10 December 2013

Mạng Lưới Blogger Việt Nam chính thức công khai ra mắt tại Hà Nội

19h chiều 10/12, nhân Ngày Nhân quyền Quốc tế, một số thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam tại Hà Nội đã tổ chức buổi cafe - gặp mặt kỷ niệm ngày này, đồng thời chính thức ra mắt Mạng Lưới. 

 **


Tranh đấu để bảo vệ nhân quyền, tự do, dân chủ, phẩm cách và giá trị của con người là mục tiêu, là khát vọng, và cũng là lý do duy nhất cho sự ra đời của Mạng Lưới Blogger Việt Nam. Khi nào các hành vi vi phạm nhân quyền ở Việt Nam còn tiếp diễn, thì Mạng Lưới Blogger Việt Nam vẫn còn lý do để tồn tại.

Công khai, liên kết với nhau qua một mạng lưới cộng đồng rộng khắp, tôn trọng những nguyên tắc đa nguyên và dân chủ, phi đảng phái, phi lợi nhuận, không loại trừ là tiêu chí hoạt động của Mạng Lưới Blogger Việt Nam.

Mục tiêu và tiêu chí hoạt động đó được dựa vào niềm tin:

Mạng Lưới Blogger Việt Nam tin rằng thăng tiến tự do cho mỗi cá nhân là điều kiện tiên quyết để thăng tiến tự do xã hội. Mỗi công dân Việt Nam phải có quyền quyết định vận mạng của mình và góp phần quyết định vận mạng của đất nước. Để được như thế mọi người phải có quyền tự do tư tưởng và tự do bày tỏ quan điểm, không bị can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông. Bởi vậy, với tất cả khả năng của mình, Mạng Lưới cam kết bảo vệ tự do cá nhân khỏi sự áp bức của mọi loại quyền uy áp đặt.

Mạng Lưới Blogger Việt Nam tin rằng nhân quyền không những chỉ là lợi ích thích đáng của mọi người dân mà còn là đòi hỏi của thời cuộc và khát vọng chung của nhân loại. Nhân quyền phải cho tất cả. Mạng Lưới Blogger Việt Nam trước sau như một, cam kết bảo vệ và thăng tiến quyền con người ở Việt Nam, góp phần thúc đẩy nhân quyền trong khu vực và trên thế giới.

Mạng Lưới Blogger Việt Nam tin rằng mọi công dân Việt Nam phải được tôn trọng với những phẩm giá bẩm sinh, được đối xử trong tinh thần bác ái và được bình đẳng trong việc mưu cầu hạnh phúc cá nhân. Do đó, việc thiết lập một nền dân chủ đa nguyên, trong đó sự khác biệt chẳng những được tôn trọng mà còn được khuyến khích như một động lực của sự phát triển xã hội, là cái mà tất cả chúng ta cần hướng đến và nó đang trở thành nhu cầu cấp thiết của thời cuộc.

Mạng Lưới Blogger Việt Nam tin rằng việc bảo vệ tự do, nhân quyền và bình đẳng của hơn 90 triệu người dân không phải là trách nhiệm riêng, quyền hạn riêng của một nhóm người, một tổ chức, hay một nhà nước mà là bổn phận của tất cả công dân Việt Nam. Mạng Lưới Blogger Việt Nam là tập hợp của những blogger - công dân Việt Nam muốn cùng nhau liên kết để thực hiện trách nhiệm thiêng liêng ấy một cách hữu hiệu hơn.

Nếu bạn đồng ý với mục tiêu, tiêu chí hoạt động và niềm tin của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, bạn có thể tự xem mình là một thành viên của Mạng Lưới và đồng hành cùng với các thành viên khác trong các sinh hoạt truyền thông về nhân quyền trong nước và quốc tế; nâng cao nhận thức xã hội về nhân quyền; bảo vệ các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền; đào tạo blogger; giám sát các hoạt động của nhân viên công quyền...

Mời bạn, chúng ta hãy cùng nhau bước qua nỗi sợ hãi và hành động để có thể dấy lên hy vọng thay đổi cho một nước Việt Nam mới của chúng ta và con cháu chúng ta; hãy công khai tiến bước để bảo vệ nhân quyền, tự do, bình đẳng, phẩm cách và giá trị của chính mỗi người, của mọi công dân Việt Nam, nhằm góp phần xây dựng một tương lai mới cho đất nước Việt Nam.

Ngày 10 Tháng 12 Năm 2013

Mạng Lưới Blogger Việt Nam
mangluoiblogger.blogspot.com

HỌA KỀ LƯNG

HỌA   KỀ   LƯNG

Rời  hang  động  loài  qủy  dữ  xuống  núi
Khắp  đất  lành  ngập  ngụa  máu  xương  rơi
Bao  con  thơ  mềm  người  trong  đói  khát
Tay  vợ  hiền  chai  sạn  chốn  lao  công
Ngày  qua  đêm  trông  ngóng  mãi  tin  chồng
Cùm  oan  nghiệt  trói  nhục  đời  trai  trẻ
Hỡi  lũ  man  di  mặt  người  dạ  thú
Tâm  thù  hằn  đày  đọa  kẻ  thế  cô
Gục  mặt  gian  tham  hùa  nhau  vơ  vét
Để  bỏ ngày  đói  khát  chốn  rừng  sâu 
Dân  Nam  ta  có  làm  gì  nên  tội
Mà  bọn  người  gieo  cái  ác  triền  miên
Một  giải  non  sông  hoa  gấm  ngày  nào
Nay  chỉ  còn  mảnh  thân  tàn  rữa  nát
Bè  cánh  lũ  gian  tìm  cách  đục  khoét
Chán  chê  rồi  đem  rao  bán  khắp  nơi
Thảm  họa  mẫu  quốc  ngày  trước  chưa  mờ
Nay  muốn  rước  lũ  phương  bắc  thâm  độc
Đồng  hóa  mất  gốc  không  còn  xa  nữa
Hỡi  dân  hùng  hãy  quyết  chí  vùng  lên !

