19 March 2016

Bên Bát Phở

Bài nầy nói về nguồn gốc của chữ “phở“, rất hợp lý, đả phá cái chữ Tàu “ngầu dục phảnh” (ngưu nhục phấn)

    “,,,,chăn nuôi bò lấy thịt và sữa là do người Pháp đem vào. Điều đó khẳng định phở bò chỉ có đầu thế kỷ 20 vì chuyến bò nhập đầu tiên là năm 1898. ,,,,,”
    Bài nầy nói về nguồn gốc của chữ “phở“, rất hợp lý, đả phá cái chữ Tàu “ngầu dục phảnh” (ngưu nhục phấn) mà lâu nay nhiều người tin như vậy. Người ta hay dịch những đặc sản của Việt Nam ra ngoại ngữ vì ghi tiếng Việt người ngoại quốc không đọc được. Tại sao không giữ nguyên chữ Việt như phở, chả giò, gỏi cuốn…? Họ đọc không đúng thì phiên âm ra như Tàu hay Nhựt… Cũng vì lẽ chữ quốc ngữ dùng mẫu tự La tinh nên người mình chủ quan, tự cho mình là “may mắn” và “thuận lợi” hơn người. Xem lại có hơn gì ai không, Tàu, Nhựt, Cao ly… không có “may mắn” như mình có chữ quốc ngữ mà trình độ của họ bây giờ ra sao so với mình ? Nhiều người còn lười biếng đến nỗi gõ chữ Việt không dấu cho người ta vừa đọc vừa đoán !  (NPH)
 **


Trần Thu Dung

Một lần anh bạn Việt kiều Mỹ qua Paris chơi, rủ nhau đi ăn tiệm. Tôi hỏi anh thích nếm hương vị quê hương hay hương vị Pháp. Anh bạn đề nghị ăn đồ Tây với lý do đến đâu phải nếm đặc sản nước đó, đặc sản Việt Nam: nem, phở, bún, bánh cuốn… bên Mỹ bán đầy khắp. Hóa ra đặc sản Việt Nam bây giờ du lịch khắp thế giới, đặc biệt là ở Pháp và Mỹ – hai nước có lịch sử liên quan đến Việt Nam. Nhiều người nước ngoài biết đến nem, phở. Điều ngạc nhiên phở là món ăn quốc hồn quốc túy của Việt Nam không nằm trên mâm cơm thờ cúng tổ tiên. Tết Việt Nam gắn liền với bánh chưng, nem, măng hầm, bóng xào chứ không phải phở.

Phở là món đặc sản truyền thống của Việt Nam. Truyền thống, theo từ điển Pháp định nghĩa là những vật thể và phi vật thể được truyền từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Bánh chưng, nem là những món ăn truyền thống đã có từ nhiều thế kỷ. Phở cũng là món ăn truyền thống, vì nó đã được nhắc đến trong tùy bút, văn của một số nhà văn thời tiền chiến, như Nguyễn Công Hoan nhắc đến phở từ 1913 *. Nếu tính đến năm nay Phở Việt Nam đã có trên 100 năm, truyền từ đầu thế kỷ 20 sang đến thế kỷ 21. Những món ăn có ghi vào trong từ điển là những món ăn đã nổi tiếng và quen thuộc với dân tộc đó. Phở đã có mặt trong từ điển.

Bàn về phở người ta thường nói đến phở bò Bắc Kỳ. Tên gọi chứng minh thịt bò là nguyên liệu chính.

Trâu bò thường xuyên gắn với đời sống nông nghiệp ở Việt Nam. Người nông dân thường tính gia sản không phải bằng tiền vàng, mà số lượng trâu bò tậu được. Khác với trâu, bò hầu như vắng bóng trong văn hóa Việt Nam. Trâu được nhắc rất nhiều trong đời sống văn hóa Việt xưa. Hình ảnh chú bé chăn trâu đã quen thuộc với người Việt Nam. Đồng tiền Đông Dương do Pháp ấn hành có hình trâu cày.

Tranh dân gian hay ca dao, tục ngữ thường chỉ nhắc đến con trâu: con trâu là đầu cơ nghiệp, ruộng sâu trâu nái, con trâu đi trước cái cày đi sau. Con bò vắng bóng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, và tranh dân gian. Lễ hội chọi trâu, đâm trâu là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay. Chu kỳ 12 năm trong lịch âm, có năm trâu, không có năm bò, dù bò cũng gắn liền với nghề nông. Truyện cổ tích dân gian kể về sự liên quan mật thiết giữa người và trâu. Cuội đi chăn trâu lừa phú ông. Trí khôn của ta đây ca ngợi sự thông minh của người nông dân điều khiển được trâu cày và lừa được hổ. Sự tích trầu cau để giải thích tục lệ ăn trầu.

Nhiều món dân tộc đã đi vào thành ngữ ca dao tục ngữ: “Ông ăn chả bà ăn nem ”, “Tay cầm bầu rượu nắm nem… mải vui quên hết lời em dặn dò”; “Ra đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”… Nhiều làng đã gắn với tên tuổi của sản phẩm như bánh cuốn Thanh Trì, bánh đúc làng Kẻ, tương Cự Đà, cốm làng Vòng, bánh chưng bánh dầy từ thời Văn Lang… Ca dao truyền khẩu dạy chế biến các món dân gian: “con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi, con chó khóc đứng khóc ngồi, mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”, “Khế xanh nấu với ốc nhồi, Tuy nước nó xám, nhưng mùi nó ngon”.

Điểm qua văn chương cổ không thấy tả vua chúa ăn phở bò, hay tả về món phở bò. Phở chỉ xuất hiện trong văn thơ thời Pháp thuộc, Tú Mỡ, Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan… Bò, và phở gần như vắng hoàn toàn trong văn hóa dân gian Việt.

Điều này chứng tỏ bò và phở xa lạ với người Việt Nam trước thế kỷ 20. Các sản phẩm từ sữa bò quen thuộc với người châu Âu, xa lạ với người Việt thời đó: sữa tươi, bơ, phô-ma, sữa chua. Chăn nuôi bò là một ngành phát triển mạnh ở Pháp. Pháp nổi tiếng có hơn 100 loại phô-ma khác nhau, hầu như đều là sản phẩm từ sữa bò. Khi người Pháp chiếm Đông Dương, nhu cầu về sữa bò, và phô-ma bơ, thịt bò là nhu cầu thiết yếu của họ. Cà phê sữa, uống sữa là thói quen của người Pháp.

Người Việt Nam chỉ uống trà. Quan niệm xưa chung của dân châu Á, ai uống sữa động vật nào là sẽ biến thành con vật đó. Chỉ có tầng lớp nhỏ trung lưu làm việc với Pháp mới biết khẩu vị “Tối rượu sâm-panh, sáng sữa bò”. Trong cuốn “Địa lý về sữa, in năm 1940, P. Veyrey đã nhận định sữa ở Annam chỉ phục vụ cho một số tầng lớp khá giả. Bò và sản phẩm từ bò không quen thuộc đối với người Đông Dương. Trẻ con ở đây bú mẹ đến 3, 5 tuổi. Dân các nước Đông Nam Á không dùng sữa, bơ. “Dân bơ sữa” là thành ngữ mới, chỉ đám con nhà giàu sang. Việt Nam chỉ nuôi trâu. Trâu khỏe giúp cho cày ruộng. Chỉ khi nào trâu chết, hay già, ốm yếu mới được ăn thịt. Thời trước chỉ có món xáo trâu. Không có món ăn nào của Việt Nam liên quan đến thịt bò được nhắc đến trước thế kỷ 20. Chứng tỏ bò hầu như không có mặt ở Việt Nam.

Bò châu Á là giống bé nhỏ, có bướu và rất ít do không đem nhiều lợi ích trong cuộc sống như trâu. Trâu to và khỏe, sức chịu đựng dẻo dai. Người nông dân Việt trước kia nuôi trâu. Người Pháp khi đến Đông Dương chê bò có bướu châu Á còi cọc, ốm yếu, gầy giơ xương, túi hai bên sườn rỗng, không có thịt. Người Pháp đã quyết định nhập bò sữa từ Normandie, và một số từ Ấn Độ, bò Thụy Sỹ, bò Bretagne và cho lai tạo với hy vọng tạo ra một giống bò mới, to khỏe chịu đựng được khí hậu nhiệt đới, và cho nhiều sữa, thịt.

Bác sĩ Yersin đã đệ thư xin chính phủ bảo hộ cho nhập bò, gà Thụy Sỹ. Năm 1898, Pháp đã bắt đầu nhập bò vào Việt Nam. Chuyên gia nuôi bò ở Limousin được gửi sang Đông Dương để hướng dẫn cách nuôi. Do chặng đường vận chuyển bằng tàu thủy từ Marseille đến Đông Dương và khí hậu thay đổi hoàn toàn khác, nhiều con đã chết hay kiệt sức trên đường đi. Một số bò được thử thả nuôi, chết vì hổ, voi rừng. Sau đó bò được giao cho nông dân nuôi (có lẽ từ đó người nông dân Việt Nam mới nuôi bò). Người Pháp dạy cho nông dân bản xứ cách nuôi bò, vắt sữa.

Sữa và thịt bò chỉ bán trong các thành phố lớn và chỉ có người Pháp tiêu thụ vì giá thành quá cao. 1 cân thịt bò 30 cents. Cũng vì vậy công nghệ làm bơ, phô-ma không thể làm tại địa phương, phải nhập từ mẫu quốc do số lượng người dùng ít. Việc nuôi bò thịt và sữa không đem lại lợi nhuận so với khai thác cà phê, cao xu, mỏ… Chăn nuôi bò gần như không thành công tại Đông Dương.

Như vậy công nghệ chăn nuôi bò lấy thịt và sữa là do người Pháp đem vào. Điều đó khẳng định phở bò chỉ có đầu thế kỷ 20 vì chuyến bò nhập đầu tiên là năm 1898.

Bò rất hiếm, đương nhiên quý nên đắt tiền. Mổ bò là ngày hội lớn của làng, phải đem ra bàn bạc ở đình làng vì vậy mới có thành ngữ ồn ào (cãi nhau) như mổ bò là thành ngữ mới. Một vài thành ngữ mới xuất hiện đầu thế kỷ 20: Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết; Ngu như bò, cùng với trò chơi đấu bò, thi cưỡi bò ở miền Tây. Thời nay phở trở nên món ăn hấp dẫn quen thuộc nên được ví như bồ.

Cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes năm 1651 không có từ phở. Trong bài khảo luận về dân Bắc Kỳ, Tạp chí Đông Dương (15/9/1907), Georges Dumoutier nói về những món ăn phổ biến ở Bắc Kỳ, không điểm danh phở. Khảo sát việc nhập bò, chăn nuôi bò thời Đông Dương chứng minh phở chỉ xuất hiện đầu thế kỷ 20. Phở sớm được ưa thích, nên phở xuất hiện trong văn thơ thời Pháp thuộc, và chỉ hơn chục năm sau, phở có trong từ điển. Từ điển của Gustave Hue (Dictionnaire Annamite – Chinois – Français) xuất bản năm 1937 định nghĩa: “Cháo phở : pot-au-feu”.

