc Kinh đi thăm một cánh đồng lúa bội thu. Lúa tốt đến mức trẻ con chạy nhảy trên ngọn lúa mà không bị lún! Các phóng viên quốc tế đứng trên bờ chụp ảnh lia lịa. Ông vén quần lội xuống ruộng, thì lập tức nhân viên an ninh mặc thường phục ngăn lại. Tưởng ông là nhà báo Trung Quốc, vì nói tiếng Hoa rất thạo, họ bảo: Ấy, đồng chí đừng lội xuống ruộng, đây là cảnh dàn dựng, ở dưới ấy có lót ván gỗ để trẻ con nô đùa trên… ngọn lúa, để đánh lừa bọn nhà báo quốc tế!

… Ông kể, Trung Quốc phát động một phong trào trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng “để khuyến khích văn nghệ sĩ trí thức phát biểu những suy nghĩ thực của mình, góp phần phê phán, xây dựng đường lối lãnh đạo của đảng”. Thế là “trăm nhà đua tiếng”!

Nhưng đó là cái bẫy của Mao Trạch Đông! Sau đó là một chiến dịch đàn áp các văn nghệ sĩ trí thức dám “trăm hoa đua nở”!

… Ông kể, thấy chú ở Bắc Kinh đã lâu mà không thấy có vợ, cũng không thấy có bồ bịch trai gái gì, chỉ lo làm việc, thế là bọn nhà báo phương Tây lánh xa, không đứa nào dám chơi với chú nữa! Chúng nó bảo nhau: Thằng Việt Nam này là giống dã man, không phải giống người, không thể gần nó được!!! Chú báo cáo về nhà! Thế là ở nhà tức tốc cho vợ con sang ngay! Thím cháu là người Chiêm Hoá, Tuyên Quang, ít tiếp xúc với ai, nên đưa đi dạ tiệc, Tây đến bắt tay, bà ấy không bắt! Chú dặn, hễ ai bắt tay thì phải vui vẻ bắt tay người ta. Một lần Quốc khánh Trung Quốc, nước chủ nhà thết tiệc khách quốc tế ở Bắc Kinh, bà ấy “sửa sai” bằng cách đi bắt tay mọi người. Nhìn đi nhìn lại không thấy vợ mình đâu, hoá ra bà ấy lên tận bàn trên cùng, đang bắt tay… Mao chủ tịch! Chú hoảng quá, suýt ngất xỉu!

Ông kể, Đảng cộng sản Trung Quốc thâm độc và đểu lắm! Nghị quyết của Quân uỷ trung ương Trung Quốc ghi rõ: “Phải duy trì một nước Việt Nam không mạnh, không yếu, đủ để làm phên dậu cho Trung Quốc”. Như vậy là tất cả những gì Trung Quốc “giúp đỡ” Việt Nam chỉ là để Việt Nam làm phên dậu cho Trung Quốc, để Mỹ không thể áp sát Trung Quốc từ phía Nam. Vậy mà sau này, nhiều người Việt Nam không đủ thông tin lại cho rằng, Việt Nam mắc nợ sự “giúp đỡ” của Trung Quốc trong nhiều năm chống Mỹ. Đến nay, còn có quan chức phát biểu một cách thành thật đến đáng thương rằng, Việt Nam mang ơn Trung Quốc thì sẽ trả ơn, nhưng không vì thế mà Trung Quốc cứ lấn chiếm biển đảo của Việt Nam! Những người còn tư duy như thế phải thay đổi 180 độ!

Trung Quốc phải mang ơn Việt Nam, vì nhân dân Việt Nam đã lấy xương máu của mình làm phên dậu cho Trung Quốc trong nhiều năm. Chỉ đến khi Mao Trạch Đông bắt tay được với Nixon năm 1972 thì Trung Quốc quay ngoắt lại chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, còn Mỹ thì quay lưng với chính quyền Việt Nam Cộng Hoà!

Trung Quốc xảo trá, lừa bịp từ ngàn năm nay với Việt Nam. Chẳng có ý thức hệ vô sản, Mac-Lenin nào với Trung Quốc cả. Trung Quốc bao giờ cũng là và vĩnh viễn là anh Tào Tháo trong truyện Tam quốc với phương châm “thà ta phụ người chứ không để người phụ ta”! Không phải nhân dân Trung Quốc, mà là bọn cầm quyền ở Trung Quốc từ xưa đến nay, nhất là bọn độc tài toàn trị cộng sản hôm nay luôn là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

May mắn là tôi đã hiểu Trung Quốc từ rất, rất sớm như thế. Khi Trung Quốc mở cửa, nhiều người sang du lịch Trung Quốc đã loá mắt về những thành phố tráng lệ, những đường cao tốc, những nhà cao tầng mọc lên… Hay là…? Hay là…? Tôi kiểm chứng lại tư duy của mình và quyết định đi Trung Quốc vào đầu năm 1996 trước khi Hồng Kông được trao trả về Trung Quốc.