PHAN   NGHĨA

09 December 2013

Nhanh trí

Hai người đàn ông đi ngược chiều gặp nhau, một người hỏi:

- Anh có thấy...?
- Anh bị mất chiếc dép phải không ?
- Phải !
- Dép da ?
- Phải, đúng vậy.
- Và không được mới lắm ?
- Đúng rồi !
- Màu đen chứ gì ?
- Vâng !
- Chiếc dép của chân trái ?
- Chính xác! Ông thấy nó phải không, vui lòng cho tôi xin lại đi ...
- Ồ không, tôi không thấy nó đâu cả !
- Thế sao ông biết rõ ràng chiếc dép tôi mất như vậy ?
- Tôi nhìn vào chiếc dép còn lại ông đang mang.
___________________

Một bà mẹ hỏi chàng rể tương lai:
- “Nếu bác và con gái bác rớt xuống sông nhưng chỉ cứu được một người thì cháu sẽ cứu ai?”

Anh chàng láu cá không do dự trả lời:
 - “Cháu sẽ cứu bác. Sau đó nhảy xuống sông chết cùng con gái bác để trọn tình.”

... hạ tắc loạn

TBT Nguyễn Phú Trọng đã công khai hợp thức hóa tham nhũng, hối lộ

“Đường Tăng khi xưa đi lấy kinh sang đất Phật cũng phải hối lộ mới lấy được kinh. Cho nên chúng ta phải xem xét bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt. Phải có cái nhìn khoa học, biện chứng về tham nhũng” (Nguồn: Báo Tiền Phong).

Điều Rất May Của Bên Bại Cuộc

Tưởng Năng Tiến
Đôi dép lốp của Bác, rõ ràng, không chỉ đã đi vào trái tim toàn thể nhân loại mà còn đi vào vũ trụ và (sẵn trớn) đi luôn vào lịch sử văn học nghệ thuật, và danh nhân của dân tộc Việt.

Tôi bỏ ra nhiều thập niên để nghiên cứu về Vũ Trụ Học, Thiên Văn Học, Đại Dương Học, Địa Chất Học, và Nhân Chủng Học. Sau khi đã hoàn toàn thông thiên văn/ đạt địa lý, và hiểu thấu (hết trơn hết trọi) mọi lẽ cơ trời huyền diệu  – cuối đời –  thấy mình vẫn còn rảnh rỗi quá xá nên bèn tìm hiểu thêm (chút đỉnh) về tiểu sử của những vị lãnh tụ được sùng bái (nhất) trong khối cộng: Stalin, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Hồ Chí Minh.

Cả năm đều có một điểm này chung: khi họ chuyển qua từ trần thì dân chúng đều khóc lóc quả trời, quá đất – đến nỗi có nơi bị lụt lội, thiệt hại đến mùa màng vì dư ... nước mắt!
 
Họ còn có một điểm chung nữa: không ai mang dép khi tiếp xúc với quần chúng, trừ ông Hồ Chí Minh. Cuộc đời của nhân vật huyền thoại này gắn liền với đôi dép như hình với bóng, ông lê la dép khắp mọi nơi – kể cả khi đi công du ở nước ngoài:

Khi Bác tới thăm 1 ngôi đền lớn và cổ kính của Ấn Độ thì có một chuyện lạ xảy ra. Lúc Bác bước vào trong đền, để lại đôi dép bên ngoài thì bất ngờ có hàng trăm phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim ập đến vây kín đôi dép cao su của Bác.

Họ như phục sẵn từ rất lâu rồi, một số phóng viên còn cúi xuống dùng tay sờ, nắn đôi dép tỏ vẻ lạ lùng và trịnh trọng. Sau đó họ vội vàng ghi chép lại những gì mình vừa thấy. Từ những góc độ, cự ly khác nhau, các phóng viên thi nhau bấm máy, họ chen nhau để có được những vị trí thuận lợi.

Rồi tiếp theo đó là cảnh đám đông dân chúng kéo đến từ các ngả, ùa vào để được ngắm nghía đôi dép.Đó chỉ là một cảnh tượng tự hào và cảm động mà bạn bè quốc tế đã dành cho đôi dép của Bác trong rất nhiều nơi Bác tới thăm.  (“Trăm phóng viên nước ngoài vây kín đôi dép của Bác” – Tin Ngắn, 19/05/2013).

Cảnh tượng “tự hào và cảm độngmà bạn bè quốc tế đã dành cho đôi dép của Bác” ở New Delhi, thực ra, chả là cái (đinh) gì  nếu so với lòng sùng kính của đồng bào trong nước – nhất là đối với những người ở vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng: 

“Không dối lòng đâu, mỗi lần đi “dép Bác Hồ” là thấy bụng không nghĩ điều trái, chân không đi hai đường. Chẳng riêng mình, cả làng này ai cũng vậy. Chiến tranh khỏi nói, hòa bình rồi có biết bao chuyện khó…

Bông Rẫy hồi chiến tranh chỉ có 50 hộ, bây giờ đã lớn lên gần 120 hộ mà không còn ai đói, chỉ còn 10 hộ nghèo. Ai cũng có xe máy, hơn một nửa đã làm được nhà xây. Không ai nghe lời kẻ xấu vượt biên trái phép… Không nhờ phép lạ “dép Bác Hồ” sao được thế? Có “dép Bác Hồ” là thắng tất!

