05 June 2010

Bản nhạc từ một thiên tài

Ma lực Boléro

Quỳnh Giao

Trên thế giới, cứ 15 phút thì nó lại nổi lên đâu đó, không ở nơi này thì ở xứ khác..
Ban đầu nó mơ hồ cất lên từ hư vô, nhưng chỉ sau vài giây đã có gì đó day dứt lay gọi. Sau đó, nó là tiếng sáo trong giai điệu bay bổng giữa đàn dây làm người nghe muốn đứng dậy uốn éo. Giai điệu ấy lại trở về, lần này với tiếng clarinette ấm áp bốc khỏi sự mời gọi ban đầu. Sau đấy là tiếng bassoon, trên cùng một chủ điểm mà có gì đó trái ngược.

Nó là một vũ khúc ngày càng dậm dật thôi thúc với nhiều nhạc cụ đan lượn nỗi day dứt ban đầu, rồi cứ trào dâng, lả lơi mời gọi...

Chừng 15 phút sau, khi cả dàn nhạc chuyển sang Mi trưởng, ào ạt tấu lên cường độ (fortissimo) và đột ngột tắt ngấm, người nghe thấy mình như vừa được tắm gội bằng nhạc, lâng lâng, choáng váng.


Ðây là nhạc khúc thuộc loại nổi tiếng nhất thế giới, được người nghe nhận ra ngay. Nhưng, với người trình tấu, các nhạc công và cả nhạc trưởng, thì dù có nhận ra ngay người ta cũng không dễ ngâm nga cho đúng. Ðằng sau một chuỗi điệp khúc được các nhạc cụ tấu lên và luyến láy rất nhiều lần, mỗi lần một khác, mỗi lúc một dồn dập quay cuồng, là cả một sự dụng công cầu kỳ. Boléro là nhạc khúc dễ nghe, khó diễn mà hầu như ai ai cũng biết.

Vì vậy người ta mới tính ra là trên thế giới, cứ 15 phút là đâu đó lại có người nghe Boléro.

Nhiều nghệ sĩ thường bị giới thưởng ngoạn “đóng khung” trong một tác phẩm được họ ưa nhất. Nói đến Georges Bizet, ai cũng nhắc tới Carmen, nói đến Tomaso Albinoni thì người ta chỉ nhớ tới Adagio. Cũng vậy, Boléro đã đông lạnh Maurice Ravel, trong khi, với ông, đây chỉ là “một thử nghiệm theo một ý hướng mới mẻ nhưng rất hạn chế và chẳng có tham vọng gì.”

Nhìn, hay nghe, theo một khía cạnh nào đó, Maurice Ravel có lý.

Ông viết một vũ điệu cho một dàn nhạc nhỏ chừng bốn chục nhạc cụ để trình bày trong khoảng 17 phút, và viết theo lời yêu cầu của một nữ vũ sư danh tiếng, một “mạnh thường quân” người Nga. Khi được yêu cầu, Ravel muốn viết thử điều chưa ai làm bao giờ là soạn một bài giao hưởng nhỏ, chỉ có một hành âm (mouvement) và một giai điệu trình bày hai khía cạnh tương phản, chính đề và phản đề, nối kết bằng kỹ thuật phối khí với nhịp điệu ngày một dồn dập.

Ông không ngờ là cuộc thử nghiệm lại thành công như vậy. “Một tuyệt tác ư?” Ravel ngạc nhiên hỏi, và trả lời như có tiếng bĩu môi: “Một tuyệt tác không có nhạc!”

Năm 1927, nàng Ida Rubinstein (sinh năm 1885, mất 1960) đề nghị Maurice Ravel soạn một tác phẩm với màu sắc Tây Ban Nha cho mình biểu diễn nghệ thuật múa. Năm ấy, Ravel đã vang danh thế giới và chuẩn bị lưu diễn tại Bắc Mỹ. Ông được nàng Ida yêu cầu vì đã viết nhiều tác phẩm cho các đoàn vũ (Ma Mère l'Oye, La Valse hay Daphnis et Chloé cho dàn Ballets Russes của Ida) và cũng quen thuộc với âm sắc và giai điệu Tây Ban Nha (Pavane pour une infante defunte, Raphsodie Espagnole).

Trên đường qua Mỹ, được giới hâm mộ nồng nhiệt đón nhận và gặp tay soạn nhạc còn trẻ là George Gershwin rồi nghe nhạc jazz của người da đen, Ravel đã lởn vởn trong đầu những cảm hứng cho tác phẩm nàng Ida yêu cầu. Ông dự tính dùng lại giai điệu Tây Ban Nha trong tác phẩm Iberia do Isaac Albéniz viết cho dương cầm để soạn ra vũ khúc Fandango nhưng sau phải bỏ vì những trở ngại về tác quyền. Từ Hoa Kỳ trở về, ông quyết định viết ra một tác phẩm hoàn toàn mới, một vũ khúc có nét truyền thống andalouse, và đặt tên là Boléro.

