19 November 2013

Hồi-ký của Bà Ngô Đình Nhu

Nguyễn Vy Khanh 

Ở hải-ngoại, từ giữa thập niên 1980, từ sau cuốn hồi-ký của ông Đỗ Mậu, các hồi-ký về cái chết của Việt-Nam Cộng-Hòa, về cái chết của Đệ nhất cộng hòa và anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, về cuộc chiến chấm dứt ngày 30-4-1975 ở miền Nam, ... đua nhau xuất-bản, tái-bản. Sử liệu thì cũng có dù giả-chân đầy ra đó, nhưng không thiếu những lời tự biện hộ hoặc tự đề cao cá nhân và phe nhóm; toàn là lời chót lưỡi của những con người khi có quyền lực đã không làm gì hoặc đã nhúng tay vô chàm hay đồng lõa, nay đánh bóng lại cái sai lầm, cái đồng lõa một thời, và nếu có thủ phạm thì toàn là người đã chết không còn tự biện hộ hoặc phản pháo lại “đồng đội” được nữa! Và mỗi năm đến ngày 2 tháng 11, người ta lại tổ chức tưởng niệm người đã chết, chạy theo khí tiết người bị giết, đăng đàn diễn thuyết, ra sách, viết báo về những chuyện tưởng chưa bao giờ nghe nhưng thực ra đã nghe đâu đó rồi! Năm nay là đã 50 năm sau ngày đảo chánh 1-11-1963, công tội đã rõ, nhưng người ta vẫn chưa thỏa mãn, đặc-biệt người ta mong đợi cuốn Hồi-ký của Bà Ngô Đình Nhu từ nhiều năm qua – mong đợi có thể vì tò mò và sẵn sàng “phản pháo, đính chính, chụp mũ” hơn là vì muốn biết Bà Ngô Đình Nhu nghĩ gì về những biến cố bi thảm đã xảy ra cho đất nước và cho riêng gia-đình bà và chồng bà.

Và cuối cùng, sau gần 47 năm im hơi lặng tiếng, bà viết xong tập hồi-ký ngày 22-8-2010 tại nhà riêng (Tịnh-Quang-Lâu) ở ngoại ô Rome nước Ý, do sự thôi thúc của cô gái út Lệ Quyên và con rể Olindo Borsoi (mà bà xem là do Chúa sắp đặt vì bà đã muốn giữ im lặng, tr. 190), và 6 tháng sau, ngày 24-4-2011, bà qua đời tại bệnh viện ở La-Mã, tên thánh Maria (bà trở lại đạo Công-giáo sau khi lập gia-đình), thọ 87 tuổi, sau 48 năm sống lưu vong. Hôm 2-11-2013 vừa qua tại nhà thờ giáo xứ Việt-Nam ở Paris, nhân lễ tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, thứ nam của ông bà Ngô Đình Nhu là ông Ngô Đình Quỳnh đã cho ra mắt quyển sách tiếng Pháp La République du Việt Nam et les Ngô-Đình ( Nền Cộng Hòa Việt Nam và Gia Đình Ngô-Đình) mà hơn một nửa là di-cảo hồi ký của mẹ ông. Ông đã cho biết lý do ra đời của quyển sách này như sau: “Cuốn sách được xuất bản hôm nay có một phần hồi ức của Mẹ tôi được ghi chép từ năm 1963. Đồng thời chúng tôi có ý muốn soi sáng một phần của lịch sử hãy còn mù mờ. Một số sai lầm về hình ảnh của hai anh em họ Ngô mà cả bên Tây Phương lẫn đảng Cộng sản Việt Nam đã lưu truyền. Từ quyển sách này chúng tôi muốn đem lại cái nhìn đúng đắn hơn, đồng thời có phần đóng góp của Mẹ tôi với nhãn quan có phần huyền bí của Bà. Thế thôi!». Chúng tôi được một tín hữu cùng giáo xứ với bà Nhu ở Paris gởi cho một bản; trong bài này chúng tôi chỉ ghi lại những điểm đặc-biệt hoặc ít được biết, hoặc theo cách nhìn và cắt nghĩa của bà Nhu, còn phần thần học tâm linh, sẽ để một dịp khác hoặc người khác trong ngành bàn đến.

