23 February 2014
Tin ngắn đáng chú ý
Nhật Bản xóa bỏ công thức hữu hảo đối với Hoa Lục
Thái độ không khoan nhượng của Nhật Bản đối với Hoa Lục ngày càng được thể hiện rõ nét trong bối cảnh Bắc Kinh không ngừng lấn lướt và khiêu khích Nhật Bản để đòi chủ quyền quần đảo Senkaku, hiện do Tokyo kiểm soát, nhưng bị Bắc Kinh cho là của họ.
Trong vòng 24 tiếng đồng hồ vừa qua, có thêm hai động thái của chính quyền Tokyo cho thấy là Nhật Bản đã mất kiên nhẫn đối với Hoa Lục, trong đó có ý nghĩa hơn cả là việc xóa bỏ công thức hữu hảo đối với Hoa Lục trong quyển Sách trắng về Viện trợ cho Phát triển ODA vừa được công bố.
Theo nhật báo Asahi Shimbun số ghi ngày hôm nay, 22/02/2014, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vào hôm qua, 21/02/2014 đã công bố quyển Sách trắng mới nhất của Tokyo về ODA - ấn bản 2013. Điều đáng chú ý là trong tài liệu này, cụm từ từng được dùng trước đây để mô tả tính chất quan hệ song phương Nhật-Hoa đã bị xóa bỏ hoàn toàn.
Khái niệm được ghi nhận là « mối quan hệ hai bên cùng có lợi dựa trên lợi ích chiến lược chung » giữa Nhật Bản và Hoa Lục đã hoàn toàn biến mất. Trong những tài liệu trước đây, cụm từ này thường được đưa vào để tượng trưng cho mong muốn của Nhật Bản trong quan hệ với Hoa Lục.
Điều thể hiện rõ chuyển biến trong lập trường của Nhật Bản đối với Hoa Lục là chính dưới thời ông Shinzo Abe làm thủ tướng Nhật Bản lần đầu vào năm 2006 mà câu nói hữu hảo này trở nên thông dụng. Vào khi ấy ông Abe đã cùng với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đạt được thỏa thuận về việc hướng tới một mối quan hệ như vậy nhân một cuộc họp thượng đỉnh Nhật-Hoa.
Cụm từ hữu hảo này xuất hiện lần đầu tiên trong quyển sách trắng về ODA, ấn bản năm 2008. Trong các phiên bản sau đó, vào hai năm 2011 và 2012, nhóm từ này vẫn tồn tại, và được lồng vào trong một câu nói thận trọng hơn : «Trong bối cảnh mối quan hệ Nhật Bản - Hoa Lục hiện nay nhằm hoàn thành và làm sâu sắc thêm một ‘mối quan hệ hai bên cùng có lợi dựa trên lợi ích chiến lược chung’, điều quan trọng là cùng nhau xây dựng một loại hình hợp tác mới.»
Với việc xóa hẳn cụm từ "hữu hảo" kể trên trong ấn bản mới nhất của tài liệu về ODA Nhật Bản, chính quyền Tokyo đã cho thấy thái độ cứng rắn hơn của họ đối với Bắc Kinh.
Giới quan sát cũng gắn liền thái độ cứng rắn đó với việc chính quyền Nhật tỏ ra nghiêm khắc hơn đối với tàu đánh cá Hoa Lục bị tình nghi phạm pháp trong vùng biển Nhật Bản. Sự vụ mới nhất cũng xẩy ra vào hôm qua, khi một chiếc tàu đánh cá Hoa Lục bị chận bắt ngoài khơi thành phố Goto thuộc tỉnh Nagasaki của Nhật Bản.
Chiếc tàu với thủy thủ đoàn gồm 9 người, đăng ký tại tỉnh Chiết Giang (Hoa Lục), đã bị buộc tội có « hải trình hoạt động không đúng sự thật » và bị đưa về tạm giữ ở Hakata thuộc tỉnh Fukuoka.
Tổng Lãnh sự quán Hoa Lục tại Fukuoka đã yêu cầu Chính quyền Nhật Bản bảo đảm an toàn cho các thủy thủ và viên thuyền trưởng, đồng thời xử lý vụ việc một cách đúng đắn.
Vụ bắt giữ chiếc tàu cá Hoa Lục lần này khiến giới phân tích nhớ lại sự cố năm 2010, khi một tàu cá Trung Quốc đâm vào tàu tuần duyên Nhật Bản tại vùng Senkaku/Điếu Ngư. Tokyo khi ấy đã cho bắt giữ viên thuyền trưởng Hoa Lục. Thế nhưng trước sức ép ghê gớm của Bắc Kinh, huy động những cuộc biểu tình bài Nhật rầm rộ, chính phủ Nhật Bản lúc bấy giờ đã phải lùi bước và trả tự do vô điều kiện cho viên thuyền trưởng này.
(theo RFI)
____________
Mỹ 'ủng hộ mạnh mẽ' nhân quyền Tây Tạng
TT Obama trong cuộc gặp gỡ hứa sẽ “ủng hộ mạnh mẽ” trong việc bảo vệ nhân quyền của người Tây Tạng ở Hoa Lục.
Hoa Lục trước đó hối thúc Hoa Kỳ hủy cuộc gặp, nói điều này sẽ “gây thiệt hại nghiêm trọng quan hệ Mỹ-Hoa”.
Bắc Kinh gọi Đức Dalai Lama là người gây chia rẽ, trong khi vị lãnh tụ tinh thần nói ông chỉ bênh vực cho quyền tự trị lớn hơn của Tây Tạng, thậm chí không phải là độc lập.
Trong buổi gặp tại phòng Map Room – thuộc dinh tư của tổng thống - ở tòa Bạch Ốc, ông Obama và Đức Dalai Lama hy vọng đàm phán giữa Bắc Kinh với các đại diện của đức Dalai Lama sẽ sớm tiến hành trở lại.
