24 September 2019

Việt Nam-Hồng Kông và ‘ung thư thể chế’

 Võ Thị Hảo (Blog RFA)


    Việt Nam: Khủng hoảng toàn diện

   " Việt Nam đang ở trong tình thế nguy ngập.
    Đất nước lâm vào khủng hoảng, bị đe dọa trên các mặt chủ quyền lãnh hải và lãnh thổ, chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh nội bộ và ngoại giao.

    Nguyên do là thể chế độc tài toàn trị này qua chặng đường 74 năm vận hành đã ngày càng làm nở rộng những tử huyệt của nó.

    Hệ thống điều hành “cỗ máy” chạy giật lùi đó đã lộ nguyên hình. Đa số quan chức chỉ là những kẻ dùng quyền lực chính trị để trộm cướp công quỹ và mồ hôi xương máu của dân Việt Nam làm của riêng.

    Lòng tham của họ là vô đáy và đất nước nhung nhúc những kẻ vẫn tiếp tục cướp bóc ngày càng tham tàn. Theo truyền thông Việt Nam đưa tin, một chữ ký của bộ trưởng Thông Tin Truyền thông – lĩnh vực được cho là nghèo nhất, thì ông ta đã nhận được hơn 3 triệu đô la tiền hối lộ. Giám đốc Mobiphone cũng nhận được hơn một triệu đô la…

    Vậy trong vô số vụ chỉ định thầu cho Trung Quốc, hoặc mua sắm thiết bị máy móc, những vụ tăng vốn đầu tư hàng chục, thậm chí trăm lần thì số tiền hối lộ, tham nhũng của quan chức Việt Nam còn tới cỡ nào? Phải chăng hệ thống cầm quyền và quan chức tham nhũng Việt Nam hiện nay có thể xếp vào hàng bẩn thỉu, đáng ghê tởm nhất thế giới?!

    Một hiểm họa khác mà công luận đã tố cáo: khi sức dân và tài nguyên đã cạn kiệt, nhiều kẻ trong bộ máy này đã “xẻo” từng mảng chủ quyền đất nước trên nhiều lĩnh vực ra rao bán để thu lợi riêng. Bán để được Trung Quốc hậu thuẫn cho ghế quyền lực để tiếp tục tham tàn và tránh sự trừng phạt của công lý.
    …

    Mở cửa cho Việt Nam thành lãnh địa của ma túy:

    Trên đất liền, nhà cầm quyền đã mở toang cửa khẩu và cho đồng Nhân Dân tệ lưu hành trên đất Việt Nam. Hậu quả của việc này là Việt Nam gần như là lãnh địa của Trung Quốc, an ninh kinh tế thương mại của Việt Nam bị tổn hại không thể đo đếm. Bên cạnh đó, hệ thống sản xuất, tàng trữ, chuyên chở và buôn bán ma túy của Trung Quốc tha hồ tung tác trên đất Việt Nam.

    Bọn tội phạm đến từ Trung Quốc đã được nhà quản lý ngênh tiếp, ngầm cam kết không trừng trị vì khi chúng phạm tội lại trả chúng về Trung Quốc và chúng không dại gì mà không quay trở lại tiếp tục gây hại bởi sự ưu tiên vô đối ấy. Chúng đã thừa cơ hội biến Việt Nam thành căn cứ địa ém quân vào những chỗ hiểm yếu, thỏa sức tàn phá gieo rắc độc hại tàn phá môi trường, tha hồ bán hàng đa cấp, lừa đảo, cờ gian bạc lận, thậm chí bắt cóc, mua người để mổ bán nội tạng, biến Việt Nam là nơi chứa chấp, trung chuyển và sản xuất hàng chục tấn ma túy…"

Bạn đọc nhấn vào tiêu đề để đọc toàn văn trên Người Việt

Tôi Mất Cha Từ Đấy, hồi ký

Lần đầu, khi xem bức tranh Bóng Đen Tháng Tư của nhà họa sĩ A.C.La Nguyễn Thế-Vĩnh, tôi chỉ thuần nghĩ về cuộc chiến tương tàn vừa qua với những hậu quả khốc liệt của nó.