Vỡ hồ chứa nước khai thác titan ở Bình Thuận, khu dân cư ngập trong bùn đỏ

Thí điểm bauxite đã thành thí mạng.

Vào khoảng 7h30 sáng ngày 18/11, bờ moong chứa nước khai thác titan của Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản và thương mại Bình Thuận (xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận) đã bị vỡ, khiến cả “biển” bùn đỏ và nước tràn ra cả khu vực dân cư.



Theo ghi nhận của phóng viên Sống Mới, bùn đỏ và nước đã ào ạt đổ thẳng từ trong mỏ titan băng qua đường rồi bắt đầu trôi xuống biển. Lượng bùn đỏ và nước  bẩn quá lớn đã nhuộm đỏ hàng km bờ biển

Toàn bộ tuyến giao thông nối Phan Thiết, qua huyện Hàm Thuận Nam với thị xã La Gi (đường ven biển qua Kê Gà) đã bị gián đoạn. Ghi nhận đến nay có 3 phụ nữ bị cuốn trôi xuống đồi phi lao, song may mắn là cả ba đã thoát chết nhờ gốc cây phi lao cản lại. Nhưng các vật dụng và hệ thống cơ sở hạ tầng lại không may mắn đến thế. Nước bùn đã cuốn trôi theo nhiều vật dụng khai thác, như gỗ, sắt thép tràn cả vào khu dân cư. Nhiều trụ điện trong khu khai thác đã bị đổ gãy do sức nước bùn quá lớn. Có 3 chiếc xe máy bị trôi theo dòng nước bùn. (Sống Mới online)

11 người thiệt mạng trong một vụ tấn công đồn cảnh sát ở Tân Cương

Thanh Hà

Ngày 16/11/2013, một đồn cảnh sát tại thành phố Ba Sở (Bachu), Tân Cương, Trung Quốc, đã bị 9 người tấn công. Hai công an thiệt mạng. Bất ổn định gia tăng tại vùng tự trị Tân Cương, nơi đa số người dân theo đạo Hồi.

Cảnh sát vũ trang thao dượt tại Urumqi, thủ phủ Tân Cương, ngày 29/06/2013
Reuters

Bản tin của Tân Hoa Xã ngày 17/11/2013 cho biết, vào chiều hôm qua (16/11/2013), một nhóm 9 người có trang bị dao và rìu, đã tấn công một đồn cảnh sát tại thị trấn Serikbuya thuộc huyện Ba Sở, Tân Cương. Công an Tầu Cộng đã bắn chết cả toán tấn công. Về phía lực lượng an ninh của chính quyền địa phương, có hai người bị sát hại và hai người khác bị thương. Truyền thông Tầu Cộng không cho biết thêm về danh tánh nhóm 9 người nói trên.

Vụ tấn công xảy ra vào lúc căng thẳng gia tăng giữa cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi và người Hán tại vùng tự trị Tân Cương.

Về phần mình, tổ chức Đại Hội Người Duy Ngô Nhĩ Thế giới có trụ sở tại Đức, đã lên tiếng cho rằng, nhóm người mà phía Tầu Cộng gọi là «nhóm tấn công» trên thực tế là những người biểu tình Duy Ngô Nhĩ. Hàng chục người biểu tình đã bị chính quyền địa phương bắt giữ trong thời gian gần đây. Do vậy, tổ chức này kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp ngay lập tức để « ngăn chặn chính quyền Tầu Cộng xả súng vào người biểu tình Duy Ngô Nhĩ để cấm họ bày tỏ chính kiến ».

Tân Cương là một vùng tự trị giàu tài nguyên thiên nhiên, nơi đa số dân cư là người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi. Bạo động thường xuyên xảy ra tại khu vực này. Tính từ tháng 04/2013 tới nay, đã có hàng chục người thiệt mạng. Bắc Kinh luôn quy trách nhiệm cho các phần tử «khủng bố» và các phe nổi dậy của Tân Cương.

Ngày 26/06/2013, một vụ tấn công nhắm vào đồn cảnh sát tại Lukqun - cách thủ phủ Urumqi 250 km về hướng tây nam, đã làm hơn 30 người thiệt mạng.