Lần cuối ông Obama và Đức Dalai Lama gặp nhau là từ năm 2011, cuộc nói chuyện đã khiến Hoa Lục giận dữ. Tây Tạng vẫn là khu vực tự trị ở Hoa Lục.
Bắc Kinh nhiều lần bị cáo buộc là vi phạm tự do chính trị và tôn giáo của Tây Tạng, nhưng luôn luôn bác bỏ cáo buộc này.
Giới chức Hoa Lục cũng nói đã hết sức nỗ lực phát triển kinh tế để cải thiện đời sống của người dân Tây Tạng.
Hoa Lục nhanh chóng phản hồi cuộc gặp, với Thứ trưởng Ngoại giao Trương Nghiệp Toại cho triệu hồi người phụ tá trưởng đoàn ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh, Daniel Kritenbrink, để bày tỏ phản đối.
Theo tin từ Tân Hoa xã, Thứ trưởng Ngoại giao Trương Nghiệp Toại nói: “Vấn đề Tây Tạng là chuyện nội bộ Trung Quốc, và Hoa Kỳ không có bất kỳ quyền gì để can thiệp,” ông nói thêm: “Động thái như vậy sẽ phá hoại nghiêm trọng hợp tác và quan hệ Mỹ-Hoa, và chắc chắn làm suy yếu lợi ích của chính họ.”
Caitlin Hayden, phát ngôn nhân của Ủy ban An ninh Quốc gia, nói ông Obama sẽ tiếp Đức Dalai Lama "với tư cách ngài là lãnh đạo tôn giáo và văn hóa được quốc tế kính trọng".
Bà nói: "Chúng tôi không ủng hộ độc lập cho Tây Tạng, nhưng Hoa Kỳ cổ suý mạnh mẽ nhân quyền và quyền tự do tôn giáo ở Trung Quốc".
"Chúng tôi quan ngại về căng thẳng kéo dài và tình trạng nhân quyền xấu đi ở các vùng thuộc Tây Tạng".
Trong những năm qua, hơn 110 người Tây Tạng, đặc biệt là các sư sãi sống bên ngoài khu vực này, đã tự thiêu để phản đối chính sách cầm quyền của Bắc Kinh.
Báo chí Trung Quốc
liên tục khẳng định Điếu Ngư,
trong tiếng Nhật là Senkaku,
thuộc về Trung Quốc
REUTERS /Shannon Stapleton
Thái độ không khoan nhượng của Nhật Bản đối với Hoa Lục ngày càng được thể hiện rõ nét trong bối cảnh Bắc Kinh không ngừng lấn lướt và khiêu khích Nhật Bản để đòi chủ quyền quần đảo Senkaku, hiện do Tokyo kiểm soát, nhưng bị Bắc Kinh cho là của họ.
Trong vòng 24 tiếng đồng hồ vừa qua, có thêm hai động thái của chính quyền Tokyo cho thấy là Nhật Bản đã mất kiên nhẫn đối với Hoa Lục, trong đó có ý nghĩa hơn cả là việc xóa bỏ công thức hữu hảo đối với Hoa Lục trong quyển Sách trắng về Viện trợ cho Phát triển ODA vừa được công bố.
Theo nhật báo Asahi Shimbun số ghi ngày hôm nay, 22/02/2014, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vào hôm qua, 21/02/2014 đã công bố quyển Sách trắng mới nhất của Tokyo về ODA - ấn bản 2013. Điều đáng chú ý là trong tài liệu này, cụm từ từng được dùng trước đây để mô tả tính chất quan hệ song phương Nhật-Hoa đã bị xóa bỏ hoàn toàn.
Khái niệm được ghi nhận là « mối quan hệ hai bên cùng có lợi dựa trên lợi ích chiến lược chung » giữa Nhật Bản và Hoa Lục đã hoàn toàn biến mất. Trong những tài liệu trước đây, cụm từ này thường được đưa vào để tượng trưng cho mong muốn của Nhật Bản trong quan hệ với Hoa Lục.
Điều thể hiện rõ chuyển biến trong lập trường của Nhật Bản đối với Hoa Lục là chính dưới thời ông Shinzo Abe làm thủ tướng Nhật Bản lần đầu vào năm 2006 mà câu nói hữu hảo này trở nên thông dụng. Vào khi ấy ông Abe đã cùng với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đạt được thỏa thuận về việc hướng tới một mối quan hệ như vậy nhân một cuộc họp thượng đỉnh Nhật-Hoa.
Cụm từ hữu hảo này xuất hiện lần đầu tiên trong quyển sách trắng về ODA, ấn bản năm 2008. Trong các phiên bản sau đó, vào hai năm 2011 và 2012, nhóm từ này vẫn tồn tại, và được lồng vào trong một câu nói thận trọng hơn : «Trong bối cảnh mối quan hệ Nhật Bản - Hoa Lục hiện nay nhằm hoàn thành và làm sâu sắc thêm một ‘mối quan hệ hai bên cùng có lợi dựa trên lợi ích chiến lược chung’, điều quan trọng là cùng nhau xây dựng một loại hình hợp tác mới.»
Với việc xóa hẳn cụm từ "hữu hảo" kể trên trong ấn bản mới nhất của tài liệu về ODA Nhật Bản, chính quyền Tokyo đã cho thấy thái độ cứng rắn hơn của họ đối với Bắc Kinh.
Giới quan sát cũng gắn liền thái độ cứng rắn đó với việc chính quyền Nhật tỏ ra nghiêm khắc hơn đối với tàu đánh cá Hoa Lục bị tình nghi phạm pháp trong vùng biển Nhật Bản. Sự vụ mới nhất cũng xẩy ra vào hôm qua, khi một chiếc tàu đánh cá Hoa Lục bị chận bắt ngoài khơi thành phố Goto thuộc tỉnh Nagasaki của Nhật Bản.