Ông viết trong bốn tháng và đề tặng Ida Rubisntein. Tháng Mười Một năm 1928, nàng Ida làm đại hý viện Opéra de Paris mê mẩn. Trong một đại sảnh lớn, thân hình nàng vũ nữ uốn theo nhạc với nét gợi dục làm các đấng mày râu tụ tập ngày một đông hơn, như bị thôi miên. Từ đấy, Boléro vươn khỏi tầm tay của Maurice Ravel, trở thành vũ khúc được nhiều nhạc trưởng yêu thích vì có dịp thi thố tài năng điều khiển của mình.

Thời ấy, nhạc trưởng thuộc bậc sư là Arturo Toscanini, bạn thân và cũng là người Ravel quý trọng, đã tự biên tự diễn với nhịp tiết nhanh gấp đôi. Ngồi nghe ở dưới, Marice Ravel không thèm đứng dậy vỗ tay mà đi thẳng vào hậu trường để nói chuyện phải quấy với ông bạn Arturo này. Toscanini không phải người thường và còn có lời phát biểu mà người thường nghe cũng muốn nổi đóa, huống hồ Maurice Ravel: “Ông chẳng hiểu gì về nhạc của ông cả!” Trên đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc, hai bậc danh tài này cãi cọ như trẻ nít. Nhưng họ vẫn là bạn và Boléro có thêm một hào quang là giai thoại Toscanini!

Sinh năm 1875 và mất năm 1937, Maurcie Ravel được coi là một trong những nhà soạn nhạc lẫy lừng và có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Là danh thủ dương cầm, nhưng chưa tới cỡ diệu thủ virtuoso, ông không đánh nổi những bài do chính mình sáng tác, như bài Concerto en Sol! Ông viết nhạc cực khó, tựa một nghệ nhân về kim hoàn. Các tác phẩm của ông có nét tinh tế cầu kỳ như “một đồng hồ Thụy Sĩ”, theo lối châm biếm của người bạn là Stravinski. Ðiều ấy dễ hiểu, thân phụ của Ravel là một kỹ sư gốc Thụy Sĩ. Maurice Ravel là nhà soạn nhạc Pháp có nhiều nét tiêu biểu của âm nhạc miền Nam, của xứ Tây Ban Nha. Thân mẫu ông là người Basque có máu Tây Ban Nha và ông sinh tại vùng cực Nam của Pháp, dưới núi Pyrénées.

Không chỉ nổi tiếng là tác giả của khoảng một trăm nhạc phẩm thật đẹp, Maurice Ravel còn là tay phối khí xuất chúng. Ông ý thức được đặc tính của mình là điêu khắc bằng các nhạc cụ khi phát biểu là mình cố tìm ra điểm dung hòa giữa cảm xúc và trí tuệ. Sau Boléro khá lâu, George Gershwin có qua Pháp và xin học nhạc với Ravel, và bị từ chối: “Ðừng vứt cảm xúc hồn nhiên của mình đi để viết loại tồi của Ravel”.

Boléro là cảm xúc không hồn nhiên mà đầy mê đắm nhờ nghệ thuật phối khí và bố cục âm thanh của Ravel.

Khi được biết là có một phụ nữ nghe Boléro mà ù té chạy trong tiếng hét: “Ðiên! Ðiên!” ông từ tốn nhận xét: “Bà này này, là người hiểu đấy!”

Chúng ta hãy nghe thử mà xem. Nhạc của ông có sức thôi miên bằng màu sắc.

Quỳnh Giao, Australia

04 June 2010

Thưởng thức nhạc phương Tây

Boléro - Ravel

Trong những giàn nhạc nổi tiếng mỗ tôi may mắn biết đến thì tôi thích nhất là giàn nhạc Paul Mauriat trước kia và hiện nay là dàn nhạc André Rieu. Cả hai giàn nhạc này đều ở Âu Châu.
Cho dù vào thời cổ đa phần các vùng trong đại lục Âu Châu sống man di ra sao, nhưng chúng ta phải nhận rằng chỉ trong vòng hai, ba thế kỷ mới đây, các sắc dân da trắng đã cải biến bộ mặt thế giới này sâu sắc và toàn diện. chưa từng có trong lịch sử nhân loại trước kia. Không cần nói đến khoa học kỹ thuật bao gồm cả ngành kiến trúc, rồi văn chương triết học, chỉ riêng trong lãnh vực âm nhạc thôi, người da trắng đã chuẩn hóa kỹ thuật ký âm và phối âm, chuẩn hóa và hoàn thiện nhạc cụ đã giúp bộ môn âm nhạc nở rộ vào thời Phục Hưng khiến ảnh hưởng của nó lan rộng lâu dài khắp thế giới.