Sáng nay, tên bức tranh đã được đổi thành Tôi Mất Cha Từ Đấy. Cái tên mới nầy của bức tranh đã khiến cho tim tôi đau nhói. Hàng chữ Tôi Mất Cha Từ Đấy đã gợi lại trong tôi cả một ký ức đau thương, một nỗi mất mát lớn lao của cuộc đời mình từ thời thơ dại.

Tôi vốn hay tránh đọc những bài hồi ký viết về chiến tranh, về những trận chiến ác liệt mà chính các tác giả đó đã từng tham chiến, mà các trang mạng hiện thời đã đăng. Họ viết về Mùa Hè đỏ Lửa , về trận Hạ Lào,  Giải Tỏa Cổ Thành Quảng Trị và còn nhiều nữa...

Tôi đã có thử đọc một vài lần trên mạng một số bài viết khác nhau nhưng tôi không đủ sức chịu đựng những cảnh tượng thương tâm được diễn tả. Lồng ngực tôi như bị ép lại. Tim tôi như bị bóp nghẹt. Tôi như người bị chết ngộp

Biết được điểm yếu của mình, từ đó, khi gặp những tựa bài có nội dung chiến tranh, tôi thường lướt vội qua.

Hôm nay, cái tựa Tôi Mất Cha Từ Đấy quá ngắn, khiến cho tôi không thể nào "lướt" được. Tôi bị hạ đo ván! Cả một dĩ vãng đau thương của thời thơ ấu ập về.

20 September 2019

TQ đòi VN 'ngay lập tức' dừng hoạt động dầu khí ở Bãi Tư Chính

(Bản tin trên Đài BBC Tiếng Việt)

Tàu Hải Dương 8 ba lần xâm phạm lãnh hải VN quanh Bãi Tư Chính
Trung Quốc nói Việt Nam phải chấm dứt các hoạt động khoan tìm dầu khí đơn phương tại Bãi Tư Chính, nơi mà Trung Quốc gọi là Vạn An Than, và có tên tiếng Anh là Vanguard Bank.

Các hoạt động tại vị trí ở ngoài khơi Vũng Tàu này, Bắc Kinh tuyên bố hôm thứ Tư, 18/9/2019, là "vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông)".

Trong cuộc họp báo định kỳ hôm thứ Tư, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Cảnh Sảng lên tiếng bác bỏ các cáo buộc của Việt Nam theo đó nói các tàu nghiên cứu Trung Quốc đã xâm phạm quyền tài phán của Hà Nội ở Biển Đông.

"Việt Nam đã đơn phương tiến hành các hoạt động khai thác dầu khí từ tháng Năm tới nay, và việc này vi phạm nghiêm trọng các quyền và lợi ích của Trung Quốc, đồng thời vi phạm các thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam," ông Cảnh Sảng nói trong đoạn băng do kênh truyền hình chính thức phát bằng tiếng Anh của nhà nước Trung Quốc, CGTN, đăng tải.

"Theo Điều 5 Tuyên bố về Ứng xử của Các Bên ở Nam Hải (DOC) và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Việt Nam phải ngay lập tức chấm dứt các hoạt động đơn phương và phải khôi phục hòa bình trong khu vực."

"Trung Quốc sẵn sàng giải quyết các vấn đề liên quan thông qua các tham vấn hữu nghị với Việt Nam," ông Cảnh Sảng nói thêm.

