21 May 2013

Tin buồn

Trân trọng báo tin cùng toàn thể quý đồng môn
CSV Học Viện QGHC Sài Gòn

Huynh Trưởng:
HOÀNG TRỌNG CANG
Pháp Danh Nguyên Phương

Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Ban Đốc Sự Khóa 1
Chức vụ sau cùng: Phó tỉnh trưởng Tuyên Đức
vừa từ trần ngày 19 tháng 5 năm 2013 tại Texas – Hoa Kỳ.
Hưởng thọ 86 tuổi.

Xin thành kính chia buồn cùng Chị Hoàng Trọng Cang và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Huynh Trưởng Nguyên Phương HOÀNG TRỌNG CANG
sớm được tiêu diêu nơi miền Cực Lạc.
**
Đồng kính bái:
Toàn thể Bằng Hữu và các Cựu Đồng Sự
Toàn thể CSV Khóa ĐS1
Hội CSV QGHC Nam California
Blog Tiếng Thông Reo
**
(Điện thoại của Chị Hoàng Trọng Cang:
(214) 669-7852)

20 May 2013

BÀI BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ HÀ HUY SƠN CHO NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN.

Luật sư Hà Huy Sơn
Nguồn Bauxite Việt Nam
**
Kính thưa: Hội đồng xét xử
Tôi, Luật sư Hà Huy Sơn Công ty Luật TNHH Hà Sơn thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội là người bào chữa cho Nguyễn Phương Uyên trình bày quan điểm bào chữa như sau:

I. Tóm tắt vụ án:
Nguyễn Phương Uyên, sinh 12/10/1992; sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Tp.Hồ Chí Minh.
HKTT: Thôn Lâm Giang, xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở: Số 9 Dương Đức Hiền, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Tp.HCM.
Trình độ học vấn: 12/12.
Bị truy tố theo điểm c khoản 1 điều 88 Bộ luật hình sự 1999, 2009:
“Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
A) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
B) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;
C) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Quyết định khởi tố vụ án số 01 ngày 19/10/2012.
Quyết định khởi tố bị can số 03 ngày 19/10/2012 đối với Nguyễn Phương Uyên.
Bị bắt từ ngày 19/10/2012.
Tiền án, tiền sự: không.
Kết luận điều tra số 01/ANĐT ngày 26/02/2013 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Long An “Vụ án: Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, khởi tố ngày 19/10/2012 do Đinh Nguyên Kha và đồng bọn thực hiện”.
Cáo trạng số 31/QĐ-KSĐT ngày 06/03/2013 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

II. Các hành vi bị truy tố:
Lần thứ nhất vào khoảng giữa tháng 08/2012:
1. Về lá cờ vàng ba sọc đỏ: Uyên sử dụng giấy trắng A4, dùng bút sáp màu vàng và màu đỏ tô thành lá cờ; phía dưới lá cờ có ghi chú thích bằng bút sáp màu đen dòng chữ: “1890 – 1920: Đại Nam quốc kỳ từ thời vua Thành Thái tới vua Khải Định; 1948 – 1975: Cờ Quốc Gia Việt Nam”. (trang 03 – Cáo trạng)
1.1. “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, còn gọi là cờ vàng ba sọc đỏ được vua Bảo Đại sử dụng năm 1948. Đây là Quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam (do Pháp kiểm soát ở cả miền bắc và miền nam Việt Nam) từ năm 1949 đến 1955.
Năm 1890, lá cờ vàng ba sọc đỏ được tạo ra và sử dụng lần đầu tiên như là lá cờ quốc gia (Đại Nam Quốc kỳ 1890-1920)”.
Theo lịch sử thì đây là lá cờ của tổ tiên mà sau này Nhà nước Việt Nam Cộng hòa dùng lại và cũng như tên “Việt Nam” là do tổ tiên để lại chứ không phải là biểu tượng của thế lực phản động nào. Phương Uyên không làm ra, không xuyên tạc, không phỉ báng chính quyền nhân dân vì đây là sự thật lịch sử có trước cả Nhà nước CHXHCN Việt Nam (sinh ra năm 1976).
1.2. Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào cấm vẽ, dán cờ vàng ba sọc đỏ tại nơi công cộng.
1.3. Điều 69 Hiến pháp năm 1992, quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận,”.
Khoản 2 điều 19 Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị năm 1996 (Việt Nam tham gia năm 1982), quy định: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.”
Điều 19 Tuyên ngôn nhân quyền Liên hợp quốc năm 1948, quy định: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.”
Hành vi này không vi phạm pháp luật, không có nội dung chống Nhà nước CXHCN Việt Nam nên không vi phạm điểm c khoản 1 điều 88 BLHS.
2. Về khẩu hiệu: Uyên sử dụng hai mảnh vải trắng, lấy máu pha loãng với nước, rồi dùng ngón tay chấm viết, một mảnh có nội dung phỉ báng Đảng Cộng sản Việt Nam, mảnh vải còn lại có nội dung không hay về Trung Quốc. Cả hai mảnh vải phía dưới đề ghi: “TH: TTYN”; (trang 03 – Cáo trạng)
2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam không phải là một, nên không thể cho rằng phỉ báng Đảng là phỉ báng Nhà nước; đây không thuộc nội hàm của điều 88 BLHS. Hơn nữa, trong BLHS không có “Tội tuyên truyền chống Đảng Cộng sản Việt Nam”.
2.2. Nội dung mảnh vải ghi: “Tàu khựa cút khỏi Biển Đông” là quyền của công dân ghi ở điều 77 Hiến pháp năm 1992 “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”. Về yếu tố lịch sử và luật pháp quốc tế Trung Quốc không có chủ quyền ở Biển Đông. Trung Quốc là kẻ đã xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam việc phản đối kẻ xâm lược là một hành động yêu nước không thể bị kết tội.
2.3. Chữ viết tắt “TH: TTYN” không có nội dung, không ý nghĩa gì.
3. Về bức tranh: Uyên vẽ bức tranh miêu tả một người công an to lớn, tay cầm dùi cui chỉ về phía người dân đang xếp hàng. Bên trên bức tranh ghi dòng chữ “tự do dân chủ”, phía dưới bức tranh ghi: “TH: TTYN”.
3.1. Tệ nạn bất công, tham nhũng, thiếu dân chủ trong xã hội xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc Đảng và Nhà nước đã nhiều lần thừa nhận công khai. Những năm gần đây các các trường hợp công an đánh người, bắn chết người xảy ra nhiều …gây ra bức xúc cho xã hội nên việc Phương Uyên có vẽ bức tranh đó cũng không phải là xuyên tạc, phỉ báng mà là phản ánh một phần sự thật của xã hội, tất nhiên bên cạnh đó cũng có rất nhiều hình ảnh đẹp về cán bộ, chiến sĩ công an.
3.2. Như trên tôi đã nêu đây là quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân.
Lần thứ hai: vào các ngày 03/10/2012, 08/10/2012, Phương Uyên chỉ đổi tiền lẻ do Kha nhờ chứ không biết đến nội dung ghi trên tờ rơi.
Khoản 2 điều 63 “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” BL TTHS, quy định:
“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh: Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;”
1. Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 10/10/2012 (Bút lục 55). Thu được khoảng 650 tờ rơi KT (07 x 14) có nội dung kêu gọi “Tuổi trẻ Việt Nam đứng lên chống lại Trung Quốc”. Không thể coi đây là hành vi “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.
2. Biên bản hỏi cung Phương Uyên ngày 23/11/2012 (Bút lục 730). Nội dung cho rằng Phương Uyên phỉ báng lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là không đúng, bởi lẽ: Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hơn nữa Hồ Chí Minh mất năm 1969, đến năm 1976 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới ra đời.
3. Mặc dù Kết luận điều tra không hề nói đến nhưng Cáo trạng của Viện kiểm sát lại cho rằng sau khi các hành vi trên của Phương Uyên: Nguyễn Thiện Thành có kế hoạch chống nhà nước quy mô hơn bằng cách rải truyền đơn, có tên gọi là “Chiến dịch tờ tiền lẻ” làm nghiêm trọng hơn tính chất của sự việc mà không đưa ra chứng cứ để chứng minh: Kế hoạch, chiến dịch đó như thế nào? làm bất lợi cho các bị cáo là vi phạm (điều 64 – chứng cứ của BL TTHS) và làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án, vi phạm (điều 10 BL TTHS).
4. Việc làm của Kha và Uyên rải tờ rơi ngày 10/10/2012 tại cầu vượt An Sương, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.HCM là lần đầu tiên do Nguyễn Thiện Thành giới thiệu thì hai người mới biết nhau, hành vi kết hợp giản đơn không có sự phân công chặt chẽ nên không phải là hành vi có tổ chức.

