23 May 2017

Tin buồn

Xin thông báo cùng Quý Đồng Môn
Đồng môn Quốc Gia Hành Chánh Ban Đốc Sự Khóa 10 & Cao Học 1

Ông

NGUYỄN NGỌC DU
Pháp danh: Thị Hoàng

Sanh ngày 16 tháng 6 năm 1935 tại Khánh Hòa, Nha Trang
đã mãn phần ngày 22 tháng 5 năm 2017 tại Houston, Texas
Hưởng thọ 83 tuổi
(Nguồn: Hội CSV-QGHC Nam California)

22 May 2017

Đảng Cộng sản sẽ 'thực lòng' đối thoại?

TTR: Dưới đây là cuộc trao đổi giữa Đài BBC Tiếng Việt và Ls Lê Công Định về ý kiến tổ chức "đối thoại" do Đảng CS đề xướng.
 **

Mọi mô hình đối thoại đã biết đều 'khó có thể áp dụng' vào trường hợp của Việt Nam, nếu cuộc 'đối thoại' mà ông Võ Văn Thưởng nói 'diễn ra thật', theo một luật sư bất đồng chính kiến và cựu tù nhân chính trị của Việt Nam nói với BBC từ Sài Gòn.

Bình luận về ý tưởng của đương kim Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Võ Văn Thưởng, tuần này đề xuất việc đề nghị ban lãnh đạo Đảng xem xét tổ chức 'đối thoại' với những người có ý kiến khác biệt với Đảng, Luật sư Lê Công Định cho rằng việc này 'khó' là vì Đảng CSVN chưa bao giờ 'quen đối thoại thẳng thắn' và 'thật lòng'.

Mời quý vị theo dõi toàn văn sau đây cuộc phỏng vấn qua bút đàm cuối tuần này của BBC Việt ngữ với Luật sư Lê Công Định:

Vì đối thoại nhân quyền?

BBC: Ông bình luận thế nào về ý kiến vừa rồi của ông Võ Văn Thưởng về vấn đề đề nghị Ban Bí thư của Đảng CSVN xem xét 'tổ chức đối thoại' với các ý kiến khác biệt với Đảng?

18 May 2017

Tin buồn

Xin thông báo

Ông TRẦN VĂN THÁI
(Kenneth)
Sanh ngày 2 tháng 4 năm 1940 tại Bến Tre, Việt Nam
Cựu Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sài gòn
Ban Cao Học Khóa 1

đã từ trần ngày 14 tháng 5 năm 2017 tại Orange County, California
Hưởng thọ 77 tuổi

16 May 2017

Con gái Hà Nội ở đâu?

Vũ Thế Thành

Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh,… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết…, khiến tôi ngờ…bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo  làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:
“ Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…”
Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:
“…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,
Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ
Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ
Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…”
Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là…ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…”. Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”.

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ,… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

15 May 2017

Đất nước Việt Nam đang như một chiếc lá rơi nghiêng

Bà Đầm Xòe

Nhà thơ Trần Đăng Khoa từ những năm 70 của thế kỷ trước có câu thơ: “Tiếng rơi rơi mỏng như là rơi nghiêng”. Nghĩa là cái lá ấy mỏng rơi xuống đất không có một tiếng động nào vì nó rơi nghiêng.

Đất nước ta, tôi thấy, cũng đang như một chiếc lá mỏng không trọng lượng rơi nghiêng. Nghĩa là, độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước cứ lệ thuộc dần, mất dần từng bước bởi Trung Quốc. Nó cũng còn có nghĩa là, Trung Quốc muốn làm gì trên đất nước ta cũng đều được cả. Tính độc lập tự chủ của nước Việt Nam chỉ còn có vật nài Trung Quốc “nhóm tay làm phúc” nữa mà thôi. Ông Trần Đại Quang, đại tướng, chủ tịch nước Việt Nam, hôm 11/5/2017, tại Bắc Kinh đã chính thức vật nài như vậy khi ông nói: “Mong rằng Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam nên quan tâm hơn đến môi trường của Việt Nam”. Một nguyên thủ mà phải hạ mình cầu xin như vậy, không dám dỏng dạc tuyên bố rằng, bất kỳ ai đầu tư vào Việt Nam đều phải tuân thủ Luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế mà chỉ là đề nghị thì đất nước đó chả đã như một chiếc lá không trọng lượng rơi nghiêng, không dám phát ra một tiếng động nào.