Đinh Ngút cất lên một tràng cười sảng khoái. Ông nâng niu đôi dép mòn vẹt trên tay nói tiếp:

      - Bông Rẫy bây giờ hãy còn gần hai chục người giữ được “dép Bác Hồ” năm sáu chín như mình. Năm ngoái huyện đội vào xin mấy đôi, nói để làm bảo tàng, dân làng mới cho. Phải để giáo dục bọn trẻ chứ. Mất “dép Bác Hồ” là giẫm phải vết chân kẻ xấu đấy. Mừng là lũ thanh niên bây giờ rất biết nghe lời người già. Chúng nó cũng học theo đi “dép Bác Hồ”. Nhất trí với nhau: Ngày thường không nói, có ngày lễ là phải đi “dép Bác Hồ”. Hôm học tập đạo đức, tư tưởng Bác mới đây, già trẻ ai cũng lấy “dép Bác Hồ” ra mang, y như là chuẩn bị lên đường hồi chiến tranh vậy…

(Lê Quang Hồi. “Làng Bông Rẫy Mang Dép Bác Hồ.” Quân đội Nhân dân 1-6-2009).

Đôi dép lốp của Bác, rõ ràng, không chỉ đã đi vào trái tim toàn thể nhân loại mà còn đi vào vũ trụ và (sẵn trớn) đi luôn vào lịch sử văn học nghệ thuật, và danh nhân của dân tộc Việt:

 “... vào năm 1970, một năm sau ngày Bác đi xa, nhà thơ Nam Yên đã viết một bài thơ lời lẽ dung dị nhưng rất mực thắm thiết, gợi lên cảm xúc thương mến Bác vô bờ. Bài thơ được nhạc sĩ Vân An phổ nhạc:
"Dép Bác, đôi dép cao su
Bác đi từ ở chiến khu Bác về
Phố phường trận địa
Nhà máy đồng quê
Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi,
Dép này, Bác trải đường dài
Dép này, Bác mở tương lai nước nhà
Đường đi chiến đấu gần xa
Dấu dép cha già dẫn lối con đi."
Bác Hồ là biểu trưng của tất cả những gì dung dị, mang một bản sắc dân tộc Việt Nam nhuần nhị, sâu xa nhất. Ngay cả quần áo, đồ dùng tiện nghi của Bác cũng đơn sơ, mộc mạc trong đó đôi dép của Bác trở thành một hình tượng thân quen, thắm thiết đối với chúng ta... (Trung  Đức. “Đôi Dép Bác Hồ Đôi Dép Cao Su.” vietnamngayve 23-03-2013).

Hai chữ “chúng ta” trong câu văn thượng dẫn, tiếc thay, không bao gồm cái đám dân miền Nam – nơi vùng địch tạm chiếm. Ở đây, trong suốt chiều dài của cuộc chiến vừa qua không ai được mang dép như Bác, và người dân cũng thiếu vắng hình ảnh của của lãnh tụ kính yêu (cỡ Bác) để tôn thờ. Và có lẽ vì thế nên có người đã sinh ra lòng đố kỵ, ghanh tị, rồi thốt ra những lời lẽ xúc phạm đến Bác một cách rất nặng nề:

Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. (Vũ Biện Điền. Phiên Bản Tình Yêu, Volume II. Fall Church,Virginia: Tiếng Quê Hương, 2012).

Nói thư thế là “vơ đũa cả nắm.” Ở đâu mà không có kẻ này, kẻ nọ. Ở Hà Nội, cũng có người ngắm đôi dép bác Hồ với đôi mắt ráo hoảnh:

“Một lần tôi quay cảnh ông thăm đồng bào nông dân ở Hải Dương, mùa hè năm 1957. Sáng sớm hôm ấy trời mưa to, trên đường còn lại những vũng nước lớn. Ðến một đoạn đường lầy lội ông tụt dép, cúi xuống xách lên. Trong ống ngắm của máy quay phim tôi nhìn rõ hai bên vệ cỏ không bị ngập. Tôi chợt hiểu: ông không đi men vệ đường bởi vì ông muốn chưng đôi dép.” (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày, 2nded. Fall Church, Virginia: Tiếng Quê Hương, 2008).

Ồ thì ra Bác dùng dép để chưng! Thảo nào mà đôi dép râu đã được toàn ban Tuyên Giáo Trung Ương cầy cục, bằng mọi cách, để đặt nó lên ...bàn thờ tổ quốc cho bằng được mới thôi!

Và thế mới biết là cái khái niệm “chính chủ” của (đương kim) Bộ Trưởng Đinh La Thăng không phải là hoàn toàn vô lý hay vô cớ. Cùng là đôi dép cao xu, sản xuất hàng loạt, nhìn thô kệch y hệt như nhau mà Bác thì xử dụng nó như  là vật trang sức cho cuộc đời hoạt động chính trị của mình, và cũng phần nào nhờ nó mà sự nghiệp cách mạng của Bác có lúc đã lên đến “đỉnh cao chói lọi,” còn đám thường dân (dấm dớ) mà buộc phải xỏ chân vào là đời kể như khốn nạn – nếu không bỏ mạng thì cũng bỏ mẹ như chơi. Coi nè:

12/8/1967- Bù Đốp, miền Nam Việt Nam
Tù binh Việt Cộng 15 tuổi… Ảnh và chú thích:chauxuannguyen.org

Hình ảnh này nếu dùng để minh hoạ cho bài thơ “Vay Tuổi” của Phùng Cung là (kể như) hết xẩy:

Con vừa mười sáu tuổi đời
Nửa đêm vay tuổi lấy người chiến tranh
Đèn con tiễn đến cổng đình
Quay về hụt bước ngỡ mình chiêm bao
Khe Sanh – Dốc miếu là đâu
Vắng con nhớ đến bạc đầu cô đơn
Máu chiều gội đỏ hoàng hôn
Nghĩa trang mồ giả, nắm xương không mồ...