Căng thẳng ngày càng dâng qua ba lần Hải Dương 8 vào khu vực Bãi Tư Chính

Tuyên bố của ông Cảnh Sảng được đưa ra sau khi phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 12/9 nói Hà Nội cương quyết phản đối việc tàu nghiên cứu Hải Dương Địa Chất 8 của Trung Quốc tiếp tục vi phạm chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán của Việt Nam ở vùng biển của Việt Nam, và có các hành động "vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm UNCLOS" qua việc "cản trở hoạt động dầu khí của Việt Nam".

Đây không phải là lần đầu tiên hai bên khẩu chiến quanh Bãi Tư Chính, nhưng là lần đầu tiên hoạt động khai thác dầu khí được chính thức nêu đích danh.

Hà Nội nói nhóm tàu Trung Quốc đã có đợt xâm phạm vùng biển của và Vùng Đặc quyền Kinh tế lần thứ ba, kể từ ngày 7/9.

Trước đó, Hà Nội đã "nhiều lần giao thiệp" với Bắc Kinh, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam nói, nhưng nội dung chỉ nhắm tới việc "yêu cầu rút tàu và không có hành vi đe dọa an ninh, hòa bình ở khu vực".

Hoa Kỳ thì không ngần ngại cáo buộc các hoạt động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính là "leo thang nhằm hăm dọa các bên khác có tuyên bố quyền khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông".

Lần đầu tiên Trung Quốc đưa tàu Hải Dương 8 vào EEZ của Việt Nam là hôm 3/7 và ở lại vài tuần.

Sau khi tạm rút ít hôm để tiếp vận và tiếp liệu, nhóm tàu khảo sát của Trung Quốc lại kéo vào khu vực gần Bãi Tư Chính hôm 13/8.

Sự kiện này khiến Hoa Kỳ hôm 22/8 lên tiếng "mạnh mẽ phản đối" việc Bắc Kinh làm điều mà Mỹ gọi là "can thiệp vào các hoạt động dầu khí ở vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền".

Về mặt địa lý, Bãi Tư Chính có vị trí cách bờ biển Vũng Tàu 160 hải lý và cách bờ biển Đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 600 hải lý.

Đây là nơi Việt Nam đã có các hoạt động hợp tác khai thác dầu khí với các đối tác nước ngoài từ nhiều năm nay.

(Bản tin trên Đài BBC Tiếng Việt)

18 September 2019

Joshua Wong điều trần trước Quốc Hội Mỹ: ‘Nguyện vinh quang quy Hương Cảng’

Cát Linh/Người Việt (tường trình từ Washington, D.C.)

Từ trái, ba nhà tranh đấu Joshua Wong, Denise Ho và Sunny Cheung ra điều trần trước Quốc Hội Mỹ hôm Thứ Ba, 17 Tháng Chín. (Hình: Cát Linh/Người Việt)

Tổng Thư Ký Đảng Demosito Joshua Wong mở đầu bài phát biểu:

“Khi tôi nói ‘Một quốc gia, hai thể chế’ thì Hồng Kông đang trở thành ‘Một quốc gia, một thể chế rưỡi.’ Tôi nghĩ các nhà quan sát sự kiện gần đây sẽ không có bất kỳ sự nghi ngờ nào để thấy rằng, chúng ta đang tiếp cận một cách nguy hiểm đến gần với ‘Một quốc gia, một thể chế.’ Tình trạng hiện tại cho thấy Bắc Kinh không thể hiểu được, nói gì đến việc cai trị một xã hội tự do.”

LINK để đọc toàn văn bản tường trình trên Người Việt: https://www.nguoi-viet.com/hoa-ky/joshua-wong-dieu-tran-truoc-quoc-hoi-my-nguyen-vinh-quang-quy-huong-cang/

14 September 2019

Truyện ngắn



Tôi không dám nhìn lâu vào đôi mắt của Gunnar, nó khẩn khoản quá. Tôi phải nhìn sang bên kia hồ Mjøsa, nơi có dẫy núi phủ mây trắng, dường như quanh năm. Mỗi lần có điều khó nghĩ tôi thường nhìn sang bên đó, dù đó là thắc mắc của đứa bé bảy tuổi không biết viết thư cho Ông Già No-en phải gián tem bao nhiêu, có bớt giá cho con nít không hay câu hỏi của một đứa con gái dậy thì nên mua cái áo hở ngực tới đâu.

