17 August 2018

Để suy gẫm

Thà hy sinh tất cả chứ không để trở thành
một phần lãnh thổ Trung hoa Cộng sản.

(Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, 2016)

15 August 2018

Để thắng được Trung Cộng

Bài viết tuy xuất hiện đã lâu nhưng gồm những phân tích dựa trên những yêu tố vẫn tiếp diễn trong bối cảnh hiện nay nên những phân tích ấy vẫn mang tính thời sự. Không giống những bài phân tích của các nhà quan sát nước ngoài viết với cái nhìn bàng quan đến lạnh lùng về liên hệ Tàu-Việt, mà đây là bài viết nhìn dưới nhãn quan Việt do chính một người Việt nặng tình với tiền đồ Việt Nam viết. (TTR)

** 
Trần Trung Đạo
May 19, 2014 at 3:04 PM

Câu nói “Không có đế quốc nào tồn tại mãi mãi”  thoạt nghe rất bình thường và hiển nhiên vì lẽ đơn giản trên đời này không có gì tồn tại mãi mãi, tuy nhiên quy luật đó đã được chứng minh rất nhiều lần trong lịch sử bằng bao máu xương của nhân loại. Một đế quốc vừa hình thành ở Á Châu và đang đe dọa cho hòa bình thế giới: Đế quốc Trung Cộng. Đế quốc này sẽ tồn tại thêm được bao lâu và sẽ sụp đổ bằng cách nào vẫn còn là chủ đề được các nhà phân tích chính trị, các sử gia bàn cãi không chỉ trên bên ngoài Trung Cộng mà ngay tại đầu não của cơ chế độc tài. 

Trung Cộng tồn tại được bao lâu? 

Trên cả nước Trung Cộng có một nơi duy nhất được quyền phê bình đảng CS và một nhóm người rất nhỏ trong số hơn một tỉ dân được trao đặc quyền tự do tranh luận về ngày tàn của đảng CS mà không sợ trả thù, nơi đó là Trường Đảng Trung Ương trực thuộc Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSTQ và nhóm người đó là những cán bộ lý luận cao cấp của trường. 

Trong một biệt điện hoàng gia cũ ở phía tây Bắc Kinh được đổi thành Trường Đảng, một số nhỏ chuyên gia ưu tú nhất của trường dành trọn thời gian chỉ để làm một việc là phân tích mọi sai lầm của lãnh đạo đảng, mọi chiến lược ngắn hạn cũng như dài hạn của đảng, mọi kế hoạch kinh tế, các chính sách đối nội và đối ngoại của đảng. Và câu hỏi chính được đặt ra cho nhóm người có đặc quyền này “Đảng CS sẽ tồn tại bao lâu và những khả năng nào xảy ra sau khi đảng sụp đổ”.

Dĩ nhiên mục đích tranh luận không phải để lật đổ chế độ mà nhằm tìm các biện pháp thích nghi ngăn chận kịp thời mọi sai lầm, sơ sót để cỗ máy độc tài khỏi rơi xuống hố như trường hợp Liên Xô. 

Hiện nay tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về tương lai Trung Cộng. Một quan điểm của đảng CSTQ cho rằng Trung Cộng là một nước có biệt lệ về văn hóa chính trị nên làn sóng cách mạng dân chủ tại châu Âu trước đây cũng như Bắc Phi vừa qua không đập vào bờ Trung Cộng. Một quan điểm khác gồm những học giả chuyên về Trung Cộng, trí thức Trung Quốc có ảnh hưởng và ngay cả một số viên chức CS cao cấp có khuynh hướng tự do cho rằng đảng CS phải chết nhưng vấn đề là chết bằng cách nào mà thôi. Điều đó cũng cho thấy, nỗi lo sợ một ngày cơ chế độc tài CSTQ sẽ sụp đổ ám ảnh thường xuyên trong suy nghĩ của lãnh đạo CSTQ và hai yếu tố lớn nhất dẫn đến sự sụp đổ của Trung Cộng vẫn là chính trị và kinh tế. 

Về chính trị. Bài học Thiên An Môn cho lãnh đạo Trung Cộng biết nguy cơ hàng đầu vẫn là khát vọng tự do của con người. Dân chủ là hướng đi của thời đại. Năm 1901 mở đầu cho thế kỷ 20 trên thế giới chỉ có 12 phần trăm nhân loại sống trong các cơ chế chính trị được gọi là dân chủ. Đầu thế kỷ 21, 120 trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận là những nước được lãnh đạo bởi các chính phủ do dân bầu. Nhiều lãnh đạo CSTQ đổ lỗi sự sụp đổ của Liên Xô lên đầu Mikhail Gorbachev như Giáo sư Shen Zhihua, chuyên viên về Liên Xô của đại học Đông Hoa và cả cựu Chủ Tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân từng phát biểu “Gorbachev phản bội cách mạng”. Tuy nhiên họ cố tình không quan sát đến tiến trình chuyển hóa không ngừng của xã hội con người. 

Giáo sư Archie Brown thuộc đại học Oxford, Anh quốc, trong tác phẩm Sự vươn lên và sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản (The Rise And Fall Of Communism) nêu ra 8 lý do khiến chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự mà là sự thay đổi xã hội. Sự chuyển hóa tri thức nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. 

Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vỡ như được chứng minh qua việc 300 ngàn thanh niên Đông Đức tham dự buổi nhạc hội của Bruce Springsteen vào ngày 19 tháng Bảy 1988 và hàng ngàn thanh niên Đông Đức hô to khẩu hiệu tự do muôn năm trên bờ tường Bá Linh tối ngày 9 tháng 11 năm 1989. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể nào ngăn chận được. Tóm lai, yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. 

Về mặt kinh tế xã hội. Như lịch sử đã chứng minh sự phát triển của giai cấp trung lưu là nguồn thúc đẩy của cách mạnh dân chủ vì đó là giai cấp có học thức, có phương tiện và có nhiều nhu cầu vật chất cũng như tinh thần cần được thỏa mãn. Cách đây 20 năm, giai cấp trung lưu này không tồn tại nhưng nay là một lực lượng đông đảo và phát triển theo lũy thừa. Thành phần trung lưu chiếm 14 phần trăm dân số thành thị tại Trung Cộng và có lợi tức bình quân từ 17 ngàn đô la đến 37 ngàn đô la. Với hướng phát triển xã hội có tính quy luật đó, theo giáo sư David Shambaugh, giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc thuộc đại học George Washington sự suy thoái của đảng CSTQ đang diễn ra sẽ giống như các triều đại Trung Hoa trước đây, chiếm đoạt, hưng thịnh và sụp đổ. 

Trong một tổng kết mới đây The World Bank's International Comparison Program cho rằng Trung Cộng với GDP 2011 là 13.5 ngàn tỉ đô la, sẽ qua mặt Mỹ nhanh hơn dự đoán. Thống kê này dựa trên việc so sánh sức mua tương đương (purchasing power parity) của hàng hóa giữa hai quốc gia. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế không đồng ý vì không thể dùng giá cả của những ổ bánh mì, bao thuốc lá để làm thước đo cho mức độ giàu nghèo giữa hai nước trong lúc những món hàng quan trọng nhất lại không thể mua tại Trung Cộng. Tom Wright của Wall Street Journal ví dụ một cách chính xác và cụ thể, Trung Cộng không thể mua một chiếc tàu, một giàn hỏa tiễn hay một chiếc xe Đức đắt tiền mà phải trả bằng một giá hối suất cao gấp nhiều lần. Nếu tính trên phạm vi cả nước, theo phân tích của Global Public Square staff, Trung Cộng không đứng nhất, nhì hay thậm chí 30 mà đứng sau cả Peru. 

Nhưng dù phát triển kinh tế nhanh, sự phát triển đó vẫn phải đồng hành với các phát triển chính trị, văn hóa để tạo nên một xã hội thịnh vượng hài hòa. Điều đó không tồn tại tại Trung Cộng. Các thành tựu kinh tế của Trung Cộng được đổi bằng sự chịu đựng, hy sinh, mồ hôi, xương máu của nhiều dân tộc khác và ngay tại Trung Cộng hàng trăm triệu dân thiểu số vẫn phải tiếp tục sống trong xã hội tham nhũng, độc tài, nghèo đói, bất công, bạc đãi. Hai nhà lý luận CS Lin Zhe và Chen Shu, thành viên trong nhóm nhỏ của trường đảng có đặc quyền phê phán, mặc dù tin rằng đảng CSTQ sẽ tồn tại lâu cũng thừa nhận tham nhũng kinh tế có thể làm sụp đổ đảng. Bà Lin Zhe dành 20 năm để nghiên cứu phương pháp diệt tham nhũng tại các cấp đảng vì theo bà “Tham nhũng là mối đe dọa nguy hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của đảng và nhà nước”. 

Ngọn núi lửa Trung Cộng 

Tuyệt đại đa số con người không ai muốn chiến tranh và là người Việt Nam lại càng không muốn có chiến tranh. Tuy nhiên, chiến tranh và hòa bình không phải là chuyện muốn hay không muốn mà đó là hai mặt biện chứng nhân quả của một quá trình mang tính lập lại của phát triển xã hội loài người. 

Sau khi hiệp ước Versailles được ký kết, Thống chế Pháp Ferdinand Foch nhận xét “Đây không phải là hòa bình mà chỉ là cuộc đình chiến hai mươi năm”. Thế chiến thứ hai bùng nổ 20 năm và 65 ngày sau đó. Nhận xét của danh tướng Ferdinand Foch không phải là lời tiên đoán của các ông thầy bói nhưng vì các nguyên nhân kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dẫn đến thế chiến thứ nhất chẳng những không giải quyết mà còn tác động vào nhau để tạo thành nguyên nhân cho thế chiến thứ hai đẫm máu hơn. Tương tự, Trung Cộng với chính sách cực đoan về cả đối nội lẫn đối ngoại đang là mầm mống cho một chiến tranh khốc liệt tại Á Châu. 

Đảng Cách Mạng Thể Chế Mexico (Mexico’s Institutional Revolutionary Party) cầm quyền được 71 năm và chế độ độc tài CS Liên Xô tồn tại được 74 năm nhưng cả hai đều đã mất quyền lãnh đạo. Trung Cộng tồn tại đến nay được 65 năm nhưng liệu sẽ thoát ra ngoài sự chi phối của quy luật “không có đế quốc nào tồn tại mãi” hay không. Câu trả lời dĩ nhiên là không. Một khi ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán như dòng nham thạch đang cuồn cuộn sôi trong lòng núi, khả năng chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ một cách hòa bình tại Trung Cộng là một chuyện khó xảy ra. Với các mâu thuẫn bên trong và thù địch bên ngoài vô cùng sâu sắc, không có cách mạng nhung, cách mạng da cam nào mà chỉ có máu chảy ngập đường phố Bắc Kinh, Thượng Hải và các vùng Tân Cương, Ninh Hạ, Nội Mông, Tây Tạng. Việt Nam với quan hệ hữu cơ về chính trị tư tưởng và với vị trí chiến lược trong vùng biển Đông cũng khó thoát khỏi ảnh hưởng đầy tai họa của cách mạng máu. 