Tôi vẫn thấy mình đúng ngay từ khi đặt chân xuống sân bay Bạch Vân tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Vật chất có, nhưng con người của bộ máy công quyền cộng sản Trung Quốc thì xấu xa và đểu cáng đến mức tôi không thể hiểu nổi. Các nhân viên an ninh và hải quan Trung Quốc nhìn khách du lịch như kẻ thù, họ nói cười ầm ĩ, thô bỉ và vừa nói chuyện với nhau vừa làm việc, xét hộ chiếu, đóng dấu… Qua được một cửa, đến cửa thứ hai thì, đoàn có 12 người mà tôi là trưởng đoàn, có danh sách hẳn hoi, nhưng tôi bị giữ lại (!). Lý do vì họ đóng dấu nhầm! Thế là tôi, cô hướng dẫn viên người Trung Quốc và cậu nhân viên của công ty du lịch Travel Company V.Y.C. thành phố HCM phải quay lại cửa thứ nhất để đóng dấu lại. Cái dấu đóng lại ấy lại có một con dấu áp lai đóng đè lên, và, họ không xin lỗi gì cả! Từ đó trong suốt chuyến đi (Quảng Châu – Hồng Kông – Ma Cao rồi trở về Quảng Châu để về nước) hễ xem hộ chiếu của tôi là an ninh và hải quan lại hoạnh hoẹ.

Khi vào tham quan một địa điểm nào đó, nếu muốn tìm nhà vệ sinh thì rất… trần ai! Vì tất cả các biển đề ngoài cửa đều là chữ Trung! Tôi hỏi cô hướng dẫn viên người Hoa thì được giải thích: Trung Quốc chủ trương thế giới sẽ nói tiếng Hoa, ai muốn đi lại giao thương với Trung Quốc thì phải học tiếng Trung, vì vậy, có lệnh là đến nhà vệ sinh cũng phải để chữ Trung, không được có một tín hiệu nào khác! Họ chủ quan và ngạo mạn một cách rất vô lối và lố bịch!

Nhưng khốn nạn nhất với tôi là lúc từ sân bay Bạch Vân trở về thành phố Hồ Chí Minh, đến lượt tôi thì bị gạt lại, lý do vì từ Ma Cao về lại Quảng Châu, hộ chiếu của tôi không có dấu thị thực vào lại Trung Quốc từ Ma Cao, lúc đó thuộc Bồ Đào Nha. Cô nhân viên hướng dẫn du lịch người Hoa giải thích rã bọt mép họ chỉ cười hô hố! Cô đưa cả danh sách đoàn 12 người mà tôi là trưởng đoàn… họ cũng chỉ cười hô hố. Lúc đó, chỉ một cú “phôn” về cửa khẩu Chu Đậu tiếp giáp với Ma Cao là có thể giải quyết cho tôi về cùng đoàn. Nhưng các nhân viên an ninh và hải quan còn mãi cười đùa nên không ai giải quyết gì cả. Thế là tôi và anh hướng dẫn viên của V.Y.C. thành phố HCM phải ở lại Quảng Châu, thuê khách sạn ở trong 3 ngày để thuê ô tô và chở cả cô hướng dẫn viên người Hoa đi lại cửa khẩu Chu Đậu để đóng dấu nhập lại từ Ma Cao về Quảng Châu. Đến nơi, họ bật vi tính lên, thấy có tên tôi trong đoàn, nhưng vì họ “quên”, không đóng dấu nhập! Họ cộp một cái dấu rồi quẳng lại hộ chiếu cho tôi! Không một lời xin lỗi!

Hộ chiếu của tác giả với chi chít
dấu đóng nhầm và dấu giáp lai.
Chúng tôi tốn kém 3 ngày ăn ở và đi lại cả 300 cây số rồi mới “thoát” về nước được! Con người của bộ máy công quyền Trung Quốc vô cảm, vô liêm sỉ và đểu cáng đến mức tôi không thể ngờ tới! Đó là kết quả bao nhiêu năm nhào nặn, dạy dỗ, đào luyện của Đảng cộng sản Trung Quốc. Tôi càng tin rằng một đất nước với lãnh đạo như thế và con người như thế thì dù có đóng được tàu sân bay cũng sẽ sụp đổ tan tành bất cứ lúc nào. Và điều tôi nghĩ đã thành sự thật, với sự xuất hiện của con Covid-19!

Trên tất cả, trước tất cả là sự bóp chết tự do thông tin ngôn luận, và lạm dụng quyền lực để đàn áp nhân dân của bộ máy toàn trị, công an trị. Nếu bác sỹ Lý Văn Lượng không bị công an đến bắt và bịt miệng thì Vũ Hán, Trung Quốc và thế giới không điêu đứng như hôm nay! Nhân dân Trung Quốc đã bừng tỉnh và căm thù đảng cộng sản Trung Quốc. Cả thế giới ghê tởm sự cai trị tàn độc của đảng cộng sản Trung Quốc. Không có lý do gì để chế độ toàn trị ở Trung Quốc không sụp đổ. Cho dù nó đang tập đóng tàu sân bay!