III. Các vi phạm tố tụng hình sự:
1. Các cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước” được lập ra ở lãnh thổ nước nào? đã đăng tải các hình ảnh như cáo trạng đưa ra vào thời gian cụ thể nào? là vi phạm khoản 1 điều 63 – BL TTHS, quy định phải chứng minh:
“Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;”
Ai là người quản trị trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước”? là vi phạm khoản 2 điều 63 – BL TTHS, quy định phải chứng minh:
“Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;”
Không xác định được trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước” có số lượt người trong nước truy cập là bao nhiêu để đánh giá mức ảnh hưởng của nó? là vi phạm khoản 4 điều 63 – BL TTHS, quy định phải chứng minh:
“Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.”
Việc đăng tải các file ảnh trên trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước” là do người quản trị trang này phải chịu trách nhiệm về việc “phổ biến, tuyên truyền” chứ không phải là trách nhiệm của Nguyễn Phương Uyên.
2. Không có chứng cứ để xác định trang thông tin điện tử “Tuổi trẻ yêu nước” là có thật – là vi phạm khoản 1 điều 64 “Chứng cứ” – BL TTHS, quy định:
“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
3. Các cơ quan điều tra không xác định định được chứng cứ là Phương Uyên đã gửi các file ảnh từ máy tính nào (số hiệu máy tính), thời gian (ngày, tháng) nào? mà chỉ vừa duy nhất là lời khai của Phương Uyên.
4. Các biên bản hỏi cung ngày 23/11/2012 (BL 729), 09/01/2013 (BL 738) đều do các điều tra viên in từ máy vi tính để Phương Uyên ký là vi phạm khoản 1 điều 95 “Biên bản” – BL TTHS, quy định:
“Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất.”
5. Bút lục 38 “Đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can” ngày 19/10/2012 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Long An đối với Phương Uyên gửi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An không có số, nội dung không ghi số quyết định khởi tố vụ án, số quyết định khởi tố bị can. Đây là dấu hiệu vi phạm tố tụng hình sự để hợp thức hóa hồ sơ vụ án.