Người Pháp dịch món PHỞ là pot au feu (pô-tô-phơ). Pot au feu – món súp hầm thịt bò là món ăn truyền thống của Pháp. Phở chính là sự sáng tạo của người Việt khi giao lưu với văn hóa ẩm thực Pháp. Xét về nguyên liệu thì nồi nước súp cổ truyền của người Pháp gần giống nồi nước dùng nấu phở trừ rau củ. Thịt bò toàn những thứ cứng và dai : đuôi, gân, sườn, đùi thăn, dạ dày, bạc nhạc. Tất cả hầm chung với hành củ và quế, hoa hồi, hạt tiêu. Nước dùng được lọc 1 lần cho trong, khi thịt gân mềm cho rau, củ (cà rốt, cần tây, khoai tây). Phở có dùng hành tây nướng, bóc vỏ bỏ vào nước dùng cho thơm. Hành Tây củ chỉ có khi Pháp vào Việt Nam, nên gọi là hành Tây. Anis (hoa hồi) cũng không phải là hương vị quen thuộc của người Việt.

Người Pháp sống ở Đông dương với nỗi nhớ quê hương và các món ăn dân tộc họ. Họ đã bày cho những người đầu bếp Việt Nam nấu món này. Thấy món ăn hấp dẫn dễ ăn, người Việt đã Việt Nam hóa một cách sáng tạo món súp bò của Pháp bằng cách dùng thêm hương liệu Việt Nam có sẵn như gừng nướng, quế và thay thế khoai tây bằng bánh đa tươi thái sợi. Bánh đa, bánh cuốn là bánh có từ lâu đời của người Việt Nam. Nước dùng nấu như pot au feu nhưng không cho rau củ. Người Pháp khi ăn súp này thì vớt thịt miếng to cho vào đĩa sâu, ai ăn thì tự lấy cắt nhỏ ra, rưới thêm nước súp và rau khoai, ăn với bánh mì.

Người Việt không dùng dao nĩa như người Pháp, mà dùng đũa, nên thịt thái nhỏ theo phong tục thói quen người Việt. Hơn nữa, thời đó xã hội Việt Nam còn nghèo, miếng thịt to như thế là một thứ xa xỉ phẩm. Nhiều chuyện kể, bố và bạn ngồi nhấm rượu với thịt, vợ con ngồi chờ dưới bếp thập thò hy vọng còn thừa để ăn. Thái thịt chín mỏng là tài nghệ của người đầu bếp. Thịt chín, thịt gân thái mỏng giơ lên thấy cả ánh sáng mặt trời, nhưng không được rách vỡ, miếng gân, ngầu trong vắt, khi rưới nước phở lên, nước dùng thấm xuyên qua miếng thịt, ăn miếng thịt mới cảm thấy đậm đà. Thịt hầm không nát. Gân phải mềm.

Người Pháp ăn món súp bò thả hành và rắc rau mùi (ngò) tây lên trên. Việt Nam, phở bò nguyên gốc Hà Nội cũng chỉ rắc hành và mùi và thịt chín. Thịt bò nạc mềm đắt, nên chỉ dùng nguyên liệu rẻ tiền nhất trong thịt bò. Theo Clotilde Chivas-Baron, Marie-Paule Ha kể các Sơ đầu tiên đến Đông Dương nhận quà tặng là một con bò sữa khi mới thành lập “La Sainte Enfance” ở Sài gòn. Lúc đó ban truyền giáo nghèo, nhà lợp lá, 20/05/1860. Trại có chuồng nuôi gà và một con dê,…”. Bò là món quà tặng quý hiếm lúc đó. Nên mặc dù nguyên liệu nấu phở bò là thứ rẻ tiền nhất, phở thời đó chưa phải là món bình dân như thời nay. Giá một bát phở từ 2 đến 5 xu, tương đương một ngày công lao động vất vả của người công nhân làm cho Pháp.

Phở xuất hiện đầu thế kỷ 20, do đó không có mặt trong ngày Tết cổ truyền dân tộc.

Phở là món ăn ảnh hưởng món súp bò của Pháp. Vậy từ phở do chữ “Feu / phơ” mà ra. Tiếng Việt đơn âm, người Việt lúc đó đại đa số không biết tiếng Pháp, do tiếp xúc làm việc phục vụ cho người Pháp, họ nói tiếng Tây bồi, họ thường hay rút ngắn từ tiếng Pháp, nhất là khi nghe không rõ, họ có thói quen lấy từ đầu hay từ cuối cùng để gọi. Thí dụ như Galon (phù hiệu quân hàm) gọi đơn giản là lon, biscuit (bánh qui – lấy âm qui đằng sau từ biscuit), chèque (séc), essence (xăng), affaire (phe), démarrer (đề), alcool (cồn), beige (be), dentelle (ren), cartouche (tút)…

Chỉ có người Pháp thời đó làm việc quen với mấy người phục vụ mới hiểu được tiếng Tây bồi này. Tiếng bồi này thời đó là oai vì làm việc cho Tây và nói Tây hiểu, dần dần lan ra dân chúng, trở nên ngôn ngữ mới. Hầu như là những từ không có ở Việt Nam, như xăng, cồn, tút, đề…. và các món ăn của Pháp như bơ, phô-ma, biscuit… Riêng sữa có từ ở Việt Nam, nên không vay mượn từ của Pháp kiểu đó. Sự biến đổi những từ đa âm thành từ đơn âm là cách Việt hóa các từ Pháp. Người bồi bếp đã đọc chữ cuối FEU thành PHỞ. Từ đó có từ phở.

Phở là món ăn của Bắc Kỳ (theo từ điển của Pháp sau này họ dịch là soupe tonkinoise – súp Bắc Kỳ). Điều này khẳng định phở xuất hiện ở miền Bắc.

Người Tàu không có món phở, không có chữ phở. Ở nước ngoài, quán ăn nào của người Tàu có món phở, họ có ghi bằng tiếng Việt: phở bò Việt Nam (Vietnamese Nalle phở noodle soup with sliced rare beef and well done beef brisket).

Trong khi người Tàu thừa nhận phở là đặc sản của Việt Nam, thì một vài người Việt lại loay hoay chứng minh chữ phở là của gốc tiếng Tàu, và món phở từ món ngưu lục phấn của Tàu (mì trâu). Món phở xuất phát từ món súp bò của Pháp. Phở là sự kết hợp thông minh sáng tạo từ món súp bò Pháp với nguyên liệu cổ truyền của Việt Nam. Từ điển do người Pháp soạn cũng ghi phở: món súp Bắc Kỳ. Spagetti của Ý là do Marco Polo mang mỳ từ Tàu về. Sự sáng tạo thông minh của người đầu bếp Ý đã biến món mỳ Tàu thành món spagetti nổi tiếng thế giới. Sushi Nhật bản là từ cơm nắm – món ăn dân dã của nhiều nước châu Á. Không ai nói Spagetti, Sushi của Tầu… Trong khi đó thật đáng buồn, cuốn từ điển Việt-Pháp do Lê Khả Kế và Nguyễn Lân biên soạn, tái bản lần thứ 4, bên trong đề có chỉnh sửa, do nxb Khoa học Xã hội in năm 1997, dịch Phở là soupe chinoise (súp Tàu).

Một cuốn từ điển cũng để chứng minh văn hóa dân tộc. Phở là một đặc sản của Việt Nam, vậy mà dịch sang tiếng Pháp là súp Tàu. Nếu người Tàu lấy đó làm bằng chứng phở là đặc sản của họ thì lúc đó ban biên tập nxb Khoa học Xã hội cùng hai tác giả nói gì để tranh cãi. Từ điển là tài liệu sống. Một sự sơ xuất vô tình có khi mất nước. “Bút sa gà chết”. Sự phân chia biên giới Tàu-Việt đã là bài học đau đớn cho sự yếu về quân sự và thiếu tư liệu văn hóa cổ. Một thời kỳ ngớ ngẩn theo Tàu, đã đốt những sách, tư liệu “có hơi chữ Tây” trong đó. Giờ chúng ta lại phải cử người qua Pháp để tìm lại. Ẩm thực cũng là văn hóa của một dân tộc. Khi tranh cãi chủ quyền về văn hóa, về đất đai, người ta luôn đem sách vở, văn chương làm bằng chứng. Để bảo vệ giữ gìn văn hóa cũng như giữ gìn bảo vệ đất nước, những người cầm bút phải có trách nhiệm rất lớn và việc đầu tư cho văn hóa là cần thiết và quan trọng. Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn bao hàm cả mọi vấn đề xã hội. Muốn giữ gìn văn hóa trước hết phải quan tâm đến người làm văn hóa và có những chính sách tài trợ thích đáng để họ bỏ công bỏ sức đi sưu tầm tài liệu.

Phở chính là sự sáng tạo tuyệt vời của những đầu bếp Việt Nam thời đó. Họ đã thả hồn Việt vào trong phở. Giao lưu văn hóa có nhiều cái lợi. Nếu tài giỏi thông minh biết kết hợp cái cổ truyền và cái mới sẽ tạo ra những tuyệt tác mang phong cách và hồn dân tộc. Bắt chước sáng tạo ra cái mới đòi hỏi tài nghệ và thông minh của người sáng tạo. Phở là một vinh danh trong văn hóa ẩm thực Việt trong quá trình giao lưu với văn hóa ẩm thực phương Tây.

Hestia sưu tầm
Theo FoodHunterClub
_____
Góp ý:
- Bài viết có lập luận vững chắc, có nêu tài liệu, chứng cớ rõ ràng, nhất là bài mang dân tộc tính cao. Điều rất đáng mừng và đáng khâm phục (An)
 - (*) Một chi tiết nhỏ: Nguyễn công hoan sinh năm 1903 không thể viết về phở năm 1913 được. (HVH)
- Tôi kiểm soát lại, không thấy ở đâu có chuyện Nguyễn công Hoan nói việc phở thời 1913, dù rằng viết về sau. Trong hồi ký Nhớ và ghi, viết 1970, xb 1978,tr 103, ông có nói, thời ông ấy, ở Thái Nguyên “ gọi phở là cao lâu. Bát cao lâu là bát phở. Bánh cao lâu là bánh phở..” ( không nhầm với món cao lầu Hội An) Tô Hoài , rải rác, có viết nhiều về lịch sử phở. (ĐT)

18 March 2016

Hiện tượng Lý Chánh Trung

Nguyễn Quang

Miền Nam tự do trước đây có những nhân vật xuất hiện không phải là biểu tượng của sinh viên, trí thức, nhưng là hiện tượng nổi lên vào thời đó như Phạm Công Thiện và ở đây xin ghi lại vài hành vi trong sinh hoạt chính trị của giáo sư Lý Chánh Trung, nếu nói theo duy vật biện chứng, qua hiện tượng để hiểu bản chất, hy vọng với các dấu chỉ nầy có thể hiểu được phần nào bản chất con người thật của Ông Trung.

Tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, giáo sư Lý Chánh Trung phụ trách môn đạo đức học thuộc Khoa Triết, tôi là sinh viên ban triết học nên thường xuyên gặp giáo sư tại giảng đường. Những bài giảng của Ông không có gì đặc biệt, ngoài trừ trong lối diễn giải của ông khi chiếc ống tẩu thuốc lá từng hơi, nhíu môi, nhịp nhàng với những lời châm biếm về những bạo chúa sau luôn hơn hẳn các bạo chúa trước. Hình ảnh còn lại của Ông với sinh viên, đó là chiếc tẩu luôn trên tay như giúp che lấp phần nào cái mũi hểnh, trống trải của ông.