LÊ Phú Khải

02 March 2020

Tóm Tắt Lại Sự Kiện Vũ Hán

2009 – Quách Đức Ngân phát hiện ra một điểm chí mạng của virus SARS có tên là nsp14.

2012 – Charles Lieber, giáo sư công nghệ nano, kỳ tài từ Hoa Kỳ bắt đầu giúp Vũ Hán xây dựng phòng nghiên cứu cấp cao về virus ở Vũ Hán.

2014 -- Xiangguo Qiu – khoa học gia Trung Quốc bắt đầu gửi các mẫu nghiên cứu của mình từ Phòng Thí Nghiệm Vi Sinh Quốc Gia Canada NML về China - nghiên cứu của Xiangguo về HIV.

2015 – Thạch Chính Lệ cùng sự hỗ trợ từ đại học North Carolina, nghiên cứu thành công việc lai ghép corona virus dựa trên bộ khung của Sars (virus này của Thạch Chính Lệ không thể dùng các vaccine hiện thời trị được).

2019 – Tháng 3, giới chức Canada điều tra Xiangguo về các kiện hàng gửi về China.

2019 – Tháng 7, Xiangguo bị áp giải ra khỏi phòng thì nghiệm NML.

2019 – Tháng 9, Vũ Hán tập trận chống chiến tranh sinh học.

2019 – Tháng 11, phe Giang Trạch Dân và Vương Kỳ Sơn bán khống lượng lớn cổ phiếu.

2019 – Tháng 12, râm ran trong giới bác sĩ một dịch bệnh tương tự như SARS đang bùng phát, Lý Văn Lượng bị bắt vì “tung tin đồn nhảm”.

2020 – Tháng 1, dịch bệnh bùng phát ở Vũ Hán. Giới chức khẳng định virus này không thành vấn đề gì, rất khó lây nhiễm.

- 20/1 Một nhóm các nhà Khoa Học ở ba nơi, Thượng Hải, Bắc Kinh, và Kỹ Thuật Quân Đội phát hiện ra virus này chủ yếu lây lan mạnh ở nhóm người Đông Á.

- 28/01 Charles Lieber bị bắt tại Hoa Kỳ.

- 30/1 Trong suốt tuần, các nhà nghiên cứu từ Ấn Độ, Hy Lạp,… liên tục cho rằng Virus này không thể có nguồn gốc tự nhiên, và có các phần chèn từ virus HIV.

2020 – Tháng 2,

1/2 - Nhóm Expose Revolution của Tỷ Phú tỵ nạn Cộng Sản Quách Văn Quý gặp Trump cùng các chuyên gia ở dinh thự Mar-a-Largo.

4/2 - Nhóm Expose Revolution tuyên bố (solemnly) rằng virus do Quách Đức Nhân tổ chức chế tạo.

5/2 - Liên tục trên trang Xilu.com, trang mạng của quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, đăng bài khẳng định đây là một vụ tấn công sinh học của Mỹ. Hoa Kỳ bắn tên lửa minuteman có khả năng tải đầu đạn hạt nhân về một mục tiêu giữa biển Thái Bình Dương từ căn cứ California, tầm xa tối đa của tên lửa này là 8 ngàn dặm, có thể vươn tới đập Tam Hiệp trong nội địa Hoa Lục.

7/2 - Xuất hiện bài viết của Wu Xiaohua chứng minh ở góc độ kỹ thuật rằng Thạch Chính Lệ dối trá đổ thừa cho dơi. Và chỉ đích danh Thạch Chính Lệ là thủ phạm. Đồng thời bóng gió rằng có thế lực đứng sau Thạch Chính Lệ làm chuyện tày đình.

9/2 - Khoa học gia trưởng, đứng đầu tổ điều tra nghi vấn virus Vũ Hán được tạo ra từ phòng Thí Nghiệm bị đột tử. Nghi vấn bị ám sát ở Kenya.

11/2 - Epochtimes (không liên can gì tới Đại Kỷ Nguyên Tiếng Việt), một tờ báo uy tín những năm gần đây phỏng vấn một chuyên gia thượng thặng về vũ khí sinh học người Mỹ, ông khẳng định virus Vũ Hán 100% là nhân tạo. Sau đó ba bài phỏng vấn chuyên sâu này bị xóa. Epochtimes cũng không giải thích hay đính chính ?! Nghi vấn là có Pentagon (Lầu Năm Góc) can thiệp vì lí do an ninh quốc gia.

12/2 - Virus Vũ Hán có thời gian ủ bệnh là 24 ngày, chứ không phải 14 ngày.
Trump luôn miệng khen Tập, ngoài ra không nói gì khác.

13/2 - Virus được tổ chức Y tế thế giới WHO đặt tên là Covid-19 (Co là Corona, Vi là virus, D là Disease, 19 là năm 2019 phát xuất bệnh).
______________________________

Giả Thuyết: Quách phát hiện ra điểm chết của SARS, nên có khả năng có thuốc trị virus nào có bộ khung như SARS (hoặc là Quách nổ! vì Quách có thành tích khai man trước đó).