Giáo sư Yuan-kang Wang thuộc đại học Western Michigan viết trong tạp chí Foreign Policy “Nếu quyền lực tiếp tục gia tăng, Trung Quốc sẽ mở rộng ảnh hưởng đến vùng Đông Á. Chính sách này sẽ không tránh khỏi tạo nên sự cạnh tranh an ninh với Mỹ trong khu vực và các vùng chung quanh. Washington đang bước ra khỏi mối bận tâm Iraq và Afghanistan và đang là ‘mấu chốt’ hướng tới Á Châu. Như người Trung Quốc thường nói “Một núi không thể có hai cọp”, nhớ ráng hết sức mình, trò chơi còn tiếp tục”. Ngọn núi lửa Trung Cộng sẽ phun tuy chưa biết chính xác ngày nào. 

Bài học cho Việt Nam 

Lịch sử để lại nhiều bài học về chính sách đối ngoại khôn ngoan, nhưng đáng học nhất vẫn là bài học về cách giải quyết xung đột giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Liên Xô. 

Từ khi thành lập nền cộng hòa Thổ năm 1923, Thổ Nhĩ Kỳ là một nước cô đơn. Chiến tranh với Anh vừa chấm dứt bằng chiến thắng nhưng bị các quốc gia dân chủ Tây Phương cô lập. Quân đội không nhỏ nhưng chỉ được trang bị võ khí còn lại từ thời đế quốc Ottoman và thế chiến thứ nhất. Để được an toàn, chính phủ Thổ kết thân với một anh láng giềng bên kia Hắc Hải cũng đang bị cô lập, đó là Liên Xô. Cuối thập niên 1930, khi Đức Quốc Xã trở thành mối đe dọa, Stalin quyết định phải kiểm soát Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ để ngăn chận các chiến hạm các quốc gia không thuộc vùng Hắc Hải di chuyển qua đó và đề nghị Thổ cùng phối hợp để làm việc này. Thổ từ chối sang nhượng chủ quyền Eo Biển. Stalin khó chịu nhưng vẫn phải tiếp tục duy trì quan hệ hữu nghị với Thổ. Khi Thổ nhích gần tới Anh và Pháp qua việc tham gia Balkan Pact 1934 và Saadabad Pact 1937 do khối Tây Phương chủ trương, Liên Xô công khai bày tỏ quan điểm gọi là “khó hiểu khi Thổ lại thương thảo với những kẻ cựu thù”. 

Trước tham vọng xâm lược ngày càng lộ liễu của Liên Xô, Thổ Nhĩ Kỳ chỉ còn một con đường duy nhất là đứng hẳn về phía Tây Phương. Tuy nhiên, muốn thân các quốc gia dân chủ Tây Phương, trước hết giới lãnh đạo Thổ phải tiến hành các cải tổ chính trị. Tổng thống Mustafa İsmet Inonu, người tiếp tục chính sách của cố tổng thống Mustafa Kemal Ataturk mở rộng chính phủ theo hình thức đa đảng. Mỹ đánh giá thiện chí của Thổ qua các cải cách chính trị và cũng thấy cần phải tích cực ngăn chận ảnh hưởng Liên Xô trên vùng Hắc Hải, đã gởi chiến hạm lừng danh USS Missouri đến Istanbul vào tháng Tư 1946. Thiết giáp hạm USS Missouri là niềm kiêu hãnh của hải quân Mỹ, từng tham dự hai trận Iwo Jima và Okinawa, và cũng là nơi Mỹ nhận sự đầu hàng của Nhật. Anh theo bước Mỹ, cùng tham gia cuộc diễn tập quân sự trong vùng biển Aegean tháng Chín 1946. Báo chí Liên Xô lên án Mỹ, Anh và cho rằng hai nước này đang thiết lập căn cứ quân sự trong vùng Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ. Mỹ không thừa nhận nhưng cả thế giới lúc đó đều biết Mỹ quyết tâm bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ. 

Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ từ một nước tách ra khỏi một đế quốc tan rã, giành độc lập bằng xương máu chống lại khối dân chủ Tây Phương, bị cô lập, trung lập trong thế chiến thứ hai nhưng đã khôn khéo từng bước xích lại gần với những kẻ cựu thù và cuối cùng được trở thành hội viên của NATO. Để biết ơn và cổ võ các giá trị dân chủ, mỗi năm chính phủ Thổ dành một ngân sách lớn để viện trợ cho các đề án nhằm cải cách dân chủ khắp thế giới. Năm 2012, Thổ Nhĩ Kỳ viện trợ 3.4 tỉ đô la cho 121 quốc gia. Thổ cũng dành riêng 1 tỉ đô la trong ngân sách để viện trợ nhân đạo và được xếp vào hàng thứ tư trên thế giới chỉ sau Mỹ, Cộng đồng Châu Âu và Anh Quốc. 

