04 February 2016

Ngày sinh nhật đảng ngẫu hứng viết chơi

Nguyễn Hoa Lư 
Theo blog Nguyễn Hoa Lư
1. Đảng và biển

Đảng và biển đều tượng trưng cho sự vĩ đại, vĩnh cửu, bao la không bờ không bến. Biển và đảng là nguồn cảm hứng bất tận cho muôn đời thi nhân và nhạc sĩ. Mọi con sông đều tìm về biển, mọi tầng lớn dân chúng đề hướng về đảng.

Biển muôn đời vĩ đại dù có những dòng sông bị nhiễm độc hòa vào biển. Trận lũ mấy tháng trước, làng tôi nước ngập ngang mái nhà, lợn gà chết trôi trương phềnh, hôi thối, tất tật chảy về biển. Đảng đời đời bất diệt, dù trong lòng chất chứa những nhóm lợi ích hoạt động như ma phi a. Có gã côn đồ đâm thuê chém mướn, đảng bao dung ôm trọn vào lòng bảo ban, dạy dỗ.

Nước biển có vị mặn, đó là vị của nước mắt và máu của con dân nước Việt ngàn đời nay. Đảng cũng có vị như vậy.

Chỉ riêng một điểm khác. Biển có màu xanh, màu cuộc sống

Đảng có màu đỏ, màu của máu.

2. Tôi không bác nhé

Giáo sư Ngô Thúc Lanh, tuy người sáng lập ngành sư phạm toán của Việt Nam nhưng chỉ nổi tiếng trong giới giáo viên Toán. Dòng họ này gần đây có giáo sư Ngô Bảo Châu, quả là hậu sinh khả úy, tiếng tăm lừng lẫy đến mức khắp nước Nam này, nam phụ lão ấu, ai nấy đều đua nhau nói về bổ đề cơ bản.

Tôi chưa từng gặp giáo sư Ngô Thúc Lanh, chỉ nhớ đã đọc hai cuốn giáo trình của cụ viết. Cuốn đại số tuyết tính, đọc lúc vừa tốt nghiệp đại học. Trước đó tôi quen đọc một giáo trình của thầy Trần Văn Hạo. Hai cuốn này trình bày đại số tuyến tính bằng hai cách tiếp cận khác nhau. Có lẽ đó là lần đầu tiên tôi thực sự ngỡ ngàng trước sự sáng tạo, trong sáng và độc đáo của toán học. Lúc vào học thạc sĩ, bê cuốn Lý thuyết đồng điều (?) của cụ về nghiền ngẫm thì ôi thôi thôi… trừu tượng vô cùng, kỳ bí vô tận.

Hai mẫu chuyện nhỏ về giáo sư Lanh, tôi nghe được thời học cao học.

Thầy Lanh đang nói chuyện với đám sinh viên trước thư viện trường thì gặp một đồng nghiệp đi qua. Thầy Lanh hồ hởi chào: bác đi đâu? Người đồng nghiệp nói: tôi đi chút chuyện. Sau mới biết là đồng nghiệp nọ đi họp chi bộ! Thầy Lanh thắc mắc, nghĩ mãi không ra, đi họp chi bộ mà sao mặt mày nhớn nhác và lấm lét vậy?

Một buổi tối, đích thân bí thư chi bộ quyết định đến vận động thầy Lanh vào đảng. Bí thư nói một thôi một hồi, thầy kiên nhẫn nghe xong, nói: đồng chí cho tôi suy nghĩ một đêm nhé. Bí thư cả cười: chuyện trọng đại như vậy, anh cứ suy nghĩ cẩn thận.

Sáng hôm sau, thầy Lanh đi chợ, nhìn thầy đồng chí bí thư bê kia đường, thầy Lanh vẫy tay nói lớn: tôi không bác nhé! Miệng nói mà chân thầy Lanh cứ thế bước thẳng.

Những chuyện trên, tôi được nghe anh Phú kể. Bây giờ đường đường là hiệu trưởng một trường đại học lớn ở Hà Nội chứ lúc đó anh Phú đang ngoi ngóp làm nghiên cứu sinh và ngẩn ngơ theo đuổi một cô giáo tiếng Pháp dạy đại học ngoại ngữ, đẹp như tiên giáng trần. Tôi hỏi anh Phú: thầy Lanh không vào đảng vì sao? Anh Phú nói: đảng trừu tượng quá.

Đến giờ, đảng vẫn kiên định sự trừu tượng của mình. Cái lý thuyết kinh tế định hướng của đảng, tôi đã hỏi cả trăm giám đốc, ai cũng xớn xác nhìn quanh rồi ghé tai tôi nói nhỏ: chuyện này, nói thật là tớ đéo hiểu nhé!

3. Lý thuyết nuôi cu

Ngày giáp Tết, tôi nói với vợ nấu cho nồi cơm cá. Tôi bê ra ngoài công viên biếu hai ông bà già cụ, sống ở đây vài năm nay. Cả hai cụ lặng người, hít hà mùi cá lóc nấu nghệ. Cụ ông nói với cụ bà: bao lâu rồi, giờ mới được ăn bát cơm nóng với cá đồng bà nó nhớ không? Cụ bà: từ ngày dự án Tương lai đến lấy đất đến nay, 5 năm rồi ông ạ. Cái ao nhà mình hồi đó những con cá lóc to bằng cổ tay chứ thua gì ai…

Hai ông bà nước mắt ngước nhìn tôi, lắp bắp thành khẩn: cám ơn đảng và nhà nước!