Xiangguo đã gửi các phát hiện về kỹ thuật có được ở về HIV từ lab ở Canada về cho Quách và Thạch ở Vũ Hán.

Thạch cùng đàn em vọc ra một chủng virus mới nguy hiểm, viết bài công bố năm 2015
Quách và Thạch cùng kết hợp, cộng với tài liệu nghiên cứu về HIV và các sinh mẫu được gửi về từ Canada của Xiangguo, tạo ra virus Vũ Hán.

Bằng cách nào đó, virus Vũ Hán thoát ra ngoài. Nhóm Himalaya nói có nguồn tin nội bộ cho biết có sự trả thù phe phái trong nội bộ Cộng Sản.

Tới đầu tháng 11 năm 2019, có tin mật về Virus đã phát tán, phe Giang Trạch Dân, Mạnh Kiến Trụ và Lý Khả Sinh tháo chạy khỏi thị trường tài chính.

Trump giữ im lặng, vì không muốn cho Tập biết là Hoa Kỳ đã nắm được gì. Hoạt động tình báo, tấn công, đánh chặn, tiêu diệt đa phần đều diễn ra trong thầm lặng.

Hơn nữa sự phụ thuộc về chuỗi cung ứng từ Hoa Lục vẫn còn lớn, nếu tuyên bố rằng có hành vi diệt chủng xảy ra ở Vũ Hán thì buộc phải có hành động. Nên Trump vẫn án binh bất động, lấy khỏe chờ mệt, thời gian trôi qua càng lâu thì thương vong càng lớn, uy tín Tập càng bị ảnh hưởng, … Trung Hoa lâm nạn sẽ giúp Trump có lợi thế cực kỳ lớn cho vòng đàm phán tiếp theo, và nhất là, kỳ tranh cử Tổng Thống vào tháng 11/2020.

(Người Phương Nam)

29 February 2020

Chuỗi chuyện vui - Haiku


1.      Ông lão điếc lâu năm
Đến phòng khám thăm ông bác sĩ,
Được phát cái máy điếc.

Tuần sau ông trở lại,
“Cụ thấy thế nào?”, bác sĩ hỏi,
“Cả nhà cụ chắc vui?”

“Tôi chẳng cho họ biết
Chỉ ngồi nghe họ nói mà thôi.
Tôi sửa di chúc rồi.”

2.      Trong cư xá người già
Ba ông cụ ngồi trên băng ghế.
Một cụ lên tiếng hỏi:

“Jos à, tôi 83
Đau khắp cả người. Cụ thì sao?
Cụ chắc cũng tuổi tôi.”
“Tôi hệt như em bé!”
“Thật vậy ư? Hệt như em bé?”
“Đúng, không răng, mặc tã.”

3.      Một bà kể với bạn:
- “Nhờ tôi mà ổng thành triệu phú!
- “Trước đó ổng thế nào?”
- “Tỷ phú.”

4.      Một chàng ngạc nhiên hỏi:
“Bạn đưa vợ tới trại khỏa thân
Bạn có thấy kỳ không?”

“Không, có gì mà kỳ
Nhờ vậy, một tháng bả không than
‘Em chẳng có gì mặc.’ ”

5.      Nhà bị trộm đột nhập
Cảnh sát báo phạm nhân bị bắt,
Triệu tập nạn nhân đến.

Nạn nhân hỏi cảnh sát:
“Tôi muốn nói với hắn được không.”
“Anh nói gì với hắn?”

“Nghe này, ông cảnh sát,
Tôi muốn hỏi hắn làm cách nào
Vào lúc hai giờ sáng
Hắn lẻn vào nhà tôi
Mà vợ tôi không hề hay biết?
Hắn nói hết, tôi tha.”

6.      Hai tín hữu đạo Hồi
Dạo bộ song đôi trong sa mạc
Một ông lên tiếng hỏi?
“Kinh Coran đã viết
Mohammed nói với Ahmed
Đàn ông luôn đi trước
Đàn bà phải đi sau
Ít nhất là hơn hai chục bước.
Sao vợ ông đi trước?”
“Tôi biết Mohammed
Nhưng vào thời của kinh Coran
Sa mạc không có mìn.”

7.      Bốn ông ngồi ăn trưa
Say sưa nói đủ chuyện bá vơ
Rồi qua chuyện giầu có

Ông công giáo mở đầu:
“Tôi thừa hưởng gia tài rất lớn.
Tôi mua Citibank!”

Ông Tin Lành tiếp nhanh
Tôi à, giầu nứt khố đổ vách.
Tôi mua Hãng Xe Hơi

Ông Hồi giáo tiếp lời
“Là hoàng tử, con chủ mỏ dầu.
Tôi mua Microsoft.”

Ông Do Thái ngồi nghe
Khuấy ly cà phê, bỏ muỗng xuống.
Ông nhấp một ngụm nhỏ
Liếc qua ba ông nọ
Với thái độ dửng dưng và nói:
“Tôi không bán.”

