10 January 2018

Đừng trông chờ Bộ Chính trị và Cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm nhân chứng tại tòa

Ông Đinh La Thăng bị dẫn ra tòa tại Hà Nội,
ngày 8 tháng
Trong phiên tòa ngày 9 tháng Giêng, năm 2018, Ông Đinh La Thăng, nói rằng quyết định chỉ định thầu của ông là chủ trương của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, và quyết định của Cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Thăng nguyên là Tổng Giám đốc Tập đoàn dầu khí Việt Nam, nguyên Bí thư Thành ủy Sài Gòn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, đang bị truy tố về tội cố ý làm trái các nguyên tắc quản lý nhà nước.

Liệu tòa án sẽ triệu tập các thành viên Bộ Chính trị và Cựu Thủ tướng Dũng làm nhân chứng hay không?

Luật sư Lê Công Định: Câu trả lời của ông Thăng là một thực tế chính trị kinh tế ở Việt Nam. Tuy rằng Bộ Chính trị không có một tư cách pháp lý, một địa vị pháp lý chính thức nào, nhưng Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản luôn can thiệp vào mọi quyết định, kể cả những quyết định thuần túy về kinh tế của chính phủ.

Tôi từng đọc rất là nhiều hồ sơ của những dự án đấu thầu, chẳng hạn như sân bay Nội Bài, xây dựng sân Mỹ Đình,… tất cả những dự án đó tuy thuộc về chính phủ, nhưng bao giờ chính phủ cũng phải báo cáo lên Bộ Chính trị để xin ý kiến, luôn chờ Bộ Chính trị quyết định cho một cái chủ trương chọn nhà thầu này hay nhà thầu kia, hay là phê duyệt cái giá của gói dự án đó như thế nào, thì tất cả đều phải thông qua Bộ Chính trị cả. Cho nên lời khai của ông Đinh La Thăng trước tòa ngày hôm qua là phản ảnh một thực tế hoàn toàn chính xác.

Kính Hòa: Theo những phiên tòa ở Việt Nam, người ta hay nói đến những cá nhân và tổ chức có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phải có mặt tại tòa, vậy Bộ Chính trị và ông Nguyễn Tấn Dũng phải có mặt tại tòa?

Luật sư Lê Công Định: Điều đáng tiếc là pháp luật không bao giờ với tới Bộ Chính trị được. Cho nên tuy ông Đinh La Thăng nói về một thực tế như vậy, xét về phương diện tố tụng hình sự thì hoặc là Viện Kiểm sát, hoặc Tòa án phải yêu cầu triệu tập những bên có liên quan đến lời khai của đương sự, đến tòa để xem xét. Đó là qui định trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta biết rằng những quan chức cao cấp nhất của Việt Nam thì thường luật pháp cũng không với tới, đặc biệt trước những vụ án hình sự như thế này. Huống chi Bộ Chính trị là một tổ chức mà chẳng bao giờ chúng ta thấy qui định về nó như thế nào trong hiến pháp. Chúng ta đừng trông mong là trong một vụ án như thế này Bộ Chính trị sẽ bị triệu tập, hoặc ít nhất tòa án có thể đình chỉ phiên xét xử để cơ quan điều tra xem về sự dính líu của lời khai của ông Đinh La Thăng, với vai trò của Bộ Chính trị trong việc đưa ra chủ trương chỉ định thầu mà ông khai hay không.

Không bao giờ có chuyện đó, và chúng ta thấy những báo chính thức nào đưa tin ông Thăng khai có chủ trương của Bộ Chính trị, đều gỡ xuống những thông tin đó. Điều đó muốn nói rằng chúng ta đừng nghĩ rằng Bộ Chính trị có liên can vì một lời khai trước tòa của một bị cáo như ông Đinh La Thăng cả.

Kính Hòa: Trong những bàn luận về thể chế, về sự điều hành của Đảng, của Chính phủ, chúng ta cũng hay nghe nói rằng lấy quyết định trong nền chính trị Việt Nam, trong nền quản trị đất nước Việt Nam hiện nay là những quyết định tập thể, nhưng cá nhân chịu trách nhiệm. Nếu chúng ta cố gắng hiểu họ theo một hướng tích cực, thì họ muốn nói gì?