Chiếc tàu với thủy thủ đoàn gồm 9 người, đăng ký tại tỉnh Chiết Giang (Hoa Lục), đã bị buộc tội có « hải trình hoạt động không đúng sự thật » và bị đưa về tạm giữ ở Hakata thuộc tỉnh Fukuoka.
Tổng Lãnh sự quán Hoa Lục tại Fukuoka đã yêu cầu Chính quyền Nhật Bản bảo đảm an toàn cho các thủy thủ và viên thuyền trưởng, đồng thời xử lý vụ việc một cách đúng đắn.
Vụ bắt giữ chiếc tàu cá Hoa Lục lần này khiến giới phân tích nhớ lại sự cố năm 2010, khi một tàu cá Trung Quốc đâm vào tàu tuần duyên Nhật Bản tại vùng Senkaku/Điếu Ngư. Tokyo khi ấy đã cho bắt giữ viên thuyền trưởng Hoa Lục. Thế nhưng trước sức ép ghê gớm của Bắc Kinh, huy động những cuộc biểu tình bài Nhật rầm rộ, chính phủ Nhật Bản lúc bấy giờ đã phải lùi bước và trả tự do vô điều kiện cho viên thuyền trưởng này.
(theo RFI)
____________
Mỹ 'ủng hộ mạnh mẽ' nhân quyền Tây Tạng
TT Obama trong cuộc gặp gỡ hứa sẽ “ủng hộ mạnh mẽ” trong việc bảo vệ nhân quyền của người Tây Tạng ở Hoa Lục.
Hoa Lục trước đó hối thúc Hoa Kỳ hủy cuộc gặp, nói điều này sẽ “gây thiệt hại nghiêm trọng quan hệ Mỹ-Hoa”.
Bắc Kinh gọi Đức Dalai Lama là người gây chia rẽ, trong khi vị lãnh tụ tinh thần nói ông chỉ bênh vực cho quyền tự trị lớn hơn của Tây Tạng, thậm chí không phải là độc lập.
Trong buổi gặp tại phòng Map Room – thuộc dinh tư của tổng thống - ở tòa Bạch Ốc, ông Obama và Đức Dalai Lama hy vọng đàm phán giữa Bắc Kinh với các đại diện của đức Dalai Lama sẽ sớm tiến hành trở lại.
Lần cuối ông Obama và Đức Dalai Lama gặp nhau là từ năm 2011, cuộc nói chuyện đã khiến Hoa Lục giận dữ. Tây Tạng vẫn là khu vực tự trị ở Hoa Lục.
Bắc Kinh nhiều lần bị cáo buộc là vi phạm tự do chính trị và tôn giáo của Tây Tạng, nhưng luôn luôn bác bỏ cáo buộc này.
Giới chức Hoa Lục cũng nói đã hết sức nỗ lực phát triển kinh tế để cải thiện đời sống của người dân Tây Tạng.
Hoa Lục nhanh chóng phản hồi cuộc gặp, với Thứ trưởng Ngoại giao Trương Nghiệp Toại cho triệu hồi người phụ tá trưởng đoàn ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh, Daniel Kritenbrink, để bày tỏ phản đối.
Theo tin từ Tân Hoa xã, Thứ trưởng Ngoại giao Trương Nghiệp Toại nói: “Vấn đề Tây Tạng là chuyện nội bộ Trung Quốc, và Hoa Kỳ không có bất kỳ quyền gì để can thiệp,” ông nói thêm: “Động thái như vậy sẽ phá hoại nghiêm trọng hợp tác và quan hệ Mỹ-Hoa, và chắc chắn làm suy yếu lợi ích của chính họ.”
Caitlin Hayden, phát ngôn nhân của Ủy ban An ninh Quốc gia, nói ông Obama sẽ tiếp Đức Dalai Lama "với tư cách ngài là lãnh đạo tôn giáo và văn hóa được quốc tế kính trọng".
Bà nói: "Chúng tôi không ủng hộ độc lập cho Tây Tạng, nhưng Hoa Kỳ cổ suý mạnh mẽ nhân quyền và quyền tự do tôn giáo ở Trung Quốc".
"Chúng tôi quan ngại về căng thẳng kéo dài và tình trạng nhân quyền xấu đi ở các vùng thuộc Tây Tạng".
Trong những năm qua, hơn 110 người Tây Tạng, đặc biệt là các sư sãi sống bên ngoài khu vực này, đã tự thiêu để phản đối chính sách cầm quyền của Bắc Kinh.
UPR và sự hóa thân của Liên Hiệp Quốc
Nguyễn Gia Kiểng
Phải nói thực là cho tới vài năm gần đây tôi ít quan tâm tới Liên Hiệp Quốc, còn Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc thì tôi chỉ coi như một trò hề. Không phải vì tôi khinh thường Liên Hiệp Quốc, con kiến đâu dám coi thường trái núi. Tôi không quan tâm tới Liên Hiệp Quốc vì một lý do khác xin được trình bày sau:Trong kỳ họp Kiểm Điểm Định Kỳ Phổ Cập (UPR) thứ 18 về tình trạng nhân quyền tại Genève từ 27-01 đến 07-02-2014 vừa qua chính quyền cộng sản Việt Nam đã nhận được 227 khuyến nghị – ngôn ngữ ngoại giao có nghĩa là khiển trách và đòi hỏi cải thiện – từ 106 quốc gia tham dự. Con số 106 quốc gia quan tâm chứng tỏ một tình trạng đáng lo ngại. Cùng ngày 5-2 một quốc gia khác, Cộng Hòa Dominican, cũng được rà soát tình trạng nhân quyền cùng với Việt Nam và chỉ có 46 quốc gia thấy cần phải có mặt. Các quốc gia chỉ tham gia nếu thấy có vấn đề. Trong đợt kiểm điểm thứ hai này chỉ có những chế độ anh em của Hà Nội lôi kéo được trên 100 quốc gia tham dự: Trung Quốc 137, Cuba 133, Nga 102.