Dù cũng sinh ra trong thời chinh chiến nhưng vì sống bên này vỹ tuyến nên tôi may mắn hơn những người cùng tuổi với mình. Trong khi họ chân đi dép râu, vai đeo ba lô, tay ôm súng đạn vượt Trường Sơn thì  tôi vẫn được ngồi yên lành ở trường trung học công lập Trần Hưng Đạo – Đà Lạt.

Dù vậy, rất ít khi tôi chịu ngồi yên trong lớp. Một tuần, ít nhất cũng có đến hai ba hôm tôi bỏ học. Tôi ra ngồi cà phê Tùng (Đà Lạt) để tập uống cà phê đen, hút thuốc lá Basto Xanh, nghe nhạc Beatles hay đọc Im Lặng Hố Thẳm và Hố Thẳm Tư Tưởng của Phạm Công Thịện  – nếu vào buổi sáng.

Chiều, tôi đi lang thang quanh đồi Cù rồi ngồi dựa gốc thông hát nhạc vàng (Thu Vàng, Chiều Vàng) nho nhỏ chỉ đủ chính mình nghe:
     -Chiều hôm qua lang thang trên đường
     Hoàng hôn xuống, chiều thắm muôn hương
     chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng
     Có mùa Thu về, tơ vàng vương vương

     -Trên đồi xanh chiều đã xuống dần
      Mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng.
     Riêng mình ta ngồi ngắm quanh trời
     Lạnh lùng nghe tiếng chim chiều gọi đàn

Mãi cho đến sau Mùa Hè Đỏ Lửa, khi đã hai mươi tuổi, tôi mới nhận được giấy mời của Nha Động Viên đi trình diện nhập ngũ “để sát cánh cùng quân dân cán chính chống cộng sản xâm lược.”

     -Ý Trời, cộng sản xâm lược hồi nào vậy cà?
     - Sao hồi giờ không nghe ai nói gì hết trơn hết trọi về cái vụ này há?
     - Mà họ xâm lược làm chi mới được chớ?  Why and for what?

Đến khi tôi tìm ra được giải đáp cho những câu hỏi trên thì mọi sự đã trở nên quá muộn, tôi đã trở thành một kẻ thuộc bên thua cuộc.

Dù sao (nói có thánh thần làm chứng) tôi vẫn cảm ơn Trời là đã may mắn không sinh ra và lớn lên ... ở Bên Thắng Cuộc, cái bên mà vô số thiếu niên hay thiếu nữ phải đi dép râu để cùng với Bác hành quân rồi trở thành “những đoá hoa bất tử nơi ngã ba Đồng Lộc” hay tù binh trên đường Trường Sơn. Hiếm hoạ mới có người vào đến được Sài Gòn để rồi trở về với con búp bê, hay cái khung xe đạp trên vai!

Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh. Bên nào thắng thì nhân dân cũng bại. Nhưng ở bên bại cuộc (chắc) đỡ bại hơn, chút xíu!

(Nguồn ảnh: sacei07.org)

06 December 2013

Nelson Mandela và Hồ Chí Minh,

Hai người, hai thái cực

Một vĩ nhân của nhân loại vừa đi vào cõi Vĩnh Hằng. Cầu mong người được ngàn thu yên giấc.

Chiều hôm nay, tất cả các đài truyền hình tại Montréal đều nói về nhân vật này, với những lời phát biểu của các Tổng Thống, Thủ Tướng, các nhân vật chính trị quan trọng trên khắp thế giới. Tất cả đều đồng ý ở một điểm : Nelson Mandela là một vĩ nhân.

Điều gì đã khiến nhân vật này được mọi người ngưỡng mộ như vậy? Có điều gì khác biệt giữa  ông ta và các nhà cách mạng khác, đặc biệt là Hồ Chí Minh?

Mandela sống ở Nam Phi, một quốc gia mà những người da đen như ông bị kỳ thị bởi một chính quyền của những người thực dân da trắng. Sự khác biệt giữa hai nhóm người không cùng một mầu da này đã dẫn đến một cuộc tranh chấp đầy đau thương, tưởng chừng không có gì có thể ngăn cản được sự tan vỡ, tiêu diệt lẫn nhau, và đưa quốc gia này đến chỗ diệt vong. Dĩ nhiên, là một người da đen, ông Mandela không thể ngồi yên để nhìn thấy những người da đen như ông bị kỳ thị, chèn ép tại chính nơi mà tổ tiên họ đã khó khăn để khai phá. Ông đã nhập cuộc, đã đấu tranh, và đã bị ở tù gần 30 năm.

Việc này cũng thường thôi.

Trên thế giới, trước và sau Mandela, nhiều lãnh tụ đấu tranh cũng đã ở tù ngang ngửa, hay nhiều khi còn lâu hơn thời gian Madala ngồi tù.

Cái khác biết là Mandela  đã làm được điều mà các người khác thất bại.

Mandela đã thực hiện được giấc mộng của ông là “Một Quốc Gia trong đó mọi người có thể chung sống với nhau, đen cũng như trắng”.

Ông không xử dụng bạo lực, không chủ trương chém. giết, tiêu diệt kẻ thù, tuy việc này đối với ông dễ dàng khi nắm quyền trong tay. Không bao giờ ông chủ trương  chiến tranh một mất, một còn. Ông chỉ kêu gọi sự công bằng, và quyền làm người cho người da đen.

Khi ông  lên làm Tổng Thống, không có trả thù, hay bới móc chuyện cũ, không có tòa án nhân dân, không có biển máu, không có tù tội.

Nam Phi, thay vì  tan biến, được trở thành một quốc gia Dân Chủ thực sự, người da đen có quyền làm người như người da trắng, và người da trắng không phải cuốn gói về Anh, như người Pháp trong trường hợp Algérie, một xứ Phi Châu khác.