Con đường đất nước Việt Nam rơi nghiêng bắt đầu từ năm 1990 khi những người đứng đầu đất nước (Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư; Đỗ Mười, thủ tướng, Lê Đức Anh, chủ tịch nước; Phạm Văn Đồng, cố vấn) ký thỏa thuận Thành Đô năm 1990, gắn chặt sự tồn vọng của đất nước Việt Nam với sự tồn vong của đất nước Trung Quốc. Kể từ đây, con thuyền Việt Nam bồng bềnh như chiếc lá không trọng lượng cứ nghiêng rơi, nghiêng rơi xuống mãi.

13 May 2017

Mỏi Mòn, tranh A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh


Mỏi Mòn
Exhausted Waiting
Oil on canvas, 18x24 inch (47x61 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**

Lá khô và tâm hồn héo hon. Héo hon vì đợi chờ nhiều khi vô vọng.  Tưởng vài tuần hay một vài tháng, nhưng không phải thế. Sao Thần Nông tới rồi sao Thần Nông đi, và người vẫn biền biệt. Cũng vẫn giờ Tý với sương khuya, qua của sổ hết chòm sao này rồi chòm sao kia hiện ra. Vòng quay xoay đủ một vòng rồi nhiều vòng. Da thịt chùng xuống, khóe mắt hiện vết nhăn, một đường rồi nhiều đường, mỗi ngày một dầy thêm. 

Thỏi son cũ nhiều năm bụi bặm. Hộp phấn năm xưa lõm xuống, khô cong, không bao giờ được thay thế nữa. Không khả năng mua sắm, nhưng dù cho có tiền dư chăng nữa, thì cũng sẽ cất vào một góc tủ ìm lìm. Thân xác người trong rào kẽm gai và người tất bật nơi vùng có tem phiếu đều có một điểm chung: gầy gò và nụ cười không còn. 

Tất cả là mỏi mòn sau tháng tư năm ấy.

(A.C.La)

Đêm Nhớ Mẹ, thơ


12 May 2017

HỠI NGƯỜI TRẺ VIỆT NAM, Tùy bút

ĐIỆP MỸ LINH

Đồng quê Miền Nam (Nguồn: Internet)
Vào dịp Thanh Minh, gia đình tôi đi chùa, viếng hài cốt của Bố các con tôi – Cố Hải Quân Trung Tá Hồ Quang Minh!

Vừa rời nơi để hài cốt của Minh, thấy một vị Thầy bước về hướng tôi, tôi cung kính chào. Thầy cười và rất bất ngờ gọi: “Chị Điệp Mỹ Linh!” Tôi hoàn toàn ngạc nhiên: “Dạ, thưa Thầy, làm thế nào Thầy biết con là Điệp Mỹ Linh?” Thầy đáp: “Biết chứ! Nhưng tôi khuyên chị đừng nên viết xúi người ta ‘wuýnh’ nhau!” Tôi ngỡ ngàng, tim thắt lại và lòng cảm thấy bất nhẫn, vội quay người, bước nhanh vào chánh điện. Vì không hiểu tiếng Việt nhiều, các con tôi bước theo tôi nhưng vẫn quay lại nhìn Thầy như ngầm hỏi: “Thầy đã nói gì xúc phạm đến Măng của chúng tôi, phải không?”

Dù bị xúc phạm, sau khi quỳ xuống, chấp tay, nhìn tượng Phật Quan Thế Âm, tôi cảm thấy bình an trong hồn.

Theo tiếng niệm kinh trầm trầm – và cũng vì lời khuyên của vị Thầy, lúc nãy – hồn tôi lui về quá khứ xa xăm như muốn tìm lại những dòng sông xưa, những vùng trời lửa đạn, những bến bờ dấu yêu, những khuôn mặt thân quen của những người đã hy sinh tuổi trẻ, hy sinh một phần cơ thể và rất nhiều người hy sinh cả mạng sống để bảo vệ miền Nam Việt Nam!