8.      Một ông vừa mới chết
Theo ước nguyện, muốn được hỏa thiêu
Ông nằm trong quan tài
Họ bỏ hết vào lò
Quan tài cháy, xác vẫn còn nguyên
Họ dùng quan tài khác
Họ lại bỏ vào lò
Quan tài cháy, xác vẫn còn nguyên
Bà vợ góa nói liền:

“Chẳng có gì ngạc nhiên
30 năm uống thuốc chống viêm
Nên ông không thể cháy.”

9.      Ông hành khất đứng chờ
Tại góc đường, đèn đỏ sáng lên
Chiếc Mercedes ngừng.
Gõ cửa xe, ông nói:
“Xin giúp đỡ, tôi đang đói.”
Tài xế ngó đồng hồ:
“Trưa rồi, ai mà chả đói, tôi cũng vậy”
Đèn xanh, chiếc xe phóng đi nhanh.

TNT
(viết theo truyện vui Net)
Feb. 29, 2020
_______

26 February 2020

TRONG SÁNG CỦA NGÔN NGỮ

Phạm Đức Thân

Thỉnh thoảng vẫn thấy xuất hiện bài than phiền ngôn ngữ VN xuống cấp, yêu cầu phải gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Thật tình người viết không biết nên hiểu "trong sáng" ở đây nghĩa thế nào. Là chính xác? Là đúng đắn? Nhưng nếu có hỏi thế nào là chính xác, đúng đắn thì nhiều phần sẽ không có câu trả lời thỏa đáng, vì chuẩn mực văn hóa của ngôn ngữ Việt chưa bao giờ đươc xác định dứt khoát.

Ngôn ngữ nhiều khi rất hàm hồ, không chính xác, không chỉ đối với cái gì trừu tượng mà ngay cả đối với cái gì cụ thể. Vd. Tự do, dân chủ là những khái niệm được hiểu rất khác nhau, cho nên triệu triệu người đã bỏ mạng vì chúng. Vận động tranh cử Tổng Thống Mỹ đang diễn ra cho thấy chủ nghĩa xã hội của B. Sanders rất khác chủ nghĩa xã hội của CS. Một vật có mặt bằng vuông nhỏ và 4 chân, không cao lắm, chỉ khoảng 40 cm, có thể ngồi lên hoặc đặt để vật trên đó, tự thân nó không có tên. Chỉ khi đem ra sử dụng mới gọi đúng được nó là ghế hay bàn.

Lịch sử ngôn ngữ cho thấy nó biến chuyển không ngừng, tự phát và dần dà, ít nhận thấy, trừ những người quan tâm như văn nghệ sĩ, hoc giả, nhà chuyên môn... và thường là không phải giới trẻ. Giới trẻ tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ có cái nhìn đồng đại. Chỉ người lớn sau một thời gian dài quan sát mới có cái nhìn lịch đại nhận ra các thay đổi. Tuy nhiên thiết tưởng cũng nên tìm hiểu kỹ hơn để hiểu rõ ngôn ngữ hầu có thể tránh được những nhận xét phiến diện.

Đúng như B.L. Whorf nhận xét, cơ cấu ngôn ngữ của một dân tộc quy định cách dân tộc đó nhìn thực tại như thế nào. Nhưng khi thực tại này biến chuyển không ngừng thì ngôn ngữ phải thay đổi để thích nghi với thực tế. Loại thay đổi ngoại tại này nằm trong 3 nguyên nhân sau.

1- Thời đại mới có những kỹ thuật mới, tư tưởng mới, sinh hoạt mới.....đòi hỏi phải có từ ngữ mới thích hợp. Vd. Máy tính điện toán, nhu liệu, phần cứng, điện thư, iphone. Chuyên chính vô sản, kinh tế thị trường, giải cấu luận, toàn cầu hóa. Đồng tính, chuyển giới, sách nhiễu tình dục. Đặc biệt VN sau biến cố 1975 cả một mảng lớn ngôn ngữ khác lạ về chính trị, xã hội, văn hóa từ miền Bắc du nhập vào miền Nam khiến cho nhiều người trong Nam ngạc nhiên, cảm thấy lạc lõng, thậm chí cho là sai trái.

2- Tiếp xúc với ngôn ngữ khác cũng làm biến đổi ngôn ngữ bản địa, nhất là đối với ngôn ngữ láng giềng, hoặc ngôn ngữ phổ biến của một nước hùng mạnh trên thế giới. Điển hình là ngôn ngữ VN đã biến chuyển nhiều do ảnh hưởng lâu đời của Trung Quốc và gần đây của Hoa Kỳ.

3- Bản tính con người thích sáng tạo, đổi mới, không bằng lòng với ngôn ngữ đương đại, thỉnh thoảng lại đề ra những cải cách, tạo cách nói mới, từ mới.

Vd. Nguyễn Thiện Thuật đề nghị viết rõ tinh nghĩa khác nhau của chữ kinh dưới nhiều dạng kinhs sợ, kynhp đô, kynh Thánh, kinh nghiệm...

Nguyễn Hữu Ngư bảo nên bỏ Y thay bằng I, bỏ H trong GH, NGH.... và làm gương bằng cách lấy bút danh là Nguiễn Ngu Í, Ngê Bá Lí.