Con số 227 khuyến nghị càng có ý nghĩa lớn hơn. Nó cho thấy dưới mắt Thế giới chính quyền cộng sản Việt Nam đã vi phạm quyền con người trên rất nhiều điểm, nó cũng chứng tỏ tình trạng nhân quyền tại Việt Nam đã tồi tệ hơn thay vì được cải thiện từ đợt kiểm điểm trước, bởi vì năm 2009 Việt Nam "chỉ" nhận được 123 khuyến nghị. Nhưng không phải chỉ có thế, các khuyến nghị đều rất nghiêm trọng chứ không phải như những khuyến nghị đối với các nước khác: hôn nhân đồng tính, tự do phá thai, sai biệt nam nữ v.v... Chính quyền CSVN bị tố giác là đã đàn áp nhân quyền ngay bằng luật pháp với những điều khoản như các điều 79, 88 và 258 của bộ luật hình sự và nhiều nghị định khác, đã giam cầm thô bạo nhiều tù nhân lương tâm chỉ có tội nói lên một cách ôn hòa quan điểm của mình.
Và Hà Nội đã phản ứng ra sao? Không đợi đến tháng 6-2014, hạn kỳ để trả lời và phản bác nếu muốn, chính quyền Việt Nam ngay từ bây giờ đã cho biết là sẽ chấp nhận hầu hết các khuyến nghị. Đây là một chọn lựa khôn ngoan bởi vì những vi phạm đã quá rõ ràng. Thí dụ như những bản án quá sức thô bạo đối với Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Xuân Nghĩa, Điếu Cày, Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần,Vi Đức Hồi, Đinh Đăng Định, Đỗ Thị Minh Hạnh… để chỉ kể một vài trong số hàng trăm trường hợp. Tranh luận chỉ làm xấu mặt thêm cho Hà Nội. Tuy vậy có nhiều triển vọng là sự khôn ngoan của Hà Nội chỉ là một khôn ngoan chiến thuật, nghĩa là tránh né tranh luận để được yên thân rồi vẫn cứ tiếp tục phớt lờ và vi phạm, như họ đã từng làm sau đợt kiểm điểm kỳ I năm 2009. Cảm tưởng này càng được tăng cường khi đọc bài phát biểu của thứ trưởng ngoại giao Hà Kim Ngọc, trưởng phái đoàn Việt Nam tại phiên họp UPR ngày 5-2. Đó là một bài phát biểu từ tốn, không khiêu khích kiểu "dân chủ xã hội chủ nghĩa hay hơn gấp một triệu lần dân chủ tư bản" như bà Nguyễn Thị Doan, cũng không phản bác những khuyến nghị mà còn nhìn nhận những thiếu sót. Nhưng vẫn che đậy và dối trá. Ông Ngọc khoe khoang Việt Nam có tới gần một nghìn tờ báo đủ loại cho 90 triệu dân - một số lượng báo tương đương với số báo phát hành tại một thành phố trung bình tại các nước dân chủ - mà quên nói rằng tất cả đều là báo nhà nước. Ông khoe rằng từ năm 2009, khi Việt Nam tham dự khóa họp UPR đợt I, Việt Nam đã ban hành hoặc sửa đổi 25 đạo luật mà quên nói thêm là tất cả đều nhắm mục đích giới hạn hơn nữa các quyền tự do vốn đã rất hạn hẹp. Trong số này ông kể cả bộ luật hình sự, dù các điều 79, 88 và 258 không những vẫn còn được giữ nguyên mà còn được tận dụng hơn để giáng hàng nghìn năm tù cho hàng trăm người dân chủ ôn hòa. Ông cũng lờ đi sự kiện là các án tù đã khắc nghiệt hơn hẳn; những tội danh trước đây bị xử 2 hoặc 3 năm tù sau năm 2009 có thể bị xử nặng gấp hai hoặc ba lần, thậm chí bốn lần (Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm, Điếu Cày 12 năm, Tạ Phong Tần 10 năm, Nguyễn Văn Lý 8 năm, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm, nữ sinh Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm).
Nhưng sự khôn ngoan chiến thuật đó lần này sẽ chỉ là một sự dại dột. Hà Nội sẽ lầm to nếu nghĩ rằng vẫn có thể nói thế nào cũng được như trước đây, bởi vì thế giới biết, và biết rõ, những gì xảy ra tại Việt Nam. Chúng ta đang sống trong thời đại truyền thông. Lần này chính quyền cộng sản sẽ còn lầm to hơn nữa bởi vì Thế giới đã thay đổi và chính bản chất của Liên Hiệp Quốc cũng đang thay đổi. Những người dân chủ Việt Nam cũng sẽ lầm nếu thất vọng vì Liên Hiệp Quốc đã không lên án và trừng phạt Việt Nam vì những vi phạm.
Đừng ngộ nhận bản chất của Liên Hiêp Quốc.