Bên sau sự trống trải bề ngoài đó ẩn sâu một con người đăm chiêu với nhiều toan tính mà mắt thường chúng ta không mấy ai nhận ra, ông đang có những âm mưu gì, ngoài sự nhận xét chung trong những năm tháng tại Văn Khoa Sài Gòn: Ông chỉ là cái bóng của Giáo sư Nguyễn Văn Trung.

Thời gian Ông Lý xuất hiện tại Phong trào Pax Romana, trụ sở tại Tân Định, Lm Nicôla Huỳnh Văn Nghi làm Cha sở về sau là Giám mục, giáo sư có những phát biểu bênh vực người nghèo, vấn đề Tôn giáo và Dân tộc được đặt lên qua nhiều lần phát biểu của Ông tại đây, nhưng để ý một chút ai cũng nhận ra, sau những bài phát biểu của Ông là cần phải dẹp ngay cái chế độ Miền Nam, thối nát tham nhũng, tay sai của Đế quốc Mỹ.

Thật vậy, cho đến khi cái ngày gọi là “Báo chí đi ăn mày”, Ông Lý xuất hiện nhào ra phía trước như giới văn nghệ sĩ sắp chết đói đến nơi, khi nhìn lại thực tế người dân miền Nam có mấy ai chết đói, nhất là tại các vùng Quốc gia, khiến mọi người suy nghĩ về những âm mưu chính trị của những trí thức như Ông, nhằm lật đổ chế độ tự do miền Nam với sự xuất hiện của thành phần thứ ba mà sau đó Ông rất hãnh diện, nếu tôi không nhầm, đã từng nghe trực tiếp về sự tự nhận của ông ở thành phần thứ ba này.

Sinh viên chúng tôi đọc sách của Ông, đều cảm nhận rất nóng, nhưng chỉ đọc đến lần thứ hai, thế là không muốn đọc thêm nữa vì nó mang tính nhất thời không có các giá trị phổ quát như sách của giáo sư Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Duy Cần.

Những khát vọng tìm về dân tộc của Ông như nét đặc thù của Lý Chánh Trung được trả lời sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, nó lộ hẳn bản chất dân tộc này, khi Ông là một trong số các nhân vật trí thức miền Nam được tuyển chọn đưa ra miền Bắc đầu tiên và sau chuyến đi khi trở về Ông tường thuật: “Chúng tôi đã ôm nhau thắm thiết khi gặp trí thức miền Bắc và cùng nhau trong nổi vui mừng, nhảy múa đồng ca bài Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng… Chúng tôi cũng được tặng các bộ sách quý như Mác Lê Nin toàn tập….”

Sinh viên khoa Triết khi nghe lại tường thuật đều rất ngạc nhiên về hình ảnh những vị giáo sư triết học khả kính, mô phạm của mình nay cũng nhảy nhót và hát như khỉ nhại lời. Văn phòng khoa Triết cũng vắng dần từ đây khi các hình ảnh giáo sư, giảng viên của mình phải khệ nệ bưng bê từng thùng mì tôm, thịt, cá…nhu yếu phẩm chia nhau tại phòng Khoa Triết. Tôi còn nhớ hình ảnh Giáo sư Lê Tôn Nghiêm mang thùng mì từ lầu một lên lầu ba và thở hổn hển, thật tội nghiệp và thay vì đi xe hơi như trước kia nay đều dùng xe đạp mi ni.

Một sự kiện khác với giáo sư Lý Chánh Trung, đó là không lâu sau biến cố 1975, trước sự hoang mang của sinh viên miền Nam, Lm Hoàng Sỹ Quý, Dòng Tên, đã mời Ông Lý đến trung tâm Đắc Lộ để nói chuyện, tại đường Yên Đổ, sau đó bị chiếm đoạt thành tòa soạn báo Tuổi trẻ, phần tôi với tư cách là Chủ tịch sinh viên Công Giáo Cư xá Đắc Lộ đã tổ chức cho sinh viên Sài Gòn tham dự. Theo dự định buổi thuyết trình sẽ kéo dài hai giờ, khoảng một ngàn sinh viên tham dự, nội dung nói về chế độ mới và vai trò của giới trẻ. Tất cả mọi người tham dự đều quan tâm, theo dõi một cách nghiêm túc và căng thẳng. Sự kiên nhẫn của sinh viên vì ai cũng kính trọng các Cha Dòng Tên và cố gắng giữ im lặng dù bắt đầu đã có phản ứng khó chịu từ khách tham dự.

Đến phần đặt câu hỏi, sinh viên đã nêu những câu hỏi mà Ông Lý không trả lời được, những câu hỏi tôi còn nhớ, đó hình ảnh thực tế khi việt cộng vào chiếm miền Nam, về lời hứa đi học tập mười ngày sẽ trở về, sinh viên được tiếp tục học hành nhưng chỉ đến ca hát nghe tuyên tryền rồi trở về, cuộc sống vô cùng khó khăn và những người miền Nam bị tước đoạt nhà cửa, bị xô đuổi lên vùng kinh tế mới…. Những câu hỏi như những tiếng nói khiến người trí thức có lương tri phải động lòng. Thế nhưng, giáo sư Lý Chánh Trung như đã leo lưng cọp, Ông ta đỏ mặt, nổi cáu, vì không trả lời được câu hỏi nào dù là biện hộ, Ông đã nổi nóng và dứng dậy đưa tay hô to như các lãnh tụ cộng sản hay làm, Ông nói: “Bây giờ chỉ có hai con đường, một là theo Cách mạng, hai là sẽ bị nghiền nát…”. Đến đây cũng là lúc những vật gì có thể ném, liền tới tấp bay vào người Ông, khiến tôi và Lm Quý mỗi bên kè Ông ta, quần áo tả tơi, đưa nhanh vào phòng riêng. Sinh viên vẫn chạy theo với những lời nguyền rủa không tả xiết về sự vạch mặt một trí thức luôn luôn nói về dân tộc nhưng nay theo cộng sản vô thần, vô tổ quốc….

Dòng Tên Sài Gòn có lẽ bị bao vây cô lập từ ngày ấy, cho đến khi toàn bộ chúng tôi bị chụp mũ, bị bắt về tôi tuyên truyền chống phá cách mạng. Cho đến hôm nay, Dòng Tên Việt Nam vẫn hãnh diện vào thuở đó, không một linh mục, tu sĩ nào thân cộng, cũng không có một sinh viên Dòng Tên nào là nội ứng cho cộng sản. Chúng tôi tự hào vì sống dưới chế độ tự do và cuộc chiến chỉ là một sự tự vệ chính đáng để bảo vệ nền dân chủ còn non trẻ ấy, mới nảy sinh những hiện tượng như Lý Chánh Trung.

Bên dòng lịch sử, khi đất nước thống nhất, Ông Lý trở thành đại biểu, phó chủ tịch quốc hội cộng sản. Tại Ba Đình, ông đã đọc bài diễn văn nói về khoa học kỹ thuật như tiền đề phát triển chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới. Tiếng nói của Họ Lý, như lý thuyết gia của chế độ, được nghị trường dưới sự chứng kiến của Lê Duẩn, bí thư trong số các bí thư, ông vua trong các vua cộng sản, tán thưởng nhiệt liệt. Nhưng cũng sớm như tiếng kêu trên đồng vắng, một nền giáo dục Ki tô giáo mà ông đã được thụ hưởng, được ưu đãi để thành danh và nay lọt vào trong đám vô sản lưu manh.

Tôi biết Ông có nhiều dằn vặt ưu tư vào cuối đời, tuy vậy trong một hoàn cảnh nào đó, cách nay gần chục năm, tôi vẫn còn thấy một lần Ông xuất hiện cùng Trần Văn Giàu trên tivi và ca tụng đạo đức của Hồ Chí Minh. Điều này quả thật là lạ với một giáo sư phụ trách môn đạo đức học vì ngày nay với các con trẻ khi gõ vào Google đều biết ông Hồ dâm dật, giết vợ, từ con và hãm hại bao nhiêu phụ nữ… là kẻ sát nhân nhất nhì của thế kỷ hai mươi. Ông Lý Chánh Trung ca tụng một cách ngọt ngào: Hãy sống và nói gương theo Hồ Chủ Tịch…!

Giáo sư Lý Chánh Trung có gia đình, và theo S. Freud, để hiểu con người, phần ý thức chỉ có ba, bảy phần còn nằm ở tiềm thức. Ông vẫn sống đến cuối đời trong căn biệt thự, trên mảnh đất do nền Đệ Nhất Cộng Hòa cấp cho các giáo sư Đại học miền Nam, gọi là làng đại học Thủ Đức. Ông có người con là đại úy việt cộng, vợ ông là em ruột bà Bùi Thị Mè, một thứ trưởng trong chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, tất nhiên là đảng viên cộng sản, có lẽ chỉ có vợ con Ông, nữ anh hùng cách mệnh Thị Mè là hiểu Ông nhiều nhất.

Nguyễn Quang
(Nguyễn Quang Hồng Nhân)
(Nguồn: Việt Báo)

GS Lý Chánh Trung đã mệnh chung tại Thủ Đức, Sài Gòn

Giáo sư Lý Chánh Trung qua đời ngày 13/3 tại nhà riêng ở Thủ Đức, hưởng thọ 89 tuổi. Ông sinh năm 1928 trại Trà Vinh, là một cây bút nổi tiếng tại Sài Gòn với các tác phẩm triết học và những bài báo viết về thanh niên Việt Nam trước 1975. Ông Lý Chánh Trung từng giảng dạy đại học tại Văn Khoa Sài Gòn, dạy triết học tại Viện Đại học Huế và Đà Lạt.

Những tác phẩm nổi tiếng của ông trước 1975 như "Ba năm xáo trộn", "Tìm về dân tộc", "Cách mạng và đạo đức", "Tìm hiểu về nước Mỹ", "Bọt biển và sóng ngầm", "Tôn giáo và dân tộc". (BBC Tiếng Việt)

Tử Nguyệt, thơ

Dạo:
       Trăng nào chiếu sáng trời cao,
Trăng nào đáy nước, trăng nào bờ sông.



 
   死 月
圓 月 別 寒 天,
入 江 覓 謫 仙.
冬 風 傾 夜 浪,
破 月 葬 江 邊.
          陳 文 良

Âm Hán Việt:

       Tử Nguyệt

Viên nguyệt biệt hàn thiên,
Nhập giang mịch trích tiên.
Đông phong khuynh dạ lãng,
Phá nguyệt táng giang biên.

         Trần Văn Lương


Dịch nghĩa:

      Con Trăng Chết
Trăng tròn bỏ trời xanh,
Đi xuống sông để tìm ông tiên bị giáng. (*)
Gió đông (làm) đổ con sóng đêm,
Con trăng vỡ (bị) chôn bên bờ sông.


Ghi chú:
(*)  Lý Bạch còn có biệt hiệu là "trích tiên" (ông tiên bị giáng). Tương truyền rằng, nhân một chuyến đi chơi trên sông, trong cơn say rượu nhìn thấy ánh trăng đẹp trong đáy nước, ông đã nhảy xuống để ôm mặt trăng nên chết đuối.