Để thắng được Trung Cộng 

Qua xung đột giữa Liên Xô và Thổ Nhĩ Kỳ chúng ta có thể rút ra bốn điều kiện để thoát ra khỏi sự khống chế và sẽ thắng được Trung Cộng trong trận cuối cùng: 

1. Việt Nam phải có dân chủ trước Trung Cộng. Phần đông các nhà phân tích chính trị Việt Nam đồng ý rằng Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài. 

Trung Cộng không sợ USS George Washington hay bom nguyên tử mà sợ dân chủ và rất lo “sân sau” CSVN trở thành một nước dân chủ. Vũ khí dân chủ sẽ gây một phản ứng dây chuyền dẫn tới sự tan vỡ toàn bộ cơ chế CS. Một Trung Cộng mênh mông có nguy cơ tan thành nhiều mảnh, chủ quyền ngay tại lục địa còn không giữ được nói chi là chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa xa xôi. 

2. Đoàn kết dân tộc. Dân chủ là điều kiện tiền đề trong chính sách đối ngoại nhằm tạo sự tin cậy nơi các nước dân chủ Tây Phương nhưng quan trọng nhất là nền tảng của đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. 

Trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iraq, nhiều người nghĩ kẻ có lợi nhiều nhất sẽ là dân tộc Kurds. Nhưng không, họ là những người chịu đựng thiệt thòi nhiều nhất. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, Saddam Hussein tàn sát không thương tiếc các cuộc nổi dậy của nhân dân Kurds ly khai trước sự làm ngơ của Mỹ. Nhiều nhà phân tích cho rằng Mỹ phản bội lý tưởng độc lập của nhân dân Kurds. Điều đó chỉ đúng một nửa. Nửa còn lại là sự phân liệt vô cùng trầm trọng trong tập thể 35 triệu Kurds sống trong nhiều quốc gia vùng Tây Á. Một dân tộc chia rẽ, cấu xé nhau, không có một hướng đi chung, không thể vận dụng được sự ủng hộ từ quốc tế và cũng không xứng đáng để được quốc tế ủng hộ. Tương tự, Mỹ bỏ 900 tỉ đô la hay 3 ngàn tỉ đô la tùy theo cách tính và 4486 nhân mạng để lật đổ Saddam Hussein, không phải chỉ nhằm đem lại hòa bình dân chủ cho nhân dân Iraq. Tuy nhiên, nếu là một dân tộc khôn ngoan, đây là cơ hội giúp Iraq vượt qua những khó khăn trong vài năm nữa trở thành một cường quốc trong thế giới Ả Rập và nếu họ không làm được thì cũng đừng đổ thừa cho Mỹ, đổ tội cho Saddam Hussein mà phải trách ở chính mình. 

3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Việt Nam chỉ trở thành một vị trí chiến lược sau khi Trung Cộng thôn tính toàn lục địa Trung Hoa 1949 nhưng trước đó thì không. Tương tự, Ai Cập trước 1976 không quan trọng hơn Thổ Nhĩ Kỳ hay Iran nhưng sau khi Tổng thống Anwar Sadat bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do, Ai Cập trở nên một đồng minh chiến lược của Mỹ ở Trung Đông và được viện trợ ít nhất 1.5 tỉ đô la hàng năm từ đó đến nay. Vì lợi ích kinh tế cũng như về các giá trị nhân quyền, Mỹ mong muốn được thấy Trung Cộng trở thành một quốc gia dân chủ trong một châu Á và Thái Bình Dương ổn định. 

Trung Cộng là nhà băng của nhiều quốc gia trên thế giới kể cả Mỹ, nhưng không giống như các công ty tài chánh Lehman Brothers hay Merrill Lynch, khủng hoảng chính trị tại Trung Cộng sẽ gây tác hại vô cùng trầm trọng đối với nền kinh tế thế giới không thể đo lường được. Biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Trái lại, chủ trương của lãnh đạo CSVN “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia” là chủ trương tự cô lập, không đúng về lý thuyết lẫn thực tế chính trị và sẽ chết tức tưởi trong cô đơn mà không được ai ngó ngàng. 

4. Đoàn kết với láng giềng cùng hoàn cảnh và tham gia các liên minh tin cậy: Việt Nam đang đứng trước những ngã ba, ngã năm trong bang giao quốc tế nhưng dù bao nhiêu ngã cũng chỉ có thể đi trên một con đường trong một thời điểm nhất định. Sự liên minh khôn khéo trong nhiều trường hợp giúp quốc gia tránh được chiến tranh hay có thêm thời gian để chuẩn bị chiến tranh. 

Giáo sư Alastair Smith thuộc đại học Washington University đã công thức hóa toán học nhiều mô thức liên minh trong lịch sử bang giao quốc tế và kết luận các quốc gia có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy. Hiện nay tại Á Châu có bốn liên minh quân sự gồm ba liên minh tin cậy Mỹ-Nhật, Mỹ-Phi, Mỹ-Nam Hàn và liên minh SCO về biên giới gồm Trung Cộng, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Russia, Tajikistan và Uzbekistan. Khi chảo dầu Á châu được đun nóng hơn, nhiều liên minh quân sự mới tương tự như Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) trong thời chiến tranh Việt Nam sẽ ra đời. Đối với Mỹ, vùng biển Đông Á là huyết mạch kinh tế lẫn an ninh của các nước đồng minh với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Indonesia, liên minh được với Mỹ vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước vừa bảo đảm an ninh. 