IV. Các cơ sở suy đoán vô tội:
6. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và gặp Phương Uyên tôi nhận thấy Phương Uyên là nạn nhân của Nguyễn Thiện Thành, người mà Phương Uyên chưa gặp mặt bao giờ. Cơ quan an ninh điều tra không bắt được Nguyễn Thiện Thành; không xác định được tổ chức “Tuổi trẻ yêu nước” của Nguyễn Thiện Thành là như thế nào hay đây chỉ là cái bẫy để Nguyễn Thiện Thành gài những thanh niên sinh viên có nhiệt huyết với đất nước như Nguyễn Phương Uyên và những thanh niên sinh viên khác. Theo quan điểm của tôi vụ án Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên sẽ làm cho thanh niên sinh viên Việt Nam không dám quan tâm đến chủ quyền biển đảo Quốc gia và đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng trong xã hội; gây bất lợi cho việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam.
7. Bức xúc trước tệ nạn tiêu cực, tham nhũng ngày càng diễn ra phổ biến trong xã hội, nguyên nhân là do tội của không ít các cán bộ công quyền trong bộ máy nhà nước gây ra. Điều đó đã tác động đến tinh thần của Phương Uyên một sinh viên trẻ tuổi trung thực nên Phương Uyên nhìn và có phản ứng tiêu cực với bộ máy nhà nước là một tâm lý chính đáng, dễ hiểu. Các hành động xâm phạm chủ quyền và tàn sát ngư dân Việt Nam ngày càng gia tăng của nhà cầm quyền Trung Quốc trong những năm gần đây; được giáo dục trong nhà trường về trách nhiệm và tình yêu Tổ quốc là một người Việt Nam tất yếu Phương Uyên có phản ứng phản đối Trung Quốc. (điểm đ khoản 1 điều 46 – BLHS).
8. Phương Uyên đã trung thực hợp tác với Cơ quan điều tra như trang 11 của Kết luận điều tra số 01/ANĐT ngày 26/02/2013 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Long An. Tự nguyện giao nộp các đồ vật tại Biên bản tạm giữ đồ vật và kiểm tra tài liệu ngày 14/10/2012 (BL 752 – 755) của Cơ quan điều tra. (điểm p khoản 1 điều 46 – BLHS).
9. Phương Uyên ngày 19, 20/08/2012 có dán cờ vàng, 01 khẩu hiệu “Tàu khựa cút khỏi biển Đông”, 01 tranh biếm họa ở gần nhà thuộc địa bàn xã Hàm Trí, Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận thì đây là một vùng nông thôn nghèo, ít người biết đến, dân trí còn thấp không có ảnh hưởng đáng kể.
10. Phương Uyên bị truy tố theo điểm c khoản điều 88 BLHS: “Làm ra, tàng trữ, lưu hành…” nhưng Phương Uyên không “tàng trữ” bất cứ một tài liệu nào. Theo Biên bản tạm giữ đồ vật và kiểm tra tài liệu ngày 14/10/2012 (BL 752 – 755) các file ảnh Cơ quan điều tra có được là do phục hồi thẻ nhớ sau đó in ra giấy bắt Phương Uyên ký xác nhận.
11. Phương Uyên không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt hành chính.
12. Phương Uyên là một sinh viên tích cực tham gia các hoạt động xã hội của Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Tp.Hồ Chí Minh.
13. Được bạn bè sinh viên quý mến; là một người con ngoan của gia đình.
V. Về phần dân sự:
Biên bản tạm giữ đồ vật và kiểm tra tài liệu ngày 14/10/2012 (BL 752 – 755), Phương Uyên là người tự nguyện giao nộp đồ vật. Đề nghị Tòa trả lại cho Phương Uyên:
1. Thẻ nhớ máy ảnh hiệu Transcend HC 4GB vì không có thông tin, tài liệu liên quan vụ rải truyền đơn;
2. Thẻ nhớ điện thoại loại micro 256MB vì kết quả, máy vi tính không nhận diện được thẻ nhớ này;
3. Điện thoại di động, hiệu Nokia 6131 vì kết quả, máy vi tính không nhận diện được thẻ nhớ của điện thoại (mục 2).

VI. Kết luận:
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát thì hành vi của Nguyễn Phương Uyên không gây ra hậu quả nào cho xã hội; không có động cơ, mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các hành vi của Nguyễn Phương Uyên chỉ là phản ánh bức xúc cá nhân trước hiện trạng của đất nước và muốn cảnh tỉnh thanh niên sinh viên về ý thức và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Các hành vi của Nguyễn Phương Uyên không cấu thành trách nhiệm hình sự vì vậy tôi đề nghị Hội đồng xét xử hãy công minh xem xét tuyên Nguyễn Phương Uyên vô tội.

Trân trọng cám ơn sự lắng nghe của các quý vị./.

Long An, ngày 16/05/2013
Người bào chữa
Luật sư Hà Huy Sơn

17 May 2013

Thư gửi: "THÀNH PHẦN THỨ BA"

Tuy bài viết đã khá lâu, nhưng cho tới nay những chi tiết, những nhận xét tác giả đưa ra vẫn sống động và vẫn phản ảnh những gì hiện còn tiếp diễn ở xã hội Việt Nam. Khi đọc xong, độc giả có thể đi đến kết luận: thành phần thứ ba gồm những người đã tự mình để bị lừa phỉnh mà không hay và khi biết được điều ấy thì đã muộn. (TTR)
1.  Tôi có một người chú bà con, có học nhất, có tư cách nhất, và được tôn trọng nhất trong dòng họ. Trước năm 1975, ông ấy là một linh mục Công Giáo trẻ, là hiệu trưởng của một trường trung học, và có chân trong nhiều tổ chức xã hội có tiếng. Có thể nói, thời ấy, ông có đầy đủ, vừa danh dự, vừa quyền hành, và cả vật chất. Các tổ chức nhân đạo phi chính phủ cấp cho ông kinh phí một cách hào phóng để xây trường học và các cơ sở xã hội mà ông muốn. Ông có đủ các loại xe và phương tiện để phục vụ cho công việc của ông.

Các viên chức chính quyền miền Nam từ quận trưởng, tỉnh trưởng cho đến những cấp cao hơn luôn tỏ ra kính trọng và cả sợ hãi chú tôi. Tôi đã từng chứng kiến một tỉnh trưởng nói với ông: “Xin cha nguôi giận tha cho con”, dù ông tỉnh trưởng này lớn hơn ông trên 10 tuổi. Thế nhưng, ông là người thường xuyên tổ chức những cuộc biểu tình chống chính quyền Miền Nam một cách quyết liệt. Tôi luôn nhớ cái khẩu hiệu của ông, “chính quyền Miền Nam là một chính quyền tham nhũng, và thối nát.”

Ngày 30/4/1975, ông tỏ ra vui vẻ khi bộ đội giải phóng đến mượn trường học và nhà ở của ông làm nơi đóng quân tạm. Sau ba tháng, bộ đội dọn đi và họ dọn luôn toàn bộ cái tài sản công lẫn tư của ông. Họ không chỉ tháo tôn, khung gỗ, mà cạy luôn cả gạch móng của tất cả những trường học và cơ sở của ông. Tám tháng sau ngày Miền Nam giải phóng, ông bị đưa đi “cải tạo” trong thời gian hai năm. Vậy mà, suốt ba mươi năm qua, tôi chưa hề thấy ông một lần dám cãi lại anh trưởng công an xã, một học trò của ông đã bỏ học từ năm lớp 7 để theo đám du côn trong vùng, và sau này thường xuyên bắt ông ngối viết kiểm điểm.

2.  Hôm nay tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ bài “Sự Lựa Chọn Của Người Trí Thức”, nói về Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức nổi tiếng ở miền Nam đi theo Cộng Sản và đã từng giữ chức Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Luật sư Thọ là người gốc Công Giáo và hoàn toàn trưởng thành trong nền giáo dục Pháp. Ở miền Nam, ông đã có tất cả, từ địa vị, vật chất, danh dự, và sự kính trọng. Thế nhưng ông đã bỏ tất cả để đi theo Cộng Sản.