Luật sư Lê Công Định: Qui chế điều hành bên trong đảng cầm quyền ở Việt Nam là qui tắc tập trung dân chủ, tức là quyết định tập thể dựa trên những ý kiến dân chủ của những cá nhân. Họ bao giờ cũng đưa ra một quyết định có tính cách tổng quát, do nhiều người chịu trách nhiệm, chứ không riêng một cá nhân cụ thể nào.

Và thường thì họ phải xử lý nội bộ trong trường hợp những quyết định tập thể đó có một vấn đề nào đó về phương diện pháp lý. Chẳng hạn như một quyết định gây tổn hại về kinh tế như vụ án ông Đinh La Thăng.

Khi cần phải qui trách nhiệm thì họ có hai giải pháp: một là xử lý nội bộ những cán bộ nào chịu trách nhiệm cá nhân nhưng không bao giờ đưa người đó ra trước pháp luật, bởi vì sẽ có một tập thể bảo bọc cá nhân đó.

Gần đây chúng ta thấy giải pháp thứ hai là họ bắt những cá nhân chịu trách nhiệm và đưa những cá nhân đó ra tòa luôn, chẳng hạn vụ án chúng ta đang theo dõi.

Nhưng một câu hỏi đặt ra là vậy thì cái phạm vi thế nào để xử lý nội bộ, tập thể bảo vệ cá nhân, khi nào một cá nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý chứ không xử lý nội bộ. Chúng ta hoàn toàn không biết có một ranh giới nào như vậy.

Và như thế người ta hiểu rằng trên thực tế, việc đưa những cá nhân chịu trách nhiệm pháp lý có tính chất cá nhân trước pháp luật, thì đó là trong trường hợp phe nhóm này đấu đá phe nhóm kia bằng cách lôi người của phe kia ra tòa để trừng trị. Trong vụ án của ông Đinh La Thăng chúng ta thấy rõ điều đó.

Kính Hòa: Trong kinh nghiệm về luật pháp trên thế giới, có khi nào đảng cầm quyền phải ra tòa không?

Luật sư Lê Công Định: Rất thường xuyên. Những cá nhân của đảng cầm quyền vi phạm pháp luật thì chắc chắn họ phải chịu trách nhiệm pháp lý. Đảng cầm quyền của họ không phải là một đảng độc tôn, nó phải bị chi phối của luật pháp. Điều đó rất là bình thường. Chỉ có bất thường ở Việt Nam thôi.

Kính Hòa: Trong những diễn biến chính trị tại Việt Nam trong một năm qua có nhiều vụ tham nhũng được đem ra xử lý. Có những ý kiến cho rằng ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có những ý tưởng cải cách. Để tiến tới điều mà người ta gọi là có trách nhiệm giải trình, tiến tới cai trị bằng một nhà nước pháp quyền, thì trước tiên là chống tham nhũng cái đã. Ông quan sát thấy đúng không?

Luật sư Lê Công Định: Nếu cuộc chiến chống tham nhũng dọn đường cho một nền pháp trị trong tương lai, như những lời đồn anh vừa nói, thì cuộc chiến chống tham nhũng này thực sự rất đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên bản chất một chế độ cộng sản thì không bao giờ chấp nhận một nhà nước pháp quyền thực sự, trong đó họ chấp nhận tam quyền phân lập.

Không bao giờ.