Tôi quay mặt khóc, chợt nhớ đến bí quyết nuôi cu của một đại gia chơi chim.

Gặp những con chim rất nhát, cứ thấy bóng người là đập cánh loạn xạ, tay đại gia chỉ cho chim uống nước lã. Trong hai ngày, chim đói, đứng từ xa gã biết chim sắp lịm đi mới đến gần bỏ vào coóng vài ba hạt lúa. Rồi gã bỏ đi. Một ngày sau quay lại, bỏ vào dăm hạt kê, lại bỏ đi. Cứ thế, vài tuần sau thì gã trở thành ân nhân của chim.

Bây giờ, cứ thấy bóng gã, chim lại xòe cánh, ngước mắt nhìn đại gia chơi chim đắm đuối và cất những tràng dài tiếng cúc cu cu… Bài thánh ca tạ ơn gã chơi chim.

(Nguồn: Dân Luận)

Tin buồn

Xin thông báo cùng quý Đồng môn:

Đồng môn Quốc Gia Hành Chánh
Ban Đốc Sự Khóa 8 và Cao Học Khóa 2

Ông NGUYỄN TẤN HƯƠNG
Pháp Danh Quảng Liên

đã từ trần ngày 03 tháng 2 năm 2016 tại Westminster, California
Hưởng thọ 78 tuổi
*
(Nguồn: Hội Nam California)

03 February 2016

Xướng họa thơ xuân

Xướng                                                                  
 XUÂN  ĐẾN  NHỚ QUÊ NHÀ
                        
Xuân sang chợt đến giữa lòng ta,              
Quê cũ muôn trùng quá cách xa.               
Lệ ướt tràn dâng tim dẫu cỗi,                     
Hồn say chất ngất chí chưa nhòa.             
Đau lòng giã biệt thêm thương Mẹ,         
Gạt lệ phân kỳ mãi nhớ Cha.                     
Canh cánh niềm riêng con cuốc cuốc,       
Hẹn ngày trở lại đất đầy hoa.                     

Nguyễn văn Sanh (ĐS17)                                
                                                                                                     
 Họa 1                                               
MƠ GIẤC HƯƠNG QUAN

Thao thức canh dài ta với ta,
Cố hương muôn dặm phải lìa xa.
Cơ trời giông bảo còn u ám,
Vận nước tang thương chẳng xóa nhòa.
Chí cả quyết phục thù đất tổ,
Gươm thiêng thề rửa hận quê cha.
Non sông trăn trở đời lưu lạc,
Mơ một ngày về đẹp nắng hoa!

Nguyễn Văn Nghĩa (ĐS15)
San Jose 1/16

Họa 2     
XUÂN  KHÔNG  CÓ  HOA

Xuân đã về chưa ? ta hỏi ta,                      
Sao bao ước vọng vẫn mù xa?                  
Quê hương nghĩ đến lòng đau đáu,          
Tổ quốc mơ qua mắt nhạt nhòa.              
Tóc bạc nuốt hờn quên nghĩa Mẹ,
Thân tàn ôm hận phụ công Cha.
Xuân nay thêm một Xuân buồn nữa,
Lại một mùa Xuân không có hoa!

Thu Nhan (Thân hữu)
San Francisco - 

Họa 3
BÈ BẠN GẦN XA

Đâu phải xứ người chỉ có ta,
Còn bè ,còn bạn ở gần xa
Nhiều lần gặp mặt,tình thêm thắm,
Lắm bận đưa cay ,mắt chửa nhòa.
Vẫn muốn sum vầy trên Đất tổ,
Hằng mong hội ngộ giữa Quê cha.
Một mùa xuân mới trên non nước,
Khắp nẻo đường rực rỡ sắc hoa.

Phạm Tùng (Brisbane 2016) 

Dân chủ đến thế này là cùng

Phạm Nhật Bình
Theo Việt Tân

Một ngày sau khi được Trung ương đảng khóa XII dồn đến gần 100% phiếu mà ông Trọng gọi là “bất ngờ” để giữ ghế tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ, ông Trọng đã có một số phát biểu khiến mọi người ngao ngán trong cuộc họp báo sáng 28 Tháng Giêng vừa qua.

Ông không tiếc lời biện bạch và tán tụng cuộc bầu cử của đảng mà ông cho là dân chủ 100%, hơn hẳn một số quốc gia. Dĩ nhiên ông không nêu tên đó là những quốc gia nào, có nằm trong hệ thống độc quyền chính trị như Việt Nam không.

“Dân chủ thế này là cùng, không thể dân chủ gì hơn”, ông tuyên bố chắc như đinh đóng cột. Vậy thử hỏi, dân chủ thế nào là cùng?

Khái niệm thông thường được hiểu dân chủ là “dân làm chủ” qua hành động sử dụng quyền bầu cử để bầu lên người đại diện cho mình điều hành đất nước. Nhưng Việt Nam dưới chế độ độc đảng, quyền hành tập trung vào tay một số người và được che giấu dưới một khẩu hiệu mỹ miều: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.”