Sau năm 1975, gần như người ta không còn nghe đến tên ông. Tôi đã từng đến nhà ông trên đường Phạm Ngọc Thạch trong một dịp lễ đặc biệt, và đúng như lời đồn đãi, từ người gác cửa, lái xe, cho đến người y tá của ông, đều do cơ quan “bảo vệ nội bộ” của Đảng cung cấp. Người Sài Gòn kể rằng, trước lúc chết, ông có nguyện vọng được xưng tội với một linh mục. Vì mục đích nhân đạo, chính quyền đã đồng ý với điều kiện là người “thư ký” của ông phải đứng bên cạnh cuộc xưng tội giữa ông với ông linh mục nọ.

3. Thế hệ của tôi đã học chữ quốc ngữ qua dòng nhạc phản chiến đầy hào khí Lạc Hồng của Trịnh Công Sơn. Khi tôi vào đại học, được nghe lời truyền tụng về huyền thoại chống chiến tranh, được cho nhìn những tấm ảnh nhạc sĩ họ Trịnh ốm yếu, với đôi kiếng cận dày, ôm cây dàn ngạo nghễ hát trên một sân khấu phản chiến, giữa trung tâm Sài Gòn với một “lực lượng cảnh sát và mật thám” dày đặc của một chính quyền Miên Nam “tay sai, tàn bạo, thối nát”; vì thế, hơn cả sự ngưỡng mộ tài hoa của một nhạc sĩ, trong lòng tôi còn dành cho họ Trịnh sự kính trọng đối với một chí sĩ bất khuất trước cường quyền. Nhưng sau này, khi đi làm và có cơ hội tiếp xúc với ông, tôi hoàn toàn thất vọng. Trịnh Công Sơn rất sợ bị công an “thăm hỏi”. Dù là một người xa lánh với những kẻ quyền lực, Trịnh công Sơn luôn treo tấm hình ông chụp chung với nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt ở phòng khách. Ông đã nhiều lần bày tỏ với bạn bè một ý định ngây thơ và hết sức tội nghiệp là tấm ảnh đó có thể giúp ông tránh bị công an chụp mũ. Một nhạc sĩ hàng đầu của một dân tộc, từng hiên ngang công khai thách thức chính quyền Miền Nam, đã trở nên hèn hạ đến mức phải dùng một tấm ảnh để đánh lừa nổi sợ hãi của chính mình. Trước khi ông mất vài năm, tôi đã vài lần gặp ông trong các hội nghị tổng kết của một số cơ quan tổ chức văn hoá tại Sài Gòn. Trong tất cả các hội nghị đó, những hàng ghế danh dự được dành cho các cán bộ văn hoá, tuyên huấn kể cả cấp quận huyện. Những cán bộ này phát biểu, chúc tụng nhau nhưng không ai để ý đến ông. Ông ngồi lọt thỏm ở các hàng ghế sau với một vài người bạn. Tôi xin lỗi vong hồn ông để nói điều này: “Cộng Sản đã dành cho nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công sơn vị trí của một trong số hàng ngàn CÔNG NHÂN SẢN XUẤT NHẠC…” không hơn không kém. Thân phận của ông trong hai mươi sáu năm sau 1975, chỉ trừ khi ông chết, còn kém hơn một cán bộ phòng văn hoá quận 1.

4.  Tôi đến Mỹ trễ sau khi miền Nam đã được “giải phóng” hơn 20 năm. Ở Mỹ, tôi có hai người bạn. Gọi là bạn nhưng họ đều lớn hơn tôi trên 10 tuổi, và cả hai là người miền Nam, đã đến Mỹ từ trước 30/4/1975. Cả hai đều có bằng tiến sĩ và đều có địa vị cao trong xã hội Mỹ. Hai người bạn tôi nằm trong số những người thường hay về Việt Nam và luôn ao ước cơ hội để giúp đỡ và phụng sự quê hương ViệtNam.

Điều đáng nói là, hai người bạn tôi luôn chỉ trích xã hội Mỹ, hệ thống chính trị Mỹ, và các chính trị gia Mỹ. Nói về bất cứ lĩnh vực nào, họ cũng đều tìm ra cái xấu, cái đáng phê phán của nước Mỹ. Ngược lại, dường như bạn tôi tỏ ra dể dãi hơn đối với tình trạng ở Việt Nam và dường như không có ấn tượng gì lớn đối với tình trạng tham nhũng – thối nát trong xã hội Cộng Sản Việt Nam hiện nay. Có lần bạn tôi nói rằng, ông mới đến Mỹ mà sao ông chống cộng hơn tôi?

Vì sao?

Tôi đã bỏ Việt Nam ra đi khi tôi ở lứa tuổi đã quá trễ để học một ngôn ngữ mới, để tạo lập một nghề nghiệp mới, để có một mối quan hệ xã hội mới, và để có thể làm quen với khí hậu ôn đới. Thế nhưng, tôi đã phải ra đi vì tâm trí tôi không thể chịu đựng nỗi sự hành hạ của những điều bất công, thối nát, lừa dối, và tàn bạo đang xảy ra từng ngày xung quanh tôi.

-  Một buổi sáng, tôi thấy anh xe ôm đầu ngõ nhà tôi trên đường Lê Văn Sĩ, quận 3 dường như đang khóc. Tôi hỏi anh, và anh nói rằng chiếc xe honda cũ của anh đã bị công an thu giữ, không biết làm cách nào để xin lại. Lý do là vì xe honda ôm chỉ đựợc chở 1 người khách nhưng hôm qua, anh đã chở một người khách - môt phụ nữ có đứa con 5 tuổi. Tất nhiên, đứa bé 5 tuổi không thể ngồi một mình sau xe ôm được. Nhưng “luật pháp” không phân biệt lớn nhỏ. Anh xe ôm nói, vì đó là chuyến xe đầu tiên trong ngày, nên anh không có đủ 50 ngàn để “dúi” cho anh cảnh sát giao thông, và vì thế, chiếc xe của anh đã bị tạm giữ. Anh xe ôm này có ba đứa con. Chỉ riêng phải đóng “sổ vàng” để được giữ chổ tại trường công lập gần nhà, mỗi đứa cần có 2 triệu, chưa kể tiền học thêm hàng tháng… Trung bình mỗi ngày anh kiếm được 100 ngàn đồng bằng nghề xe ôm. Vợ anh bán bánh canh trong hẽm mỗi ngày kiếm được khoảng 50 ngàn. Thu nhập của hai vợ chông cộng lại tính ra chưa đủ tiền trường cho ba đứa con, chưa nói đến những bất trắc thường xuyên xảy ra như vụ chiếc xe bị tạm giữ.