Hằng hà sa số những trường ca, những đoản khúc sáng tác trong và sau thời kỳ này đã làm say mê và rung động biết bao tâm hồn cho đến mãi ngày nay. Mời quý anh chị thưởng thức tiêu biểu bản Boléro do nhà soạn nhạc Maurice Ravel (1875 - 1937), một người Pháp gốc Thụy sĩ sáng tác và qua giàn nhạc André Rieu, người Hòa Lan, trình tấu. 

(Điền Thảo)

Tham sân si hiện diện từ muôn thuở, nhưng hãy cứ ...

Mơ Một Mùa Phật Đản


Ngày nay Đại Lễ Vesak (Hợp nhất của ba ngày Đản Sinh, Thành Đạo và Nhập Diệt) của Đức Phật đã được Liên Hiệp Quốc công nhận. Trong ngày lễ này, Tổng Thư Ký LHQ, các vị nguyên thủ quốc gia, các giới chức chính quyền cao cấp tại những quốc gia Phật Giáo, hoặc tham dự hoặc gửi điện văn chúc mừng, chiêm bái tự viện, viếng thăm hoặc dâng hoa cúng dường chư tăng ni và Lễ Phật Đản đã được quần chúng tổ chức trang nghiêm, cung kính. Tuy nhiên theo thiển ý nó vẫn chưa cân xứng với tầm vóc của một tôn giáo hiện diện trên 2500 năm mà vị giáo chủ là một bậc thầy vĩ đại của nhân lọai mà giáo pháp của Ngài đang dần dần trở thành Lương Tâm Của Nhân Lọai. Một tôn giáo mà quá trình phát triển của nó không làm tổn hại tới một sinh linh, không hủy diệt văn hóa, truyền thống bản địa, không bị kết tội diệt chủng, không gây thánh chiến, không khủng bố, không tiến hành những cuộc chinh phạt đẫm máu. Một tôn giáo Tối Thiện, Tối Lành, Thực Tiễn nhưng vô cùng Khiêm Tốn. Một tôn giáo như thế thì ngày đản sanh của đức giáo chủ phải được tổ chức như thế nào- không ngòai mục đích làm sáng tỏ những đức tính ưu thắng của Phật Giáo, đồng thời cũng là dịp để chúng sinh được tắm gội trong “pháp vũ”, hiển lộ Phật tánh có sẵn trong Tâm mình, để từng chúng sinh, từng bộ tộc, từng quốc gia hoặc toàn thế giới, ít ra có một ngày sống trong Thanh Tịnh, Giải Thóat, Yêu Vui, Thương Yêu, Cảm Thông với nhau. Trong tinh thần đó, tôi đã mơ một Mùa Phật Đản trong đó những gì chúng ta không nên làm và những gì chúng ta cần phải làm. Những điều đó như sau:

03 June 2010

Một chút gợi kỷ niệm

Ảnh thời sự

Hoa hậu 2010 của Pháp là một người lai dòng máu Việt.

Một trong nhiều hình ảnh đẹp trong cuộc diễn hành nhân "Ngày Tưởng Nhớ" ở Mỹ.

Tai nạn tràn dầu ngoài khơi Luisiana, Mỹ, đi tới mức tệ hại nhất trong lịch sự nước này, khiến con người phải suy nghĩ lại cách sử dụng các nguồn năng lượng một cách an toàn và hài hòa nhất với thiên nhiên.

Nạn kẹt xe ở Sài Gòn là một nỗi nhọc nhằn cho người địa phương, nhưng là một hiện tượng kinh hoàng đối với du khách. Tuần trước điện bị cúp cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội khiến nhiều con đường trở thành những bãi đậu xe.