Tại Việt  Nam  ta, trước Mandela, Hồ Chí Minh cũng được tôn sùng như một nhà đại cách mạng. Hồ Chí Minh và những người CS cũng theo đuổi giấc mơ giải phóng dân tộc, nhưng họ đi theo một con đường khác. Họ dựa vào sức mạnh quân sự và súng đạn ngoại bang, Nga và Tầu. Quốc ca của miền Bắc có câu “thề phanh thây, uống máu quân thù”, còn bài hát chính thức của Giải Phóng Miền  Nam  thì “Quét sạch nó đi, lời Bác đã dậy chúng ta”. Kết quả là trên 5000 người dân Huế đã bị chôn sống vào dịp Mậu Thân, và sau 1975, rất nhiều người Miền  Nam  đã bị hành quyết, hay tàn đời trong các trại "cải tạo".

Và hiện nay thì sao? Dân tộc Việt  Nam  bị chia rẽ thành hai khối người coi nhau như kẻ thù truyền kiếp. Giữa họ, là hận thù, là tang tóc, những thây ma, trên pháp trường, trong trại "cải tạo", hay ngoài biển Đông. Hai khối người này, mỉa mai thay, lại cùng một mầu da, một tiếng nói.

Nếu như Việt  Nam  đã có một Mandela!

Nếu như Việt  Nam  có được một Mandela, thì cuộc đời của chúng ta đã khác hẳn.

Tiếc thay, Việt  Nam  lại có Hồ Chí Minh! Âu cũng là tai trời, ách nước.

Mandela là một tấm gương sáng cho nhân loại soi chung. Ước mong cuộc đời của người sẽ là một bài học cho giới trẻ Việt Nam.

Trần Mộng Lâm
__________________________ 

Góp ý:  
Việt Nam đã từng có biết bao Nelson Mandela
Ai nói Việt Nam không có được một Mandela? Thời Đệ nhứt Cộng hòa của Việt Nam có lẽ ông Trần Mộng Lâm đã "lớn" rồi, đã có sự hiểu biết chân chính rồi. Như vậy tại sao ngài ấy lại bảo như vậy. Hơn nữa, Ông Nelson Mandela đâu có phải là một con chồn (xin lỗi) mà ngài Trần Mộng Lâm lại đem một con cáo xếp cho đứng chung!!!

Việt Nam đã từng có biết bao Nelson Mandela, chớ không phải một. Dĩ nhiên là những Nelson của mỗi dân tộc có những khác biệt, tùy theo tình hình lịch sử của nước đó.

Tổng thống Nam Phi có công đưa dân tộc Ông tới con đường dân chủ, an ninh thịnh vượng thì Tổng thống Việt Nam thời Đệ nhứt Cộng hòa cũng đã có con đường cùng mục đích. Trong một thời gian ngắn, Ngài đã đưa Việt Nam từ một nước hỗn loan, chia năm xẻ bảy, trở thành một nước AN NINH THỊNH VƯỢNG. Ngài đã lập lại một thời đại thanh bình, nếu không nói là Thái bình. Duy có một điều khác biệt giữa hai vị là, ngài Tổng thống Nam Phi được toàn dân ghi nhớ công ơn Ngài và khi Ngài mất thì cả nước rũ cờ tang để thể hiện lòng tiếc thương, đau buồn của họ đối với vị Ân nhân dân tộc khả kính nầy. Đó là điều đáng trân trọng. Còn Việt Nam thì thế nào?

Nhìn người rồi ngẫm lại mình, sao mà ngao ngán lẫn xót xa. Để đền đáp lại công ơn của người đã lèo lái con thuyền Việt Nam ra khỏi bao đau thương sóng gió, người Việt Nam đã tìm mọi cách và sau cùng sát hại vị ân nhân của mình cho đến tử thương. Sau khi đạt mục đích rồi, họ mở tiệc ăn mừng chiến thắng!

Nhìn lại hai thái cực mà thấy ngậm ngùi, chua xót.

Dân tộc Việt Nam anh hùng ư? Có chăng chỉ là những kẻ cuồng sát và tham ăn (bẩn). Cái nhục đó ngàn đời còn lưu dấu trên gương mặt người nào là người Việt Nam, như một vết chàm và mãi mãi không bao giờ phai.

Đừng nên ước mong Việt Nam có được một Mandela nữa. Tại sao? Vì sẽ phải bận tâm tìm cách ám sát hoặc giết hại nữa mà thôi. Hay tận hưởng đi, những công trình mà mình đã bỏ công sức ra tạo dựng! Và trên hết, nên hiểu rõ ý nghĩa của "từng người, từng sự việc" mà đem so sánh chớ đừng nên xếp cáo đứng cạnh đại bàng thì sẽ khiến cho mọi người không hiểu được ý của người viết muốn nói gì .(*)

H.t. Ngọc Huệ, Virginia, Hoa Kỳ
__________________
* Chú thích: Mục đích việc làm của Ông Nelson Mandela là giải phóng dân tộc ra khỏi ách kỳ thị, áp bức của bọn da trắng, để đưa đất nước, dân tộc Ông đến con đường Dân chủ. Còn Mục đích và việc làm của Hồ Chí Minh thì cả thế giới đều hiểu rõ (chắc chắn, đã là con dân Việt Nam thì lại càng hiểu rõ hơn ai hết). Vì vậy có thể nào đem hai người ra so sánh được chăng? Có ai đó bảo, ước gì được làm người Nam Phi, dù chỉ trong một phút giây (để hưởng cái vinh dự đó). Xin đừng làm ô uế một Vĩ nhân bằng cách khiến cho Ông dính phải mùi Cáo !!!(NH)

"Mùa Xuân Tỉnh Nhỏ", điểm phim

Trọng Đạt

Mùa Xuân Tỉnh Nhỏ là tên  cuốn phim cổ điển bất hủ của nền điện ảnh  Trung Hoa Dân Quốc quay năm 1948,  một năm trước khi bị mất nước vào tay Cộng Sản, tên Hán tự Tiểu Thành Chi Xuân 小 城 之 春, dịch sang tiếng Anh là Spring in Small Town. Một truyện tình buồn và một bi kịch thời hậu chiến. Năm 2002 được Hoa Lục thực hiện lại (remake), tên tiếng Anh có đổi khác Springtime in Small Town nhưng tên Tầu vẫn như cũ. Trên thế giới có nhiều phim hay được quay lại nhưng thường thì phim remake không bằng phim gốc (original).