Ở Việt Nam, cứ 10 người bạn gặp, sẽ có 7 người có hoàn cảnh như anh xe ôm nói trên.

 -  Còn anh bạn tôi thì luôn chỉ trích nước Mỹ…

Tôi đã sống ở Mỹ hơn 5 năm, đã có ít nhất hai mươi lần liên hệ với các cơ quan chính quyền. Tôi chưa hề bắt gặp một công chức nào thiếu nhã nhặn và lịch sự với tôi ngay cả khi tôi đến để xin các khoản trợ cấp. Không ai trong số hàng chục gia đình bà con và quen biết của tôi đã sống tại Mỹ hơn 20 năm phàn nàn về một lần phải bị làm khó dể hay phải lo lót cho công chức Mỹ.

Ở Mỹ, không nói đến chương trình phổ thông hoàn toàn miển phí, mà bất cứ ai cũng có đủ cơ hội để đi học đại học. Gần như 100% người Việt Nam di cư đến Mỹ đều đủ tiêu chuẩn hưởng trợ cấp giáo dục (financial aid). Do đó mà đã có tới hơn 45% người Việt đến Mỹ dưới 20 tuổi học xong đại học hoặc trên đại học. (California, Department of Education, 2004-Survey). Ở Việt Nam hiện nay, không dám nói đến bậc đại học, ngay cả vào lớp một thôi, chỉ riêng tiền đóng “sổ vàng” trung bình là 1 triệu đồng cho một học sinh, khoản tiền này không được qui định bởi luật pháp nhưng không phi pháp… Khoản tiền đóng “sổ vàng” này, như báo Tuổi Trẻ từng đưa tin, có trường lên tới 5 triệu đồng cho một quốc gia có mức thu nhập trên đầu người vào khoảng 7 triệu rưởi. Nhưng đó chỉ mới là khoản nhập môn. Tổng các khoản chi học thêm, quà cáp thầy cô giáo, và phương tiện học hành của mỗi học sinh chiếm tương đương với ít nhất là 1/3 số thu nhập của anh xe ôm kia.

 - Ở bất cứ phương diện nào, bạn cũng có thể thấy một khoảng cách rõ ràng giữa hai xã hội. Dì của tôi, năm nay trên 60 tuổi đang nhận chăm sóc một cháu bé 1 tuổi tại Santa Cruze (CA) cho vợ chồng một kỹ sư người Việt. Hàng tuần dì lái cũng một chiếc Toyota 2004 đi làm 5 ngày, mỗi tháng dì lãnh 1000 dollars tiền lương, chưa kể ăn uống và quà cáp trong các dịp lễ. Mức thu nhập của dì tôi tương đương với mức lương trung bình của 4 kỹ sư điện toán giỏi tại Sài gòn hiện nay.

-  Truyền thông Mỹ hôm nay (18/12/2005) xôn xao đưa những chỉ trích và đánh giá gay gắt về việc Tổng Thống Bush đã có lần cho phép cơ quan an ninh quốc gia theo dõi điện thoại và email của nghi phạm khủng bố trong nước Mỹ. Cũng trong thời gian này, ở Việt Nam xảy ra một chuyện ngược lại: Công an tống giam biệt tích hai anh em nhà ở đường Nguyễn Kiệm vì tội tham gia diễn đàn Paltalk, nhưng không có một dòng tin nào xuất hiện trên 500 tờ báo hiện có tại Việt Nam.

Chỉ cần nhìn sơ qua, bạn cũng có thể thấy, những điều mà bạn chưa hài lòng ở nước Mỹ là những điều mà đồng bào của bạn dù nằm mơ cũng không thấy được. Chỉ cần lướt qua vài hình ảnh và số liệu, bạn cũng có thể thấy cái bất công trong xã hội Mỹ này chỉ bằng một viên bi trong một giỏ bi bất công dưới chế độ cộng sản. Ở trên trái đất này, không hề có thiên đường. Điều mà anh và tôi tìm kiếm không phải là một xã hội hoàn hảo, mà là một xã hội có ít sự bất công hơn, có ít sự lừa dối hơn, và có ít cái xấu hơn. Trong ý nghĩa này, thì nuớc Mỹ là một mô hình tốt hơn vạn lần so với cái xã hội Việt Nam Cộng Sản, nơi mà sự ác, sự bất công, và sự lừa dối đang thống trị xã hội.

Quí vị “Thành phần thứ ba” giống như những đứa bé nhà giàu đang sống êm ấm trong một lâu đài nhưng luôn nhìn qua cửa sổ, mơ tưởng được làm một chú bé mò cua trên cánh đồng đàng xa, dưới bầu trời đầy nắng, và bên cạnh một khu rừng nhiệt đới bí ẩn… Nhưng khi nào quí vị trở thành chú bé nhà nghèo kia, thì quí vị sẽ thấy công việc mò cua hoàn toàn không có mảy may của sự lãng mạn, nhưng là một sự khốn khó đến cùng cực vì lạnh, vì đói, vì nắng, và những những cơn sốt nghiệt ngã do cánh rừng kia mang lại.

Tóm lại, “Thành phần thứ ba” là những người có thừa nhiệt huyết và dũng khí để đấu tranh quyết liệt chống những chính quyền của những xã hội dân chủ nhưng thiếu sự can đảm tối thiểu để bảo vệ một sự công bằng căn bản nhất dưới những chế độ độc tài. Và như thế, dù không chủ ý, “thành phần thứ ba” đã bắt một nhịp cầu cho các chế độ độc tài như Cộng Sản Việt Nam.

Khánh Hưng
(Nguồn: Blog Quê Hương Ta)

16 May 2013

Lời nói sau cùng trước vành móng ngựa của Phương Uyên:


"Việc tôi làm thì tôi chịu. Xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là việc chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn". (Long An, 16.5.2013)

Bản án do một tòa án nô lệ đưa ra:

CSVN áp đặt 22 năm tù giam và quản chế
lên hai sinh viên yêu nước Phương Uyên và Nguyên Kha


Tòa án công cụ của Đảng CSVN vừa kết thúc phiên xử với bản án cực kỳ nặng nề cho hai Nhà Yêu Nước trẻ:

             - Sinh viên Nguyễn Phương Uyên bị kết án 6 năm tù giam và 3 năm quản chế
             - Sinh viên Đinh Nguyên Kha bị kết án 8 năm tù giam, 3 năm quản chế, và 2 năm tù giam nữa về một tội khác trong quá khứ bất ngờ được nêu lên.