Liên Hiệp Quốc ra đời sau thế chiến II để thay thế cho Hội Quốc Liên (League of Nations, Société des Nations) và để đừng lặp lại kinh nghiệm của Hội Quốc Liên. Kinh nghiệm đó là một đối thoại giả dối vẫn còn hơn không có đối thoại, một hòa bình tồi tệ vẫn hơn chiến tranh. Năm 1933 những cáo buộc và đòi hỏi cứng rắn đã khiến các chế độ quốc xã Đức, phát xít Ý và quân phiệt Nhật rút khỏi Hội Quốc Liên, và Thế Chiến II đã xảy ra. Liên Hiệp Quốc được thành lập năm 1945 ngay sau Thế Chiến II với sứ mạng là để chiến tranh lạnh không biến thành chiến tranh nóng, nghĩa là thế chiến thứ III. Cho đến nay nó không phải là nơi để lên án và trừng phạt. Nó là một diễn đàn để thảo luận và thỏa hiệp. Nó tránh sự gay cấn và tìm mọi cách để giảm nhiệt. Nó dung túng cả ngôn ngữ lưỡi gỗ nếu cần. Niềm tin căn bản của nó là, một mặt, nếu không có chiến tranh thể chế dân chủ sẽ dần dần xác nhận bằng thành quả sự đúng đắn của nó trong khi các chế độ độc tài sẽ để lộ bộ mặt thật gớm ghiếc và, mặt khác, những gì đúng càng được nhắc lại nhiều lần thì càng thêm sức thuyết phục trong khi những gì sai trái càng được lặp lại càng thêm trơ trẽn. Và Liên Hiệp Quốc đã làm tròn sứ mệnh của nó, phong trào cộng sản đã sụp đổ mà không xảy ra thế chiến. Để làm tròn sứ mạng trọng đại này Liên Hiệp Quốc đã phải hy sinh nhiều nguyên tắc và bỏ qua nhiều vấn đề, đồng thời cũng đã phải chấp nhận nhiều nghịch lý cay đắng. Người ta còn nhớ hình ảnh Khruchev tháo giầy đập bàn và la hét giữa đại hội đồng, Castro chiếm diễn đàn suốt tám giờ để lên án đế quốc Mỹ và chủ nghĩa tư bản, các chế độ hung bạo thao túng Cao Ủy Nhân Quyền và UNESCO v.v. Liên Hiệp Quốc không phải là nơi để trừng phạt những chế độ chà đạp nhân quyền và công pháp quốc tế. Sứ mạng gần như duy nhất của nó là để tránh cho thế giới khỏi lâm vào thế chiến. Chính vì thế mà tôi không quan tâm tới Liên Hiệp Quốc, nó không có chức năng để giải quyết những vấn đề đau nhức trong đất nước hoạn nạn của tôi. Còn cái Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc thì quả thật chỉ là một trò hề, dù là một trò hề thô bỉ nhưng bắt buộc, một cái giá phải trả để thế giới không bùng cháy.
Sự trừng phạt của Liên Hiệp Quốc thực ra cũng có, nhưng không phải như những người chầu chực ở văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền nghĩ. Nó phơi bày bản chất bạo ngược của những chế độ độc tài để dư luận thế giới đánh giá và mỗi quốc gia tự rút ra kết luận cho mình trong chính sách đối ngoại. Và dần dần sự trừng phạt này ngày càng có thực chất bởi vì thế giới đã thay đổi và sứ mạng của Liên Hiệp Quốc cũng phải thay đổi theo.
Hai cột mốc cần được lưu ý trong tiến trình hóa thân của Liên Hiệp Quốc.
Cột mốc thứ nhất là khi bức tường Berlin sụp đổ, cuối năm 1989. Phong trào cộng sản thế giới đã tan rã và nguy cơ thế chiến không còn. Sứ mạng của Liên Hiệp Quốc đã đạt được và nó cần một sứ mạng mới để có lý do tiếp tục tồn tại. Sứ mạng ấy khó có thể chỉ là tăng cường hợp tác giữa các quốc gia bởi vì đó đã là vai trò của nhiều kết hợp khu vực. Cũng khó có thể chỉ là gửi những đoàn peacekeeper tới các vùng lâm vào tình trạng hỗn loạn vì đó chủ yếu tùy thuộc các nước giầu mạnh. Như vậy sứ mạng chính của Liên Hiệp Quốc từ nay chỉ có thể là để bảo vệ các giá trị phổ cập từ lâu đã được đưa vào hiến chương nhưng vẫn chưa được thể hiện: dân chủ, nhân quyền và công pháp quốc tế. Sau nhiều năm dò dẫm, năm 2006 Hội Đồng Nhân Quyền ra đời để thay thế cho Cao Ủy Nhân Quyền đã quá bị tai tiếng, đánh dấu một chuyển hướng quan trọng của Liên Hiệp Quốc. Năm sau cơ chế Kiểm Điểm Định Kỳ Toàn Cầu (UPR) về nhân quyền được thành lập, theo đó mọi quốc gia đều bị kiểm điểm về tình trạng thực hiện nhân quyền khoảng 5 năm một lần. UPR có quyền đề nghị những biện pháp chế tài với những chính quyền ngoan cố không tuân thủ những khuyến nghị. Liên Hiệp Quốc như vậy đã có chức năng trọng tài và chế tài trên nguyên tắc. Trên nguyên tắc thôi chứ chưa được thể hiện trên thực tế bởi vì tất cả mọi quốc gia đều phải qua thủ tục rà soát định kỳ chứ không riêng gì những nước bị đánh giá là độc tài, và Hội Đồng Nhân Quyền cũng rất tránh nói tới trừng phạt. Có thể ví UPR như một cái thòng lọng; muốn thuyết phục các chế độ độc tài quàng chiếc thòng lọng đó vào cổ mà chỉ dùng "áp lực mềm" người ta phải làm như đó chỉ là một trò chơi, mọi người đều quàng cả. Điều khác biệt là ở chỗ cái thòng lọng đó sẽ chỉ dần dần thắt lại quanh cổ những chế độ độc tài.
Cột mốc quan trọng thứ hai là năm 2011 với sự khởi động của một làn sóng dân chủ mới - làn sóng dân chủ thứ tư trong lịch sử thế giới- bắt đầu bằng Mùa Xuân Ả Rập. Hàng loạt các chế độ độc tài sụp đổ hoặc tự chuyển hóa về dân chủ. Làn sóng dân chủ này vẫn còn đang tiếp tục, nhưng ngay từ bây giờ so sánh lực lượng đã quá rõ ràng. Các nước độc tài đều tụt hậu, sức mạnh quân sự quá thua sút so với khối các nước dân chủ và trọng lượng kinh tế gộp chưa bằng 15% kinh tế Thế giới. Các nước dân chủ không cần và cũng không sợ các chế độ độc tài nữa. Từ nay Liên Hiệp Quốc có thể hành động một cách quả quyết hơn. Nó đang hoàn tất tiến trình hóa thân từ một diễn đàn thành một tòa án, từ sứ mạng tránh thế chiến sang sứ mạng áp đặt trật tự dân chủ. Sự trừng phạt có thể bắt đầu.