Bốn điều kiện để thắng được Trung Cộng chỉ có thể thực hiện nếu lãnh đạo là những người thực tâm vì đất nước. Điều đó không có tại Việt Nam. Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua. Do đó, chọn lựa một lối thoát, một hướng đi cho đất nước không phải là chọn lựa của lãnh đạo CSVN nhưng 90 triệu người dân Việt Nam phải can đảm đứng lên quyết định vận mạng chính mình. 

Trần Trung Đạo
Nguồn:

14 August 2018

Đại án bắt cóc Trịnh Xuân Thanh: Chính phủ Pháp vào cuộc

Quốc Phong

Chính phủ Pháp chính thức điều tra dính líu của mật vụ và Đại sứ quán Việt Nam tại Paris.

Cảnh sát Pháp đã âm thầm điều tra nhóm mật vụ Việt Nam tới Paris, cùng những sim điện thoại mua tại đây để phục vụ cho việc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Hồ sơ vụ án tại Pháp hoàn tất và đã được chuyển sang cho an ninh Đức đầu tháng 8.2018 để tiếp tục truy tố những nhân vật của Bộ Công an Viêt Nam.

Tòa Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tọa lạc trong một khu phố nhỏ tại quận 8 ở trung tâm thủ đô Paris, nơi đây là địa điểm ra vào và làm việc của hàng chục nhân viên ngoại giao Việt Nam.

Giữa tháng 7.2017, đột nhiên xuất hiện những khuôn mặt lạ từ Viêt Nam mới sang mà một trong những người này là sĩ quan an ninh Vũ Quang Dũng, hiện là trợ lý cho trung tướng Đường Minh Hưng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cuc an ninh Việt Nam, họ có một nhiệm vụ đặc biệt, phối hợp cùng một nhóm khác tại Berlin tham gia lập phương án bắt cóc một nhân vât quan trọng đang nộp đơn xin tị nạn tại Đức, đồng thời người này liên tục đưa ra các chỉ trích đối với ông Tổng bí thư đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội, đó là cựu Phó Chủ tịch Tỉnh Hậu Giang, cựu Đại biểu Quốc hội Việt Nam Trịnh Xuân Thanh.

Những chiếc sim điện thoại mobile của Pháp được mua vội trên thị trường chợ đen và đem vào khuôn viên của Tòa Đại sứ quán VN tại Pháp để khởi động, hòa vào mạng viễn thông Pháp. Nhờ vào những dữ liệu lưu trữ trong hệ thống viễn thông, các nhà điều tra Pháp đã nắm được chính xác lộ trình di chuyển của những người sử dụng máy điện thoại đi động gắn sim này và tất cả các liên lạc điện thoại của nó.

Ngay sau đó, hôm 19.7.2017, cô Đỗ Thị Minh Phương, một nữ cán bộ Bộ Công thương VN, cháu gái vị cán bộ cấp cao của Bộ Công an tại thành phố Hải Phòng vừa được chuyến bay của hãng hàng không Air Berlin đưa từ thủ đô Paris của nước Pháp sang tới sân bay Tegel Berlin, hạ cánh lúc 12 giờ 56 phút, chỉ sau 90 phút nhóm mật vụ Việt Nam từ Pháp cũng hạ cánh xuống Berlin theo một chuyến bay khác từ Paris. Hành trình đi lại của người bạn gái ông Trịnh Xuân Thanh có tên Phương, cũng từ đó thường bị những nhân viên mật vụ dùng các sim của Pháp này theo sát.

Dường như trung tướng Đường Minh Hưng, người trực tiếp chỉ đạo hoạt động của nhóm mật vụ Việt Nam tại Berlin đã cẩn trọng hơn khi chuẩn bị diễn ra hành động bắt cóc, các sim của Pháp này được thay bằng sim số Đức, nhưng vẫn không thoát khỏi hệ thống lưu trữ tự động các dữ liệu viễn thông qua các cột thu phát sóng mobile dày đặc, lắp đặt tại thủ đô Berlin. Nhờ vào các số ID của những máy điện thoại, các nhà điều tra Đức vẫn phát hiện ra các máy điện thoại đi động mà nhóm mật vụ sử dụng dù họ áp dụng biện pháp nghiệp vụ sơ đẳng được dạy trong Học viện An ninh Việt Nam là đổi sim số khác.

Đại sứ VN tại Pháp, ông Nguyễn Thiệp có nguy cơ
gặp nhiều rắc rối trong thời gian tới,
Tại phiên tòa Thượng thẩm ở Berlin xét xử bị cáo Nguyễn Hải Long, cảnh sát Đức đã nhiều lần nhắc lại chi tiết 2 nhóm mật vụ Viêt Nam đi từ Paris sang Berlin để phối hợp hành động vẫn đang trong thời gian điều tra. Thông tin mới nhận được từ điều tra Đức tiết lộ hôm 13.8.2018: „Chúng tôi vừa nhận được hồ sơ điều tra của cảnh sát Pháp gửi sang, việc xem xét các hồ sơ này đang được tiến hành để làm rõ sự dính líu của nhóm mật vụ Việt Nam đã hoạt động tại Pháp và di chuyển sang Đức, nội dung trong hồ chưa thể tiết lộ ra ngoài cho báo chí“.