Phim quay năm 1948, đen trắng do đạo diễn Fei Mu dựa theo truyện ngắn của Li Tianji, các tài tử Wei Wei, Shi Yu, Li Wei, Cui Chaoming, Zhang Hongmei, dài một tiếng rưỡi (85 phút). Tiểu Thành Chi Xuân đã được Hiệp Hội Điện Ảnh Hồng Kông năm 2005 đánh giá là cuốn phim hay nhất mọi thời đại của Trung Hoa. Ngày nay nó được coi như một trong những cuốn phim Tầu hay nhất (Il est aujourd'hui considéré comme l'un des meilleurs films chinois jamais réalisés, yahoo.fr). Từ sau 1949, phim  bị coi như văn hóa phản động mãi cho tới thập niên 1980, Văn Khố Điện Ảnh của Hoa Lục cho làm lại ấn bản mới, từ đó nhiều người đã được biết tới cuốn phim cổ điển này. Nhà đạo  diễn Wang Chao thuộc thế hệ thứ sáu của Hoa Lục cho biết ông rất thích phim Tiểu Thành Chi Xuân và hâm mộ nhà đạo diễn Fei Mu.

Hơn hai chục năm trở lại đây, Tiểu Thành Chi Xuân (1948) đã được nhiều người hâm mộ. Năm 2002 hãng phim của Hoa Lục và hai hãng phim Pháp Orly Films, Paradis Films, hãng phim Hòa Lan Fortissimo Films đã hợp tác bỏ vốn để quay lại cuốn phim xưa cũ này có lẽ  không ngoài mục đích bảo tồn văn hóa. Đạo diễn Tian Zhuangzhuang thực hiện với sự cộng tác các tài tử Hu Jingfan, Wu Jun, Xin Baiqing, Ye Xiaokeng, Lu Sisi. Phim mầu dài hai tiếng (116 phút), hơn phim cũ nửa giờ, năm 2002 được giải thưởng San Marcos tại Đại Hội Điện Ảnh Venice, năm sau 2003 được giải Don Quixote tại Đại Hội Điện Ảnh Quốc Tế Tromso, Na Uy.

Trước hết nói về cuốn phim cũ đen trắng quay năm 1948. Truyện phim xẩy ra tại một tỉnh nhỏ năm 1946, sau khi cuộc chiến tranh Hoa -Nhật vừa kết thúc.

Sơ lược truyện phim

“Một gia đình quí tộc giầu có sau hoang tàn đổ nát của chiến tranh, tòa nhà chính đã bị bom đạn dập nát,  còn lại những phòng nhỏ hơn, gạch đổ lổng chổng ngoài vườn. Gia đình chỉ còn một người chồng bệnh hoạn Dai Liyan, cô vợ trẻ đẹp Yuwen, em gái Dai Xiu 16 tuổi, lão bộc  trung thành Lao Huang. Người chồng nói mình bị lao nhưng vợ chàng lại cho là bệnh tâm thần, anh hay cáu kỉnh nên hai vợ chồng ở riêng mỗi người một phòng. Hàng ngày cô em út đi học, người thiếu phụ đi chợ mua thuốc bắc cho chồng, rồi tựa cửa thêu thùa, cuộc sống gia đình không hạnh phúc bên người chồng do cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Cô em gái hằng ngày đi học, về trồng cây cảnh bonsai, thế giới của cô hoàn toàn khác anh Dai Liyan. Người chồng tiếc nhớ quá khứ, tiếc nhớ dinh cơ tài sản bị chiến tranh tàn phá rồi càng thêm bệnh. 

Hai vợ chồng sống cách biệt, cả ngày thường không nói với nhau đến nửa nhời. Một hôm Dai Liyan bảo vợ:

-Tôi thấy mình chịu đựng quá nhiều, mình nên rời xa tôi, tôi tiếc nhớ quá khứ sản nghiệp ông cha. Lấy nhau tám năm, tôi bệnh hoạn sáu năm, tôi không muốn mình khổ vì tôi mãi.

Vợ hiền cúi đầu nói em đã quên chuyện cũ. Cuộc đời chị ngày nào cũng như ngày nấy.

Một hôm đẹp trời, Zhang Zhichen người bạn Dai Liyan sau mười năm xa cách từ phương xa tìm đến, cả hai vui mừng khôn xiết, được biết Zhang nay đã trở thành bác sĩ y khoa tại Thượng Hải, Dai chúc mừng bạn rối rít: Cống hỷ, cống hỷ !

Yuwen ra chào bạn của chồng và nhận ra chàng, nàng nói cho Dai biết đã quen Zhang, Dai chỉ tưởng hai người ở cùng tỉnh, nhưng thực ra họ đã là đôi tình nhân thắm thiết với nhau từ mười năm trước.

Ngày đầu nàng đem chăn mền, bình nước vào phòng dành riêng cho người bạn cũ, có lần nàng nhỏ lệ tiếc thương cho cuộc tình tan vỡ của hai người. Hôm sau bác sĩ khám bệnh cho bạn, chàng nói riêng với Yuwen, chồng nàng chỉ là bệnh tưởng, cần phải tắm nắng. Rồi bốn người cùng đi dạo chơi ngoại ô đổ nát, họ bơi thuyền trên sông. Sáng ngày thứ ba, Zhang và người yêu cũ hẹn nhau ra ngoài bờ thành tâm sự, nàng nhắc chuyện xưa.