Vấn đề hôm nay không phải là con tem, cái áo, mà tình yêu, hạnh phúc – Gunnar hỏi cưới, tôi phải trả lời ra sao. Gunnar đang tình cờ ngồi đúng cái ghế da mà ba tôi ngồi hôm đó, và tôi thì lại tình cờ ngồi đúng cái ghế da chị Lên ngồi, cái hôm kỳ cục đó. Chính ba tôi hôm đó, tại đây, đã gieo trong tôi nỗi nghi ngờ về tình yêu. Trong bao nhiêu năm nỗi nghi ngờ ấy ám ảnh trong người tôi, miên kỳ như mùi ngai ngái trên da bò.
Thế này:

*

Lên là chị em con dì với tôi, con lớn của dì Hoa. Chị có thân hình như một nữ lực sĩ bơi lội. Mỗi lần theo ba má tới thăm gia đình tôi, việc đầu tiên là chị tung tôi lên trời ba lần. “Nữa đi!” tôi cười khanh khách nói. Và chị tung ba lần nữa. Sau đó chị lên phòng khách ngồi nói chuyện với ba trong khi mẹ và dì Hoa vào thẳng bếp chuyện trò và nấu phở. Những người khác, như chồng dì Hoa và mấy anh chị lớn, ngồi trong phòng TV
nói chuyện, uống bia, uống nước ngọt, trước cái tivi mở để không.

Tôi nhảy vào lòng chị Lên, hóng chuyện, mặc dù không hiểu lắm ba và chị Lên nói gì. Thì thường là chuyện học hành và tập aerobic của chị Lên, chuyện báo đăng chó sói ăn thịt cừu, chuyện một tên cướp ngớ ngẩn, đánh cắp bưu điện để người ta tóm cổ tại chỗ.

Có lần hai người tranh luận con bò có răng hay không, ba nói bò không răng, chị Lên nói có răng... Tôi thầm đồng ý với chị Lên rằng con bò có răng mới gặm cỏ được, nhưng tôi im lặng, nghe sau lưng thân hình nẩy nở và rắn chắc của chị, khác hẳn thân hình nhỏ và mềm của mẹ.

Trong số những người bà con bên mẹ tôi, ba tôi không thích nói chuyện với ai cả; ba chê họ nói tiếng Na-uy dở quá, mà lại hay nói to, điếc cả tai; ba chỉ thích nói chuyện với chị Lên.

Tôi để ý lúc nói chuyện với chị, ba tươi tỉnh khác thường. Chị Lên hay vuốt tóc khiến tôi buồn ngủ, tai lơ mơ nghe tiếng nói đều đều của hai người xen kẽ với tiếng cười vang trong lồng ngực to của chị Lên. Có lần tôi nghe loáng thoáng ba đề nghị để ba tập lái xe cho chị Lên, và chị rất hào hứng, hai người hẹn ngày giờ nơi chốn. Lần khác ba khen chị Lên đẹp. Chị nói chị chẳng có cái gì đẹp. Ba nói bữa nào đi hồ tắm với ba, ba sẽ chỉ cho coi chị đẹp chỗ nào. Chị cười khanh khách nói “Có vợ rồi mà còn nói nhảm.” “Mặc kệ, giết vợ để lấy Lên tôi cũng sẵn sàng,” ba trả lời. Tôi nói hôm đó là cái hôm kỳ cục là vì thế.

12 September 2019

Xem Tranh « HOA MỘNG » Của A.C.La

Phiêu lãng trong cảnh mộng

Hoạ sĩ đã dùng một cách bố cục lạ để diễn tả cõi mộng mơ, theo như tên bằng tiếng Anh của bức tranh : The Dreamy Years.