Nguyễn Phú Trọng thừa hiểu hơn ai hết trong chế độ của ông, nhân dân làm chủ là nhân dân “làm chủ không”. Còn đảng lãnh đạo là lãnh đạo đến ngày tận thế. Dân chủ kiểu ông Trọng có thể nhìn thấy nhan nhản qua những sự thật đã diễn ra trong đời sống chính trị của đất nước thời gian qua.

Dân chủ là triệt để xử dụng các điều luật phản dân chủ của Bộ Luật hình sự như 79, 88, 84, 245, và 258 v.v…. Mỗi khi có dịp, nhà nước tự nhận là pháp quyền xã hội chủ nghĩa sẵn sàng đẩy những công dân có ý kiến ngược lại với đảng vào tù.

Dân chủ là cho công an mật vụ cấu kết với các thành phần côn đồ, xã hội đen ra tay hành hung đánh đập người dân, bất chấp luật pháp do chính chế độ làm ra.

Dân chủ là biến người nông dân từ người đang sở hữu mảnh ruộng miếng vườn thành những người trắng tay, sống lê lết đầu đường xó chợ. Cũng chính vì phản ứng trước lối dân chủ ăn cướp ấy nên tiếng súng Tiên Lãng mới nổ ra, cũng như dân oan Ba Miền đang kiên trì đòi lại quyền lợi của mình hàng ngày tại Hà Nội.

Bài bản dân chủ do đảng sắp xếp, công an thi hành không chỉ dừng lại ở đó. Cũng tại cuộc họp báo sau khi tái đắc cử, ông Nguyễn Phú Trọng hào hứng kể: “Tôi đi nước ngoài, người ta cứ hỏi tôi về dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới. Hôm trước đi Mỹ, tôi đề nghị đồng chí Tòng Thị Phóng đi sang họp với bà con Việt kiều. Tôi bảo ‘Đấy, bà con xem, có oai vệ không? Cũng đàng hoàng ngang ngửa ra quốc tế đấy chứ. Vừa nữ, vừa dân tộc. Người ta cứ bảo là mình vi phạm dân chủ, nhân quyền với lại không bình đẳng giới!”.

Vậy ra bà Tòng Thị Phóng cũng là một điển hình cho nền dân chủ rất oai vệ của ông Trọng. Chẳng dân chủ thì gọi là gì?

Tính dân chủ của Việt Nam, theo ông Trọng còn “thể hiện qua sinh hoạt của quốc hội, hội đồng nhân dân, các tổ chức chính trị ở Việt Nam.” Giống như một người ngủ mê trong chiến thắng mà ông nói là “bất ngờ”, việc trưng ra một quốc hội bù nhìn để minh chứng cho nền dân chủ ưu việt của đảng làm ai nấy phải bật cười.

Cái quốc hội ấy cứ 5 năm một lần lại tái diễn tấn tuồng cũ rích: đảng đề cử người, dân bỏ phiếu bầu cho những người đảng cử. Cuối cùng thì 500 đại biểu mà hầu hết là đảng viên ngoan ngoãn giơ tay gật đầu theo cây gậy chỉ huy của đảng. Người dân đã có quá nhiều kinh nghiệm với hình thức trang trí này của đảng, nhằm đánh bóng cho bộ mặt dân chủ giả hiệu.

Đặc điểm của các lãnh đạo cộng sản là mỗi khi có dịp, họ lập tức huênh hoang tán tụng nền dân chủ công an trị mà đảng áp đặt lên người dân. Nhưng thứ dân chủ ấy bị thế giới lên án hàng năm qua những dẫn chứng cụ thể và xếp vào loại tồi tệ không thua ai.

Mới đây, báo cáo nhân quyền năm 2015 của Tổ chức Human Rights Watch nhận định rằng tình hình nhân quyền Việt Nam năm qua vẫn mang màu sắc đen tối. Sự độc quyền chính trị của đảng cộng sản đã buộc chặt các quyền căn bản của người dân vào chiếc còng số 8 và những điều luật hình sự mơ hồ, phi lý.

Human Rights Watch đã kể ra những trường hợp bắt bớ xảy ra trong năm 2015 như ông Trần Anh Kim, ông Lê Thanh Tùng, cả hai cùng bị khởi tố theo điều 79 (Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân) của Bộ Luật Hình Sự. Đó là chưa kể blogger Nguyễn Ngọc Già, Anh Ba Sàm và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, bị bắt từ năm 2014 đến nay vẫn chưa đưa ra xét xử. Cũng theo Human Rights Watch, chỉ trong 9 tháng đầu năm 2015, đã có hơn 40 vụ an ninh thường phục phối hợp côn đồ công khai hành hung các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa.

Gần đây nhất ngày 6 Tháng Mười Hai, Luật sư Nguyễn Văn Đài bị đánh đập trên đường về sau khi tham dự một cuộc trao đổi, thảo luận về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và Hiến pháp 2013 tại Nam Đàn, Nghệ An. Mười ngày sau, ông bị bắt trước khi tới dự một cuộc đối thoại nhân quyền với các đại biểu Liên Minh Châu Âu.
ins3-3.jpg
Luật sư Nguyễn Văn Đài bị đánh đập bởi công an mặc thường phục tại Nghệ An ngày 6-12-2015. Ông bị bắt giam 10 ngày sau đó.