Hôm sau Zhang khám bệnh chăm sóc Dai, khuyên bạn bớt nóng giận. Yuwen, vợ chàng nói với Zhang, lấy nhau một năm thì chàng bị bệnh, tình tình khó chịu cáu gắt luôn luôn, nàng tâm sự.

 -Em nghĩ tới anh, tim em vẫn dành cho anh, em thương hại Dai Liyan..

Nàng khóc với người yêu. Được chín ngày, Zhang xin ra đi nhưng Dai muốn chàng ở lại vui chơi với gia đình và cô em. Một buổi tối, Yuwen tới phòng riêng gặp Zhang, chàng lại muốn nàng không được lén lút  mà phải nói cho chồng biết, Yuwen đồng ý, nàng cũng ghen tỵ lại muốn chàng đừng vui chơi thân mật với cô em chồng. Một hôm Dai Liyan bàn với vợ để nhờ nàng mai mối cô em gái với Zhang, hai năm nữa cô bé sẽ lên 18 tuổi.

Hôm sau, Zhang và Yuwen hẹn gặp nhau bên ngoài, nàng nói lại ý của chồng muốn gả cô em cho chàng. Zhang đau khổ, họ than thổ cho cuộc tình tan vỡ của hai người mười năm trước.

Ngày sinh nhật thứ 16 cô em gái, gia đình cùng ăn tiệc, tối ấy Zhang và Yuwen quá chén say sưa. Dai Liyan để ý thấy hai người nhiều cảm tình với nhau rõ rệt. Tối ấy Yuwen tới phòng Zhang, chỉ trong gang tấc họ đã sa xuống hố sâu tội lỗi. Tối ấy cả ba người chồng, vợ, bạn đều không ngủ nổi. Dai ngỏ ý với vợ, anh nói muốn chết để nàng được hạnh phúc bên Zhang. Hôm sau người bạn muốn ra đi, Dai giữ lại và nói chàng nên ở lại để làm cho nàng hạnh phúc, nàng cần anh, Zhang tự nhận lỗi và nói Dai hãy tin tưởng nàng.

Dai uống thuốc quá liều định quyên sinh để hy sinh hạnh phúc cho bạn và vợ. Zhang cứu bạn rồi ra đi”

Một cuốn phim độc đáo, toàn bộ chỉ có đúng năm người gồm ba nhân vật chính, hai nhân vật phụ không hơn không kém, cốt truyện chỉ diễn ra trong khoảng hai tuần lễ. Có người cho đây là một vở kịch nhiều hơn là điện ảnh. Cuốn phim thể hiện một bi kịch thời hậu chiến với tình yêu, tiếc nhớ, đau khổ, hy sinh, đạo lý và tràn trề tình thương đồng loại. Nhân vật chính Yuwen người đàn bà bất hạnh giam hãm cuộc đời ảm đạm, thê lương bên người chồng bệnh hoạn, cáu kỉnh. Dai Liyan người chồng bệnh tưởng, tiếc nhớ quá khứ, đau khổ vì mất mát do binh đao khói lửa gây ra, Zhang nhà trí thức tiếc nhớ mối tình tan vỡ thời  thanh xuân không thể nào lấy lại được.

Họ là nạn nhân của chiến tranh, của hủ tục lỗi thời, chạy loạn lưu lạc hết nơi này sang nơi khác, bèo hợp rồi tan, sau mười năm xa cách gặp lại nhau trong hoàn cảnh éo le ngang trái. Zhang gặp lại người yêu Yuwen nay kéo lê cuộc đời bất hạnh bên người chồng cũng đau khổ như nàng, họ đều là những người đau khổ.

Gặp lại nhau, Zhang mới biết người yêu nay lại là vợ của bạn chàng. Mười ngày sau, hai người cùng dạo chơi ngoài bờ thành đổ nát, họ nói chuyện xưa, chàng tiếc nhớ quá khứ mười năm trước đây, và đổ lỗi cho mẹ nàng đã không chấp nhận chàng, nàng bảo.

-Bây giờ mẹ em mất rồi

Zhang đáp:

-Nhưng em đã có chồng, anh tiếc hồi xưa đã không nhờ người mai mối để bây giờ….

Mới đầu Dai Liyan tưởng bác sĩ Zhang và vợ chàng chỉ là người cùng tỉnh, chẳng bao lâu sự thật phơi bầy trọn vẹn nhất là tối hôm sinh nhật cô em gái. Dai Liyan đã tìm ra lối thoát để gỡ nút cho mối tình bộ ba éo le ngang trái này. Tối ây chàng bảo vợ:

-Tôi thèm được như Zhang, tôi ghen tỵ với hắn, hắn khỏe mạnh, yêu đời, từ ngày anh ấy đến đây nhà đầy sinh khí. Những năm gần đây tôi đã khiến cho mình sống trong tuyệt vọng, tôi thật chẳng xứng đáng làm chồng của mình. Tối hôm nay thấy mình uống rượu, thấy mình hạnh phúc, mình còn trẻ, tôi gần như quên rằng mình là vợ. Tôi nghĩ không xứng đáng làm chồng của em, tôi chỉ mong chết sớm để em bớt khổ. Mình còn yêu Zhang hay không? Mình cứ nói thật cho tôi biết, cứ nói thật đi!

Yuwen chỉ đáp

-Tối nay sao mình nói nhiều với em thế?

Hôm sau Zhang ngỏ ý muốn ra đi, Dai Liyan giữ bạn lại nhưng chàng ta nói:

-Tôi ở lại đây cũng chẳng giúp gì được cho anh.

Dai Liyan bèn nói thật.