Phỏng dịch thơ:

     Vầng Trăng Chết
Trăng giã biệt trời không,
Trầm mình đáy nước trong.
Gió đông lùa sóng bạc,
Trăng bỏ xác bên dòng.

       Trần Văn Lương
           Cali, 3/2016



 Lời bàn của Phi Dã Thiền Sư:
        Trăng sáng ở trên trời, trăng chìm nơi đáy nước, trăng chết ở bờ sông... cái nào mới thật là trăng?
        Và Lý Bạch tìm trăng hay trăng tìm Lý Bạch, làm sao phân biện đây?
        Tuy  nhiên, xét cho cùng thì chị Hằng Nga kia, ông Lý Bạch đó cùng cái gã họ Trần đang lải nhải đây, chẳng có ai là thật cả!
        Hỡi ơi, lão tăng lại ban ngày nằm mơ nói nhảm!

Tuổi thanh xuân bị đánh cắp!

Viết nhân dịp “Spotlight” đoạt giải
phim xuất sắc Oscar 2016
Phượng Vũ

Lời dẫn: Spotlight là phim xuất sắc của đạo diễn Tom McCarthy. Bộ phim được dựng trên câu chuyện có thật về nhóm phóng viên Spotlight thuộc tòa soạn Boston Globe. Họ khui ra scandal lạm dụng tình dục của các cha xứ tại Boston, đã làm rúng động nước Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI. Spotlight thắng giải “Phim Hay Nhất” và “Kịch Bản Hay Nhất” và đoạt giải thưởng Pulitzer 2003 vì phục vụ cộng đồng... Và bây giờ bộ phim đã chinh phục hoàn toàn ban giám khảo Oscar lần thứ 88 (2016)

Tổng Giám mục Charles Jude Scicluna, một giới chức cao cấp của Tòa Thánh, cựu công tố viên của Vatican, dự buổi chiếu phim Spotlight ra mắt ở Ý, lần đầu tiên đã bẻ gãy im lặng để lên tiếng về cuốn phim này. Rất xúc động, ngài khuyên các anh em tu sĩ nên đi xem phim này để đấu tranh chống với “bản năng im lặng đồng lõa, mà tiếc thay bây giờ vẫn còn trong Giáo Hội.” Ngài nói tiếp..." những người biết mà không nói, họ cũng phạm tội."

Đức Tổng Giám Mục Malta, cựu công tố viên Vatica,n đã phát biểu: “Tất cả các hồng y, các giám mục, linh mục... phải đi xem phim này, bởi vì họ phải hiểu chính sự tố cáo mới cứu Giáo Hội, chứ không phải sự im lặng đồng lõa cứu." Điều quan trọng hơn là “Spotlight” khuyến khích những nạn nhân của lạm dụng tình dục trong nhà thờ trên khắp thế giới can đảm bước ra ánh sáng, tố cáo những kẻ có tội.
Bài viết sau đây là những câu chuyện người thực, việc thực 100%, mà tôi vô tình trở thành chứng nhân, nó tiêu biểu cho rất nhiều câu chuyện thực xảy ra ở ngoài xã hội. Bài viết không nhằm mục đích tố cáo mà là gióng 1 tiếng chuông cho những người có trách nhiệm trong giáo quyền thay đổi cách nhìn vấn đề, đặc biệt với giới “Kitô hữu Việt” trong nước cũng như ngoài nước. Xin đừng làm lơ hay "im lặng đồng lõa" để những kẻ gây tội ác vẫn ung dung sống cuộc sống thoải mái vì được bao che, bảo vệ do "bản năng bảo vệ danh giá " của giáo hội, đặc biệt là trong "mùa chay thánh" này!
**

Một buổi sáng dậy check email tôi nhận được tin từ Việt Nam chị H đã “ngủ giấc ngàn thu”. Những người quen, ai cũng biết đó là "tin nhẹ nhàng", vì chị bịnh tâm thần đã rất lâu. Tôi thân với P, em gái chị, tụi tôi thân nhau từ lúc học Gia Long. Vì quá thân nên tụi tôi hay đến nhà nhau chơi, do đó tôi thân với chị H luôn. Nghe nói buổi tối đó, chị H “ca hát” như thường lệ, rồi đi ngủ để rồi không bao giờ thức dậy nữa. Cầu chúc chị, sau một thời gian dài với những tháng ngày buồn tênh, sớm "thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang" . Nghe tin chị "đi nhẹ nhàng" tôi mừng cho chị vì như vậy là chị đã "giải nghiệp". Mừng cho bạn tôi cũng nhẹ gánh chăm sóc chị với thời gian quá dài, vì bạn "độc thân" nên các em đã giao nhiệm vụ này cho bạn. Biết là vậy nhưng sao lòng tôi vẫn thấy bâng khuâng, nao nao trong dạ! Sự chia ly nào cũng vương vấn một nỗi buồn! Cuộc đời mỗi con người đúng là như câu hát "Biết ra sao ngày sau?" Thời còn trẻ chị H là một nhan sắc, chị đã từng là tiếp viên hàng không bay đường quốc ngoại của Air Việt Nam, chú ruột chị là 1 trong 9 vị thẩm phán tối cao pháp viện VNCH. Nhà chị có xe hơi riêng để cuối tuần cả nhà đi chơi Vũng Tàu hay Đà Lạt. Sau này ba chị mất, nhà không còn sung túc nữa, nhưng vẫn có cuộc sống đầy đủ. Như bao nhiêu người tuổi trẻ khác, chị lao vào tình yêu với tất cả nồng nàn và đầy hy vọng vào tương lai. Chị đã từng mơ ước "một căn nhà, một hạnh phúc, người này nương vào người kia” ở xứ hoa Anh Đào (Nhật) vì chàng là du học sinh bên đó, nhưng "Trời không chiều lòng người" nên chị đã bị tình phụ. Cú sốc quá mạnh đã làm chị lao đao mất thăng bằng tâm lý! Chị phải đi bác sĩ và uống thuốc điều trị tâm thần. Phải chi chị nhớ và thực hành được câu nhắc nhở của TCS thì hay biết mấy: “Tha thứ cho người đã làm mình tổn thương là một một món quà ta dành tặng họ. Lãng quên họ là một món quà tự dành tặng bản thân ta "

Trước đó, niềm mơ ước đi Nhật mạnh mẽ của chị đã lây sang tụi tôi, và mỗi lần tôi đến chơi là tôi và P. xúm nhau ngồi vẽ ước mơ chung với chị: tụi tôi sẽ cùng nhau đi ngắm núi Phú sĩ, rồi ngắm hoa Anh Đào nở đẹp tuyệt vời trên đất Nhật. Chị dặn tụi tôi phải học cho giỏi, đậu cho cao để được học bổng đi Nhật rồi qua ở chung với chị. Tôi nói chị đừng lo vì P là 1 học sinh thông minh xuất sắc ở rất nhiều môn, bạn thuộc loại giỏi toàn diện. Ngoài ra bạn còn năng nổ trong mọi hoạt động xã hội...tương lai bạn là con đường sáng chói lấp lánh ngàn hoa. Vậy đó... mà đầu năm lóp 12 bỗng dưng P “mất tích”, tôi hoang mang lo lắng, chạy tới nhà bạn nhiều lần, nhưng vẫn không biết thêm một chút thông tin nào về bạn. Ngoại trừ nghe người nhà nói lời nhắn gửi từ P “Bạn yên tâm, đừng lo, mình cần phải đi dưỡng bịnh ở Đà Lạt một thời gian”. Tôi ấm ức quá, "Bịnh gì?" Bạn tôi là 1 cô gái khỏe, trẻ đang ở tuổi “bẻ gãy sừng trâu” mà đột nhiên lại bịnh? Mà bịnh gì sao lại phải giấu cả bạn thân và không cho tôi liên lạc, gặp mặt. Sau đó thỉnh thoảng tôi lại tới nhà bạn để hỏi thăm, chị H sau cú sốc tình cảm đã “ngu ngơ”, bây giờ thêm sự mất tích của P “giáng xuống” chị càng “tưng tửng” nặng hơn, nên tôi chẳng hỏi thăm được gì nơi chị. Tôi muốn gặp má P nhưng hình như bà tránh mặt tôi. Một lần tôi đến bất chợt và ra thẳng nhà sau luôn, tôi gặp bà mà sửng cả người vì chỉ trong một thời gian ngắn bà đã thay đổi quá nhiều: người bà gầy xọp đi, tóc bạc trắng, gương mặt hốc hác. Tôi thấy thương bà quá, chắc là bà đang phải chịu đựng nhiều nỗi đau xé lòng về những đứa con gái cưng của bà. Tôi chạy đến ôm bà mà nước mắt ứa mi:

- Bác ơi! Con thương bác quá! Chuyện gì đã xảy ra cho P vậy bác? Chắc bác đang khổ lắm, bác làm ơn nói cho con nghe đi!

Tôi thấy bà đưa tay quẹt nước mắt, rồi xua xua tôi đi:

- Khổ lắm, không nói được con ơi! Bay dìa đi, đừng hỏi nữa, đau lòng lắm...

Rồi bà chạy vô phòng đóng sập cửa lại, tôi tiu nghỉu ra về mà lòng đầy hoang mang thắc mắc. Chuyện gì đã xảy ra cho bạn tôi, mà mọi người không ai dám nói, một bức tường im lặng ngột ngạt vô hình bao quanh với những giọt nước mắt thầm rơi. Tôi đi hỏi thăm bạn bè và các cha quen... nhưng tất cả đều là im lặng, không ai nói 1 lời nào. Ai là người có thể xé toang bức màn im lặng nặng nề này? Hay có một quyền lực nào "cấm nói"? Chúa ơi! Chúa có thấu hiểu không? Chúa hãy trả lời con đi... Và mãi đến gần nửa thế kỷ sau, tôi mới có câu trả lời gián tiếp từ Đức Tổng Giám mục Scicluna cho biết những gì ngài cảm nhận qua cuốn phim Spotlight và những gì đánh động ngài nhất chỉ tóm gọn trong 2 chữ: “cấm nói”...

Hơn 1 năm sau, tôi trở lại nhà bạn và đi thẳng ra nhà sau, tôi bắt gặp bạn tay bồng 1 đứa bé bọc trong khăn lông. Tôi mừng quá vội chạy ùa lại trách bạn: "Mày đi đâu mà mất tăm, mất tích vậy? Làm tao lo quá chừng!" Rồi nhìn đứa bé: "Con ai đây?" Bạn cúi mặt, nhìn đứa bé và trả lời: "Con tao đó!. Tôi ngạc nhiên đến độ tưởng như đất sụp dưới chân, không nói được nửa lời vì nó đi ra ngoài sức tưởng tượng của tôi. Thời đó nữ sinh tụi tôi còn ngây thơ khờ khạo lắm, không phải như các em bây giờ khôn nhanh quá với sự hỗ trợ của internet, cái gì các em cũng biết. Tụi tôi lại học từ nhỏ trong 1 trường nữ trung học, nên đa số chỉ có bạn gái, chứ không có bạn trai. Khờ đến nỗi khi đi picnic hướng đạo, chơi trò chơi chung, có đứa còn thầm thì: “Đừng nắm tay con trai nha! Coi chừng về dính bầu đó!" Nhìn kỹ lại bạn, tôi mới thấy rõ ràng bạn đã kiệt quệ sức lực. Bạn hoàn toàn không giống cô bạn tôi năm ngoái trẻ trung, yêu đời và đầy năng động.