Hoa thì dể thể hiện, người xem thấy trong Hoa Mộng có rất nhiều hoa, đủ màu sắc.

Để diễn tả thế giới mộng mơ, hoạ sĩ đã cắt nửa khuôn mặt của thiếu nữ từ chóp mũi trở lên, bởi vì đã là mộng thì không cần đến mắt để nhìn cảnh thực, chỉ cần nhắm mắt lại để ru hồn vào mộng. Cũng không cần đến cái đầu với bộ óc để suy nghĩ, phân biệt thực hư, phải hay không phải. Tuổi xuân là tuổi đang ươm hoa dệt mộng, nên người con gái chỉ cần chiếc mũi nhạy cảm để tiếp nhận hết những mùi hương dịu dàng hay nồng nàn của thời hoa mộng.

Tuổi hoa mộng cũng là tuổi sống với những đam mê bồng bột, nên hoạ sĩ đã bỏ đi nửa phần bên phải của thân người, chỉ giữ lại nửa thân bên trái, phía chứa trái tim, vẫn được xem là nơi xuất phát của tình cảm, nhứt là tình yêu.

Tôi có hân hạnh cùng với vài bạn trên Tiếng Thông Reo được hoạ sĩ cho xem 3 phiên bản của bức tranh Hoa Mộng từ đầu dến lúc hoàn chỉnh, nên ghi nhận được công phu của hoạ sĩ dành cho bức tranh nầy, nhứt là trong cách phối hợp các màu sắc để dẫn người xem vào cõi mộng với hoạ sĩ.

Trong Hoa Mộng, người xem tranh phân biệt được 4 màu chính : màu tím, màu xanh da trời, màu trắng và màu vàng cam. Màu tím ở đây là màu tím pha hồng. Khi nói tới mộng đẹp, người ta thường nghĩ tới màu hồng. Nhưng ở đây hoạ sĩ không dùng màu hồng tươi thuần nhứt, mà pha màu tím với nhiều biến điệu.

Người xem tranh ghi nhận hoạ sĩ đã chủ ý dùng màu tím-hồng để diễn tả tâm cảnh hồn nhiên, mơ mộng của thiếu nữ trẻ trung, tươi tắn, được biểu hiện với cánh hoa trắng muốt, kẹp giữa hai ngón tay thon dài, đài các.

Màu tím-hồng còn diễn đạt tâm hồn còn ngây thơ trong trắng của người con gái, chưa nếm vị đắng cay của một chuyện tình dở dang, qua màu tím đậm u hoài của cuộc chia tay đầy xót xa :
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt,
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.
Và tiếng hát và nước mắt.
( Nửa Hồn Thương Đau, PĐChương )
Tuy nhiên trong phiên bản đầu của Hoa Mộng, hoạ sĩ đã pha màu tím khá đậm, nhứt là màu tím của chùm hoa ở góc trên bên phải bức tranh, làm cho khung cảnh mộng giảm nét phiêu bồng.

Nhưng qua hai phiên bản sau, dùng kỹ thuật glacis* ( tôi đoán như vậy vì chỉ xem được hình chụp bức tranh qua internet ) – là cách dùng một hoặc nhiều lớp màu mỏng phết chồng lên lớp màu bên dưới, nhưng không xoá hẳn lớp màu bên dưới – hoạ sĩ đã dùng những lớp màu xanh da trời làm giảm sắc đậm của màu tím.

Thêm vào đó, hoạ sĩ còn sửa cho nét môi thanh mảnh hơn, màu son môi nhạt và tươi hơn, chiếc cằm nhờ hiệu ứng glacis trở nên thanh tú hơn, bờ vai và cánh tay được chỉnh lại cân đối và hài hoà hơn.