 -Anh ở lại đây vì nàng hơn là tôi, nàng cần anh, có anh nàng sẽ hạnh phúc hơn, vì tôi mà nàng đã chịu nhiều đau khổ

Khi Dai đã nói hết sự thật, Zhang ra giọng u sầu bảo  

-Anh hãy tin ở nàng, chính tôi đã cư xử không đúng cương thường đạo lý, tôi xin chịu mọi trách nhiệm chứ không phải nàng

Giọng chàng u buồn khó tả, Zhang muốn nói nàng vẫn giữ trọn đạo phu thê để bạn yên tâm, Yuwen không phải là người đàn bà phản bội.

Hôm sau Dai Liyan thấy hai người nói chuyện xa xa ngoài đường lộ, lần này người chồng quyết định gỡ nút cho mớ bòng bong của cuộc tình tay ba ngang trái. Tối ấy chàng uống thuốc quá liều hôm sau mê man bất tỉnh trước sự lo âu hốt hoảng của tất cả mọi người. Anh quyết hy sinh cho hạnh phúc của bạn và và vợ hiền để đền bù những nỗi khổ mà họ đã chịu đựng từ mười năm qua.

Yuwen khóc lóc năn nỉ Zhang cứu chồng, chàng chẩn bệnh chích thuốc Dai Liyan bình phục.

Người khách ra đi, hành lý trên tay, hẹn mùa xuân năm sau trở lại.

Nelson Mandela qua đời

Cựu tổng thống Nam Phi, biểu tượng của phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, qua đời ở tuổi 95.

Mandela đã được điều trị bệnh phổi tại nhà từ tháng 9 đến nay, và trước đó ông nằm bệnh viện ba tháng khi bệnh trở nặng.

Tổng thống Nam Phi Zacob Zuma xúc động thông báo tin này trên truyền hình quốc gia hôm qua.  Ông nói. "Đất nước ta đã mất đi một người con vĩ đại"

"Hỡi những người anh em Nam Phi của tôi, Nelson Mandela yêu quý của chúng ta, vị tổng thống sáng lập nền dân chủ của chúng ta, đã ra đi. Ông qua đời bình yên trong vòng tay của gia đình vào lúc 20h50 ngày 5/12/2013. Ông đã yên nghỉ", Zuma thông báo lúc 21h57 GMT.

"Mặc dù chúng ta biết ngày này sẽ tới, chẳng điều gì có thể làm thuyên giảm nỗi mất mát sâu sắc và dai dẳng của chúng ta. Cuộc đấu tranh không mệt mỏi vì tự do đã khiến ông được thế giới kính trọng. Sự khiêm tốn, đam mê và nhân đạo của ông khiến ông được thế giới yêu mến", tổng thống Zuma nói.

Cờ Nam Phi sẽ được treo rũ từ hôm nay cho đến hết quốc tang, theo AFP.

**
Mandela từng là nhà hoạt động chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc apartheid và đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben với tội danh phá hoại chính trị.

Được thả năm 1990, ông dẫn dắt đất nước tới dân chủ, chấm dứt chế độ cai trị của người da trắng thiểu số và đảm bảo quyền bầu cử cho người da màu.

Vào ngày 27 tháng 4 năm 1994, một hàng dài những người Nam Phi hướng tới một trạm bỏ phiếu trong cuộc bầu cử ở thị trấn da đen thuộc Soweto bên ngoài Johannesburg.

Ông Nelson Mandela là tổng thống người da đen đầu tiên của Nam Phi nhiệm kỳ từ năm 1994-1999, đã rời khỏi chính trường vào năm 2004 và hiếm khi xuất hiện trước công chúng.

Năm 1993, ông được trao giải Nobel Hòa bình cùng Frederik Willem de Klerk, lãnh đạo Nam Phi da trắng từng ra lệnh thả ông. "Hoạt động của họ đã chấm dứt một cách hòa bình chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và đặt nền tảng cho một nước Nam Phi dân chủ mới", nhận xét của Ủy ban Nobel Hòa bình ca ngợi công lao của ông.

Rất nhiều nhà lãnh đạo và người nổi tiếng thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau bày tỏ lòng tôn kính và ngưỡng mộ ông. Ông nhận được Giải thưởng Nobel Hòa bình vào năm 1993.

Nelson Mandela phản đối mạnh mẽ vụ can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999 và gọi đó là nỗ lực của các cường quốc nhằm kiểm soát thế giới.

Năm 2002 và 2003, Mandela chỉ trích chính sách ngoại giao của chính quyền Tổng thống Mỹ George W. Bush trong nhiều bài phát biểu. Phê phán về việc thiếu sự tham gia của Liên Hiệp Quốc trong quyết định bắt đầu Chiến tranh Iraq, ông nói, "Đó là một bi kịch, những gì đang xảy ra, những gì Ông Bush đang làm. Nhưng Ông Bush giờ đây đang làm xói mòn Liên Hiệp Quốc."

Mandela cho rằng ông chỉ ủng hộ hành động chống lại Iraq nếu đó là do Liên Hiệp Quốc ra lệnh. Mandela cũng nói bóng gió đến việc Liên Hiệp Quốc có lẽ đã bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt chủng tộc vì đã không tuân theo ý kiến của Liên Hiệp Quốc và tổng thư ký Kofi Annan về vấn đề chiến tranh. "Có phải vì tổng thư ký Liên Hiệp Quốc hiện tại là một người da đen hay không? Họ không bao giờ làm vậy khi tổng thư ký là người da trắng".

Tại Nam Phi, Mandela còn được biết tới với tên gọi Madiba, một tước hiệu danh dự mà bộ lạc của ông thường trao cho những già làng.

Sau một nhiệm kỳ làm tổng thống, Mandela bước xuống. Thabo Mbeki Mvuyelwa, bên phải, tuyên thệ nhậm chức thay thế vào tháng Sáu năm 1999.

(TTR tổng hợp)

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...