Phải đợi một thời gian thật lâu, sau khi vết thương lòng đã lành, bạn mới kể cho tôi nghe. Bạn đã từng bước bị sa vào lưới mà bạn không biết vì con gái mới lớn còn ngây thơ, khờ khạo, lại hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối nơi cha xứ. Một người mà cả họ đạo lúc nào cũng thần phục, cung kính vái chào. Cha lại luôn rất ân cần tử tế với gia đình bạn, gần như là 1 ân nhân, nên bạn lúc nào cũng yêu quý và rất “thần tượng” cha. Một hôm người đó lại phủ phục dưới chân mình để khóc van xin tình yêu, thì làm sao mà không xúc động đến rụng rời cho được? Và bạn đã sa vào mê hồn trận lúc nào không biết. Khi tỉnh ra bạn sợ quá, từ đó không dám ra giáo xứ gặp ngài nữa, nhưng mọi sự đã muộn màng. Thời gian sau đó bạn hay bị ói mửa hoài, má bạn dắt đi bác sĩ mới khám phá ra chuyện động trời: bạn đã có thai. Bạn và cả nhà rơi vào trạng thái kinh hoàng, mà lại phải "giấu kín như bưng" không dám hé môi cho ai biết! Còn lo sợ giáo dân biết, coi chừng bị "ném đá" thì nhục lắm, vì ở giáo xứ thường có "hàng rào giáo dân", đặc biệt là các bà luôn sẵn sàng "ném đá" vì những ai động đến các cha là "động đến Chúa". Nhưng đâu có giấu được hoài trong gia đình, ý kiến của ông chú ruột làm Tối Cao Pháp Viện là "lôi cổ thằng đó ra tòa" và hủy bào thai đi. Sau đó cho nó tịnh dưỡng một thời gian, như bị accident, rồi đi học lại, làm lại cuộc đời mới, vì bạn còn quá trẻ lại học giỏi, nếu cần ông sẽ gửi cho đi du học. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, bạn đã cương quyết giữ bào thai lại vì nó vô tội, và cũng không thưa kiện ai hết, người nào làm sai để Chúa xét xử họ. Mình ngu ngốc, khờ dại thì phải nhận trả giá bài học của mình. Lòng trắc ẩn đúng là điểm yếu của phụ nữ và cũng chính là nguyên nhân dẫn tới nhiều đau khổ. Tôi thấy bạn quá can đảm khi quyết định "giữ lại bào thai" vì nó cũng đồng nghĩa bạn đã tự đóng sập cánh cửa tương lai đời mình. Nhưng tôi vẫn băn khoăn không biết quyết định "để yên" cho đương sự của bạn đúng hay sai? Vì sau này khi được để yên, ông ta lại “ngựa quen đường cũ” tiếp tục xâm hại thêm 3,4 cô khác nữa.

Đức Tổng Giám mục Malta, cựu công tố viên Vatican, đã nói rất đúng: “Chính sự tố cáo mới cứu Giáo hội, chứ không phải sự im lặng đồng lõa cứu.” Nhưng điều quan trọng là thái độ của giới chức thẩm quyền trong giáo hội, vì họ cần phải thấy “bản năng bảo vệ danh giá tác hại đến độ nào?" vì không những tuổi thanh xuân của nạn nhân đã bị đánh mất mà còn ảnh hưởng lâu dài về mặt tâm lý đến nỗi họ không thể sống bình thường như mọi người trong xã hội. Trong chuyện của bạn tôi, khi ý kiến ông chú ruột bị bác bỏ, ông ấm ức và cho người lên tòa Tổng Giám Mục để trình bày sự việc. Tòa Tổng thay vì cho điều tra để xác minh sự việc thực hư thế nào, để có biện pháp với “đương sự”. Tiếc thay vì "bản năng bảo vệ danh giá " Tòa Tổng lại quyết định chỉ xử khi nào có đơn và chữ ký của chính nạn nhân, mà điều này bạn tôi cương quyết không làm. Đức Tổng Giám mục Charles Jude Scicluna đã nói rõ “bản năng đó đã ở trong Giáo hội, và đó là một sai lầm nặng nề “. Nhưng điều đáng buồn hơn không phải chỉ có chuyện ngày xưa ở Việt Nam mà hiện nay ở những nước lớn như Pháp, Úc... vẫn có những lá đơn khiếu kiện bị "Trên" dìm đi và nạn nhân đôi khi còn bị quật ngược lại, bị đe dọa..., nhiều nạn nhân bị khủng hoảng tinh thần nặng nề, phải đi gặp counselor liên tiếp trong nhiều năm, tốn cả chục ngàn đô la và vẫn còn phải tiếp tục...

Đó là trường họp của T, một em nữ sinh cũ của tôi. Em là 1 học sinh giỏi và trung thực, sau 75 ba em đi tù cải tạo, gia đình em rơi vào khủng hoảng mọi mặt. Má em quyết định gom góp tư trang, tiền bạc để cho em đi vượt biên, vì em là con gái lớn trong nhà. Em đi mang theo mình 1 sứ mạng, 1 niềm tin và hy vọng sau này sẽ giúp cả gia đình thoát khỏi xứ sở Cộng sản. Em trôi giạt đến đất người bơ vơ, xa lạ không 1 người thân. Trong lúc em hoang mang lo sợ cho viễn ảnh tương lai, em may mắn đã gặp 1 cha xứ đưa tay nâng đỡ, đùm bọc. Em mừng như sắp chết đuối giữa biển khơi mà vớ được phao cứu sinh. Em hoàn toàn tin phục và mang ơn cha hết lòng, rồi cha "rủ" em rửa tội và theo đạo. Dần theo thời gian, dưới sự hướng dẫn kiểu "thắt lại từ từ" của cha, không biết tự lúc nào cha đã biến em hoàn toàn lệ thuộc vào cha, muốn thoát ra không được và em đã trở thành "vợ hờ" của cha trong nhiều năm liền. Cho đến khi do một dịp may tình cờ, em mới thoát ra được và em rơi vào trầm cảm nặng nề, vì phải "câm nín" với những uất ức không nói ra lời. Một lần trong buổi họp nhóm với các bạn trẻ, có 1 bạn bật khóc kể lể tâm sự của mình vì không nói ra được bạn sẽ điên. Hoàn toàn không thể ngờ, sau đó như ngòi pháo đã được châm, nhiều bạn vừa nức nở, vừa bộc lộ nỗi đau lòng tương tự đã giấu kín trong lòng nhiều năm. Khi người ta không lẻ loi nữa và có bạn đồng hành, người ta thêm sức mạnh để đòi hỏi công lý. Nhưng rất tiếc đơn khiếu kiện của các em đã bị "vùi dập" và còn kèm theo những hù dọa... Bây giờ T mất niềm tin, nhìn đâu cũng sợ hãi, em như con gián không dám bước ra ánh sáng ban ngày...

Giáo hội Công Giáo với hàng ngàn các vị linh mục, tu sĩ nam nữ sống can đảm và trung thành với Ơn Gọi để phụng sự Chúa và âm thầm phục vụ tha nhân từng ngày, nhất là qua những công tác cứu giúp người nghèo khổ khắp nơi. Nhưng cũng không tránh khỏi “những con sâu làm rầu nồi canh” phản ảnh sự yếu đuối và mỏng giòn của con người. Trong vòng 10 năm qua, Giáo Hội Công Giáo đã nhìn nhận sự sai lầm của mình từ Vatican đến các hàng giáo phẩm địa phương. Nhiều giáo phận ở Mỹ đã phải phá sản vì bồi thường cho các nạn nhân bị sách nhiễu tình dục trong những thập niên trước. Đó là ở Mỹ, còn ở những nước khác và Việt Nam thì sao? Tệ trạng này chưa thay đổi bao nhiêu! Phải chăng họ dựa vào luật "cấm nói" và nhiều nạn nhân phải trở thành "câm nín" khi đứng trước một "quyền lực" mạnh hơn mình rất nhiều.

Thật là đau lòng! Tổng Giám mục Charles Jude Scicluna đã nói “những người biết mà không nói, họ cũng phạm tội”. Vậy nếu "Bề Trên" biết mà bao che, làm lơ thì tội sẽ nặng đến thế nào? Vì "Sẽ không có lòng thương xót nếu không có công chính.” Năm nay lại là năm Lòng Thương Xót Chúa, hy vọng lòng thương xót Chúa và sự công chính sẽ trải dài khắp mọi ngõ ngách của đời sống nhân gian, cho cả những kẻ bé miệng không có chút quyền lực trong tay, muốn nói mà không nói ra lời. Hy vọng “Spotlight” sẽ là tiếng kêu vang vọng đến Vatican và hệ thống giáo hội trên toàn thế giới để thức tỉnh những ai nắm giữ quyền lực trong giáo quyền hãy vì lương tâm con người, đừng vì “sĩ diện” hảo bên ngoài mà quay lưng đi với những sự thật đau lòng! Xin cho những giáo dân biết mở lòng đón nhận những sự thật về các "đấng bậc". Năm rồi khi ĐTC Phanxico vừa đưa ra “Tòa Thánh với 15 Chứng Bệnh” để sửa sai và củng cố hàng ngũ trong giáo hội, thì lập tức đã có nhiều giáo dân hoảng hốt khi thấy nó được phổ biến công khai “Lạy Chúa, sao lại vạch áo cho người xem lưng”. May đó là bản văn của ĐTC, nếu là ai khác chắc sẽ bị “ném đá” rồi!

Sau này, khi đọc tác phẩm nổi tiếng "Con chim ẩn mình chờ chết", tôi đau lòng khi nhớ tới thân phận của bạn mình. Sau 75 nhà gia đình bạn bị tịch thu, phải về nhà quê ở. Việc học đã bị dở dang lại đeo theo con thơ là 1 trở ngại quá lớn cho bạn trong việc tiến thân và tìm việc. Tương lại bạn đáng lẽ đã rực rỡ, nhưng bạn đã phải hy sinh nó vì con, vì luật "cấm phá thai" của giáo hội. Nhìn bạn quá khổ mà nước mắt tôi tràn mi, khi ôm bạn trong vòng tay. Tôi khóc cho bạn, khóc cho tôi, khóc cho thân phận đàn bà thời nào cũng quá khổ! Nếu có ngày nào tôi ở địa vị bạn, tôi có đủ mạnh mẽ như thế? Một thời gian dài sau đó, khi bạn xin vô làm hướng dẫn viên cho 1 công ty du lịch, có vài người có cảm tình và muốn tiến tới xây dựng dài lâu với bạn, nhưng đứa con trai bạn đã quen cảnh “một mẹ, một con” lâu rồi, nên ra sức ngăn cản mọi người đến với mẹ. Người phụ nữ nào mà không khao khát được yêu thương, được chăm sóc thay vì cô đơn, vò võ lủi thủi một thân một mình nuôi con trong cực nhọc. Tội nghiệp bạn tôi cả một thời thanh xuân đã hy sinh vì con, chịu khổ vì con, nhưng khi có người thực sự yêu thương muốn quyết tâm tiến tới, dù biết rõ hoàn cảnh của bạn, thì đứa con trai lúc đó đã lớn, bèn ra tối hậu thư cho mẹ “ Mẹ chỉ có quyền chọn 1 trong 2, nếu mẹ chọn người đó, thì con sẽ bỏ nhà đi bụi đời luôn và không nhìn mẹ nữa...” Bạn tôi 1 lần nữa lại nuốt nước mắt vào trong, như ngày xưa đã “nuốt lệ” quyết định giữ bào thai, chống lại ý kiến gia đình, dù biết tương lai sẽ tăm tối! Bạn đã trả lời con trong nổi ngậm ngùi: "Con ơi! mẹ sẽ chọn con, con trai của mẹ". Ôi! trái tim của người mẹ luôn là "kỳ công tuyệt vời nhất của tạo hóa"!