“Một chính quyền côn đồ”, đó là lời lên án gắt gao của ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách Ban Á Châu - Thái Bình Dương của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF).

Amnesty International (Hội Ân Xá Quốc Tế) cũng đã chỉ ra sự giả dối của Việt Nam trong hành trình nhân quyền: “Cứ sau một bước tiến về phía trước thì dường như lại có vài ba bước trở lại phía sau.” Cụ thể là sau khi kết thúc vòng đàm phán TPP vào Tháng Mười đòi hỏi Việt Nam chấp nhận công đoàn độc lập như một quyền thiết yếu của người lao động, Hà Nội quay ra đàn áp những người ủng hộ quyền này. Họ cho công an côn đồ đánh đập và tra hỏi hai nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh và Trương Minh Đức ngay trong tháng 11. Những điều kể trên có lẽ cũng chưa lột trần hết bản chất của một chế độ lấy bạo lực đàn áp để tồn tại.

Có lẽ ông Trọng chưa đủ thấm thía và hổ thẹn về mấy chữ “một chính quyền côn đồ” nên cứ ngang nhiên khoác lên bộ mặt độc tài của đảng ông một chiếc mặt nạ dân chủ mà ai cũng biết chỉ để trình diễn và lừa bịp.

“Dân chủ đến thế này là cùng!” Xảo ngôn là quyền của kẻ độc tài nhưng cố lấy thúng úp voi như ông Trọng không che giấu được gì cũng như không thoát khỏi sự phán xét của nhân dân về tội đàn áp nhân quyền.

Phạm Nhật Bình
2/2/2016

Ganh tị, thơ xứ lạnh

Xướng:  GANH  TỊ

Trời Ca đang rét tái tê da...
Xứ Úc vầng dương rọi chói lòa...
Tôi ở nơi nầy phòng tuyết lạnh...
Bác cư bên ấy dạo khơi xa
Người trông biển lặng vui đời trẻ
Kẻ đợi nắng lên  ấm tuổi già
Cố gắng chùm chăn thêm tháng nữa
Được xem hoa lại nở quanh nhà.

   Nguyễn thị Thúy (Canada)


               **
 Họa:   MỜI THĂM PHỐ NẮNG

Brisbane dù có nắng nung da,
Mang kiếng , đâu lo mắt bị lòa.
Chiên trứng trên đường, mời bạn mới,
Nướng khô giữa lộ , đãi người xa.
Bà con đừng ngại giờ khuya tối ,
Cô bác chớ lo chuyện trẻ già.
Mời đến đây chơi ,dùng "đặc sản",
Nhâm nhi ly..."nước mắt quê nhà".

   Phạm Tùng (Brisbane 2016)

02 February 2016

Tin ngắn đáng chú ý:

**Hoa Lục bắt đầu đuối sức trong cuộc chạy đua GDP với Mỹ

Theo số liệu do Bộ Thương mại Mỹ công bố ngày 29/1, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Mỹ tăng thêm 590 tỷ USD trong năm 2015 so với năm 2014, tương đương mức tăng 2,4%, đạt hơn 18,1 nghìn tỷ USD.

Trong khi đó, GDP của Trung Quốc tăng 6,9% trong năm 2015, tương đương tăng 439 tỷ USD, vượt ngưỡng 10 nghìn tỷ USD. Đồng Nhân dân tệ mất giá mạnh so với USD đã khiến giá trị GDP của Trung Quốc giảm theo khi quy đổi sang USD.

Theo Bloomberg, năm 2015 là năm đầu tiên kể từ 2006 Trung Quốc không đạt được bước tiến nào trong việc thu hẹp khoảng cách với Mỹ về quy mô của nền kinh tế.

Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ năm 2015 chỉ bằng mức tăng của năm 2014. Tuy nhiên, mức tăng của kinh tế Hoa Lục năm qua là mức tăng thấp nhất trong 1/4 thế kỷ khi những động lực tăng trưởng đã cũ của nước này như công nghiệp nặng và xuất khẩu cùng giảm tốc.

"Kinh tế Mỹ đã hồi phục từ cuộc khủng hoảng tài chính nhờ sức sáng tạo công nghệ mạnh mẽ, trong khi kinh tế Trung Quốc đang đi xuống", ông Niu Jun, giáo sư thuộc Đại học Bắc Kinh, nhận xét.

Do sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc, nhiều tổ chức dự báo đã lùi thời gian mà kinh tế Trung Quốc được cho là sẽ vượt qua kinh tế Mỹ về mặt quy mô.

Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh (CEBR) của Anh dự báo GDP của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2029, thay vì năm 2025 như dự báo trước đó.

** Nhật:  Senkaku là "chiến tuyến phòng thủ của quốc gia"

Bộ quốc phòng Nhật Bản hôm nay 31/01/2016 cho biết đã đưa 20 chiến đấu cơ F15 từ căn cứ Kyushu ở tây nam về Naha ở Okinawa bổ sung cho phi đội 20 chiếc F15 tại chổ.