Ẩm Nguyệt, thơ

Dạo:
 
Thân mang ngọc báu nào hay,
Khắp nơi khổ sở loay hoay kiếm tìm.

           飮 月

雲 逃 玉 兔 展 姸 容,

一 隻 漁 舟 水 上 衝.

老 鶩 悾 悾 尋 暮 鼓,

殘 燈 苦 苦 望 晨 鐘.

庭 前 樹 折 人 亡 蔭,

火 裏 冰 消 佛 隱 蹤.

酌 酒 盲 翁 三 盞 喫,

不 知 飮 月 自 杯 中.
                 陳 文 良

Âm Hán Việt:

              Ẩm Nguyệt
Vân đào, ngọc thố triển nghiên dung,
Nhất chích ngư châu thủy thượng xung.
Lão vụ không không tầm mộ cổ,
Tàn đăng khổ khổ vọng thần chung.
Đình tiền thụ chiết, nhân vong ấm,
Hỏa lý băng tiêu, Phật ẩn tung.
Chước tửu, manh ông tam trản khiết,
Bất tri ẩm nguyệt tự bôi trung.
               Trần Văn Lương


Dịch nghĩa:

             Uống Trăng
Mây chạy trốn, con thỏ ngọc (trăng) bày ra khuôn mặt đẹp đẽ,
Một chiếc thuyền câu xông pha trên nước.
Con vịt trời già ngu ngơ tìm (tiếng) trống chiều,
Ngọn đèn tàn buồn bã trông đợi (tiếng) chuông sớm.
Cái cây trước sân (bị) đổ, người mất bóng mát, (1)
Cục nước đá trong (lò) lửa (bị) tan, Phật ẩn giấu tung tích. (2)
Rót rượu, ông lão mù uống (luôn) ba chén, (3)
Chẳng biết rằng (mình) đang uống trăng từ trong chén.

Chú thích:

(1) Vô Môn Quan, tắc 37: Đình Tiền Bách Thụ
    Cử:
    Một ông tăng hỏi Thiền Sư Triệu Châu:
       -  Ý Tổ sư từ Tây sang là gì? (Hán văn: Như hà thị Tổ sư Tây lai ý)
    Triệu Châu đáp:
       - Cây bách trước sân.  (Hán văn: Đình tiền bách thụ tử)

    Lời Bình của Vô Môn Huệ Khai:
    Nếu thấy rõ được chỗ trả lời của Triệu Châu thì trước không có Thích Ca, sau không có Di Lặc.

   Bài Tụng của Vô Môn Huệ Khai:
         Ngôn vô triển sự,
         Ngữ bất đầu cơ.
         Thừa ngôn giả táng,
         Trệ cú giả mê.

   Trần Tuấn Mẫn dịch:
       Lời không tả chuyện,
       Tiếng chẳng hợp duyên.
       Đeo lời mất mạng,
       Vướng câu tối lòng.

(2) Pháp Bảo Chư Tổ, Thượng Tọa Thích Minh Nhật biên soạn (http://www.thuongson.net/phapbaochuto.htm):

Bài tụng của Trường Khánh Huệ Lăng:

   Vạn tượng chi trung độc lộ thân
   Duy nhân tự khẳng nãi vi thân
   Tích thời mậu hướng đồ trung mịch
   Kim nhật khán như hỏa lý băng

Bài dịch của TT Minh Nhật:

  Chính nơi tâm thức bày một thân
  Chỉ người tự nhận mới là gần
  Lúc xưa lầm hướng ngoài đường kiếm
  Giống tợ băng trong lửa cháy rần.

Lời Luận của TT Minh Nhật:

Muốn an lành hãy quay về tâm thức và thật lắng lòng. Muốn lắng lòng thì đừng hướng ngoại tìm kiếm sự an lành. Hướng ngoại tìm an lành nếu có, sẽ mất nhanh ngay, giống như nước đá đưa vào lửa sẽ tan biến mất.