Dương Đức Nhự yểm trợ cải cách này và còn đề nghị du nhập F, J, W, Z vào Việt ngữ: vd. gồ gề, zễ zàng... và như vậy câu Kiều sẽ viết thành:

Trăm năm trong kõj người ta.

Cữ tài cữ mệnh qéw là gét nhaw.

Chưa kể có người thay vì viết cả chữ, thích viết tắt: k nhạc, c dịch, h hỏng, n em, m anh... Người viết cũng đã thử làm thơ lục bát theo cải cách này:

B L M, H U O
D M N F M R Q N

Gần đây nhất có Bùi Hiền, du nhập F, J, W, Z và cải cách sâu rộng triệt để các phụ âm Việt (xin tham khảo nhiều tài liệu trên net) gây ra tranh cãi sôi nổi. Theo đó câu Kiều sẽ viết thành:

Căm năm cow kõi wười ta

Cữ tài cữ mệnh xéo là gét nhau

Thực tế các cải cách này thường bị coi là vụng về, ảo tưởng, nguy hiểm, không những làm rối rắm ngôn ngữ mà còn phá hoại văn minh xã hội, di sản văn hóa dân tộc, không được đa số hưởng ứng lại còn bị chế diễu dè bỉu. Tuy nhiên tự bản thân ngôn ngữ luôn luôn trải qua những thay đổi nội tại vì bị xô đẩy lôi kéo bởi những động lực khác nhau, nhiều phần là vô thức.

Giống như bị chặn lối bởi hàng rào, tự nhiên là người ta sẽ tạo lối mòn để vượt qua, rồi lần hồi các người sau cứ theo đó mà đi, chẳng hề suy nghĩ, cuối cùng hình thành một đường mòn; cũng vậy, bất cứ ai cũng có thể đầu têu một chữ lạ, các người sau cứ thế bắt chước, riết rồi xuất hiện thành một chữ mới. Thay đổi thường nhỏ giọt, dần dà, im ắng, không gây xáo trộn thông tin, không dễ nhận diện thời gian đầu. Chỉ sau những cuộc Cách Mạng, những biến cố chính trị văn hóa lớn (như tại VN 1975) các thay đổi mới thấy đồng loạt, nổi cộm.

Có thể kể ra 3 động cơ làm thay đổi ngôn ngữ một cách vô thức:

- Một là thói lười biếng, thích dễ dàng khiến tiết kiệm, giản lược lối nói. Vd.

--Rút gọn: Xin đểu ( cướp một cách đểu giả), Ngoáo ộp -> ngáo ộp -> áo ộp.

--Viết tắt: tngt (tai nạn giao thông).

--Bỏ động từ trong ngoặc: (gây) ấn tượng, (có) ý kiến.

--Chọn đọc n, t dễ dàng và trơn tru nhanh lẹ hơn l, tr trong 2 câu sau: cái nọ nó năn nong nóc trong cái nhà nò; con tâu tắng buộc cành te tụi, ăn no tòn như cái tống teo.

--Để cho tiện lợi, không cần phát âm phân biệt giữa l-n, ch-tr, d-gi. Viết người Hà Nội mà đọc thành người Hà Lội.

Các thói tật này có khuynh hướng làm xói mòn xuống cấp ngôn ngữ.

- Hai là, đàng khác, muốn nhấn mạnh, thì lại thêm chữ mà có khi phản nghĩa hoặc dư thừa. Vd. Bất thình lình, đột nhiên chợt, không đời nào.

- Ba là dùng tương đồng để gia tăng vốn từ vựng. Tuy nhiên coi chừng có những suy luận sai. Mặc dù hai từ đồng nghĩa, nhưng không phải là có thể thay chỗ cho nhau. Vd. thủ lợn - đầu heo, bể mánh - vỡ mộng, thiên hô bát sát - thiên la địa võng.... Có thể viết 1 trong 2 cách: tôi thường (thường) tới đó, tôi luôn (luôn) tới đó, nhưng chỉ được viết: tôi đã tới đó, không được suy luận tương tự nghĩ là có thể viết: tôi đã đã tới đó, giống như ngoại nhân khi học Việt ngữ đã vấp phải.

Ẩn dụ (metaphor) là biện pháp thường dùng để tạo nghĩa mới. Meta = ngang qua, phor = chuyển dịch, gốc Latin có nghĩa là chuyển qua một nghĩa mới. Ngôn ngữ thoạt tiên ít ỏi và cụ thể, nhờ ẩn dụ mà có thêm nhiều nghĩa mới về tinh thần, trừu tượng; và lâu ngày dùng quen, tất cả hợp thành ngôn ngữ rất tự nhiên không còn dấu vết của ẩn dụ. Vd. Câu sau rất nhiều ẩn dụ (động từ) mà nay nghe rất tự nhiên: Thiên hạ đói tin, truyền thông xào nấu tin chưa kiểm chúng rồi rò rỉ ra để họ ngấu nghiến tiêu thụ.