Phản ứng ghi nhận được từ những người ủng hộ Uyên - Kha trước cổng tòa án đầy phẫn nộ.

Theo các bạn trẻ này, bản án "đầy tính độc ác" chỉ nhằm hai mục tiêu: Một là để làm hài lòng Bắc Kinh và chứng minh sự trung thành của những người lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đối với Bắc Triều. Hai là để răn đe giới trẻ Việt trên cả nước không nên tham gia vào những nỗ lực bảo vệ đất nước nữa.

Quan điểm chung của người dân hiện nay ở trong và ngoài nước tựu trung là: Cái phi lý của bản án này là nhắm chống lại những người chỉ biết tranh đấu chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng đối với đất nước của họ. Đảng CSVN qua hệ thống cai trị và tòa án hiện nay đang chứng tỏ rõ ràng đó là một nhóm người mãi quốc cầu vinh. (tổng hợp)

Phiên tòa Nhà Nước CS xét xử Phương Uyên và Nguyên Kha

Nguyên Kha và  Phương Uyên


Họ không chống lại dân tộc, không bán nước.
Họ chống lại Đảng CS ác với dân, hèn với Tầu.


VRNs hỏi bà Nguyễn Thị Kim Liên mẹ của Đinh Nguyên Kha: "Đinh Nguyên Kha đã nói như thế nào trước Tòa?"

Bà Liên trả lời: “Kha nói từ đầu đến cuối mình yêu nước, mình không chống dân tộc, mà chỉ chống đảng cộng sản. Kha nói chống đảng thì không phạm tội”. Bà nghĩ rồi nói tiếp: “Kha nói theo bản cáo trạng xem việc chống đảng là phạm tội thì nó không biết, vì không có luật nào nói như vậy”..

Khi VRNs hỏi: "Bà thấy phong thái của Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên sáng nay ở Tòa thế nào?"

Bà Liên cho biết: “Các con rất thoải mái, hiên ngang, ngẩng cao đầu. Hai con ngồi nhìn thẳng lên thẩm phán, không cúi mặt”. 

Bố của Phương Uyên cho biết: “Tuy không được vào dự khán, nhưng tôi theo dõi phiên xử con tôi từ bên ngoài. Tôi rất vui, vì có nhiều người ủng hộ con tôi. Tôi hãnh diện về con gái của tôi. Gia đình chúng tôi không sợ hãi gì cả.

Bà Nhung, mẹ của Phương Uyên,  kể: “Phương Uyên nói việc làm của mình là muốn bảo vệ đất nước, và tỏ thái độ bất mãn đối với cơ quan có thẩm quyền về thái độ của họ đối với hiện tình đất nước và đàn áp nhân dân”. “Là người mẹ sinh ra Phương Uyên, tôi rất mãn nguyện và hãnh diện về con của tôi. Con tôi xứng đáng với những gì đã làm. Tôi hạnh phúc vì con tôi”

Nữ sinh Phương Uyên tự biện hộ: “Ông Hồ Chí Minh nói một năm bắt đầu từ mùa xuân, con người bắt đầu từ tuổi trẻ. Tôi là sinh viên có lòng yêu nước. Nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì mọi người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước nữa”, Bà Nhung, người được vào dự khán phiên xử,  cho biết như vậy.

Sân tòa án Long An ngày xử thưa vắng, nhưng phía bên ngoài thì rất đông – Ảnh Facebook

Sóng điện thoại 3G bị phá, 2G còn bập bõm… Nhiều người khắp nơi về tham dự nhưng ngồi rải rác xung quanh vì thời tiết nóng nực và không được vào nghe xử. Rất nhiều tay máy quay phim chụp ảnh có mặt ở khuôn viên tòa, theo dõi sát mọi di động xung quanh. Tuy nhiên, tôi thấy không khí khá ôn hòa.

Tin trên Internet cho hay bà con từ Sài Gòn và các tỉnh Miền Tây kéo về Long An theo dõi phiên xử rất đông. Những nhóm quan trọng đều có công an bám sát ráo riết. Đồng bào tụ tập bên ngoài vì không được vào phòng xử.

Bà Liên và bà Nhung. Từ ngày hai người con bị bắt, hai bà mẹ trở nên thân thiết với nhau.

Người Mỹ và vết xe đổ của người Pháp

Trọng Đạt
Những khó khăn và sai lầm của Pháp

Chiến tranh toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày 19-12-1946, những năm 1947, 1948 Việt Minh (VM) nói chung yếu, họ rút vào những chiến khu tiêu thổ kháng chiến. Sang năm 1949 tình hình thay đổi hẳn khi Trung Cộng chiếm trọn vẹn nước Tầu, Việt Minh được đàn anh giúp đỡ, huấn luyện, trang bị.. ngày một mạnh hơn lên. Tháng 10-1950 Việt Minh đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, Pháp bị thiệt hại 7,000 người, mất 13 đại bác 105 ly, 125 súng cối, 480 quân xa, 3 chi đội thiết giáp, 940 đại liên, 1,200 trung liên và trên 8,000 súng trường (Bộ Tổng tham mưu, Quân sử 4,trang 124). Trận đánh này đã làm rung động nước Pháp, họ không ngờ Việt Minh đã lớn mạnh nhanh như thế.

Tướng De Lattre được cử sang làm Tư lệnh Đông Dương từ tháng 12-1950 tới tháng 1-1952. Thời gian này Việt Minh mở nhiều trận đánh lớn nhưng bị  De Lattre gây thiệt hại nặng như Vĩnh Yên (tháng 1-1951) chết 6,000 người, trận Mạo Khê (tháng 3, tháng 4-1951), trận Bờ sông Đáy (tháng 5, tháng 6-1951) (sách đã dẫn từ trang 125 tới 133). Đầu năm 1952 Mỹ viện trợ cho Pháp 200 máy bay chiến đấu, 300 đại bác, đạn dược .. Pháp gia tăng ngân sách từ 190 tỷ Phật Lăng năm 1950.. lên tới gần 400 tỷ năm 1952 (trang 49). De Lattre mất tháng 1-1952, từ đó Việt Minh ngày càng mạnh hơn, chính phủ Pháp chán nản cuộc chiến Đông Dương tốn kém, họ miễn cưỡng tiếp tục vì thể diện nhiều hơn là vì quyền lợi.