Ngẫm lại cuộc đời của bạn tôi là một chuỗi dài cô đơn và đau khổ, bạn tôi không phải là "con chim ẩn mình chờ chết" mà là "Con chim ẩn mình chịu đựng đau thương triền miên" trong mấy chục năm trời. Ngẫm lại tôi càng thấy tội lỗi của “đương sự” là quá lớn. Ngày xưa ông bà mình có câu “Mũi dại, lái chịu đòn” hay theo tin tức thời nay: một toa xe lửa bị lật đường rầy, tổng trưởng giao thông lên tivi xin lỗi người dân và xin từ chức. Vậy ai, ai chịu trách nhiệm cho nỗi đau của tuổi thanh xuân sáng ngời đã bị cướp mất của bạn tôi ? Ai, ai bù đắp giùm những mất mát, những trầm cảm kéo dài hằng chục năm của học trò tôi? Ai, ai chịu đựng cho nỗi khổ kéo dài cả một đời người của bạn tôi? Đau khổ với bạn tôi có lẽ “Lâu rồi đời mình cũng quen” và bạn chỉ cần “xin tháng ngày rồi bình yên,” nhưng dù sao “con chim ẩn mình” cũng phải được 1 lần cất lên tiếng kêu đau thương rướm máu của mình để mọi người cùng nghe, nhất là những giới chức có thẩm quyền trong giáo hội nghe, để lịch sử đau thương không tái diễn cho những thân phận phụ nữ khác ở Việt Nam cũng như nhiều nơi khác trên toàn thế giới. Bốn thập niên trước, xã hội nói chung ít để ý đến những nạn nhân nầy vì họ không dám lên tiếng vì nhiều lý do khác nhau. Vả lại, những năm trước đây, tâm lý học chưa thấy hết hậu quả lâu dài và trầm trọng với người trẻ bị sách nhiễu tình dục. Còn bây giờ mọi thứ đã được phơi bày ra ánh sáng, xin đừng tiếp tục làm ngơ, bịt tai, đừng làm thinh trước cái ác, vì không làm điều "phải làm" cũng là tội. Nếu những nạn nhân đó là người thân của bạn, bạn sẽ làm gì? Bạn có tiếp tục thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của họ không?

ĐTC Francis đã nói: “Sự tử tế và lòng thương xót của Chúa phải được bao trùm khắp nơi, không chừa một ai” nhất là những người đang đau khổ do thiếu sự công chính. Trong kho tàng thánh ca, "Kinh Hòa Bình" là bài hát gần như ai cũng thuộc và thích hát:

"Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa... đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Để con chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu..."

Nhưng bạn ơi! có bao giờ bạn hát với sự lắng lòng và tự kiểm nghiệm xem thực tâm bạn đã làm gì để cho những điều đó hiện diện trong đời sống hằng ngày như lời ĐTC Francis khuyên nhủ: **”Đừng chỉ nói mà thôi, nhưng hãy đứng lên và “hành động”**. Bạn đã làm gì? ? bạn đã giữ thái độ "im lặng đồng lõa" hay bạn cùng góp sức để mở cánh cửa bưng bít từ lâu cho ánh sáng "công chính" soi rọi vào những nơi "tối tăm"?

Thành thật cám ơn bạn đã "chia sẻ" với tôi tới những dòng này, vì coi như "món nợ" tinh thần tôi nợ từ lâu với bạn thân và học trò..., tôi vừa trả xong. Lòng cảm thấy thật nhẹ nhàng khi nghe đâu đây lời hát từ 1 giọng ca trẻ vừa cất lên:
"Ta nợ mặt Trời từng tia nắng mai,
Ta nợ nụ cười, người quen sáng nay,
Nghe đời nhẹ nhàng, bước chân phong trần"
Phượng Vũ
Nguồn: (VienDongDaily.Com - 09/03/2016)

16 March 2016

Nhóm MÊKONG-CỬU LONG đáp lởi Cửu Long kêu cứu . . .*

Vài dòng về NHÓM LYMHA
(Blog MEKONG-CỬU LONG)

March 16, 2016

Kính/ Thân gởi quý ACE và bằng hữu,

Nhóm LymHa chúng tôi đã nhận được nhiều hồi âm từ khi chúng tôi gởi đến quý ACE Link của Blog Mekong-Cửu Long. Chúng tôi xin đa tạ tất cả quý vị.

Lúc khởi đầu, một trong các thành viên của Nhóm LymHa chúng tôi là Như Thương đã gởi đến quý ACE Link của Blog. Nay để tiện việc hồi đáp và nhận thêm lời góp ý của quý ACE, quý ACE có thể email trực tiếp về địa chỉ email của nhóm như sau:
nhomlymha@gmail.com
Chúng tôi sẽ thường xuyên Update bài vở, tin tức cho trang Blog.

Trân trọng,
Nhóm LymHa
www.mekong-cuulong.blogspot.com
____________
(*) TTR đã đặt nối kết dẫn tới Blog Mekong-Cửu Long ở cột bên phải. Xin mời quý bạn ghé thăm.

Tư duy mì ăn liền của người Việt

 Cao Huy Huân
13.03.2016

Tham nhũng, nợ công cao so với GDP, số người chết vì ung thư và tai nạn giao thông cao ngất ngưởng và kinh ngạc thay, xếp thứ hai thế giới về tiêu thụ mì ăn liền. Đó là Việt Nam. Tôi xin nhắc lại, là Việt Nam. Và dám cá là đối với những ai luôn tự hào về ẩm thực và chỉ số hạnh phúc của mình trên bảng xếp hạng quốc tế có lẽ sẽ khó chấp nhận khi nghe điều này.

Tại sao một đất nước có nhiều món ăn ngon, rẻ và nổi tiếng từ bắc tới nam, và chỉ số hạnh phúc luôn đứng đầu thế giới lại có thể là nước tiêu thụ mì ăn liền nhiều thứ hai thế giới cho được? Chúng ta đều biết mì ăn liền là thực phẩm rẻ tiền, nhanh và tiện lợi. Vậy phải chăng nó phán ảnh người dân Việt Nam là giống dân bận rộn và rất tiết kiệm. Chắc chắn là không. Nếu người Việt Nam bận rộn và tiết kiệm thì đã không có cái văn hoá ngồi và nhậu như bây giờ. Ngồi ở đây không chỉ là ngồi vỉa hè trà chanh, trà đá, hay quán cóc, quán ổi để nhấm nháp ly cà phê, mà nó còn thể hiện cái xu hướng hưởng thụ của người Việt.

Ăn mì ăn liền vì cơ bản đang sống trong một đất nước nghèo

Từng trò chuyện với những sinh viên sống xa nhà và những công nhân ở khu công nghiệp Sóng Thần, tôi thấy nguyên nhân đơn giản là do nguồn thu hạn hẹp nhưng nguồn chi thì nhiều nên làm cho hầu bao lúc nào cũng cạn kiệt mặc dù mới chỉ giữa tháng. Đối với sinh viên thì số tiền mà phụ huynh chu cấp làm sao đủ với bao nhiêu nhu cầu, bao nhiêu mối quan hệ. Đối với một công nhân thì số tiền lương tháng làm sao đủ cho những chi tiêu như tiền phòng, tiền điện, tiền xăng, tiền ăn... còn tiền góp nhặt gửi về quê phụ giúp gia đình.

Phải chăng là chúng ta chăm chỉ và chịu khó để làm giàu? Chăm chỉ và chịu khó thì có đó nhưng làm nhiều ngày trong tuần, nhiều giờ trong ngày không phải vì muốn giàu có mà đơn giản là thực trạng nền kinh tế chung của nước mình nó tệ quá, nếu không làm nhiều, không tăng ca, không cày ngày 12-14 tiếng thì không có đủ tiền để trang trải các sinh hoạt bình thường trong cuộc sống.

Với một quỹ thời gian làm việc liên tục và hiếm ngày nghỉ như vậy thì lấy đâu thời gian cho những bữa cơm đủ chất dinh dưỡng, nên mì ăn liền là lựa chọn tốt nhất cho quỹ thời gian đó.

Có sẵn, có liền, nhưng không bổ béo gì cả

Thực ra có một món mì ăn liền mà không được thống kê nhưng lại được rất nhiều người dân Việt Nam ưa dùng: mì ăn liền trí tuệ. Tôi dùng chữ trí tuệ vì bao gồm những tri thức và thông tin chúng ta tiếp nhận hàng ngày. Mì ăn liền có phải là thực phẩm nhiều chất dinh dưỡng không? Đương nhiên là không. Phần lớn ăn mì chỉ vì nó giúp giải toả cơn đói và làm cho no bụng, còn về mặt dinh dưỡng thì nó chiếm rất ít. Ăn cho no bụng, ăn để không phải đói có vẻ rất giống cái cách người Việt đang nhồi nhét tri thức vào đầu. Học thật nhiều nhưng cũng chỉ là nhồi cho đầy bộ não những kiến thức không cần thiết, nhiều khi còn nguy hại đến khả năng nhận thức, chẳng hạn như môn "tư tưởng HCM và triết học Mac-Lenin".

Bên cạnh tiếp nhận tri thức một cách thụ động và để khoe khoang thì cải cách truyền đạt tri thức của chúng ta giống như một món ăn liền. Tôi hình dung nền giáo dục Việt Nam bây giờ như bức tranh mì ăn liền. Giáo viên là cái tô đựng mì, kiến thức như sợi mì và học sinh, sinh viên là người ăn mì. Giáo viên đến truyền đạt tri thức như một tô mì nóng hối, còn học sinh, sinh viên không có cơ hội để lựa chọn, sàng lọc, phản biện tri thức được tiếp nhận, chỉ cần nhồi vào đầu mớ tri thức ăn liền đó. Và chính cách học cũng như cách dạy kiểu này đã sản sinh ra những con người lười suy tư. Và đây chính là nguồn gốc gây ra bệnh lười suy tư ở phần đông người Việt trong nước hôm nay.

Với nền giáo dục ăn liền chúng ta đã có được những thế hệ nhiều bằng cấp nhưng thiếu tính sáng tạo, và tệ hơn nữa là những con người ấy chỉ biết tìm kiếm những thông tin ăn liền, dễ nuốt, và cần ít suy tư. Hãy xem những vấn đề mà phần lớn thanh niên Việt Nam quan tâm và không quan tâm thì chúng ta biết được điều tôi nói sai đúng thế nào.