Thơ cảm đề tranh Vỗ Cánh

02 June 2010

Từ Công Phụng bị bệnh đường mật

Tin hành lang cho hay, đồng môn nhạc sĩ Từ Công Phụng bị bệnh đường mật và đang được xạ trị. Người em của anh là Từ Công Thu cho hay bệnh của Từ Công Phụng đã kéo dài mấy năm nay, khi khó ở, khi thư thái. Trước đây vài tuần, Anh Phụng có về San Jose trình diễn và khi đó bệnh đã trở nên khó ở. Hiện TCP đã về nhà ở Portland có sự săn sóc tận tuỵ của Chị Ái, hiền nội của Phụng và tình trạng sức khỏe có vẻ khá hơn. (Tổng hợp)

01 June 2010

Sau 40 năm mặn nồng

Al and Tipper Gore chia tay

Hôm nay 01-06-2010 cả nước Mỹ bàng hoàng bởi một tin do hãng thông tấn AP loan đi: Vợ chồng Ô. Gore cựu Phó Tổng Thống Hoa Kỳ sau 40 năm yêu đương mặn nồng, với bốn mặt con, đã chính thức tuyên bố chia tay. Sở dĩ nước Mỹ choáng váng là vì hai người gặp nhau, yêu nhau từ thuở học trò, nổi tiếng là một cặp vợ chồng hạnh phúc trong suốt thời gian 8 năm làm Phó Tổng Thống, và trước mắt công chúng họ luôn luôn “trình diễn” và bày tỏ mối tình thắm thiết đó. Chẳng hạn như trong Đại Hội Đề Cử Ứng Cử Viên Tổng Thống của Đảng Dân Chủ năm 2000, hai người đã ôm nhau hôn môi, hôn miệng quá lâu làm cho mấy chục ngàn đại biểu về tham dự đại hội và cả thế giới “nghẹt thở”. Rồi cũng trong đại hội đầy vinh quang này ông đã tuyên bố “ Vợ tôi (Tipper Gore) là người mà tôi yếu hết lòng kể từ đêm chúng tôi gặp nhau ở buổi hòa nhạc ở trung học.” Cũng trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 2000, bà đã ca ngợi ông trong cuộc phỏng vấn của Hãng AP như sau: “ Anh ấy mệt lử cò bợ (dog tired) mà vẫn còn ngồi vào bàn làm việc, nhưng khi tôi cần thứ gì ở trong phòng thì ảnh không ngần ngại đứng dậy và lấy cái đó cho tôi.” Là một phó tổng thống đẹp trai của một siêu cường, đoạt giải thường Nobel về hâm nóng địa cầu năm 2007, đọat giải Điện Ảnh Oscar cùng năm với phim tài liệu “An Inconvenient Truth”…mà yêu vợ đến như vậy là cùng. Mối tình của họ cứ tưởng mỗi ngày mỗi nồng thắm cho đến ngày đầu bạc răng long. Nhưng có ai ngờ?
Câu hỏi đặt ra là tại sao? Có cái gì bất ổn ở bên trong…mà người Mỹ gọi là “What went wrong?” Mọi phỏng đóan bây giờ đều đúng và có thể đều sai:
-Ông già rồi không còn sức khỏe để phục vụ bà?
-Bà cằn nhằn ông vì ông không trở thành tổng thống theo đúng ước vọng của bà? Mộng của bà là “đệ nhất phu nhân”, “đệ nhị phu nhân” thì bà không chịu?
- Càng già bà càng giở chứng khiến ông chịu không nổi?
-Giờ bây bà già rồi, ông thì hào quang và tiền bạc sáng chói thiếu gì bà ngấp nghé?
-Hoặc chính ông giở chứng và không còn chiều bà như xưa nữa?
Chỉ ít ngày nữa thôi truyền thông báo chí tha hồ khai thác, thêu dệt. Nhưng có một sự thật không thể chối cãi, dĩ nhiên không cần phỏng đóan mà đúng 100% …là hai ông bà đã chán nhau tức không còn yêu nhau nữa. Ôi Luật Vô Thường chi phối tất cả. Không có một điều gì thóat khỏi quy luật quái ác này. Sự tan vỡ của mối tình của Al và Tipper làm phong thú thêm kho chuyện tình buồn và làm ngậm ngùi nhiều thế hệ sau. Rồi đây, theo lời cố vấn của bạn bè hoặc của các tâm lý gia, hai người sẽ rút lui vào bóng tối để tránh sự soi mói của truyền thông và công luận. Rồi ông hoặc bà, hoặc cả hai người sẽ có tình nhân mới và dĩ nhiên một cuộc đời mới. Nhưng cái di sản để lại cho con cái thì thật bất hạnh không sao xóa sạch.

Đào Văn Bình
***

Reporting from Washington —
They were the happy exceptions — high school sweethearts whose passionate romance led to a famously stable marriage in a capital perpetually rocked by tawdry scandals and sleazy affairs.

But on Tuesday, less than a month after they marked their 40th wedding anniversary, former Vice President and Nobel Peace Prize laureate Al Gore and his wife, Tipper, announced they were breaking up.