Ẩn dụ bồi đắp ngôn ngữ, bù trừ các xói mòn, nên ngôn ngữ mất cái này lại thêm cái kia, chuyển biến liên tục mà không xáo trộn.

Xem xét hoạt động của ngôn ngữ, có nhận xét chung là người này tiếp sau người kia, ai cũng than phiền ngôn ngữ nước mình xuống cấp. Vd. English, Samuel Johnson (1709 - 1784) trong lời giới thiệu quyển Dictionary of the English Language viết rằng "Ngôn ngữ, giống như chính quyền, có khuynh hướng thoái bộ". Năm 1946 G. Orwell bảo phải thừa nhận là English đang xấu tệ. Nhưng trước đó, năm 1848 A. Schleicher đã nhận xét English xuống dốc nhanh quá so với England hùng mạnh về lịch sử và văn học; trong khi thật ra từ năm 1780 T. Sheridan cũng đã nghĩ English thời ông xấu đi, khác hẳn tình trạng toàn hảo của 70 năm trước. Ông không biết rằng J. Swift ngay từ năm 1712 đã phàn nàn English thật bất toàn.

Đức, Pháp cũng có những ca cẩm tương tự suốt chiều dài lịch sử ngôn ngữ nước họ. Viện Hàn Lâm Pháp xưa có thẩm quyền về chuẩn mực ngôn ngữ, thời gian về sau đã lơ là, truyền thông và giới trẻ được dịp tự do múa bút, khiến năm 2001 S. Koster phải kêu lên rằng đã làm xấu ngữ pháp được xây dựng lâu đời và ổn định từ thế kỷ XVIII. Nhưng năm1843 Viện sĩ V. Cousin đã than phiền ngôn ngữ xuống cấp từ Cách Mạng 1789; có nghĩa là thực tế không phải ổn định như S. Koster tưởng.

VN trong mấy chục năm qua lâu lâu cũng lại xuất hiện các ta thán xuống cấp của Việt ngữ, nhiều không thể nhớ hết tên các tác giả văn nghệ sĩ, học giả, nhà chuyên môn và dân thường... đã góp ý.

Các nhận xét trên cho thấy hình như là càng về sau ngôn ngữ càng xấu đi, khiến cho có người đã thử tìm hiểu tại sao.

Có lẽ ngày xưa, người ít, vật ít. Chính quyền có thì giờ chú tâm củng cố, cải thiện ngôn ngữ dân tộc. Người viết sách không nhiều và thường có học vấn đáng kể, cho nên nhìn chung ngôn ngữ tốt đẹp đều khắp. Sau này, xã hội phát triển chính quyền lơ là vì bận lo nhiều việc khác. Nhiều văn nhân, nhiều sách xuất hiện, lại được thả lỏng, tự động lược bỏ những gì phức tạp, chọn cái dễ dãi, loại hình ngôn ngữ chấp dính (hình vị rối rắm, ngữ pháp phức tạp, vd kiểu như Latin) bị đào thải dần, thay thế bằng từ vựng, ngữ pháp đơn giản hơn, diễn đạt không văn hoa cầu kỳ như trước kia.

Mặt khác, càng về sau số lượng càng nhiều (in ấn, internet, ebook...) thì khuyết điểm cũng phải nhiều nên dễ nhận biết hơn; nhất là tính dân chủ của xã hội hiện đại, ai cũng có thể viết văn làm thơ, phổ biến cùng khắp, mặc dù khả năng văn hóa chưa đạt. Lại nữa, tâm lý người lớn tuổi có khuynh hướng nhìn quá khứ đẹp hơn hiện tại, chú ý nhiều đến mặt tích cực hơn là tiêu cực; trong khi đối với hiện tại thì bất mãn, nhìn thấy nhiều khuyết điểm hơn là các ưu điểm.

Các dữ kiện trên cho thấy xuống cấp của ngôn ngữ là nét chung trong nhiều quốc gia do tính chất biến chuyển không ngừng của ngôn ngữ, chứ không phải chỉ riêng ở VN. Đặc biệt ở VN, do hoàn cảnh lịch sử, nhiều người có ác cảm với VC, nên có thành kiến, không giữ được công bằng trong nhận định. VC không phải là nguyên nhân duy nhất của ngôn ngữ xuống cấp, nhưng họ có làm cho nó xấu đi thêm. Một số cán bộ có trình độ chuyên môn cao nhưng từ nhỏ đã hấp thụ nền giáo dục vô sản nông cạn, hời hợt, vô thần, kém đạo đức, khả năng văn hóa thấp, học văn không đến nơi đến chốn (phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam) cho nên thỉnh thoảng vẫn phát ngôn bừa bãi, lệch chuẩn, làm gương xấu và phương hại đến ngôn ngữ. Về phần giới trẻ với giáo dục và vốn văn hóa hạn chế như thế bảo sao đa số không lệch chuẩn. Tất cả làm ngôn ngữ xuống cấp mau hơn.