Trường học là nơi chúng ta đón nhận những tri thức nền tảng và khơi mở những khả năng tư duy sáng tạo, còn xã hội là nơi chúng ta tiếp nhận những tri thức mới mẻ nhưng phức tạp cần những kỹ năng tư duy phản biện độc lập, khả năng tự chọn lọc. Nhưng cái thứ nhất là trường học đã không dạy chúng ta những thứ cần thiết và giúp khai mở những kỹ năng tự tư duy để chúng ta có thể tự lập trong cuộc đời, mà ngược lại nó cướp đi của chúng ta những hành trang cần thiết để chúng ta tự trưởng thành, nên hầu như khi bước chân ra khỏi xã hội chúng ta trở nên thụ động và lười biếng. Chúng ta trốn tránh những vấn đề đáng lẽ là cần thế hệ trẻ quan tâm, nhưng lại chạy theo những vấn đề vô bổ, lố bịch chỉ làm phí phạm tuổi trẻ và tài năng của chúng ta. Âu cũng là hậu quả từ một nền giáo dục ăn liền nên chúng ta chỉ biết ỷ lại và trở nên ngu ngơ trước những vấn đề xã hội.

Tôi không hề chê trách bạn ăn mì ăn liền hay lên án việc tiêu thụ mì ăn liền, tôi viết về mì ăn liền là vì nó sao giống cái cách chúng ta đang thu nhận tri thức. Chúng ta trở nên lười biếng trong suy tư, lười biếng quan tâm các vấn đề của xã hội, thay vào đó chỉ biết tiếp thu và chạy theo các thông tin, sự kiện nhảm nhí và vô bổ. Tôi có thể khẳng định người Việt không chỉ giỏi tiêu thụ mì ăn liền mà họ còn rất khoái trá tiếp nhận tri thức và thông tin ăn liền. Bởi thế, chỉ cần đầu độc các gói mì và cho thêm thật nhiều tin tức, sự kiện khiến bộ não không cần tư duy, không cần phản biện thì cũng đủ để xoá sổ dân tộc Việt Nam khỏi bản đồ thế giới.
__________________

* Blog của Cao Huy Huân là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
__________________

Nguồn: VOA Tiếng Việt
http://www.voatiengviet.com/content/tu-duy-mi-an-lien-cua-nguoi-viet/3233735.html

15 March 2016

Thần đồng dương cầm gốc Việt gây sửng sốt khán thính giả Mỹ






Bé Evan Le gây sửng sốt kinh ngạc cho mọi người khi có thể chơi được những bản nhạc piano phức tạp của Mozart, Bach, Beethoven... một cách thuần thục, chính xác như những nghệ sĩ đích thực.
Trong chương trình Little Big Shots của đài NBC ngày 13-3-16 phát hình trên toàn thế giới mà tôi có may mắn được xem truyền hình trực tiếp, MC Steve Harvey lắc đầu, ngẩn ngơ thán phục tài chơi đàn của cậu bé thần đồng piano gốc Việt 4 tuổi Evan Le và nói: "Tôi yêu cậu, Evan!".

Evan Le sinh vào ngày 31/5/2011. Cháu xuất hiện lần đầu vào tháng 7/15 trên Chương Trình Vstar Kids và đoạt giải 3.Với 4 tuổi, Evan Le đã gây bang hoàng cho Ban Giám Khảo và khán giả khi chơi rất điệu nghệ những nhạc phẩm  nổi tiếng như Hoài Cảm của Cung Tiến, Rondo Alla Turca.

Kể từ đây, người Mỹ đã để mắt tới Evan Le và đã mời em biểu diễn trong chương trình Little Big Shots mà tôi đã giới thiệu ở phần trên.

Xin mời quí anh chị cùng thưởng thức tiếng đàn Piano do cháu biểu diễn.

Chúc quí anh chị một tuần lễ mới vui vẻ hạnh phúc

Thân mến
TeHong San Jose

14 March 2016

Liệu một cơ hội để mang lại hòa bình cho Việt Nam đã bị bỏ lỡ vào năm 1963?

TTR: Cho đến nay tin tức về những cuộc trao đổi giữa Nam và Bắc Việt Nam hồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước vẫn cho thấy chưa thu thập được nhiều chứng liệu và vẫn còn gây chia rẽ giữa những người quan tâm. Giới biên khảo vẫn còn tiếp tục điều tra, truy cứu hầu soi sáng vấn đề. Bài viết có nhan đề như trên bàn về một quyển sách có nội dung liên hệ mà tác giả là một giáo sư sử học. Bài viết khá dài nên chỉ xin trích lại những phần chính. 

Tạ Vân Anh
(Nguồn: Trích từ Trang Dân Luận)

Đó là một câu hỏi “bâng khuâng” mà Gs Sử học Margaret K. Gnoinska tự hỏi trong cuốn sách của bà có tên là Ba Lan và Việt Nam, 1963: Chứng Cớ Mới về Ngoại Giao Bí Mật Cộng Sản và “Vụ Maneli” (Poland and Vietnam, 1963: New Evidence on Secret Communist Diplomacy and the "Maneli Affair") dựa trên các tài liệu giải mật của Ba Lan thời đó.

Cuốn sách xuay quanh:
1) đề xuất “Trung lập hóa Việt Nam” và
2) vấn đề liệu ông Nhu có hay không có liên lạc với miền Bắc về đề xuất này thông qua trung gian của ông Mieczysław Maneli, Trưởng đại diện của Ba Lan trong Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến (ICC) vào thời gian trước đảo chánh 1.11.1963.

Với người Việt miền Nam chúng ta hồi ấy và cho đến nay thường chỉ nghe đến tin đồn là ông Nhu có đi Tánh Linh thuộc tỉnh Phước Tuy giả đi săn để gặp ai đó đại diện của miền Bắc Cộng sản. Sau này được vài nhân vật kề cạnh hai ông Diệm Nhu chứng thực rằng ông Nhu có đi Tánh Linh nhưng không biết gặp ai ở đó trong khi tin xầm xì rằng đó là ông Phạm Hùng (Ủy viên Bộ Chính Trị Trưởng ban Thống nhất Trung ương Đảng từ năm 1958 đến 1966)

. . . . . . .

Chuyện thứ nhất: Ý tưởng trung lập hóa Việt Nam

Ý tưởng trung lập hóa Việt Nam đã được đề cập bởi Ba Lan vào đầu năm 1963 khi Ngoại trưởng Ba Lan Adam Rapacki gặp nhà lãnh đạo Ấn Độ Jawaharlal Nehru trong chuyến thăm Ấn Độ từ 20 đến 22 tháng Giêng

Sau đó ý tưởng này cũng đã được chia sẽ với Đại Sứ Mỹ tại Ấn Độ là John Kenneth Galbraith. Phản ứng của Galbraith là tích cưc. Ông báo cáo về Bộ Ngoại Giao nhưng bị bỏ qua. TT Kennedy kịp thời thấy báo cáo kêu ông tiếp tục thăm dò nhưng Rapacki đã rời Ấn Độ nên không gì xảy ra tiếp theo đó. Ý tưởng Trung lập hóa Việt Nam sau đó được bàn bạc giữa Ba Lan với lãnh đạo Liên Sô và họ cũng đồng ý.

Mieczysław Maneli Trưởng đoàn Đại diện của Ba Lan trong Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến là người mang nhiều thông tin về việc giải pháp Trung lập hóa Việt Nam. Trong những tháng của đầu năm 1963, Maneli trong một số công điện mật đã “mô tả các cuộc thảo luận chung về kế hoạch cho tương lai của Bắc Việt, thường nhấn mạnh mong muốn của Hà Nội là thống nhất đất nước và loại bỏ quân đội Hoa Kỳ, cũng như một số cuộc thảo luận mơ hồ về trung lập hóa miền Nam Việt Nam theo kiểu Lào” trong nhiều lần gặp Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, Bộ Trưởng Ngoại Giao Xuân Thủy và Hà Văn Lâu Trưởng Ban Thống Nhất của Đảng. Ông Xuân Thủy cũng muốn bắt đầu bằng trao đổi văn hóa và kinh tế (đổi than lấy gạo) trước khi có một giải pháp chính trị.

Các điều trên cho thấy cho đến lúc này ý tưởng trung lập hóa miền Nam là chưa đến tai ông Nhu.

Sự kiện ông Hồ Chí Minh từ Hà Nội gửi cành đào cho ông Diệm vào dịp Tết là có thật (có lẽ Maneli mang dùm vào) tuy nhiên có kèm theo đề nghị giao thương không thì không tài liệu nào khẳng định. Nhưng đề nghị giao thương văn hóa và kinh tế như Maneli kể trên đây cho thấy các lãnh đạo miền Bắc cũng rất quan tâm đến việc “trung lập hóa” miền Nam.

Tuy nhiên, lãnh đạo miền Bắc muốn “trung lập hóa” miền Nam phải nằm trong lợi ích của họ, nghĩa là quân đội nước ngoài phải được rút hết, miền Nam không được gia nhập bất cứ liên minh quân sự - hai điều mà nếu “trung lập hóa” cả miền Bắc thì miền Bắc không có gì phải lo. Việc “trung lập hóa” như họ muốn hóa ra cuối cùng là “chính phủ này sẽ biến thành một nước xã hội chủ nghĩa bằng con đường hòa bình, và chứ không bằng phương tiện quân sự.”

Trung lập hóa miền Nam như thế sẽ khó được lãnh đạo VNCH chấp nhận.

Vì sao Mỹ không thấy giải pháp “trung lập hóa” miền Nam này là thuận lợi cho họ để rút đi từ 1963 hay sau đó khoảng một năm, tránh cho dân tộc chúng ta phải chịu đau thương mất mát thêm 12 năm bom đạn và họ phải mất hơn năm mươi ngàn sinh mạng và hàng trăm tỷ đô la chưa kể hàng trăm tỷ khác để lo cho các vấn đề của cựu chiến binh. Có gì khác về kết quả cho người Mỹ với giải pháp “Trung lập hóa” (giả hiệu) năm 1963 với cách (Việt Nam hóa chiến tranh) mà đã bỏ rơi VNCH năm 1973).

Làm sao trung lập khi phe chủ chiến miền Bắc quyết tâm dùng vũ lực, “đã lên kế hoạch tổ chức một đội quân 500 ngàn người ở miền Nam năm 1965. Các chi phí bảo dưỡng được trả bởi người Trung Quốc, và phần còn lại đến từ các nguồn trong nước” [Tài liệu số 16: Công điện giải mật]. Làm sao trung lập khi Trung cộng chỉ muốn hai miền Việt Nam đánh nhau, hoặc nữa hòa bình nữa chiến tranh để thành phên dậu an toàn cho họ yên tâm mà phát triển đất nước của họ. Liệu lãnh đạo chủ chiến miền Bắc có nhìn thấy gì còn cao hơn lý tưởng chủ nghĩa xã hội của họ?

Trung lập theo kiểu Lào ký kết trong Hiệp Định Geneva năm 1962, quân Bắc Việt chẳng những không rút đi còn tăng cường thêm – suy ra vấn đề cực kỳ phức tạp chứ không đơn giản là rút quân, bắt tay hát bài ca chiến thắng. Ngay Hiệp Định Geneva năm 1954, bao nhiêu các bộ Việt Minh ở lại miền Nam trong đó có ông Lê Duẫn. Hiệp định là một đàng, ý đồ là một nẽo.