Chúng ta thấy hồi năm 2013 đã có một cuộc tranh luận lớn về hiến pháp mới, ông Tổng Bí thư của đảng cầm quyền đã tuyên bố là nhà nước và hệ thống chính trị ở Việt Nam không bao giờ chấp nhận thể chế tam quyền phân lập cả. Và như vậy chúng ta hiểu rằng nhà nước pháp quyền là vẫn theo cách hiểu của đảng cầm quyền, tức là phục vụ cho một đảng độc tôn cai trị đất nước này. Cho nên cuộc chiến chống tham nhũng ngày hôm nay, tuy chúng ta cũng ủng hộ, nhưng chúng ta chờ xem nó đến đâu? Nó dẫn đến một cuộc thanh trừng nội bộ, đấu đá nội bộ, hay dẫn đến một nhà nước pháp quyền. Riêng cá nhân tôi thì tôi không bao giờ tin là sẽ dọn đường cho một cuộc cải cách chính trị nào cả.

Kính Hòa: Xin cảm ơn ông.
___
(Nguon: RFA)

07 January 2018

Năm Tuất Nói Chuyện Chó

Pham Thành Châu

Năm ngoái là năm Dậu, tôi viết chuyện con gà. Năm nay là năm Tuất, tôi kể chuyện về con chó. Chuyện tào lao, không văn chương, triết lý gì cả. Đọc cho vui trong mấy ngày Tết, để mấy người già (như tôi) quên chuyện mình đã già thêm một tuổi. Đang “Sống qua ngày, chờ qua đời!”    ”                                           
Có cô gái Mỹ đi du lịch Việt Nam, bị chó rượt, cô đâm đầu chạy miệng kêu cứu “Heo! Heo!” (Help! Help!: Cứu tôi với!) Ông già ngồi trước hiên nói với bà vợ già “Nó không thấy con chó bao giờ nên gọi con chó là con heo!”

Việt Nam mình cũng có thời kỳ chẳng thấy con chó bao giờ. Đó là thời “Toàn quốc kháng chiến”, chống thực dân Pháp, (1945-1954) trong vùng kháng chiến, người dân không được nuôi chó vì ban đêm, du kích đi, chó sủa, sẽ lộ hành tung. Phải diệt chó. Chó bị bắt làm thịt hết sạch nên ban đêm im lặng như tờ. Sau 1954, chia cắt đất nước, dân Hà Nội, từ năm 1954 đến năm 1983, gần ba mươi năm, không hề thấy “dung nhan” con chó ngoài đường như thế nào? Tôi biết bạn không tin nên xin đăng vài đoạn báo, trong  một bài nói về việc cấm nuôi chó ở Hà Nội để chứng minh. Vị nào, trên 70 tuổi, ở Hà Nội ắt còn nhớ Ở ngoài Bắc, sau hiệp định Geneve 1954, Lúc đó, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội là y sĩ Trần Duy Hưng, đã ra một văn bản cấm triệt để việc nuôi chó. Có nhiều lý do để cấm nuôi chó hồi ấy, nhưng có một lý do mạnh nhất, đó là nuôi chó tốn kém, trong khi đất nước còn gặp vô vàn khó khăn... Để triệt hạ chó, người ta tổ chức các đội bắt và đập chết chó. Cũng có qui định cho phép nuôi chó, nhưng xin được cái giấy phép nuôi chó còn khó hơn xin nhập hộ khẩu. “Người nuôi chó phải đến Sở Nội Vụ (Sở Công An) với xác nhận của phường, quận để xin giấy phép nuôi chó, rồi phải làm “Hợp đồng nuôi chó”. Mỗi người chỉ nuôi được một con chó. Chó đẻ con, phải nộp chó con cho công an. Giấy phép có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Qui định thì như vậy nhưng chẳng ai được cấp giấy phép nuôi chó bao giờ. Nhiều người thích chó quá nên nuôi chui. Nuôi chó trong phòng kín, bịt rọ mõm. Nhưng rồi cũng có lúc gặp đại hoạ. Như ông Quyết ở đường Bà Triệu, chuyên nghề bán thuốc lào. Ông nuôi giấu hai con chó trong nhà suốt mấy năm. Vậy mà chẳng biết sơ sểnh thế nào, hai con chó chạy được ra ngoài. Cả phố chạy ra xem, người đi đường cũng ngừng lại xem, để biết “dung nhan mùa hạ con chó” như thế nào? Cảnh náo loạn, kẹt đường từ đường Bà Triệu đến đường Đại Cồ Việt. Thế là công an đến bắt hai con chó, truy tìm chủ nhân. Ông Quyết bị tù. Ra tù, ông lại lén lút nuôi chó.