Thực ra sự trừng phạt đã bắt đầu, dù vẫn là một cách gián tiếp. Chính chế độ CSVN đã bị chế tài ngay cả nếu họ không nhận ra được. Hãy so sánh con số đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trước năm 2009 và bây giờ. Trong hai năm 2007 và 2008, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã lớn hơn hẳn các nước trong vùng. Hiện nay nó hầu như không còn gì, trừ những công trình đã xúc tiến khá xa và không thể bỏ ngang. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu không phải là nguyên nhân duy nhất. Nhận thức mới của thế giới là độc tài và tham nhũng đi đôi với nhau, nhân quyền là đảm bảo cho một sinh hoạt kinh tế lương thiện. Các chế độ độc tài còn lại đang sống những ngày cuối cùng khó khăn. Từ nay chúng còn thêm một khó khăn mới, chúng sẽ không yên thân với Liên Hiệp Quốc.
Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ phạm một sai lầm lớn, có thể là sai lầm cuối cùng và rất bi thảm, nếu nghĩ rằng họ vẫn còn có thể tiếp tục khá lâu như hiện nay. Hơn lúc nào hết họ cần có đủ sáng suốt để thay đổi, để làm tác nhân thay vì nạn nhân của cuộc chuyển hóa nhất định phải tới, đang tới và đang gia tốc. Và nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam không có nổi sự sáng suốt đó thì chính những người cộng sản phải đủ khôn ngoan và trách nhiệm để rời bỏ nhanh chóng một con tàu đang chìm và đang đe dọa làm chết đuối cả một dân tộc cùng với nó. Vì đất nước và vì chính họ.
(Nguyễn Gia Kiểng,
02/2014- eThongLuan)
Tình trong giá lạnh, thơ
TÌNH TRONG GIÁ LẠNH
Đêm buốt lạnh _ đêm thương chùng muôn nhớ
Tuyết giăng mờ _ mắt đẩm lệ vì ai
Trong cô đơn thèm hơi ấm người về
Giá rét lạnh nhớ ngày xưa gác trọ
Vòng tay yêu trói đời em ngục thất
Mê cảm buồn ai ngọt mặn mồ hôi
Hơi thở tình yêu sao muôn đời trăn trối
Em mất rồi _ mất từ nụ hôn xanh
Tiếng gió gào _ tiếng sói tru làm tim em ngừng đập
Tay anh đâu rồi sao không xoa bóp ngực đầy thương
Em uất hận _ em căm thù làn môi bạc bẽo
Mãi cứ chờ _ cứ đợi lần vuốt ve
Anh ở đâu _ đi đâu _ về đâu
Còn mãi thế gian hay xương cốt hóa tro tàn
Đêm mù sương em gọi anh từng tiếng thở
Hãy về đây _ ngồi bên em lần cuối
Ngón tay gầy nựng nịu trái tim em
Trái tim khô trong giá rét mịt mù
Chỉ hồng lại khi môi anh chạm khẽ !
PHAN NGHĨA .
22 February 2014
ĐỊNH MỆNH TỰ HỦY DIỆT CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ XHCN
NGUYỄN PHÚC LIÊN
Mô hình Kinh tế dựa trên Tập quyền Chỉ huy như ở Trung quốc và Việt Nam, gọi là định hướng XHCN, để lộ cái bệnh hoạn của mình từ những năm 2010-2011 khi mà cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới làm tụt giốc mãi lực của những Thị trường tiêu thụ lớn như Hoa kỳ và Liên Au. Từ đó, cái bệnh hoạn mỗi ngày mỗi trở thành trầm trọng cho đến hiện tình tác hại lên đời sống của quần chúng dân nghèo. Cái bệnh hoạn này tự phát sinh từ chính chủ trương Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã là định mệnh tự hủy diệt mà chính Lý Luận của Karl Marx hé cho thấy.Thực vậy, Mô hình Kinh tế Tập quyền Chỉ huy đã cáo chung với Nga và Đông Âu. Trung quốc và Việt Nam vẫn bấu víu lấy nội dung của mô hình, mà chỉ thêm cái đuôi “định hướng XHCN“ vào Kinh tế Thị trường để đánh lừa thiên hạ. Nội dung vẫn giữ chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế mà chúng tôi gọn lại là Mô hình Kinh tế XHCN.
Đã từ cuối năm 2011, Chủ tịch Ngân Hàng Thế giới, Ông Robert ZOELLICK, cũng như Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, Bà Christine LAGARDE, đều họp báo tại chính Bắc Kinh thôi thúc Trung quốc phải cấp bách Cải tổ từ căn nguyên Mô hình Kinh tế XHCN bởi vì với Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới hiện nay, Kinh tế XHCN đã bước xuống một cái giốc mà không thể cưỡng lại và Mô hình Kinh tế ấy đang làm phá sản Kinh tế quốc dân để có thể đi đến bạo loạn Xã hội và lan sang Chính trị .
Tại Trung quốc, chính Thủ tướng On Gia Bảo, từ năm 2010, đã nói trước Quốc Hội, về những bất ổn Chính trị như hậu quả Kinh tế:
“L’inflation, plus une redistribution inéquitable des revenus et la corruption pourraient affecter la stabilité sociale et même la stabilité du gouvernement” (Lạm phát, thêm vào đó là một sự phân phối không đồng đều những thu nhập và tham nhũng có thể tác hại đến sự ổn định xã hội và ngay cả đến sự ổn định nhà nước” (Le Monde 16.03.2010, trang 16).