Sự kiện quân đội Nhật tập trung 40 máy bay chiến đấu về Okinawa diễn ra trong bối cảnh Hoa Lục huy động hải thuyền và máy bay thường xuyên áp sát hoặc xâm nhập vùng biển và vùng trời quần đảo Senkaku/ Điều Ngư, mà Bắc Kinh cho là thuộc chủ quyền Hoa Lục từ ngàn xưa.

Các hành động của hải quân và không quân Hoa Lục nhằm trắc nghiệm phản ứng của Tokyo luôn bị lực lượng phòng vệ Nhật Bản nhanh chóng ngăn chận.

Trong buổi lễ tiếp nhận đơn vị chiến đấu cơ tăng cường tại căn cứ Naha, thứ trưởng quốc phòng Kenji Wakamiya tuyên bố Senkaku là "chiến tuyến phòng thủ của quốc gia".

** Hà Nội lần đầu tiên có thái độ rõ ràng trước hoạt động "tự do hàng hải" của Hoa Kỳ.

Hôm 30/1, tàu khu trục có tên lửa dẫn đường USS Curtis Wilbur của hải quân Hoa Kỳ áp sát đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa trong điều mà Hoa Kỳ gọi là "chiến dịch tự do hàng hải" (FONOP).

Hải quân Mỹ cho hay tàu này đã vào trong khu vực lãnh hải 12 hải lý của đảo Tri Tôn, đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hoàng Sa, và khi đó không có hiện diện của tàu Trung Quốc trong khu vực.

Ngày 31/1, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố "Việt Nam tôn trọng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải" của tàu chiến Mỹ theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982.

Cũng nên nhắc lại sau trận hải chiến Hoàng Sa 1974, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo này, kể cả đảo Tri Tôn mà Trung Quốc gọi là Trung Kiến đảo.

** Giáo sư Nguyễn Đình Cống 'từ bỏ Đảng' 

Ông Nguyễn Đình Cống viết: “Tôi thông báo từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 03 tháng 02 năm 2016. Yêu cầu tổ chức Đảng xóa tên tôi khỏi danh sách”.

Trả lời BBC Tiếng Việt về quyết định của mình, Giáo sư Cống cho biết nguyên nhân việc làm của ông: “Thực ra ý định ra khỏi Đảng có từ lâu rồi. Nhưng tôi vẫn muốn kéo dài ra đến Đại hội 12 vì trước đại hội 12, tôi cũng đã đóng góp rất nhiều ý kiến cho đại hội, muốn đại hội thảo luận, trao đổi."

"Tôi chờ xem thử đại hội có trao đổi, thảo luận gì không, có chuyển biến gì không."

"Rồi sau đại hội, không thấy chuyển biến gì cả thì tôi quyết định dứt khoát ra khỏi Đảng.”

Khi được hỏi đã đóng góp ý kiến gì, ông liệt kê: “Tôi có nêu ý ‎ kiến Chủ nghĩa Marx - Lenin là không thích hợp nữa, nên bỏ nó đi. Chứ đừng có kiên trì Marx- Lenin, bỏ cái đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà phải xây dựng một thể chế dân chủ, tam quyền phân lập, bỏ cái việc toàn trị của Đảng, bỏ quốc hữu hóa ruộng đất."

“Nên bỏ cái tên Đảng Cộng sản, lấy lại cái tên Đảng Lao động Việt Nam. Nếu không được thế thì chia cái đảng này ra làm hai. Một bên anh nào muốn giữ Đảng Cộng sản thì cứ giữ, còn số nào không muốn theo Đảng cộng sản thì cứ lập ra một cái đảng mới.” - Ông giải thích.

(TTR tóm lược)

01 February 2016

Thơ Tết

Tết Vui

Chú Khỉ Bính Thân đến ngõ rồi
Tiền tài rủng rỉnh bác xài chơi
Mặt trời sáng tỏ soi đường tiến
Bà xã ngoan hiền hiểu ý thôi

Con cháu vào ra mừng tuổi thọ
Bạn bè qua lại gửi mail cười
Mong cầu hạnh phúc bền luôn mãi
Năm Mới Khỉ về: lộc, thọ, vui

Hp.TnT  (Nhóm AFAR)
1/31/2016 

Chuyện Khỉ năm Thân

Đặng Tiến

Miệt Bặc Liêu, Cà Mau có câu hát, về sau phổ biến khắp miền Nam, rồi lan truyền khắp nước :
Tháng ba cơm gói ra Hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai.
Nhiều người không hiểu chính xác, cho rằng Hang Mai có nhiều hoa mai thơ mộng, hay nhiều rắn hổ mai tàn độc. Thật ra, « mai » tiếng địa phương có nghĩa là « khỉ ». Hang Mai tức là « hang của loài khỉ ». Phi Vân đã giải thích như vậy, ngay trang mở đầu cuốn phóng sự Đồng Quê, giải thưởng hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1943. Và ông ấy miêu tả căn cơ :
« Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm, Cà Mau, bắt đầu từ kinh Biện Nhi trổ ra Tiểu Dừa. (…) Ở hai bên bờ người ta có thể gặp những con trúc, rái, kỳ đà, chồn, ong mật và vô số cá ».   Dĩ nhiên là nhiều khỉ. Từ điển phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn văn Ái, 1994, cũng có ghi chữ mai nghĩa là khỉ.