Người thứ nhì nuôi chó gặp nạn là ông Xuân ở Bạch Mai. Ít người nuôi hai con chó, vì hai chữ “khuyển” thành chữ “khốc”, không phải khóc mà là “khốc hại” Ông Xuân nuôi hai con chó nên mới ra nông nỗi. Hai con chó đẻ ra một bầy chó tám con. Có người đi mét công an. Công an ập vào, xét nhà. Công an kết tội ông là tư bản. Ông Xuân bị tịch thu chó, tịch thu cả nhà cửa, tài sản. Ông chỉ kịp ôm một con chó, chạy thoát về khu Tân Mai, tiếp tục nuôi chó. Có ông Sinh Gà, cũng mê nuôi chó. Ông có đến bốn con Bẹt Giê (berger). Công an xét nhà thì ông ôm chó trốn vào tủ. Lúc đó, chó chỉ kêu lên một tiếng là ông đi tù.

Sau gần ba mươi năm, 1983, Hội Đồng Thành Phố Hà Nội nới lỏng việc cấm chó. Thế là mấy ông nuôi chó chui giàu to. Họ bán chó con với giá trên trời. Muốn lấy giống (nhảy đực) phải trả đến một chỉ vàng. Nhưng sau đó, chó nhập từ Thái Lan, mỗi lần cả nghìn con, chẳng ai nuôi chơi nữa. Họ đến các tiệm thịt chó nhậu cầy tơ. Phong trào ăn thịt chó phát triển khắp nơi. Sau đó, Thái Lan cấm xuất chó qua Việt Nam vì hội Bảo Vệ Súc Vật thế giới la ó nên Việt Nam thiếu chó để xơi, các cậu kẹt tiền có sáng kiến đi bắt trộm chó bán cho các quán thịt chó. Rồi người bắt chó trộm bị đánh đến chết, xe máy bị đốt.

Thời Pháp thuộc thì có nạn đánh chó trộm đêm giao thừa. Số là, đêm giao thừa, người ta đốt pháo, chó sợ, chạy trốn ngoài đồng. Những người nghèo khó thường ra đồng rình đập chó đem về làm thịt ăn tết. Trai tráng trong làng cũng ra đồng, nhưng để rình đánh những người đánh chó trộm. Cảnh người đánh chó trộm tàn bạo cũng giống như thời nay, người ta đánh, có khi đến chết những người bắt trộm chó đem bán. Tôi xin trích mấy dòng về chuyện đánh chó của Tô Hoài trong tập truyện “Chuyện Cũ Hà Nội”

06 January 2018

Lượm, truyện ngắn

Lanh Nguyễn

Khoảng năm 1968 sau tết Mậu Thân, thời điểm mà Việt Cộng thường hay đấp mô trên các trục lộ giao thông, đường xá bị kẹt, xe cộ không chạy được, tui ra Tân Hiệp ở trọ nhà cô tui để đi học, cho khỏi bị trể giờ vì VC đấp mô chận đường xe.

Sau nhà cô tui có vườn xoài hơn chục cây đủ loại. Xoài thanh ca, xoài tượng, xoài thơm, xoài các... Nhưng lạ một điều con nít ở chợ hổng biết lượm xoài rụng để ăn. Hay là bọn nó không dám vô vườn mặc dù vườn không nhà trống.

Lúc đầu thấy xoài rụng nhiều quá tui ham, lượm sạch sẻ chất cả đống trong nhà, nhưng mà một mình thì ăn được bao nhiêu, hơn nữa xoài non vừa chua vừa chát ăn nhiều ê răng thấy bà cố, vì vậy mấy hôm sau là tui cũng không thèm ngó tới chúng nữa.

Ngang cửa nhà cô tui có cất cái chòi nhỏ bên vệ đường chuyên bán đồ ăn vặt như bánh, kẹo, trái cây theo mùa...