Trong phiên bản hoàn chỉnh của Hoa Mộng, màu xanh trở thành màu chủ, làm cho toàn thể bức tranh ẩn hiện trong một màu tím hồng, phiêu lãng như trong cảnh mộng.

Hoạ sĩ còn chăm chút diễn tả màu da thịt trên bờ vai trần, cánh tay và bàn tay của thiếu nữ, chừng như muốn đưa người xem tranh từ cõi mộng trở về cảnh thực để đừng quên ngắm nét đẹp từ làn da mịn màng của người con gái đang xuân. Nếu nhìn về phần kỹ thuật, màu da thịt tươi hồng của người con gái ở đây có tác dụng tương phản và tạo được chiều sâu cho bức tranh.

Sau khi dừng lại nhiều lần ngắm tranh Hoa Mộng và thả hồn vào cõi mộng với hoạ sĩ, người xem chợt nhận ra thấp thoáng trong tranh, cũng như ở khá nhiều bức tranh khác của A.C.La, dường như có ẩn một mẫu tâm sự của hoạ sĩ. Cùng với đôi môi hé mở của người con gái tuy lộ vẻ hồn nhiên, nhưng nét mặt vẫn đượm vẻ nghiêm trang, không thoáng hiện một nụ cười tươi, nhí nhảnh của tuổi hoa mộng, có phải hoạ sĩ chủ ý không dùng màu hồng tươi, mà pha màu tím hồng cho bức tranh, để gợi một chút hương xưa vẫn chưa phai nhạt vào dòng hoài niệm của mình ?

NQMINH Paris
____
(*) hay glaze trong Anh ngữ.

11 September 2019

Dưới Mái Chùa Hoang, truyện ngắn

Cạnh con đường mòn, ven sườn núi tại Ngọc Nam, có một ngôi chùa nhỏ hoang vắng, nằm im lìm giữa một nơi hẻo lánh và quạnh quẽ. Mùa xuân năm ấy, giặc dã và trộm cướp nổi lên, dân chúng miền phụ cận đã chạy tản mác đi nơi khác, vị trụ trì trong chùa cũng bỏ trốn, chỉ để một mình ông già “tứ cố vô thân” ở lại đèn hương sớm tối.

Hết xuân sang hạ, khí trời trở nên mát mẻ, tối hôm ấy, như thường lệ, ông già dọn dẹp các nơi xong, đang định vào căn phòng nhỏ phía sau Phật điện nghỉ ngơi, bỗng nghe có tiếng gõ cửa nhè nhẹ vang lên ở phía ngoài, ông đi ra mở cửa thì thấy một vị sư áo quần lam lũ, râu ria xồm xoàm, tay cầm chiếc thuyền trượng (cái gậy), trên lưng đeo một cái đãy nhỏ đang đứng dưới thềm cửa trước chùa.

- Ngài cần việc gì? Ông già hỏi.

- Tôi đi vân du đến đây thì trời tối, không có chỗ trọ, định vào quý tự xin tá túc một đêm.

- Chùa đây không phải chốn tùng lâm, không tiện tá túc. Vả lại, sư cụ trụ trì đi vắng, tôi chỉ là người trông nom đèn hương trong chùa, xin sư cụ từ mẫn cho. Ông già uyển chuyển đáp khéo.

- Tôi cũng biết chùa đây không phải chốn tùng lâm. Vị khách tăng nói. Song đến đây không còn thấy nơi nào có thể ngủ trọ được. Giờ trời đã tối, xin lão vui lòng cho tôi nghỉ tạm một đêm.

Sau một lát ngần ngừ, ông già nói:

- Trong chùa vẫn còn một căn phòng nhỏ bỏ không, sư cụ có thể nghỉ tạm. Song chỉ hiềm là không có chiếu chăn gì cả, mà lương thực cũng eo hẹp lắm!

- Điều đó không ngại, tôi ngồi được rồi, không cần chiếu chăn. Còn thức ăn thì tôi đã có mang theo lương khô đây, không dám phiền bàn đến lão.