Sự việc này cũng có thể được lý giải là một trong những nguyên nhân, mặc dù ông Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiện cố tô vẽ trên truyền thông nhà nước, nhưng thực tế được phơi bày tại châu Âu khi Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã bị Chính phủ Pháp tiếp đón lạnh nhạt trong chuyến thăm nước này vào tháng 3 năm 2018 vừa qua.

Quốc Phong 
Theo ThoiBao.de (via DL)

Tin ngắn

Nhật phát hiện kho hàng ăn cắp lớn của nhóm người Việt

Ba người Việt bị bắt khi khoảng 1.700 sản phẩm ăn cắp được phát hiện tại một căn nhà ở tỉnh Saitama, Nhật Bản. Hãng Sankei đưa tin các nghi phạm bị bắt là Pham Trong Ha, 26 tuổi, cùng hai người khác chưa rõ danh tính. Cả ba đều thất nghiệp. 

Tại nhà của Ha ở thành phố Kawaguchi, tỉnh Saitama, họ tìm thấy khoảng 1.700 mặt hàng ăn cắp, trong đó có 300 sản phẩm là thuốc và mỹ phẩm. Số hàng này dường như do nhiều nhóm người Việt ăn cắp và đưa đến đây tập trung trước khi vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ. 

Ha bị cảnh sát bắt giữ theo lời khai của một đồng hương từng tham gia một vụ trộm hồi tháng 5. Nam thanh niên này đã thừa nhận hành vi ăn cắp và tàng trữ đồ ăn cắp. 

Hãng tin Kyodo hồi tháng 4 dẫn số liệu của cảnh sát Nhật Bản cho hay người Việt đứng đầu về số vụ phạm pháp ở nước này. Các công dân Việt Nam đã gây ra 5.140 vụ phạm pháp trong năm 2017, tăng từ 3.177 vụ trong năm 2016 và chiếm 30% tổng số vụ phạm pháp mà người nước ngoài là thủ phạm.
**

Rạn nứt trong Cộng Đảng Tàu do cuộc chiến thương mại với Mỹ

Một bài viết (*) đăng trên Tin Tức Hàng Ngày có đoạn viết:

Ngày 8/9, Hãng tin Reuter dẫn nguồn tin cho biết, cuộc chiến thương mại Trung–Mỹ ngày càng nóng lên đúng là đã khiến cho nội bộ ĐCSTQ xuất hiện vết nứt. Bộ phận những người chỉ trích cho biết, lập trường của Mỹ ngày càng cứng rắn, có lẽ là do Trung Quốc quá nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc.

Nội bộ ĐCSTQ ngày càng cảm thấy tình cảnh trước mắt “trở nên nghiêm trọng”.

(*) "Hội nghị Bắc Đới Hà chưa ổn định được tình hình rối loạn"

**

Siêu máy bơm đường Nguyễn Hữu Cảnh có thể ngưng hoạt động vì thiếu kinh phí

Ngày 12/8, đại diện Tập đoàn công nghiệp Quang Trung cho biết đã gửi công văn đến các cơ quan hữu quan TP.HCM để thông báo về việc có thể phải ngưng hoạt động “siêu máy bơm” vì thiếu kinh phí.

Từ tháng 10/2017 đến nay “siêu máy bơm” đã chống ngập cho đường Nguyễn Hữu Cảnh 30 lần. Riêng từ đầu năm 2018 đến nay, đã có 17 lần chống ngập thành công cho tuyến đường này. Tuy nhiên, đến nay, sau 2 năm hoạt động, đơn vị này này vẫn chưa được thanh toán chi phí.

Tập đoàn Quang Trung đề nghị Trung tâm chống ngập TP.HCM tạm ứng 30 tỷ đồng trước ngày 15/8 để có kinh phí trang trải các khoản chi phí.



13 August 2018

Hoa lục chi 10 tỉ đô-la một năm để kềm kẹp Tân Cương

Mười tỉ đô la một năm để giữ an ninh, 100.000 đồn công an, nửa triệu người Duy Ngô Nhĩ phải đi học tập cải tạo, công nghệ nhận diện khuôn mặt... Tân Cương hiện là trại tập trung lớn nhất thế giới, như trong tác phẩm "1984" của George Orwell.
Công an Trung Quốc đánh đập phụ nữ Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương,
háng 7/2009. Ảnh Guang Niu/Getty Images
La Croix hôm nay 10/08/2018 mô tả « Tân Cương dưới sự giám sát của Big Brother Trung Quốc ». Vùng đất Hồi giáo ở miền tây bắc đang phải chịu đựng một « bộ máy an ninh tổng lực » duy nhất trên thế giới, khoảng mấy chục ngàn người Duy Ngô Nhĩ đã bị tống vào các trại cải tạo.
100.000 đồn công an và công nghệ cao để theo dõi người dân

Đối với 10 triệu người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, cuộc sống ngày càng giống với thế giới được nhà văn George Orwell hình dung ra trong tác phẩm nổi tiếng « 1984 ». Từ hai năm qua, Tân Cương bị đàn áp không thương tiếc. Theo ông Marc Julienne, Quỹ Nghiên cứu Chiến lược (FRS), thì đây là « bộ máy an ninh tổng lực chưa từng có trên thế giới và trong lịch sử » ; với các phương tiện tài chính, nhân lực và công nghệ khổng lồ.