Một buổi chiều sau khi tan học về tui đang lui cui nấu cơm kho cá trong bếp ở nhà sau thì nghe tiếng con gái nói chuyện:
    - Ai mà kho cá thơm quá dzị ta.
    Tui quay ra cửa bếp, hai cô nhóc, tóc cột bính đang thập thò ló mặt vô nhìn, tôi hỏi:
    - Tụi em tìm ai dzậy?
    - Đâu có tìm ai, nhà của bác Sáu bỏ không lâu rồi hổng có ai ở. Mấy hôm nay thấy có người tới, tụi em muốn qua làm quen chơi thôi. Mà anh là con trai sao mà biết nấu cơm kho cá hay quá dzị?
    - Hay gì mà hay? Vo gạo xong thì nhúm lửa lên nấu, khi nó sôi đều thì chắt hết nước ra, bớt lửa chừa than lại, chờ cho nó chín, đơn giản vậy ai mà hổng biết làm?
    - Em hổng nói chuyện nấu cơm, kho cá kìa, sao anh kho thơm quạ dzị, má em kho hổng thơm chút nào hết. Cho coi thử được hông?
    Tui chưa kịp trả lời, hai cô bé đã chạy tót vô trong rồi dở nắp nồi cá kho ra mà nhìn:
    - Sao khô queo dzậy? Hổng còn miếng nước nào hết lấy gì chan cơm ăn?
    Cô kia thì xì một tiếng chê:
    - Hổng biết kho cá, để khét ngẹt vậy mà mầy khen thơm, kéo tao vô coi.
    Tôi cười trả lời:
    - Hổng phải kho khét à nghen, tui kho quẹt đó, em kia nói đúng còn em trật đường rầy xe lửa rồi, nhìn kỹ đi, nước vừa cạn thôi đâu có khét miếng nào...
    Muốn quẹt thử hông?
    Hai cô bé lắc đầu lè lưởi rồi hỏi tôi:
    - Anh học lớp mấy, trường nào dzậy? Thái Hòa hay Kiên Tân?
    - Đệ Tứ trường Kiên Tân. Còn hai em?
    - Tụi em đang học lớp Nhứt (lớp năm) trường Tân Hiệp. Cuối năm nay là học chung trường với anh rồi đó.
    Tui cười chọc chúng:
    - Sắp thi mà hỏng ở nhà ôn bài, coi chừng không vô được Kiên Tân mà phải chạy qua Thái Hòa, học ở đó xong ra làm bà Phước luôn...
    Hai cô bé trề môi xì lia lịa rồi bỏ đi một nước...

    Cả tuần lể sau thì hai cô trở lại, đứng thập thò trước của bếp. Thấy vậy tui hỏi:
    - Hôm nay hổng có kho cá, hai em qua xem cái gì?
    Hai cô bé trả lời tỉnh bơ:

Anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học


Ảnh thật vừa được tìm thấy của anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học (1902-1930), người thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, do thực dân Pháp chụp tại nhà tù Hỏa Lò, tháng 2, 1930, đang mặc quần áo tù và mang số tù. Ông bị tuyên án tử hình và lên đoạn đầu đài ngày 17 tháng 6, 1930.

Nhục mấy trùng cao, ách mấy trùng
Thương đời không lẽ đứng mà trông
Quyết quăng nghiên bút xoay gươm súng
Ðâu chịu râu mày thẹn núi sông
Người dẫu chết đi, lòng vẫn sống
Việc dù hỏng nữa, tội là công
Nhớ anh nhớ lúc khi lâm biệt
Cười khóc canh khuya chén rượu nồng.