H1: Lion tamarin

Không biết vì lý do gì, và từ thời nào, trong tiếng Hán Việt, người ta phát âm chệch từ  khỉ thành khởi (cũng như quý thành quới) : ngày nay ta nói khởi nghĩa, khởi hành, nhưng các từ điển xưa ghi là khỉ hành, khỉ nghĩa. Trong khi đó, trong tiếng thuần Việt, thành ngữ dân gian vẫn nói : khỉ khô khỉ mốc, khỉ ho cò gáy, rung cây nhát khỉ.  Và thơ Tú Xương có câu :
Ới thi ơi là thi
Ới khỉ ơi là khỉ
Không rõ từ khỉ phát âm chệch thành khởi có liên quan gì đến tên loài động  vật không. Chỉ biết rằng ở Việt Nam, khi đưa ra lý thuyết khỉ là thủy tổ của loài người, thì có sử gia đã dùng từ « hầu nhân » để tránh chữ chính xác là « người khỉ » - ngày nay người ta dùng chữ « người vượn » - thân thuộc hơn, nhưng cũng là tránh chữ Khỉ.

H2: Japanese macaque

Hầu là Khỉ, giai thoại kể lại : vào thời Trịnh Khải, 1783, thế lực Chúa Trịnh đang suy tàn, nhưng vẫn còn kẻ nịnh bợ. Đặng Kim đã làm đến tước hầu, mà còn xin làm con nuôi nhà Chúa, đổi tên là Trịnh An. Một hôm, trên tường vôi nhà Hầu, có người đến vẽ một cây cổ thụ đang xiêu đổ, lá cành trơ trụi, gốc rễ ngả nghiêng. Trên chạc có con khỉ đang nằm ngủ, bên cạnh câu thơ nôm :
Khỉ ơi tỉnh dậy đi thôi
Đừng chờ cây đổ, đi đời nhà mi.
Hầu tỉnh ngộ, từ quan, lấy lại tên cũ. Về sau, khi Trịnh Khải đổ, ông tránh khỏi nạn cháy nhà vạ lây.

Trong thi ca, từ  khỉ  ít được dùng, vì không « thi vị », gợi ý mắng mỏ. Thỉnh thoảng mới gặp một câu hiện thực như trong cảnh chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp : bao nhiêu là khỉ ngồi. Đinh Hùng tiếp xúc với rừng núi Việt Bắc, vùng Bắc Kạn đã tả không khí hoang dã thời 1940 :
Ta mê tiếng vượn sầu muôn kiếp
Chim núi cầm canh, hoẵng gọi bầy
(…)
Rồi những đêm sâu, bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya
Hoặc tiếng vượn có tính cách tượng trưng, trong hoang tưởng một trời tình thái cổ :
Trải sông nước vượt qua từng châu thổ
Ta đến đây nghe vượn núi kêu sầu.
     
H3: Rhesus macaque

Tính cách tượng trưng còn rõ nét hơn nữa ở hình tượng Đười Ươi trong thơ Bùi Giáng, có khi ông tự xưng là Đười Ươi Thi Sĩ. Đười Ươi ở đây, là hoài vọng con người tiền sử, tâm hồn « dã nhân » chưa tiêm nhiễm tập tục, lề luật và thành kiến :
Đi về giũ áo đười ươi
Đăm chiêu khách địa từ người tặng ta
Nhưng rồi trong một hoàn cảnh xã hội khác, Bùi Giáng lại mặc lại xiêm lốt đười ươi :
Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiêng reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Diệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân
Trong trí tưởng sáng tạo của nhà văn, con vượn có khi là một hình tượng đẹp. Trong Chùa Đàn, 1946, mà nhiều người xem như là đỉnh cao của nghệ thuật Nguyễn Tuân, người phụ nữ lý tưởng tên là Sấu Viên – Vượn Gầy. Nàng chết sớm trong một tai nạn xe lửa, trên chuyến xe vu quy về nhà chồng, làm chủ ấp Mê Thảo. Người chồng tuyệt vọng, cho cất một thứ rượu tên Mê Thảo Hầu, rồi một thứ rượu khác tên Ức Sấu Viên - Nhớ Vượn Gầy - và cuồng điên trong men Rượu Tương Tư. Nàng tên như thế vì có đôi cánh tay dài. Và có lẽ từ đó mà về sau nhân vật Cổ Giả Trường, người hùng trong vở kịch Thành Cát Tư Hãn, 1961, của Vũ Khắc Khoan, đã có đôi « tay vươn ra như tay vượn » : Vũ Khắc Khoan thân thiết và chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân.