Từ sau các vụ nổi dậy năm 2009 làm hàng trăm người chết, chính quyền trung ương Trung Quốc đã đẩy nhanh chương trình an ninh đại quy mô tại Tân Cương. Ngân sách dành cho an ninh được tăng gấp mười, và theo thống kê, đã đạt đến 10 tỉ đô la vào năm ngoái. Con số này trùng hợp với thời điểm ông Trần Toàn Quốc (Chen Quanguo) được điều về làm bí thư đảng ủy Khu tự trị Tân Cương. Từ quân đội chuyển sang chính trị, Trần Toàn Quốc đã có 5 năm kinh nghiệm đàn áp Tây Tạng, và dưới mắt Bắc Kinh, đây là quan chức lý tưởng để « ổn định » vùng đất bị cho là chủ trương ly khai.

Trên 100.000 đồn công an mới được thiết lập tại các thành phố lớn, ở ngoại ô và nông thôn. Ngoài việc giám sát trực tiếp bằng con người, công nghệ cao còn được vận dụng : camera ở các nơi công cộng, thiết bị bay không người điều khiển (drone), internet, điện thoại di động…Các bảng số xe đều được ghi vào ống kính, dữ liệu smartphone bị thu thập, tin nhắn bị đọc lén, khuôn mặt bị nhận diện bằng công nghệ…Đối với Trung Quốc, Tân Cương là một phòng thí nghiệm khổng lồ về giám sát điện tử, để áp dụng vào các miền khác của đất nước, thậm chí xuất khẩu.

Công an Trung Quốc tuần tra tại Tân Cương.
Ảnh tư liệu chụp ngày 26/06/2017.
Nửa triệu người Duy Ngô Nhĩ bị tống vào trại cải tạo

Sự giám sát chặt chẽ này giúp bóp nghẹt mọi ý định phản kháng, nhưng không chỉ dừng ở đó, từ cuối năm 2017, Bắc Kinh mở ra khoảng mấy chục trung tâm cải tạo. Chuyên gia Marc Julienne cho biết : « Chắc chắn là hàng trăm ngàn người Duy Ngô Nhĩ đã bị tống vào trại cải tạo để nhồi sọ về chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Tập Cận Bình, cũng như chống lại cực đoan tôn giáo ».

Người ta đếm được khoảng 70 trại cải tạo ở Tân Cương, chưa kể những trại khác đang được xây dựng. Một báo cáo của Quốc hội Mỹ nêu ra con số 500.000 người Duy Ngô Nhĩ bị giam cầm, đánh giá Tân Cương là « trung tâm giam giữ hàng loạt người thiểu số lớn nhất thế giới hiện nay ».

Một số phải đi cải tạo nhiều tuần lễ, số khác trải qua nhiều tháng trong những điều kiện vô nhân đạo, ăn uống chỉ đủ cầm hơi. Không hề thông qua xét xử, các cán bộ đảng, công an và quân đội có toàn quyền trấn áp, đe dọa trả thù gia đình nếu tù nhân không chấp hành. Tương tự đối với các sinh viên hay doanh nhân Duy Ngô Nhĩ từng sống ở nước ngoài. Họ phải « thú nhận » tất cả, sau khi « cải tạo tốt » thì đảng sẽ khoan hồng.

Cũng giống như đối với « bọn phản cách mạng, xét lại » trong thời kỳ Cách mạng văn hóa (1966-1976), những ai bị cáo buộc « khủng bố, cực đoan tôn giáo, ly khai », sẽ bị cho vào địa ngục này để tẩy não. Ông Marc Julienne nhận xét : « Việc Bắc Kinh im lặng về thực tế này cho thấy tính chất bất hợp hiến và bất hợp pháp so với luật quốc tế của hệ thống trại cải tạo Trung Quốc ».

Thụy Mi

Tin buồn

Đồng môn Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sàigòn

Bà TRƯƠNG THỊ BẠCH
Cựu Sinh Viên Ban Tham Sự Khóa 4
Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1946 tại Việt Nam
Đã từ trần ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại Virginia – Hoa Kỳ
Hưởng thọ 72 tuổi

12 August 2018

Nhạc sĩ Tô Hải qua đời tại VN, thọ 91 tuổi

Nhạc sỹ Tô Hải, sinh năm 1927 tại Thái Bình, trở thành đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam  năm 1949, năm 1954, ông được phân công làm trưởng đoàn Văn công quân khu IV, qua đời tại Sài Gòn hôm 11/8/2018 sau một thời gian dài lâm bệnh, hưởng thọ 91 tuổi.

Người nhạc sỹ này đã gây chú ý khi bắt đầu viết hồi ký và sau đó là viết blog liên tục trên dưới hai chục năm trở lại đây được nhiều người biết đến nhất là qua cuốn 'Hồi ký của một thằng hèn', trong đó, ông bộc lộ thái độ được cho là phản tỉnh, 'lựa chọn sai đường' của bản thân, nhận mình là một 'thằng hèn', 'một kẻ cơ hội', d9a4 ca ngợi 'đảng và chế độ' để sống sót.

"Do yêu nước mà hăm hở đi theo Việt Minh, vì chỉ biết Việt Minh đánh Tây giành độc lập, rồi tiếp tục hăng hái phục vụ công cuộc "đấu tranh giải phóng miền Nam" cũng vì bị bưng bít thông tin, cho miền Bắc là chính nghĩa vì độc lập thống nhất quốc gia." (nhà thơ Hoàng Hưng).