Gần đây hơn là vụ tấn công ngay tại quảng trường Thiên An Môn vào cuối tháng 10/2013, làm 5 người thiệt mạng và 40 người bị thương. Một lần nữa, giới điều tra Tầu Cộng cho rằng, người Duy Ngô Nhĩ trong tổ chức mang tên Phong trào Hồi giáo Đông Turkmenistan (Etim) đứng đằng sau vụ khủng bố nói trên. Nhưng theo AFP, cho đến nay, Tầu Cộng chưa đưa ra bằng chứng cụ thể nào cho thấy tổ chức này có liên quan đến vụ nổ xe trước Tử Cấm Thành.

18 November 2013

Một bài báo của Phan Khôi năm 1933 viết về Ngô Đình Diệm

Năm 1935, khi Phan Khôi (1887-1959) đang làm Chủ bút báo Tràng An ở Huế, ông có viết bình luận nhân sự kiện Triều đình Huế, dưới thời vua Bảo Đại, đã có 2 quyết định liên quan đến Ngô Đình Diệm: cách chức, sau đó khai phục chức Thượng thư cho ông ta. Trong lời bình luận, Phan Khôi lưu ý đến các phương diện khí tiết của người làm quan và “tâm thuật” của sĩ phu trước các quyết định của triều đình.

Bài này có in trong tập: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1935 /Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn/ Nxb. Tri Thức, Hà Nội, phát hành tháng 10/2013.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

LẠI NGUYÊN ÂN

**
MỘT VIỆC RẤT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÂM THUẬT CỦA SĨ PHU
CÁCH CHỨC VÀ KHAI PHỤC ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

            Ngót hai năm, từ hồi Nam triều có sự thay đổi cả việc lẫn người trong các bộ, người ta quen gọi là “cuộc cải cách ngày 2 Mai 1933”, đến nay, những việc do cuộc cải cách ấy làm ra có gì khá hơn trước chăng, − Ấy là một đầu đề tốt lắm, chúng tôi đã chọn để có ngày sẽ viết đến. Hôm nay, từ trong cuộc cải cách ấy chúng tôi lấy ra một việc mà bàn, việc tuy đã nguội, song vừa rồi nhờ một lá Sắc của nhà vua nó trở nên sốt dẻo. [a]

            Chưa nói đến hết thảy những việc trong cuộc cải cách, thoáng qua một cái, chúng tôi thấy hình như cũng chỉ có việc chúng tôi sắp bàn đây là lớn hơn hết, vì nó có ảnh hưởng đến tâm thuật của sĩ phu.

            Việc cách chức và khai phục nguyên hàm ông Ngô Đình Diệm.

***

            Ông Ngô Đình Diệm, năm 1933, vì sao mà bị cách chức? Trong đó có cái cớ chánh và cái cớ phụ. Người ngoài chỉ biết được cái cớ phụ mà thôi, tức như cái điều đăng trên các báo lúc bấy giờ: ông Ngô đã bội lời ước với Triều đình, đem những việc bí mật mình đã hứa giữ mà tuyên bố cùng một nhà báo nào đó.

            Tuy vậy, chỉ một cớ phụ ấy thôi, ông không đến nỗi bị như thế. Phải có cái cớ chánh, chính bởi cớ này mà ông từ chức Thượng thơ, rồi mới nhân cái lỗi bội ước là cái lỗi nhỏ mà bị cách chức.

            Nếu cái cớ phụ là sự bội ước đã là cái lỗi nhỏ không đủ cách chức ông Ngô Đình Diệm được, vậy thì sự cách chức ông ấy, ta có thể nói được rằng trực tiếp bởi cái cớ chánh gây ra.

            Cái cớ chánh, từ bấy đến giờ, Triều đình giữ bí mật, ngoại gian không có ai biết được cả. Không biết là không biết cho tường tế, chứ người ta đoán phỏng rằng vì “chánh kiến bất đồng” hay là vì “trái ý bề trên” thì tưởng cũng cọ bia.[b]

            Chỉ vì một chút chánh kiến bất đồng mà đành phủi áo đứng dậy, bỏ ngôi Thượng thơ, rồi nhân đó đến bị phế truất, ấy thật là cái cao tiết của ông Ngô Đình Diệm, 50 năm nay mới có một người! Nhưng nếu ông chỉ từ chức mà thôi, không bị cách chức, thì cái cao tiết ấy e rồi cũng đến mai một đi mà không ai biết. Cho nên, sự cách chức hồi đó làm cho ông Ngô lẫy tiếng bao nhiêu, càng đáng cho ta để ý bấy nhiêu.