The couple, who have four grown children, disclosed the news in a brief e-mail to friends and supporters. Gore, 61, and his wife, 62, gave no hint of whatever hidden turmoil might have caused their union to crumble.

(Los Angeles Times)

Thơ Cao Minh Tâm

LỜI TỰA cho: “TÌNH ĐẦU và TÌNH CUỐI”

Con người, ngoại trừ những bậc Thánh nhân, Vĩ nhân, những bậc anh hùng cái thế thì phần đông, nói chung, chỉ là những con rối, theo cách nhìn của nhà Phật. Con rối của Xúc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Con rối của bao nghiệp lực vô hình, dấy lên từ biển Tham, Sân, Si của cõi vô minh dục giới. Biểu hiện của các con rối thì khác nhau qua các thời đại, các xã hội, các nền văn hóa và rõ ràng nhất là qua tuổi tác, giới tính, vị trí, vai trò của mọi người trong một xã hội, một cộng đồng hay một tập thể…

Tôi cũng chỉ là một con rối rất nhỏ nhoi trong muôn triệu triệu con rối đó. Rất nhiều lúc tôi tự hỏi nếu mình là một con rối thì tất cả mọi sự cũng đều là “dối” hết sao?! Không có gì là thật cả, trên đời này! Vậy thì có gì để mà vui hay buồn? Vì niềm vui hay nỗi buồn (thuộc về Xúc, Thọ) thì cũng chỉ là dối, là tạm mà thôi! Thế nhưng niềm vui thì qua rất mau mà nỗi buồn “dối” đó sao cứ đeo đẳng mình hoài vậy?!
Nhớ lại vài câu trong các bản nhạc mà những ngày còn rất trẻ tôi thường nghêu ngao hát:
“…Ngày em hai mươi tuổi
Tay cắt mái tóc thề
Giã từ niềm vui nhé
Buồn ơi! Hỡi chào mi…” (*)
Có phải vì:
“…Tình yêu như trái phá, con tim mù lòa…”
Mà nhận được ra chăng?:
“… Khi cơn đau chưa dài, thì tình như chút nắng
Khi cơn đau lên đầy, thì tình đã mênh mang…” (T.C.S)
Nên tôi đã ghi lại nỗi buồn, đau của mình trong: “Tình đầu và Tình cuối”. Tôi biết mai sau có một ngày nào đó, khi tôi đã ra khỏi cõi đời này, thì nó cũng sẽ theo tôi mà trở thành dối tạm, hư huyễn. Nhưng cái “dối” này sao cứ âm ỉ mãi trong tôi và nó cho tôi cái cảm giác nó là “Thật”, ít ra đối với tôi khi nhìn lại tình yêu của mình, kể từ những tháng năm còn rất trẻ cho đến bây giờ, lúc này, và cho tới ngày tôi sẽ nhắm mắt lìa đời.

Tôi nghĩ rằng nỗi buồn trong : “Tình đầu”, mà bây giờ chỉ còn là ký ức (vì thời gian nay đã xóa nhòa hết những dấu vết, những dư vị ngọt ngào hay chua chát của nó trong tôi) cũng có thể trùng hợp với nỗi buồn của một vài người, một vài bạn. Như vậy thì tôi có nhiều hy vọng là mình sẽ được chia xẻ bởi những ai đó có cùng cảnh ngộ.

Riêng với nỗi buồn trong “Tình cuối” như vẫn còn quá lớn lao, quá sâu đậm khiến tôi còn đau xót mãi, thì nó rất riêng tư, chỉ là của tôi mà thôi! Nhưng tôi đã viết ra, đã ghi xuống để mong được cảm thông, nhất là với Người của riêng tôi, Người đã “đi qua đời tôi”, Người đã sang bên kia thế giới mịt mùng.

Santa Ana, Mar. 25- 2010
Tịnh Minh C-MT
________
GHI CHÚ: (*) những câu hát trong một bản nhạc mà người viết rất tiếc đã không nhớ tên của Tác giả.


TÌNH CUỐI *

Ngày hai lần đôi mươi
Mộng xưa dần nhạt phai
Tình nào còn mê mải,
Còn say đắm, miệt mài?

Người về từ ngục tối
Từ chiến tranh điêu tàn
Từ lịch sử ai oán
Hờn vong quốc võ vàng

Tôi gặp người muộn màng
Thương yêu người nhẹ nhàng
Sợi tơ trời óng ả
Kết tình tôi với chàng

Ngày ba lần đôi mươi
Tóc trắng, đen pha màu
Mắt, môi giờ đã lạt
Mình vẫn cònh có nhau
* Bài "Tình Đầu" đã đăng tuần trước.

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...