VC có những nông cạn, thiếu sót, nhưng dần dần cũng đã cải tiến, bớt hoặc bỏ dùng các từ chung chung quá rộng nghĩa, vd. tốt, xử lý, hoàn chỉnh, chất đốt.... hoặc các từ gốc Hán để tỏ ra có học thức, vd. tranh thủ, khẩn trương, quá độ...  hoặc các từ chỉ hữu dụng giai đoạn chiến tranh để dân chúng dễ hiểu, vd. máy bay lên thẳng, lính thủy đánh bộ, giặc lái, chiến sĩ gái.... Nhưng mặt khác VC lại sản sinh những "quái ngữ" mới khiến làm điên đầu. Vd. đối tượng, dư luận viên, tầu lạ, cực kỳ, thoáng, luồng, chùm... Gọi quái ngữ là vì nghĩa quá xa lạ hoặc quá "thoáng" dùng rất bừa bãi.

Từ ngữ vay mượn của nước khác có thể giữ nguyên hay thay đổi, cả 2 cách đều được chấp nhận. VN có nhiều chữ Hán thuộc loại này. Nếu miền Nam quen dùng phản ảnh, khoái trá, thấy VC dùng phản ánh, khoái chá chê là sai thì người viết không rõ căn cứ vào đâu, vì chữ VC dùng là Hán tự mượn giữ nguyên, còn miền Nam là mượn có thay đổi; cả 2 cách đều được chấp nhận. VC có sử dụng nhiều từ cụ thể với nghĩa rộng thì cũng là bình thường, nếu không muốn nói là mới lạ, chẳng nên võ đoán cho là sai, dở. Vd. mảng văn học, vốn từ vựng, quỹ thời gian, khâu lắp ráp, ùn tắc công việc, trải lòng.... Một số từ của VC cũng đã đi vào dòng chính và được sử dụng ở hải ngoại.

Một điểm cần ghi nhớ là ngôn ngữ không đồng nhất, mỗi giai cấp, nghề nghiệp, địa phương, thành phần già trẻ nam nữ có lối nói riêng. Khi nhận định không nên lẫn lộn các khu vực (register) ngôn ngữ này vì chuẩn mực khác nhau. Các khu vực thường bị than phiền làm hại đến sự trong sáng của ngôn ngữ là truyền thông (thích từ ngữ giật gân, hấp dẫn, vd. Tăng cán biểu tình); chính trị gia (ưa chữ đao to búa lớn, đôi khi ý nghĩa không rõ hoặc rỗng tuếch, vd. Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN); giới trẻ (thường cẩu thả, thích cái mới lạ, vd. Iu, bít rùi, wa, wen). Chưa kể cũng phải phân biệt ngôn ngữ văn hóa chú ý đến hay đẹp còn ngôn ngữ thường ngày nói đúng là bằng lòng rồi.

Không nên lấy cái giáo dục cũ của mình, với hấp thụ ngữ pháp cổ điển, để mà xét đoán ngôn ngữ hiện đại, nhất là bây giờ rất phức tạp nhờ giao lưu rộng rãi đã du nhập những thành ngữ, cấu trúc mới lạ, làm phong phú tiếng Việt. Nói vậy không có nghĩa là để mặc cho thiên hạ tự tung tự tác, viết sai chính tả, lủng củng câu văn, bất chấp ngữ pháp, dùng chữ bừa bãi, ngô nghê lai căng. Cho dù chưa có chuẩn mực ngôn ngữ, và ngôn ngữ chỉ là tùy tiện, võ đoán, nhưng người VN tử tế, có giáo dục đàng hoàng vẫn trực giác nhận chân được cái hay đẹp, trong sáng của ngôn ngữ để cố gắng bảo tồn, tôn trọng những nguyên tắc về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng như đề cao tính dân tộc, không lai căng, tính lịch sự của lời ăn tiếng nói.

Miễn là đừng để cảm tính, thành kiến chi phối, cố gắng công bình khách quan nhận định, không đếm xỉa đến chế độ (vì chế độ không thể trường tồn) bất cứ người VN nào thấy ngôn ngữ của mình bị xói mòn, bị xuống cấp cũng phải có bổn phận lên tiếng bảo vệ, vì không thời đại nào bằng thời đại này, trước nguy cơ Hán hóa do VC gây ra, câu của Phạm Quỳnh "Tiếng ta còn, nước ta còn" thật như là một cảnh tỉnh đúng lúc; nhất là với trò xảo quyệt cải cách Việt ngữ gần đây, xét cho cùng chỉ là một âm mưu đốt sách trá hình không hơn không kém.

Ngẫm lại, từ trước đến nay các bài về sự trong sáng của tiếng Việt chỉ là những nhận xét vụn vặt ngoại vi bề mặt.

Thực chất là một khi cả một chế độ từ trên xuống dưới đều là điêu ngoa xảo trá, ăn gian nói dối một cách trơ trẽn, suốt 90 năm qua, như vd. sau (lời nói khác xa hẳn với thực tế): "Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên". thì tiếng Việt biết bao giờ mới được chính xác và đúng đắn trở lại!

Phạm đức Thân

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...