Tháng 5-1953 Navarre được cử sang làm Tư lệnh, sau khi bại trận Điện Biên Phủ tháng 5-1954 ông được triệu về Pháp. Năm 1956 ông viết Agonie de l’Indochine, Đông Dương Hấp Hối để chứng minh sự thất bại do chính phủ Pháp không chỉ đạo cuộc chiến chứ không phải tại quân đội. Trong khi Việt Minh ngày càng mạnh do quân viện dồi dào của Trung Cộng, chính phủ Pháp không chịu chi phí thêm, chính sách chiến tranh rẻ tiền (guerre au rabais, p.106) đã khiến Pháp thua trận. Cuối 1951 quân đoàn Việt Minh đã lên tới 6 sư đoàn (trang 24), từ thời De Lattre cuối 1951 cho tới tháng 6-1953 Pháp không tăng thêm quân trong khi Việt Minh ngày càng mạnh.

14 May 2013

Phát lộ tử huyệt của Sang - Trọng

Vậy là đã rõ, Hội nghị TW7 của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) kết thúc với tinh thần “nghiêm túc”, với chủ trương “phát huy trí tuệ”, với cách làm “nhìn thẳng vào sự thật” với… vân vân và vân vân, theo như lời bài diễn văn lê thê dài đến 4947 chữ của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã cho nhân dân Việt Nam cảm giác ngao ngán chán chường đến tột độ về một thể chế độc tài toàn trị…

Nhưng Hội nghị TW7 kết thúc cũng cho giới quan tâm “vỡ” ra được nhiều điều. Thứ nhất, nó xác nhận thời kỳ Mafia hóa bộ máy đảng trị của ĐCSVN đã thực sự là một thực tế không thể chối cãi. Thứ hai, có những uẩn khúc trong vụ việc thoát án kỷ luật lịch sử của đương Kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.  Đặc biệt, đã lộ ra tử huyệt của nhóm Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng.

Dư luận hẳn còn nhớ, sau Hội nghị TW4 và 5 của ĐCSVN, nếu được hỏi về tương lai của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì có lẽ 100% số người Việt cả trong và ngoài nước sẽ trả lời là “ông Dũng kỳ này nắm chắc án kỷ luật” hoặc thậm chí còn có người sẽ nói “ông Dũng chết đến nơi rồi”. Nhưng cuối cùng ngài thủ tướng đã thoát hiểm một cách ngoạn mục, làm cho ngay cả giới thạo tin cũng “mắt chữ o mồm chữ a” hết cả.

Trong đời sống chính trị xã hội, có những thông tin mật và tuyệt mật không bao giờ được tiết lộ, nhất là quan hệ cá nhân, nhưng lại có những cách đơn giản để tiếp cận chúng, đó là thông qua các động thái của các nhân vật liên quan, đặc biệt là qua các thông tin tưởng như vô hại trên báo chí. Chính vì vậy, ngành an ninh tình báo của nhiều quốc gia trên thế giới (và ngay cả Hoa Kỳ) cũng có những bộ phận chuyên thu thập thông tin từ các trang báo, sau đó nghiên cứu phân tích chúng để tìm ra những thông tin hữu ích…

Có vẻ như đã có một cuộc chạy án vĩ đại tầm cỡ đáng ghi vào lịch sử của Nguyễn Tấn Dũng. Nếu không như vậy thì tại sao lại có một “quy trình ngược” là sau khi Bộ chính trị đã nhất trí kỷ luật ông Nguyễn Tấn Dũng rồi, nghĩa là ván đã đóng thuyền, nhưng lại có một cuộc bỏ phiếu tiếp theo với nội dung tương tự tại Ban chấp Hành TW ĐCSVN – cấp dưới của Bộ chính trị? Đây rõ ràng là một quy trình ngược.

Với những gì mà cả hai ông Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đã buột miệng trên báo chí và truyền hình, người ta có thể đoán ra là ông Sang hoàn toàn đứng ngoài trong vụ chạy án kỷ luật của ông Dũng. Một mặt cũng bởi chức danh chủ tịch nước chỉ là vô thực, tiếng nói có sức nặng nhất (theo truyền thống của ĐCSVN) vẫn phải thuộc về tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ta hãy xem những thay đổi trong các phát biểu của ông Trọng:

Ngày 04/09/2012 tại Hội nghị Kiểm điểm Phê bình Và tự Phê bình của Thành ủy Hà Nội ông Trọng phát biểu rất đanh thép “Chúng ta phải có niềm tin và quyết tâm làm bằng được, nếu không sẽ dễ buông xuôi, đầu hàng. Không chỉ đóng cửa kiểm điểm, có những việc phải sửa ngay trong quá trình làm. Thậm chí phải chấp nhận loại bỏ một số cán bộ khỏi đội ngũ”. Đây quả là những câu nói thể hiện thái độ quyết liệt của ngài tổng bí thư. Và nếu như “miệng quan có gang có thép” thì chắc chắn không có gì lay chuyển được quyết tâm của ông Trọng…

Ngày 25/02/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết TW4 “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Tại đây ông Trọng lại nói: “Cần nhận diện lợi ích nhóm ở đâu, bộ phận không nhỏ nằm ở chỗ nào?”. Như vậy là đã có sự thay đổi: Tháng 9/2012 là “thậm chí chấp nhận loại bỏ một số cán bộ khỏi đội ngũ”, nghĩa là đã nhìn rõ đối tượng. Nhưng đến tháng 03/2013 lại loanh quanh “bộ phận không nhỏ nằm ở chỗ nào?”. Như vậy đối tượng mà ông Trọng nhắm tới chưa xác định được nó ở đâu…

Giới quan sát cũng vô cùng khó hiểu trước việc một ông tổng bí thư như Nguyễn Phú Trọng lại "nghẹn ngào" khi phát biểu nhận xét về những yếu kém của ĐCSVN trên các phương tiện truyền thông. Trong lịch sử, các nguyên thủ quốc gia thường chỉ nghẹn ngào khi nói về thiên tai địch họa tổn thất nhiều nhân mạng, ngoài tầm kiểm soát. Người khắt khe cũng có thể coi đó là một nghệ thuật chính trị. Nhưng những lỗi lầm (tạm hiểu như vậy) của cá nhân ông Trọng và ĐCSVN hoàn toàn trong tầm tay con người có thể giải quyết, cớ gì ông ta phải nghẹn ngào? Đối với trường hợp này của ông Trọng,  vì vậy nó mang tính giả dối thay vì thực lòng. Điều gì đã tạo nên sự giả tạo vụng về đó?