Nhượng Tống
(Nhật ký yêu nước)

02 January 2018

Tìm Hiểu Về Chủ Nghĩa Thực Dụng Của Hoa Kỳ

Lê Văn Bỉnh
Những hí họa là do TTR thêm vào
để giúp những ý niệm trừu tượng trở nên
cụ thể và vui hơn.
(TTR)

Nhiều người trong chúng ta thường nói rằng người Mỹ --dùng chung cho cá nhân, chính trị gia, định chế, chính phủ --theo “chủ nghĩa thực dụng” (pragmatism).  Khi tỏ ý chê bai, thì phê phán này có nghĩa là người Mỹ không có một lý tưởng rõ ràng, hễ thấy điều gì có lợi cho mình thì làm, quên cả mục tiêu mà mình muốn theo đuổi từ ban đầu. Khi ngợi khen, thì phê phán này hàm ý là người Mỹ không câu nệ, không cứng nhắc tuân theo nguyên tắc, mà trái lại biết linh động theo tình thế, sẵn sàng thay đổi phương cách hành động cũng như đường lối, chính sách.  Sử dụng cụm từ “chủ nghĩa thực dụng” với những hàm ý này thiết nghĩ không chính xác, nếu không nói là lạm dụng chữ nghĩa, bởi lẽ hành động theo cung cách đổi tới đổi lui thì không thể gọi là theo một “chủ nghĩa” nào cả!  Thiết nghĩ nói rằng người Mỹ “thực tế”, “thực tiễn” (practical) thì có lẽ đúng hơn.

Không phải chỉ có không ít người Việt chúng ta không hiểu về chủ nghĩa thực dụng, mà ngay cả nhiều người Mỹ có học cũng khá mơ hồ về nó. Thật vậy, đầu năm 2012, đài phát thanh National Public Radio ở thành phố New York (WNYC) tường thuật rằng 3 chữ pragmatic/pragmatism/pragmatist được cư dân mạng tìm kiếm nhiều nhất, cũng như đã được các phương tiện truyền thông đại chúng dùng nhiều nhất vào năm 2011 sau khi Tổng Thống Obama tuyên bố rằng ông và lịch trình hành động của ông từ khi vận động tranh cử đến lúc bấy giờ vẫn nhất quán, nghĩa là “pragmatic” và “pragmatist.”  (Pragmatism and American Experience: An Introduction, TG Joan Richardson, NXB Cambridge, 2014, tr.1-2)

Chủ nghĩa thực dụng thực ra đã được người Mỹ và thế giới công nhận là một trào lưu triết học, ra đời trên đất Mỹ từ hơn một trăm năm nay.  Nó càng ngày càng phổ cập trong đời sống cũng như trong các lãnh vực giáo dục, pháp luật, chính trị, ngoại giao vv. Hoa Kỳ.  Nhiều nhà triết học nổi tiếng thế giới đã nghiên cứu phong trào triết học mới này một cách nghiêm túc, coi đó là một sản phẩm trí tuệ của nước Mỹ đóng góp vào kho tàng triết học thế giới.

Trước khi giới thiệu nội dung của chủ nghĩa thực dụng, thiết nghĩ nên đề cập sơ lược về triết học để từ đó chúng ta có thể nhận ra những khám phá của phong trào triết học mới này.