*

Trong văn học Việt Nam cổ điển, tên Vượn đã xuất hiện rất sớm, tự bình minh của chữ Nôm đời Trần, trong bài Phú vịnh chùa Hoa Yên trong Thiền Tông Bản Hạnh. Bài này được gán cho thiền sư Huyền Quang (1254-1334), tả cảnh chùa ở núi Yên Tử :
Chim óc (=gọi) bạn, cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng con, cời cửa nghe kinh

Cảnh Vượn bồng con là một hình ảnh văn chương, nhưng cũng có thể có thực, vì núi rừng thời ấy nhiều khỉ. Nhà thơ khoa bảng Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) cùng thời đã tả cảnh Chùa Long Động núi Yên Tử :
Cách lâm hữu hận viên đề nguyệt (a)
Ỷ tháp vô ngôn tăng đối san (b)
   Dịch : Tựa tháp không lời – sư ngắm núi (b)
               Cách rừng u hận, vượn gào trăng (a)


           
H4 : Proboscis

Bài phú cổ ấy trong Thiền Tông Bản Hạnh, còn có một hình ảnh vượn khác, nhưng lần này có tính cách điển cố :
Chẳng những vượn hạc thốt thề
Lại phải cỏ hoa thuể thỏa
Vượn và hạc biểu trưng cho tâm hồn quân tử, theo chuyện Dương Hựu đời Tống , một người phóng khoáng chỉ làm bạn với vượn và hạc ở chốn lâm tuyền, nơi tu hành, ẩn dật.

Trong tập thơ Nôm đầu tiên của nước ta, Nguyễn Trãi (1374-1442) đã tả cảnh nhà mình :
Cửa song giãi xâm hơi nắng
Tiếng vượn vang kêu cách non
Như vậy, thời ấy trong thực tế, vượn còn sống gần với người. Và cạnh đó, Nguyễn Trãi nhiều lần dùng chữ viên hạc theo điển cố :
Thề cùng viên hạc trong hai ấy
Thấy có ai han chớ đãi đằng
Han : nghĩa là hỏi han
Ý nói : chớ có thiết tha với những quan hệ xã hội

Vào giữa thế kỷ XVI, trong một bài phú tả cảnh ẩn dật miền rừng núi Tuyên Quang, Nguyễn Hãng cũng đã dùng chữ vượn theo nghĩa hiện thực :
Vượn chào, hòa khướu hót, cách ngàn đưa khúc xướng khúc ca
Và theo điển cố :
Bạn viên hạc quen tìm, hoa cười đón khách
Tịch Cư Ninh Thể Phú

H5: Myanmar snub-nosed monkey

Mà không cứ gì miệt núi rừng Yên Tử, Côn Sơn, Tuyên Quang mới có khỉ, vượn. Vào cuối thế kỷ 18, giữa kinh thành Thăng Long, « mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề » theo Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839). Nhưng đây là vượn do Chúa Trịnh nuôi trong phủ Chúa. Tuy nhiên, mãi đến đầu thế kỷ 19, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) còn tìm thấy « đất kinh kỳ riêng một áng lâm tuyền » rồi tự vấn, bùi ngùi :
Nào vương cung đế miếu ở đâu nào
Mỉa mai vượn hót oanh chào
Oanh, vượn ở đây có thể hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Trong văn học dân gian, có truyện nôm Bạch Viên Tôn Các, còn gọi là Lâm Tuyền Kỳ Ngộ, kể chuyện tình duyên giữa chồng người vợ vượn – một tiên nữ giáng trần dưới hình dạng một con vượn trắng. Nội dung dựa vào một truyện cổ tích đời Đường bên Trung Quốc. Đây là một truyện nôm xuất hiện sớm, vào thế kỷ 17 vì còn làm theo thể thơ Đường Luật, gồm có 146 bài thất ngôn bát cú. Một chuyện tình lãng mạn vượt ra khỏi thành kiến, giáo điều. Nhiều câu thơ bây giờ đọc còn thấy hay, ví dụ đoạn Bạch Viên khi trở về Thiên Đình nhớ chồng và hai con nơi hạ giới :
Một mối thắm nồng, nguyền chửa phỉ
Hai phen nâng bế, nghĩa nào nguôi
Nhớ xuân dễ khiến hoa rơi lệ
Tủi phận cho nên nguyệt ngậm ngùi
Và nàng xin trở lại trần gian sống đoàn tụ với chồng con. Tình mẹ con nhắc đến câu ca dao :
Con vượn thương con lên non hái trái
Anh thương nàng phận gái mồ côi
H 6: Pygmy mammmoset

Nhưng chuyện Vượn, trong tình mẹ con làm tôi cảm xúc và nhớ đời, là một bài tập đọc lớp Ba, bậc tiểu học, cách đây hơn nửa thế kỷ. Chuyện kể có người thợ săn muốn bắt sống một chú vượn con, đã dùng tên độc để giết vượn mẹ :
« Vượn mẹ bị tên, biết mình không thể sống được bèn vắt sữa ra rừng cho con uống. Xong rồi lăn ra chết. Người thợ săn quay về phía vượn con, cầm roi quất vào xác vượn mẹ. Vượn con thấy thế, kêu gào thương xót, chạy ngay lại gần, người đi săn bắt sống được. Lúc về nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ thì mới yên ; một hai khi lại ôm lấy kêu gào, vật vã, rất thảm thiết. Không được mấy hôm, vượn con cũng chết. » 

H7: Mandrill


*

Năm Thân là cầm tinh con Khỉ nói chung. Từ chú khỉ con đến khỉ đột, đười ươi và con vượn tiền thân của loài người, khoa học gọi là Homo Erectus Erectus. Tại Việt Nam, từ Bắc vào Nam, nhiều nơi còn di tích Người Vượn với những công cụ, bằng đá, tại Núi Đọ (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai). Tại Thẩm Ồm (Nghệ An), Hang Hùm (Yên Bái) đã có những di chỉ chứng tỏ thời kỳ Người Vượn chuyển sang thành Người Khôn (Homo Sapiens) cách chúng ta khoảng 100 000 năm.