***

            Thật, chúng tôi nói 50 năm nay mới có một người như ông Ngô Đình Diệm, không phải là nói quá. Thì từ triều Thành Thái về sau, hỏi có ông đại thần nào có cái thái độ rắn rỏi lấy một chút không? Chúng tôi thấy lắm kẻ đã già rồi, đôi khi bị quở bị rầy nữa mà cũng chịu khó kiếm đủ cách để giữ lấy ngôi. Dù giống gì người ta cũng cứ lăn vào, còn ai kể tới chánh kiến đồng hay không đồng, hiệp cùng chẳng hiệp? Mà than ôi! Có gì đâu để được gọi là chánh kiến!

            Chỗ miếu đường đã thế nên thảo dã cũng hòa theo. Hầu hết đám người có học ít nhiều chỉ biết lấy phú quý lợi lộc làm cái đích cho đời mình mà không biết nhân cách của mình là đáng trọng. Bởi vậy, trong bức thư ông Phan Châu Trinh đưa cho chánh phủ Pháp hồi đó, ông có nói câu này mà không dè dặt chút nào hết: “Sĩ phu nước Nam, cái lòng liêm sỉ của họ đã mất hết rồi!”

            Trong cái xã hội sĩ phu đó, có sự cách chức ông Ngô Đình Diệm, khác nào một tiếng nổ to, đánh thức dậy hết thảy. Nghe tiếng nổ ấy tất họ phải đi tìm cho biết cái con người Ngô Đình Diệm thế nào. Sau khi biết con người ấy chỉ vì chút chánh kiến bất đồng mà dám vứt bỏ số lương tháng bốn trăm luôn với bộ áo chầu nhị phẩm, ít nữa họ cũng ngó lại con người của họ mà sinh lòng hổ thẹn: sao ông Ngô Đình Diệm dám bỏ đến cái nhị phẩm mà mình lại cúi luồn lạy lục để xin lấy cái cửu phẩm!

            Nó có ảnh hưởng đến tâm thuật sĩ phu là thế. Một viêc rất tốt! Một việc rất có bổ ích cho thế đạo nhân tâm.

***    

Bài này không cốt bàn về chánh trị, cho nên trên kia có nói tới chánh kiến bất đồng mà chúng tôi không nói đến bên nào dở bên nào hay. Tuy vậy ta nên biết rằng trong trường chánh trị thường có lúc hai cái chánh sách đồng có giá trị như nhau mà phải lấy cái này bỏ cái kia, ấy là tùy theo hoàn cảnh, tùy theo tình thế. Nếu cái hoàn cảnh ấy đổi đi, cái tình thế ấy không còn nữa, bấy giờ cái chánh sách bị bỏ sẽ được phục lại cái giá trị của nó chưa biết chừng.

            Có lẽ vì đó mà nay ông Ngô Đình Diệm được khai phục nguyên hàm. Sự khai phục này hoặc có hàm một cái ý nghĩa rằng cái chánh kiến của ông Ngô là không phải dở, cũng không phải trái nhau với cái chánh kiến khác đến cực đoan.

            Lại nữa, sự khai phục này cũng rất có ảnh hưởng đến sĩ phu như lần trước. Có nhiều người bình nhật giữ một cái ý kiến nào hay một cái thái độ nào, rủi vì đó thất bại, rồi họ đành bỏ hay đổi cái ý kiến ấy, cái thái độ ấy. Ông Ngô Đình Diệm từ khi thất bại (nói vậy đó thôi) đến nay vẫn ôm luôn lấy cái cao tiết ấy mà không hề sai chạy. Rồi ngày nay tự nhiên ông được trả lại phẩm tước cũ, ngoài sự khấn ba cái tạ ơn, ông chẳng hề tốn một tiếng nói nào với ai. Như thế há chẳng phải bồi đắp thêm cái lòng tự trọng cho mọi người?