Theo tôi, nếu có xảy ra một hội nghị Geneva hay ở đâu đó để Trung lập hóa miền Nam thì hội nghị đó sẽ kéo dài rất lâu, vừa đánh vừa đàm, Mỹ muốn rút thì giá nào cũng rút miễn là “rút lui trong danh dự” mà họ cũng chả cần danh dự được hiểu theo cách nào. Hội nghị cũng sẽ bị bàn tay lông lá của các nước “anh em” không theo ý chúng là không xong. Ngày nay bàn tay chúng không thấy lông lá vì chúng đeo găng tay bằng nhung.

Tóm lại, “Trung lập hóa miền Nam hay cả Việt Nam hay cả Đông Dương” chỉ là chuyện trong mơ. Khi nào mình mạnh cả về quân sự lẫn kinh tế và thiên thời địa lợi như Thụy Sĩ thì sự “trung lập” là Trung lập kiểu Thụy Sĩ thì lúc ấy là điều vạn phúc cho Dân Tộc
Nếu “Trung Lập” kiểu Lào chỉ là thứ đầu hàng để Mỹ rút quân, để hòa bình lập lại trong một nước xã hội chủ nghĩa không còn tiếng súng nhưng bất kể hậu quả thế nào thì đúng là một cơ hội hòa bình đã bị bỏ lỡ. Nước Việt Nam lúc ấy sẽ theo khuôn mẫu của Tầu, của Triều Tiên và sẽ ra sao? Lào và Campuchea sẽ thành nước gì?

Chuyện thứ hai: liệu ông Nhu có liên lạc với miền Bắc không?

Theo tài liệu được giải mã, Maneli thừa nhận đã gặp Nhu hai lần, một lần công khai vào ngày 25 tháng Tám và một lần bí mật vào ngày 02 tháng Chín năm 1963

Tuy nhiên, trong cuốn sách có đoạn "Vào mùa xuân năm 1963, tôi đã bí mật được Tổng thống Ngô Đình Diệm và em trai của ông là Ngô Đình Nhu, thông qua Roger Lalouette, Đại sứ Pháp ở Sài Gòn, tiếp cận với Chính phủ Hà Nội để tìm hiểu khả năng cho một giải pháp hòa bình của cuộc chiến", có nghĩa là Diệm và Nhu cũng đã muốn tìm giải pháp Hòa Bình thông qua Đại sứ Pháp, có thể Nhu chỉ nhờ ông này và ông này nhờ lại Maneli. Cái logic cho thấy nếu nhờ được Maneli thì việc gì phải nhờ qua Đại Sứ Pháp.
Lần thứ nhất ngày 25 tháng Tám, Bộ Ngoại Giao VNCH có một buổi tiếp tân công khai trong đó “Đại Sứ Ý Orlandi và đại diện Vatican, Đức ông Salvatore d'Astata, sắp xếp cuộc họp [cho Nhu gặp Maneli]”

Ngày 29 tháng 8 năm 1963 De Gaulle kêu gọi công khai cho giải pháp Trung lập hóa cả hai miền Việt Nam (đương nhiên là có chuyện rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam). Ở đây người ta tự hỏi sao có chuyện De Gaulle tuyên bố giải pháp Trung lập bốn ngày sau khi Maneli gặp Nhu ở buổi tiếp tân?

Lần gặp thứ hai của Maneli với Nhu là ngày 2 tháng 9, 1963 mà thư mời đến tay Maneli vào lúc 2 giờ sáng ? sao gấp gáp vậy. Nhưng nội dung lại không có gì quan trọng. Phải chăng “đấy là một nỗ lực của Nhu để thấu cáy Hoa Kỳ khi Hoa Kỳ ngày càng bực tức với sự bất lực hoặc sự không sẵn sàng của chế độ Diệm nhằm chống lại phe đối lập cộng sản trong nước.”

Dầu về mặt công khai, Maneli chỉ gặp Nhu hai lần nhưng Maneli đã “gặp Đại sứ Pháp Lalouette nhiều lần hơn so với bất kỳ Đại sứ phương Tây nào khác ở Sài Gòn” và Nhu lại nói chuyện [nhiều lần?] với Lalouette – có thể Maneli cũng đã nhiều lần khác đã nói chuyện với Nhu qua trung gian của Lalouette. Bằng cớ là tuyên bố của Degaulle xảy ra chỉ 4 ngày sau cuộc gặp Maneli-Nhu lần thứ nhất, một tuyên bố chính trị không thể khơi khơi ngẫu hứng mà phải qua nhiều dò ý, tham khảo, tính toán.

Theo tôi việc ông Nhu tìm cách “nói chuyện” với bên kia là có thật và có tính toán. Tôi cũng tin rằng hai ông Diệm Nhu và ít ra một vài lãnh đạo phía Bắc thuộc phe “sống chung hòa bình” cũng muốn tìm một giải pháp chính trị cho Việt Nam, hoặc Trung lập hoặc tiến hành Tổng tuyển cử theo Hiệp Định Geneva để chấm dứt chiến tranh.

Tôi nghiêng về vế thứ hai là Tổng tuyển cử vì có lẽ ông Nhu tin rằng VNCH nay đã đủ mạnh để buộc có một Tổng tuyển cử tự do và có giám sát quốc tế, điều mà VNDCCH đã từ chối áp dụng và do đó tạo một trong các cớ chính đáng để miền Nam không thi hành Hiệp định Geneva. Thực chất, nếu Tổng tuyển Cử xảy ra vào năm 1956 thì 80% dân sẽ bầu cho ông Hồ Chí Minh (“And US President Dwight Eisenhower admits, “I have never talked or corresponded with a person knowledgeable in Indochinese affairs who did not agree that had elections been held as of the time of the fighting, a possible 80 per cent of the population would have voted for the communist Ho Chi Minh as their leader.” [3]).

Tôi tin rằng vào khoảng từ đầu năm 1963 khi ý tưởng “trung lập hóa” thành hình và suốt mấy tháng sau đó, đặc biệt là vào tháng 9/1963, đã được trao đổi hay được truyến dẫn giữa Ba Lan, Liên Sô, Pháp, VNDCCH và VNCH, và cả Mỹ ở các mức dộ khác nhau. Tháng 9/1963 Lê Đức Thọ có bài viết báo trên Báo Nhân Dân nói rằng một số đảng viên bị ảnh hưởng của "chủ nghĩa xét lại" vì thế nghi ngờ chiến lược thống nhất đất nước của đảng. Lúc này cuộc tranh chấp giữa hai phe chủ hòa (theo Liên Sô) và phe chủ chiến (theo Trung Cộng) bắt đầu lộ diện rõ ràng hơn . Điều đó cũng có thể giải thích vì sao sau đề nghị giao thương Nam Bắc của TT Phạm Văn Đồng (có thể sau lưng là ông Hồ Chí Minh) không thành hình . Cũng có thể vì Diệm Nhu bị đảo chánh và bị giết, điều mà sau này nhiều thông tin cho thấy đó là việc làm của Mỹ với cáo buộc là Diệm Nhu âm mưu bán đứng miền Nam (đó cũng là lý lẽ mà nhóm tướng lãnh đảo chánh đưa ra để biện minh và chạy tội).

Theo ý kiến chủ quan của tôi, bất cứ nhà lãnh đạo chính trị nào vì quyền lợi của Dân Tộc đều tìm cách liên lạc và “nói chuyện” với đối phương trên cơ sở ít nhất là hai bên cùng có lợi . Chiến tranh là giải pháp cuối cùng cực chẳng đã mới làm . Ý đồ và thủ đoạn của mỗi bên là chuyện thứ hai kế tiếp sau khi hai bên chịu ngồi chung đàm phán với nhau. Trách ông Nhu liên lạc với miền Bắc không chứng minh được gì. Hội đàm Paris là ai chủ động liên lạc và khởi xướng: Mỹ và Bắc Việt . Cuối cùng Mỹ đã tháo chạy trong “danh dự” bỏ mặc cho miền Nam . Vì sao lại trách ông Nhu? Nếu như thời thế thuận lợi, một giải pháp chính trị nào đó đã thành hình: Việt Nam trung lập, Việt Nam một nước hai chế độ hay hình thái nào đó tránh được cho Đất Nước hơn chục năm nội chiến với giá trả đầy xương máu và tàn phá mất mát, vô ích hoàn toàn vô ích.

Đọc xong cuốn sách, tôi cũng “bâng khuâng” như tác giả. Nếu ngày ấy phe chủ hòa lãnh đạo miền Bắc có lẽ Đất Nước ta đã có một cơ hội, miền Bắc thoát Trung miền Nam thoát Mỹ lợi dụng mâu thuẩn của hai khối Cộng Sản – Tự Do để xây dựng Đất Nước tránh cảnh tương tàn gần hai mươi năm. Ít ra tôi cũng có một giấc mơ như thế.Theo ý kiến chủ quan của tôi, bất cứ nhà lãnh đạo chính trị nào vì quyền lợi của Dân Tộc đều tìm cách liên lạc và “nói chuyện” với đối phương trên cơ sở ít nhất là hai bên cùng có lợi. Chiến tranh là giải pháp cuối cùng cực chẳng đã mới làm. Ý đồ và thủ đoạn của mỗi bên là chuyện thứ hai kế tiếp sau khi hai bên chịu ngồi chung đàm phán với nhau. Trách ông Nhu liên lạc với miền Bắc không chứng minh được gì. Hội đàm Paris: ai chủ động liên lạc và khởi xướng: Mỹ và Bắc Việt. Cuối cùng Mỹ đã tháo chạy trong “danh dự” bỏ mặc cho miền Nam. Vì sao lại trách ông Nhu? Nếu như thời thế thuận lợi, một giải pháp chính trị nào đó đã thành hình: Việt Nam trung lập, Việt Nam một nước hai chế độ hay hình thái nào đó tránh được cho Đất Nước hơn chục năm nội chiến với giá trả đầy xương máu và tàn phá mất mát, vô ích hoàn toàn vô ích.

Đọc xong cuốn sách, tôi cũng “bâng khuâng” như tác giả. Nếu ngày ấy phe chủ hòa lãnh đạo miền Bắc có lẽ Đất Nước ta đã có một cơ hội, miền Bắc thoát Trung miền Nam thoát Mỹ lợi dụng mâu thuẫn của hai khối Cộng Sản – Tự Do để xây dựng Đất Nước tránh cảnh tương tàn gần hai mươi năm. Ít ra tôi cũng có một giấc mơ như thế.

Tạ Vân Anh, phế binh VNCH đang ở Mỹ, đã về hưu, rãnh rỗi đọc sách để hiểu chuyện đời. Thấy cuốn sách có nhiều thông tin về vụ ông Nhu đi gặp ông Phạm Hùng nên dịch để ai quan tâm đọc để biết và suy tư với vận mệnh của Dân tộc

PS: Ai muốn có bản dịch cuốn sách, vui lòng email cho ThangMo247@gmail.com

[1] https://en.wikipedia.org/wiki/John_F._Kennedy
[2] The Vietnam war, A Concise International History bởi Mark Atwood Laurence
[3] http://www.historycommons.org/context.jsp?item=vietnam_637

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...