Trên đời này “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền” – đó là câu nói có tính bài buôi, huề vốn. Nhưng nó là một thực tế trong vô vàn trường hợp. Ta hãy giả định là vào một buổi tối nào đó, tốt nhất là nhân dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013, bà Trần Thanh Kiệm – vợ ông Nguyễn Tấn Dũng – cho xe hơi chạy thẳng vào gara nhà ông Nguyễn Phú Trọng với tư cách là chúc tết, sau đó “để quên” những valy chứa hàng vài chục triệu USD và nói là “quà tết gửi chị nhà” thì điều gì sẽ xảy ra? Chỉ có trời biết, đất biết và… ông Trọng, ông Dũng biết.

Nhiều người nhận định ông Trọng “lú”, đây là nhận định mang nặng tính cá nhân. Thực ra, đã leo lên đến chức tổng bí thư thì ông này đã phải “bước qua xác” của hàng loạt các ứng cử viên khác. Nếu như đứng trước một số tiền hối lộ khổng lồ và được trao bí mật tuyệt đối, chỉ người trong cuộc mới biết, thì chắc chắn là dù có lú thật thì ông Trọng cũng không thể bỏ qua, nhất là chỉ còn hơn 1 năm nữa ông ta sẽ về hưu và trong sự nghiệp chính trị thì ông ta cũng đã đạt được đỉnh của sự vinh quang…

Chúng ta tạm hài lòng với khả năng một vụ chạy án lịch sử đã diễn ra. Điều này có thể tìm thấy ở động thái cũng được cho là lịch sử trong việc TW ĐCSVN lần đầu tiên thực hiện một cuộc bỏ phiếu kín để đi đến quyết định xem có nên kỷ luật thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hay không - đây là một việc làm chưa có tiền lệ - chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán rằng, đó là một sáng kiến của ông Trọng. Và tại sao lại có sáng kiến này để cứu ông Dũng?

Người ta cứ nghĩ bỏ phiếu kín là công bằng nhất – đúng như vậy. Nhưng đó là đối với những cuộc bỏ phiếu dân chủ và trung thực. Còn đối với những trò ma thuật thông qua bỏ phiếu kín thì đây lại là lúc nó phát huy tác dụng: Ban bầu cử và kiểm phiếu là cơ cấu tay trong, nếu bỏ phiếu điện tử thì đã có phần mềm đặc trị.., chưa kể đến việc người ta đã có những cuộc vận động bầu cử theo kiểu mua phiếu từ trước… Trường hợp ông Nguyễn Tấn Dũng thì mọi yếu tố trên đều trong tầm tay, và phần thắng chắc chắn phải nghiêng về ông này. Đó chính là lời giải khả tín nhất về việc tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng lại thoát hiểm trong gang tấc…

Cũng chính từ “phát minh dân chủ” trong việc bỏ phiếu xét kỷ luật ông Nguyễn Tấn Dũng, tình cờ người ta bỗng phát hiện ra một điều đơn giản: Từ nay trong ĐCSVN, nhất là cấp TW, mọi việc về chọn lựa và chọn lọc nhân sự cũng như quyết định các chính sách, chỉ cần tổ chức bỏ phiếu kín là xong. Và điều đó đã thành một thông lệ, không phải là một tiền lệ nữa, trong việc bầu bổ xung nhân sự cho Bộ chính trị tại Hội nghị TW7 vừa qua. Đây vừa là một hình thức làm việc rất “dân chủ” - điều mà ĐCSVN đang cố gắng tự tô vẽ - vừa là một vũ khí lợi hại để triệt hạ nhau khi cần. Và không ai khác, Nguyễn Bá Thanh chính là nhân vật đầu tiên là nạn nhân của trò bầu bán kiểu này…

Cho tới lúc này, không còn nghi ngờ gì nữa, con đường hoan lộ đã mở rộng trước mặt ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Việc ông Dũng có thể trở thành tổng bí thư ĐCSVN hay tổng thống Việt Nam trong tương lai là điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hai nhân vật được coi là vật cản lớn nhất đối với ông Dũng, đó là Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đã “có thuốc đặc trị”. Nếu như hai ông này mà “cà chớn” thì chỉ cần đưa các ông ra TW ĐCSVN và tiến hành… bỏ phiếu xét kỷ luật. Đó cũng chính là tử huyệt của Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang.

Lý do để bỏ phiếu thì vô cùng nhiều, ông Trọng thì có vụ bê bối dự án Ciputra Hà Nội (trốn thuế lớn nhất Việt Nam) thời ông này còn đang là bí thư thành ủy Hà Nội . Trương Tấn Sang thì có hàng tá những tin tức khiếu nại tố cáo liên quan đến những chuyện động trời như hiếp dâm, diệt khẩu, bênh che cho tập đoàn Tân Tạo, đưa chị em nhà họ Đặng vào Quốc hội để bà Đặng Thị Hoàng Yến bị đuổi khỏi quốc hội do khai man lý lịch vv… Hay hoặc là lấy một lý do đơn giản nhất, đó là bỏ phiếu loại bỏ các ông vì lý do trách nhiệm người đứng đầu...

Như vậy hiện nay ngoài việc đã thiết lập xong đội ngũ thân cận tham mưu từ cấp chủ tịch, bí thư các tỉnh thành đến các bộ trong chính phủ, ông Nguyễn Tấn Dũng đang có một vũ khí cực độc và cực mạnh trong tay: Bỏ phiếu! Sẽ có ngày mà bất cứ kẻ nào trong Bộ chính trị và TW ĐCSVN cũng sẽ phải “nổi da gà” khi nghe đến hai từ “bỏ phiếu”. Hãy biết điều với sức mạnh của tiền bạc, bè cánh, và thủ đoạn của Mafia Cộng Sản!

Tấn Hà
(Nguồn: CTM)

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...