            Cải cách! Cải cách! Cải cách mà gặp hồi kinh tế khủng hoảng này, đừng nói không làm, làm mà sổ dự toán không cho phép, thì phỏng còn kết quả gì hay? Tuy vậy, ước gì được nhiều việc như việc đối với ông Ngô Đình Diệm đây, nhà ngôn luận chúng tôi có tiếc gì mà không ca tụng?

            “Sĩ phu liêm sỉ chi đạo táng”, chính câu ông Phan Châu Trinh nói như thế. Con người mất cả liêm sỉ là con người bỏ; huống chi cả một đám người mất cả liêm sỉ, mà còn mong gì được ư?

            Nhờ ông Ngô Đình Diệm vớt lại nhiều ít, nhờ sự cách chức và khai phục ông Ngô Đình Diệm vớt lại nhiều ít, họa may cái lòng liêm sỉ của sĩ phu Việt Nam ngóp ngỏi dậy chăng?

PHAN KHÔI

Nguồn: Tràng An, Huế, s. 9 (29 Mars 1935), tr. 1.

Chú thích

[a] Tràng an s. 8 (26 Mars 1935, tr. 1) đưa tin Cách viên được khai phục, cho biết ba đạo Sắc ra ngày 20 Mars 1935 khai phục cho một đại thần và hai ông quan đã bị cách từ năm Bảo Đại thứ 8, trong đó, kể từ ngày 20 Mars 1935, ông Ngô Đình Diệm được khai phục nguyên hàm và cho lại các huy chương đã được khi trước, theo đạo Dụ số 23.

[b] cọ bia: gần trúng, gần đúng.    

Canada ngăn chặn Lenovo mua Blackberry vì lý do an ninh

Sau khi tổ hợp Fairfax Financial Holding  Ltd. tại Toronto từ chối mua lại công ty điện thoại tinh khôn Blackberry trụ sở tại Waterloo (Ontario) với trị giá 4.7 tỷ mỹ kim thì công ty sản xuất máy điện toán Lenovo Group Ltd. trụ sở chính tại Bắc Kinh lăm le muốn mua lại Blackberry và đã đặt vấn đề  giá cả. Nhưng  trong các cuộc thảo luận với ban giám đốc Blackberry, chính phủ Ottawa đã  dứt khóat không chấp nhận việc  một công ty Trung Quốc mua một công ty Canada có các hoạt động gắn liền với hạ tầng cơ sở viễn thông vì lý do an ninh quốc gia.

Bộ trưởng tài chánh Jim Flaherty nói rằng có những kỹ thuật tân tiến trong lãnh vực viễn thông không thể giao cho người ngoại quốc được. Blackberry là công ty phục vụ cho Canada lẫn Mỹ. 

Blackberry hiện đang điều hợp mạng lưới an toàn với hơn hàng trăm triệu tin nhắn được mã hóa mỗi ngày mà khách hàng  bao gồm nhiều cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và 500 công ty. Trong khi đó, Lenovo có hơn 33.000 nhân viên hoạt động tại hơn 60 quốc gia và đang kinh doanh rộng rãi về điện thoại tinh khôn. (Nguyên Trần)

17 November 2013

Kiếp Hoa, tranh A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh


Kiếp Hoa
(Life of Flowers)
Oil on canvas, 24x24 inch
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**
DẠT DÀO
Gửi A.C.La

Sáu mươi tim vẫn dạt dào,
Đêm chăn gối lẻ mộng nào lên xanh.
Màu khô, khung vải lạnh tanh,
Người bay tóc gió nửa tranh hững hờ.
*
Thì thôi, còn đó cơn mơ,
Liêu trai gió lộng đôi bờ mộng du.

LAN ĐÀM 11/13

**
HƯƠNG  XƯA

Dáng ai ngày đó , ước mơ
Chênh vênh vách đá , cuối bờ bãi xa
Gió tung , lộng tấm thân ngà
Người đi nỡ để xót xa một người

Liêu trai , nghiêng đứng bên trời
Tím chân trời nhớ , rạng ngời hương xưa


MAI LAN-NGỌC


**
Xem tranh KIẾP HOA

Một đề tài hấp dẫn, một mảng tranh bất ngờ - đó là cảm nghĩ của Út Như Thương khi xem tranh "KIẾP HOA"...