Bản Tin của AFP, từ Hà Nội ngày 11.12.2012, đã nói về nhận định của Bà Victoria KWAKWA , Giám đốc Ngân Hàng Thế Giới, về việc xuống giốc của Kinh tế XHCN Việt Nam:
“HÀ NỘI, 11.12.2012 (AFP) – Việt nam có nguy cơ rơi vào lâu dài trong “cái bẫy thu nhập rất kém“ nếu nhà nước không cải cách hệ thống ngân hàng và những xí nghiệp nhà nước, vừa không có hiệu quả vừa chất chồng những nợ nần.
Độ phát triển Kinh tế của xứ cộng sản này vào năm 2012 là ở mức độ thấp nhất kể từ năm 1999. đó là lời nhận định của Bà Giám đốc Ngân Hàng Thế giới trong cuộc Họp thường niên cuối năm nay tại Hà Nội.
Kinh tế mất đi nặng nề về tính sinh động và những ràng buộc thuộc cơ chế càng ngày càng nặng nề gây thụt lùi trầm trọng tính cạnh tranh và độ tăng trưởng, Bà Victoria KWAKWA thẳng thắn nói như vậy trong bản công bố vào chiều tối thứ Hai 10.12.2012.
Việt Nam đã được coi như một quốc gia nhiều hy vọng vào những năm 90. Một số người còn coi đây là con rồng tương lai Á châu. Nhưng tiếc thay, Chế độ đã không bao giờ muốn hay thành công, dù muốn, trong việc cải cách MÔ HÌNH KINH TẾ, nhất là không rời bỏ những phương pháp sản xuất từ thời cũ nát KINH TẾ CHỈ HUY HOẠCH ĐỊNH.(ceb/ltl/dla/abl--AFP 110734 GMT DEC 12)
Bài viết này nhằm cắt nghĩa những lý do đưa đến tụt giốc Kinh tế và tan rã của Mô hình Kinh tế XHCN. Có những lý do thuộc nội tại của Mô hình. Có những lý do từ sự mất tin tưởng và từ sức ép của nền Kinh tế Tự do Thị trường nước ngoài. Những lý do ấy được trình bầy qua những điểm sau đây:
- Đối lực làm tan rã mô hình như một định mệnh theo lý luận của MarxĐối lực làm tan rã mô hình như một định mệnh theo lý luận của Marx
- Sự xâu xé giữa những nhóm lợi ích quyền lực trong đảng cầm quyền
- Hiện tình suy thoái của Kinh tế Việt Nam và những biện pháp vá víu
Lý luận của Karl Marx: TƯ BẢN tự hủy diệt
Ý thức hệ Cộng sản dựa trên lý luận của Karl Marx về Định mệnh Kinh tế Tư bản (Fatalité Economique Capitaliste). Kinh tế Tư bản đặt Tiền đề là TƯ HỮU. Vì tư hữu (Propríeté Privée) mà phải có Tự do kinh doanh (Liberté d’Entreprise) và rồi Tự do Trao đổi ở Thị trường (Libre Echange au Marché).
21 February 2014
Bất Ngờ, tranh mới A.C.La
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**
Bất ngờ như núi lửa phun, như giông bão kéo tới, có khi rụng rời chân tay.
Một chàng quận Phó trẻ bỗng nghe tiếng tay quay kẽo kẹt đưa thùng nước giếng đi lên. Rồi tiếng nước xối xả. Qua khe hở hàng giậu cây xanh, tiên nữ hiện ra. Giòng nước mát vẫn còn lã chã từ bờ vai tuôn xuống trên hai gò bồng đảo mịn và căng.
Dù mang cái cảm giác lén lút tội lỗi, nhưng không thể không liếc nhìn lần thứ hai. Đôi khi còn tiếc nuối sao không liếc nhìn thêm một lần nữa và một lần nữa.
Bất ngờ tạo cảm giác mạnh, và cái chết người ở chỗ hình ảnh ngà ngọc đeo đẳng suốt đời.**
Hoàn cảnh có những chi tiết na ná giống một đoạn văn trong "Má Hồng" của Đỗ Tiến Đức. Có khác chăng là hai nhân vật trong Má Hồng biết nhau, quen nhau, còn hoàn cảnh ở đây người con gái và chàng thư sinh bắt đầu nếm mùi bão lửa chẳng hề quen biết. Bởi vậy mà tên của bức tranh mới đặt là 'Bất Ngờ'.
Miền quê Việt Nam là lũy tre gió đong đưa, là sông rạch ánh trăng ngời sáng, là giếng nước trong giữa mảnh vườn có bờ giậu xanh bao quanh. Miền quê giữa cảnh chân lấm tay bùn nhưng thơm mùi hoa bưởi, trời đất còn ban cho những nét đẹp bất ngờ, khỏe mạnh, không son không phấn. Nước giếng không javel trong lành giữ mãi làn da thơm mát. Miền quê không có phòng tắm, không cần phòng tắm. Tiên nga lồ lộ bên miệng giếng, hay ngâm mình dưới sông có bờ đá lởm chởm xuất hiện hàng ngày. Thật tiếc cho quý vị nam nhi không có dịp sống ở miền quê. Tiếc, bởi vì thiếu đi một dịp 'đón chờ' những điều bất ngờ mà một khi bắt gặp sẽ không bao giờ quên.
Khó quên đến độ nghĩ rằng phải làm một cái gì đó cho đỡ nhớ. Thế là bức tranh Bất Ngờ có mặt!
Hãy vui lên đi kẻo trăng tàn bóng xế. Vẽ lên đi để nung lòng nhân thế!
Xin post lên đây để riêng tặng những bạn già còn ...xuân sắc!
A.C.LaGửi Người Tình Già
Người tình già đoán hay
Quả thật tôi đang vẽ
Gặp ngẫu hứng vung tay
Thần trí như mây nhẹ
Vẫn còn đây, lặn lội
Tìm những thứ mù khơi
Mong một ngày gặp hội
Vui quên hết sự đời!