Sơ Lược Về Triết Học

Triết học là gì? Thật ra chưa có một định nghĩa nào về triết học được đưa ra mà không gây tranh cải. Xuất xứ từ tiếng Hy Lạp (philosophia), triết học có nghĩa là “lòng yêu thương tri thức hay sự khôn ngoan” (love of knowledge or wisdom), mà mục tiêu là nhằm nghiên cứu để tìm hiểu các phạm trù đặc trưng tổng quát và trừu tượng nhất của thế giới (sự sống, chết, linh hồn, thần linh, thượng đế vv.) và các phạm trù giúp cho con người suy nghĩ (trí óc, vật chất, sự thật vv.) Theo nhiều nghiên cứu, triết học Đông phương, đặc biệt Trung Hoa và Ấn Độ có trước triết học Tây phương rất lâu, nhưng chủ yếu nghiêng về tôn giáo, tức thuộc loại phạm trù trước, hơn là loại phạm trù sau. Triết học xuất phát từ tính tò mò, hiếu kỳ cũng như lòng ao ước của con người muốn biết và hiểu. Cách đây vài trăm năm vì chưa có điều kiện giao lưu thường xuyên, cho nên triết Tây tiếp tục phát triển một các độc lập.  Nhưng dù triết Đông hay triết Tây, triết học nói chung đều mang ít nhiều tính cách tra vấn (inquiry); nhưng khi tra vấn, triết Tây thường theo một diễn trình khá qui ước, gồm các giai đoạn như phân tích, phê bình, giải thích và tổng quát hóa để có thể giúp tiên liệu những tình huống tương lai. Trong điều kiện này thì nghiên cứu triết học đòi hỏi ít nhiều thông minh, hay ít nhất người nghiên cứu không thể thiếu những kiến thức căn bản nào đó.  Trước năm 1975, tại Miền Nam, học sinh năm cuối cùng của chương trình trung học phải học và thi trong kỳ thi tốt nghiệp hai môn luận lý học và đạo đức học; riêng học sinh ban văn chương còn phải thêm môn tâm lý học.  Các kiến thức nhập môn này không những giúp họ hiểu biết một tổng quát thế giới trừu tượng, mà còn hướng dẫn và thúc đẩy họ tra vấn về nhiều phạm trù mà sau này khi ra đời họ sẽ thực sự đối phó.

Triết học như nói trên nhằm tra vấn những phạm trù mà người nghiên cứu quan tâm. Nhưng trên đời, có biết bao vấn đề đáng quan tâm! Theo truyền thống, triết học chia ra 5 ngành chính:
- Siêu hình học (metaphysics) nghiên cứu về bản chất căn bản của hiện thực và hiện hữu. Chia ra hai chi nhánh: hiện thể học (ontology, nghiên cứu hiện thể -- tức “Being”) và vũ trụ học (cosmology, nghiên cứu về nguồn gốc vũ trụ qua tôn giáo, truyền thuyết và khoa học);
- Tri thức học (epistemology) nghiên cứu về bản chất, căn bản và sự phát triển của tri thức (knowledge), để có thể giúp con người khám phá ra sự thực, tìm kiếm mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin;
- Luận lý học (logic) nghiên cứu về những nguyên tắc và phương pháp lý luận, có thể giúp người ta phân biệt giữa chính biện và ngụy biện;
- Đạo đức học (ethics) nghiên cứu về cách cư xử, bản tính và những hệ thống giá trị của con người;
- Thẩm mỹ học (aesthetics) nghiên cứu về sự sáng tạo và những nguyên tắc nghệ thuật và cái đẹp; cũng như tư tưởng, cảm nhận và thái độ khi thấy, nghe, đọc về những điều đẹp đẽ.
Ngày nay người ta còn kể thêm triết học về ngôn ngữ (philosophy of language), xem nó là quan trọng với lý do là mọi tranh cải triết lý đều từ ngôn ngữ mà ra. Câu hỏi chủ yếu “Ngôn ngữ là gì?” Ngoài ra, mỗi ngành học như khoa học, tôn giáo đều có triết lý “riêng” của mình, mà chỗ dựa chính vẫn là các ngành triết học kể trên.
Có thể nói mỗi người trong chúng ta hằng ngày đều phải đương đầu với những câu hỏi hoặc lớn hoặc nhỏ mang ít nhiều tính cách triết học: Vũ trụ từ đâu sinh ra? Tôi là ai? Cuộc đời này đáng sống hay không?  Sau khi chết linh hồn đi về đâu? Tuân thượng lệnh để giết người mà tôi biết rằng làm như vậy là sai, tôi sẽ bị tội hay không? Bạn dựa vào đâu mà nói ông ta đúng hay sai? Chị dựa vào đâu mà khen bức tranh này đẹp hay xấu? Ngay cả người chủ trương rằng tìm hiểu triết học chỉ phí thì giờ, hãy cứ tự nhiên mà sống, thì người ấy cũng cho thấy cái triết lý sống của mình!