Trong mười hai con giáp, Rồng là biểu tượng gần chúng ta nhất về mặt tâm linh, tình cảm. Gần mà xa, vì con Rồng, tổ tiên dân tộc, chỉ là huyền thoại. Khỉ là biểu tượng gần chúng ta nhất về mặt vật chất, thân xác. Gần mà xa vì không mang ý nghĩa « dân tộc », tín ngưỡng và phong vị lãng mạn.

Năm Khỉ, nói chuyện khỉ, tuy là để vui Xuân, nhưng nói từ đầu đến đuôi, cũng là không đơn giản, quả là khỉ.


Đặng Tiến
Paris, xuân  Bính Thân, 2016.

Chú Bê Con, đoản khúc

Video clip 3 phút trắng đen này dành cho những người không thích làm kiếp con bò bị trói đem đi xả thịt, mà thích làm con chim bay liệng tự do. Trong video có ghi bài thơ mà tôi cố dịch cho sát nghĩa từ lời bản nhạc Anh ngữ do Joan Baez hát.

Joan Baez sinh năm 1941, là một ca, nhạc sĩ dân ca Mỹ. Bà từng có khuynh hướng thiên tả và là một trong những người lớn tiếng nhất của phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ trong những năm 60, thường xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Giáng Sinh 1972, Joan Baez còn ngồi trong một hầm trú bom ở Hà Nội.

Nhưng sau khi miền Nam Việt Nam bị chiếm, Joan Baez  nhận chân được sự thật và không ngần ngại lên tiếng tố cáo chính sách vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam. Joan đã đi thăm các trại tị nạn ở Đông nam Á để hiểu rõ những thảm cảnh xảy ra cho người tị nạn. Muà hè 79, cùng với dân chúng Mỹ và dân tị nạn, Joan Baez đã đốt nến xuống đường biểu tình tuần hành tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, đến toà Bạch Ốc yêu cầu chính phủ Mỹ lưu tâm nhiều hơn tới nhân quyền tại Đông Dương. 

Năm 1979 Joan thành lập Humanitas International, một tổ chức bảo vệ nhân quyền mà bà đứng đầu liên tiếp trong 13 năm sau đó. Công tác đầu tiên của tổ chức này là “Thư Ngỏ Gửi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đăng tải trên năm tờ báo lớn ở Hoa Kỳ.

Bản Donna Donna sau đây là bản nhạc mà Joan Baez đã hát trong một nhạc hội do Cộng Sản Tiệp Khắc tổ chức vào tháng Năm 1989. Trong nhạc hội này bà đã mời một số người tranh đấu cho dân chủ tham dự, trong đó có Vaclav Havel (sau trở thành Tổng Thống Tiệp Khắc). Khi bà giới thiệu Vaclav Havel lên sân khấu, thính giả hoan hô rầm rộ. Công An CS Tiệp tắt phụt máy vi âm, chặp sau mới cho bật lên. Khi bà lên hát, vừa cất hai tiếng “Donna…Donna…” thì công an lại tắt máy. Nhưng lúc ấy hơn 4000 người trong hội trường đã cất tiếng, đồng thanh hát vang bản nhạc này:

Trong chuyến xe lăn về hướng chợ
Có chú bê ánh mắt thê lương
Trên đầu soải một cánh chim
Liệng bay thỏa thích khắp miền trời cao

Gió lồng lộng gió cười khúc khích
Gió cả cười thỏa thích tâm can
Cười hoài tiếng gió vọng vang
Vi vu lũ gió cười khan đêm ngày

(ĐK ) Donna, Donna, Donna, Donna
Donna, Donna, Donna, Don
Donna, Donna, Donna, Donna
Donna, Donna, Donna, Don

" Đừng than nữa" - người nông phu nói
" Kiếp con bò mà khóc cái chi?
"Sao không có cánh bay đi
“như con chim én kiêu kỳ tự do “

Gió lồng lộng gió cười khúc khích
Gió cả cười thỏa thích tâm can
Cười hoài tiếng gió vọng vang
Vi vu lũ gió cười khan đêm ngày

(ĐK)

Kiếp con bò trói gô xả thịt
Có bao giờ hiểu lẽ gì đâu
Muốn tự do phải làm sao
học con chim én bay cao trên trời

Gió lồng lộng gió cười khúc khích
Gió cả cười thỏa thích tâm can
Cười hoài tiếng gió vọng vang
Vi vu lũ gió cười khan đêm ngày
(ĐK)
CHÚC MỪNG NĂM MỚí
Nguyễn Bá Trạc
 

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...