(3) Vô Môn Quan, tắc 10: Thanh Thoát Cô Bần
    Cử:
    Ông tăng thưa với Hòa thượng Tào Sơn:
    - Thanh Thoát nghèo đói, xin Sư giúp đỡ.
    Tào Sơn gọi:
    - Thầy Thoát!
    Tăng đáp:
    - Dạ.
    Tào Sơn bảo:
    - Rượu nhà họ Bạch ở Thanh Nguyên, uống xong ba chén mà sao còn bảo chưa dính môi ?

    Lời Bình của Vô Môn Huệ Khai:
    Thanh Thoát trình cơ như vậy, tâm ý là sao? Tào Sơn sáng mắt, biết ngay thâm ý. Tuy nhiên như vậy, đâu là chỗ thầy Thoát uống rượu?


Phỏng dịch thơ:
           Uống Trăng
Trăng thu rờ rỡ tống mây bay,
Một bóng thuyền câu nhỏ quắt quay.
Vịt nhớ trống chiều, day dứt kiếm,
Đèn mong chuông sớm, nghẹn ngào lay.
Trước sân cây đổ, tâm không hiện,
Trong lửa tuyết tan, Phật chẳng bày.
Ông lão mù luôn tay cạn chén,
Vô tình nuốt vẹn mảnh trăng say.
              Trần Văn Lương
                 Cali, 5/2017

Lời bàn của Phi Dã Thiền Sư :
       Đừng trách ông lão mù uống trăng mà không biết. Hầu hết chúng sanh nào có khác gì! Ai cũng mang châu báu vô giá trong mình mà không biết để phải chịu cơ khổ rách rưới. (*)
        Hỡi ơi! Bính Đinh đồng tử đến xin lửa! (**)

Ghi chú:

(*) Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (gọi tắt là Pháp Hoa), quyển 4, phẩm thứ 8: Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký
     (Bản dịch của Tỳ kheo Thích Trí Tịnh):

8. Bấy giờ, năm trăm vị A-la-hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật ăn năn lỗi của mình mà tự trách : Thế-Tôn ! Chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí huệ của Như-Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ.

 Thế-Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho nó rồi đi. Gã đó say mèm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ.

 Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng : "Lạ thay! Anh này sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này. Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thụ năm món dục, ở ngày tháng năm dó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thực là khờ lắm; nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thì thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn.

(**) Bích Nham Lục, tắc 7: Huệ Siêu Vấn Phật

Trích lời Bình của Viên Ngộ Khắc Cần:
       (Bản dịch của Thiền Sư Thích Mãn Giác)
...
Cũng như ông tăng giám viện Tắc tuy ở trong chúng hội của Pháp Nhãn song chưa từng xin nhập thất. Một hôm Pháp Nhãn hỏi ông ta, "Tại sao viện chủ không nhập thất?" Tắc đáp, "Hòa thượng không biết là hồi ở với Thanh Lâm đệ tử có chứng được đôi chút sao?" Pháp Nhãn nói, "Ông thử kể lại cho tôi nghe xem." Tắc nói, "Đệ tử hỏi Phật là gì?" Thanh Lâm nói "Bính Đinh đồng tử đến xin lửa." Pháp Nhãn nói , "Lời hay lắm song tôi e rằng ông hiểu lầm. Thử nói gì nữa xem sao." Tắc nói, " Bính Đinh là lửa, lấy lửa mà đi tìm lửa. Cũng như đệ tử đã là Phật rồi lại còn đi tìm Phật". Pháp Nhãn nói, "Quả nhiên là giám viện hiểu lầm rồi." Tắc không vui mới thu dọn hành trang bỏ qua sông. Pháp Nhãn nói: "Người này nếu trở lại thì còn cứu được, nếu không trở lại thì không cứu được nữa." Đến giữa đường Tắc tự suy gẫm: "người này là bậc thiện tri thức của năm trăm người, chẳng lẽ ông ta lại lừa mình sao?" Bèn trở lại, vào tham kiến Pháp Nhãn. Pháp Nhãn nói, "Ông cứ hỏi đi, tôi sẽ trả lời cho." Tắc hỏi, "Phật là gì?" Pháp Nhãn nói, "Bính Đinh đồng tử đến xin lửa." Nghe lời ấy Tắc bèn đại ngộ.

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...