Từ đó có thể nói nghiên cứu triết học giúp làm sáng tỏ những điều người ta viết là đúng hay sai, đáng tin hay nên ngờ vực; hiểu được lý do, hoàn cảnh của một giai đoạn lịch sử nào đó để có thể phê phán cho công bằng, vv.

Xã hội con người được xây dựng trên những tư tưởng triết học. Những định chế như chính quyền, luật pháp, tôn giáo, học đường, hôn nhân, gia đình, tổ chức thương mại, vv. thường được thiết lập theo những tư tưởng triết học nhất quán.  Thiếu tính nhất quán này, hay nếu những chuyển biến thô bạo vụng về thì dễ đưa đến đổ vỡ.  Đổ vỡ bởi vì người cầm quyền tin rằng những gì mình ra lệnh là quan trọng, là đúng, là sự thực; nhưng thuộc cấp và dân chúng lại suy nghĩ hoàn toàn trái ngược.

Chủ Nghĩa Thực Dụng

Notre-Dame "biến hình"...



Nhà thờ chính tòa Notre-Dame Nước Pháp là một trong những kiến trúc quan trọng nhất của thiên chúa giáo hoàn cầu. Xin mời quý bạn xem những màn "biến hình" ngoạn mục chiếu trên mặt tiền Notre-Dame.

Vụ bắt cóc từ Berlin về Việt Nam- Người nắm giữ bí mật bị bắt giữ ở Singapore?

Trịnh Xuân Thanh sau vụ bắt cóc ở Berlin
BERLIN taz | Một sĩ quan tình báo Việt Nam đã chạy trốn ra nước ngoài. Địa điểm muốn chạy tới: nước Đức. Blogger Bùi Thanh Hiếu hiện đang sống tại Berlin cho biết, ông ta muốn tiết lộ những thông tin nội bộ về vụ bắt cóc cựu chính trị gia Việt Nam Trịnh Xuân Thanh từ Berlin đưa về Hà Nội vào mùa hè năm ngoái cũng như các tài liệu cực kỳ nhạy cảm cho các nhà điều tra ở Berlin.

01 January 2018

Khai Bút

**
Đầu Hàng
Hết thuốc cứu thật ư?
Dù xơi súp bào ngư
Tưởng rằng xuân như cũ
Đâu biết thận cứ hư.

Trèo núi rất hăm hở
Xuống đèo rên khừ khừ
Khi nào mới vỡ lẽ:
Quy thuận luật bù trừ?

Điền Thảo
**

Con chó sắp đến ư?
Ra bánh tôm Cổ Ngư.
Đã định bớt vài ký,
Ấy thế mà vẫn hư.

Buổi sáng ta ăn phở,
Buổi chiều lại lừ khừ.
Mỗi năm thêm một tuổi,
Chỉ cộng chứ không trừ.
Sáu Nguyễn
**

Đầu Năm Khai Bút

Đầu năm khai bút nhớ quê nhà
Nhớ cả đồng hương… làng xóm xa
Nhớ lắm sơn hà xưa cẩm tú
Nhờ công xây dựng của ông cha!

Nay ở nơi nầy biệt cố hương
Nhớ xa rây rứt dậy cơn buồn
Đường qua bao dặm đời cô lữ
Xuôi ngược tháng ngày lạnh gió sương!

Bốn mươi năm thời gian dần rụng
Tóc người ngả trắng  tựa màu vôi
Nước non lâu rồi ngưng tiếng súng
Nhưng nỗi lầm than vẫn ngập đời!

Nhiều lâu đài xây cao ngất ngưởng
Lắm  người không có một mái tranh
Đời đâu có công bình thịnh vượng
Tháng năm gian khổ cũng cam đành!

Đầu năm chưa có trọn niềm vui
Quê hương còn lắm nỗi ngậm ngùi
Ở  xa luôn thương về cố quốc
Khai bút mà ta đã nghẹn lời!

Mong  người một lòng vì tổ quốc
Quyết làm đổ sụp ngọn cờ hồng
…Quê hương vui, không còn tiếng khóc
Xuân về rực sáng khắp non sông!

Hàn Thiên Lương

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...