Nung nấu âm thầm trong nhiều năm, quyết định từ bỏ đảng đã bùng ra công khai khi ông công bố cuốn "Hồi ký của một thằng hèn" mà ông chủ động gửi in ở Mỹ năm 2007.  Hành động này của Tô Hải được dư luận rộng rãi cho là quả cảm và đã gợi ý cho nhiều đảng viện rời bỏ Đảng CS.

**


Nhà báo Bùi Tín qua đời tại Pháp, thọ 91 tuổi

Ông Bùi Tín, nhà báo, nhà bất đồng chính kiến, cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân, chứng nhân của thời khắc lịch sử 30 tháng Tư, 1975 tại Dinh Độc Lập trong tư cách phóng viên chiến trường, vừa qua đời lúc 1 giờ 25 phút sáng ngày 11 tháng Tám, tại bệnh viện André Grégoire, Montreuil, ngoại ô Paris, Pháp, thọ 91 tuổi.

Nhà báo Bùi Tín sinh năm 1927 tại Hà Đông. Ông là con trai Thượng thư Bùi Bằng Đoàn của triều đình Nguyễn và sau là một bộ trưởng trong chính phủ Việt Minh của Hồ Chí Minh.

Bùi Tín đi theo Việt Minh từ năm 18 tuổi, được kết nạp vào Đảng CS năm 19 tuổi, sau này thăng tới cấp đại tá. Ông nói ông là người đi cùng đơn vị xe tăng đầu tiên đâm đổ cổng Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975.

Bản thân ông Bùi Tín có các bài nói về hành động ông "tiếp nhận" sự đầu hàng từ Tổng thống VNCH Dương Văn Minh, nhưng sau khi ông Tín trở thành nhà bất đồng chính kiến tại Pháp, báo chí chính thống của VN bắt đầu nêu ra cách nhìn khác nói Đại tá Bùi Tín không phải là đại diện của VNDCCH làm chuyện đó.

Tháng 9/1990 ông sang Pháp dự hội nghị hàng năm của báo L'Humanité (Nhân Đạo) báo của Đảng Cộng sản Pháp rồi quyết định xin tỵ nạn tại Pháp.

Kể từ khi sinh sống ở nước ngoài, ông đã xuất bản nhiều bài báo và sách viết về hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, gồm hai cuốn nổi tiếng là "Hoa Xuyên Tuyết" và "Mặt Thật". Ông Bùi Tín đã nhiều lần công khai gọi Đảng Cộng Sản Việt Nam là "một đảng cướp".

Các sách báo của ông bị cấm ở Việt Nam. (TTR tổng lược)


**
"Lý tưởng xâm nhập tôi tự nhiên, sâu sắc ở tuổi 18. Tôi sống từ đó lạc quan, hừng hực cả thời tuổi trẻ. Vào bộ đội, nhẹ tênh, phơi phới, chỉ một bộ quần áo cũ, một chiếc áo len nâu cụt tay, thủng một lỗ ổ bên ngực. Đại đội trưởng ở dịch hậu (hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, Quảng Trị), khi chưa tới 19 tuổi, lo chuyện súng đạn, gạo, muối, lo chuyện trinh sát đồn địch, dẫn anh em đi phục kích, chan hòa với đồng bào sống dọc những bãi cát, sung sướng với củ khoai luộc ăn cùng cà muối của các bọ, các mạ (các bố, các mẹ), cũng có hồi cả đại đội bị sốt rét, bị bệnh ghẻ lở sâu quảng- những vết lở tròn sâu hoắm- mà vẫn vui hát náo nức trong các buổi lửa trại quân dân... Nhiều lúc vuốt mắt cho đồng chí, xé lòng tiễn đưa cậu đại đội phó Dung, cùng dân học trò, bạn thân, để sau đó lại phơi phới, hăm hở, lao vào những trận đánh mới dọc đường số 9, từ Khe Sanh lên Lao Bảo, rồi Sê- Pôn, Mường Phìn... Nghĩa làm trai, thời buổi loạn lỵ Mang sức trẻ đền bồi non nước... Lòng yêu nước, tình đồng chí, nghĩa đồng bào, lòng tự tin dân tộc, niềm tin vững chắc ở chính nghĩa... là nguồn vui sống đẹp của cả một thời tuổi trẻ. Vào đảng ở tuổi 19, tôi tuyên thệ dưới ánh đèn dầu mãi mãi trung thành với lý tưởng: Giải phóng nhân dân, giải phóng nhân loại. Ôi, thật là sung sướng, là hạnh phúc trong đấu tranh và tin tưởng. Cuộc sống sôi nổi mà giản đơn, lẽ đòi vằng vặc sáng trong, không gợn chút ngần ngại băn khoăn... "
"Từ sau 1975, sau những ngày hoan hỉ tràn đày hứng khởi, vào tuổi gần 50, tôi sinh ra nghĩ ngợi, đăm chiêu, lòng chẳng thấy mấythư thái và thanh thản. Những câu hỏi khá gay gắt cứ xoáy sâu vào tâm trí để tìm sự lý giải của chính mình, đúng ra là tìm sự lý giải về số phận của đồng bào mình. Lạ vậy, khi chiến đấu căng thẳng, vất vả, cuộc sống nội tâm khá giản đơn, còn trong hòa binh mới thật lắm chuyện, mà lại những chuyện lạ lùng, khó hiểu, cần tìm cho ra nhẽ." (Bùi Tín: Hoa  Xuyên Tuyết- Lời Mở Đầu)

**

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...