Thi ca dục ái trong văn học
Thi ca dục ái xuất hiện từ lâu trong văn chương truyền khẩu. Phong dao, tục ngữ, câu đố có những bài, những câu liên quan đến tính dục nam nữ . Loại tác văn này không bóng bảy như văn chương chữ viết mà đôi khi còn thô lỗ, trắng trợn, tục tằn nữa. Thực ra đó chỉ là phản ảnh đặc tính nôm na, mộc mạc, tượng hình và cụ thể của nền văn học dân gian:
hoặc:Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.
Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù...
(Phong Dao)
hoặc:Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh cũng mê mẩn đời
Không giàu thì cũng đẹp giai
Không thông kinh sử cũng dài con Q.
(Tục Ngữ)
Từ ngàn xưa đạo Nho bao trùm xã hội Việt Nam, quan hệ tình dục bị coi là thô tục nên văn gia tránh không đề cập tới. Nội dung thơ văn không hợp với đạo lý thánh hiền đều bị lên án khắt khe như “đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều”. Truyện Phan Trần có đoạn tả Phan Sinh ốm tương tư, si tình đến toan tự tử. Với người xưa, nam nhi mà nhu nhược, ủy mị như thế là điều không thể chấp nhận được. Thúy Kiều vượt vòng lễ giáo đang đêm lẻn sang nhà Kim Trọng tình tự là điều luân lý Khổng Mạnh không cho phép. Truyện Kiều bị lên án là dâm ô, khiêu khích tình dục vì có đoạn tả nàng Kiều tắm và lúc Kiều thất thân với Mã Giám Sinh tuy rằng chỉ với những nét ước lệ, mờ nhạt thiếu tính cách cụ thể sinh động:Canh một thì trải chiếu ra
Canh hai bóp vú, canh ba sờ l..
Canh tư thì lắc xom xom
Canh năm cuộn chiếu ẵm con mà về
(Câu đố tả người kéo vó ban đêm)
Cánh Chim Chiều Lỗi Hẹn, thơ
Dạo:
Ngày vui hội ngộ gần kề,
Sao Hiền nỡ bỏ ra đi vội vàng?
Cánh Chim Chiều Lỗi Hẹn
(Vĩnh biệt Nguyễn Thắng Hiền IB VT 63-64.
Xin chia buồn cùng chị Cúc và các bạn IB)
Cảm tạ các bạn Nhất B ngày trước,
Đã cùng nhau lũ lượt đến thăm tôi,
Và những người dù cách trở xa xôi,
Cũng cố gửi tới đôi lời nhắn hỏi.
Ai cũng biết, nhưng không ai dám nói,
Đây chính là lần cuối được nhìn nhau,
Được thì thào nhắc lại chuyện năm nao,
Những ngày tháng đầy biết bao kỷ niệm.
Sau cơn quốc biến,
Đời cách biển ngăn sông,
Bọn chúng mình dù phần số long đong,
Vẫn canh cánh chờ mong ngày tái hợp.
Nửa thế kỷ, mình bỏ trường xa lớp,
Trời thương cho còn tụ họp nơi đây.
Dẫu biết rằng chỉ là chuyện phút giây,
Nhưng gặp được chút nào hay chút nấy.
Ý trời đà như vậy,
Bệnh nan y hồ dễ mấy ai qua.
May mắn thay còn được ở lại nhà,
Vợ, con, cháu... luôn vào ra chăm sóc.
Sáng trưa tối thầm xốn xang trằn trọc,
Xót người thân phải khổ nhọc ngày đêm.
Một phút sống dài thêm,
Là một phút lắm lo phiền vất vả.
*
Cho tôi được nói lên câu từ giã,
Cùng bạn bè, cùng tất cả người thân.
Đã là chuyện số phần,
Mình hãy gắng bình tâm chấp nhận.
Lòng chỉ có một điều còn ân hận,
Là trước đây đã nhận với mọi người,
Căn nhà này ngày Hội Ngộ sẽ là nơi,
Để bè bạn về vui chơi họp mặt.
Đành thất hứa, vì mệnh trời khe khắt,
Giờ bắt tôi phải nhắm mắt xuôi tay.
Cùng bạn bè đang có mặt hôm nay,
"Hẹn gặp lại một ngày mai tươi sáng". (*)
*
Căn phòng nhỏ, nắng trưa buồn lảng vảng,
Bạn hiền đà thanh thản bước chân mây.
Xác thân dù còn tạm thấy nơi đây,
Nhưng mình đã thật chia tay vĩnh viễn.
Lâm râm lời kinh nguyện,
Tự nhủ lòng sẽ có chuyện đời sau,
Để mình còn sẽ có dịp gặp nhau,
Ở một chốn không khổ đau bệnh tật.
Mười năm trước, lúc mình vui họp mặt,
Ngày cuối cùng mình có nhắc nhở nhau,
Mười năm sau, dù hội họp nơi nao,
Dù cách trở thế nào mình cũng tới.
Còn hai tháng sao Hiền không gắng đợi,
Sớm làm chi và vội vã làm chi?
Người thân đây, sao nỡ bỏ ra đi,
Lối bên ấy có gì đâu quyến rũ!
Những khuôn mặt của bạn bè xưa cũ,
Năm Mươi Năm Hội Ngộ sẽ buồn thiu,
Khi lặng nhìn tia nắng cuối hắt hiu,
Trông ngóng mãi cánh chim chiều lỗi hẹn.
Trần Văn Lương
Cali, 2/2014
Ghi chú:
(*) Lời của Nguyễn Thắng Hiền nói với Đinh Bá Hồ
chiều Chủ Nhật 16 tháng 2 năm 2014,
một ngày trước khi Hiền ra đi.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Hiểu Xuân Túy Bút
Gửi Các Bạn tôi ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...
-
LÊ NGUYỄN Trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tác động của sách báo được thực dân Pháp phổ biến mà không ít sách giáo k...
-
Theo yêu cầu của một số thân hữu, Diễn Đàn xin đăng lại một bài viết rất hay về Việt Ngữ kiểu XHCN của tác giả Tâm Thanh. (TTR) CHIÊU...