- Vậy thỉnh cụ vào, nhưng xin cụ cho biết pháp danh và cụ ở đâu tới?

- Tôi là Vân Không, từ Triết Giang đến.

Ông già đưa sư cụ Vân Không vào. Khi đi qua Phật điện, ông thắp ngọn đèn dầu trên bàn thờ lên, rồi dẫn sư cụ vào căn phòng phía sau đối diện với phòng của ông. Căn phòng bỏ không, nhưng ở góc phòng có một đống cỏ khô chất gần đến mái nhà, mùi cỏ khô tỏa ra khắp căn phòng.

Ông già vừa nhìn sư cụ vừa nói:

- Xin cụ lượng thứ, thỉnh cụ hãy tạm nghỉ ở đây!

- Ồ, không sao! Tôi đã sống qua nhiều ngày thế này rồi, ở đây tương đối còn khá lắm!

Sư cụ để chiếc gậy và cái đãy vào góc phòng, rồi nói với ông già:

- Thôi, mời lão đi nghỉ. Để mặc tôi, tôi còn lên lễ Phật.

Ông già đi về phòng riêng. Vừa mới ngồi xuống giường, đột nhiên lại thấy tiếng gõ cửa từ đằng trước vọng vào. Lần này, tiếng gõ cửa rất gấp và cứ thình thình. Ông thấy trong lòng run sợ, còn đang phân vân không biết có nên ra mở cửa hay không thì chợt thấy sư cụ Vân Không tiến đến cửa phòng.

- Có người gọi cửa phía ngoài.

09 September 2019

Linh Hồn và Cõi Âm

Bài viết của bác sĩ Bùi Duy Tâm 
BS Bùi duy Tâm là một người rất quen thuộc với giới trí thức, sinh viên của Huế. Trước năm 1975, ông có một thời gian làm khoa trưởng Đại Học Y khoa Huế.  Đó là một người rất đặc biêt và khác thường, thể hiện bằng một số việc làm khác người ở trương ĐH Y khoa Huế  như:
              - thay hình  tượng ông Tổ ngành Tây Y  Hippocrate  bằng Ông Tổ ngành Y Việt nam  Hải Thượng Lãn Ông.
             - Lễ tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa Huế: thay vì sinh viên ra trường mặc  toge truyền thống, lại thay bằng áo dài xanh, khăn đóng.
             - Khuyến khích làm luận án Tiến sĩ Y khoa bằng đề taì Y học Đông phương (như Hà thúc Như Hỉ - em GS Hà như Chi - với luận án về hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người....           - và một số vụ việc trong nội bộ   khác ...     

Sau một thời gian ngắn , chức khoa trưởng ĐH Y Khoa Huế được trao cho BS Lê bá Vận  cho đến năm 1975).
                (Bài " Linh hồn và cõi âm "được lấy từ nguồn:  trang Web    www. saigonocean.com (ở hải ngoại), số tháng 6 / 2011)  Linh Hồn Và Cõi Âm.
**
Người ta đã sinh ra thì tất sẽ chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về thiên đàng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ. Chúng tôi cũng như mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi chết nhưng hơi nhiều hơn mọi người.

Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Tôi đã được hiểu cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng… để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng và chán ngấy các loại sách viết huyên thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể.

Tôi trở thành một người theo phái bất khả tri: “Con người nhận biết thế giới và vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”. Và như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bấu víu.

Đầu thế kỷ 21, tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5, 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Xã hội thời Việt Nam Cộng Hoà). Trong bài báo, Bác sĩ Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng Đại học thời Việt Nam Cộng Hoà) do hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện…). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn gia đình tìm mộ. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá. Ông Nguyễn Hùng Phong.

Ông Phong đã tường thuật lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm 1999 do bệnh tim... Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam, đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nhẽ?

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...