Tưởng là mong manh lắm... Tưởng là yểu mệnh một cánh hoa... Nào ngờ "Kiếp Hoa" ấy khép nép bên núi đá lóng lánh sắc màu! Lạ chưa...

Thôi thì họa sĩ vẽ tranh và có người sẽ vẽ chuyện vậy...

Dưới chân núi kia có vài đóa hoa cố vươn lên khoe sắc với đời, chỉ là sắc trắng tinh khiết như giọt sương long lanh chứ chẳng phải là bóng dáng kiêu sa hồng thẫm hay cúc dại rực rỡ vàng ươm.
Núi thì bàng bạc bóng nắng - nét cọ pha màu tuyệt thật, như thể là núi đá long lanh. Và hoa - dẫu chỉ một chút nhẹ tay đầu cọ thì đã thấy cả cánh hoa lãng mạn rải nhẹ theo gió những hương thầm thoang thoảng rồi.

Ngắm lại, Núi đẹp hay Hoa đẹp nhỉ? Ừ thì núi đẹp hơn hoa đấy, nhưng nếu không có hai đóa hoa thì... núi sẽ bơ vơ lắm thôi!

Lại còn thêm chút cảm nghĩ... Cầu mong bóng dáng quân tử núi cao biêng biếc chở che cánh hoa bé bỏng dưới chân mình...

Thế là Út vẽ chuyện rồi đó ông họa sĩ à...

Út Như Thương

**
Xem tranh không thể không nghe lại nhạc phẩm bất hủ Kiếp Hoa của Dương Thiệu Tước, một nhạc .  hoa.sĩ tài danh đã để lại những ca khúc trữ tình nổi tiếng cho chúng ta.

16 November 2013

Chữ nghĩa bể dâu, thơ


Khi người tị nạn trả ơn

TẠP GHI HUY PHƯƠNG

Báo Courier Mail của nước Úc hôm 28/7 ghi nhận chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm 2013 đã có 759 người Việt dùng thuyền tị nạn đến Úc, trong khi Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay tự hào cơm no áo ấm, xã hội tiên tiến, độc lập, tự do, hạnh phúc.
    
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chúng ta là những người vượt biển tìm tự do, hẳn đã biết thế nào là nỗi thống khổ, bỏ quê hương, làng mạc để ra đi, chịu đói khát, bị hải tặc cướp bóc, hiếp dâm hay chặt đầu, xô xuống biển, nên hết sức thông cảm với hoàn cảnh những người đã vượt biển này.
    Tị nạn, dù là chính trị hay kinh tế cũng là điều đáng thương.
    
Những quốc gia độc tài, hà khắc buộc những người dân phải ra đi tị nạn, hay những chính phủ không lo đủ cơm áo cho nhân dân, để dân phải bỏ nước đi tìm miếng cơm ở xứ người cũng phải được lên án như nhau.
    
Dân Mễ Tây Cơ từ năm 1985 vượt biên sang Mỹ mỗi năm chết vì hơi nóng sa mạc, mất nước khoảng 200 người, nhưng từ năm 1995 trở về sau, số người chết này tăng gấp đôi, như vậy cộng với những người đi thoát đến Mỹ, đây là một quốc gia có người bỏ nước vì miếng ăn cao nhất.

Hiện nay, những người tị nạn Việt Nam đến Úc không có cơ may được nước Úc cứu xét cho định cư tại nước này, và nếu có đủ tiêu chuẩn của một người tị nạn họ sẽ được đưa sang Papua New Guinea.
    
Tệ hại hơn nữa là chính quyền Úc đã thỏa thuận cho phép công an từ Việt Nam, nơi mà người tị nạn đã bỏ ra đi, vào tận các trại giam người tị nạn để “làm việc”, có nghĩa là sẽ truy cập tên tuổi và chi tiết của thân nhân họ hiện ở Việt Nam.
    
Hành động này của chính quyền Úc, theo quy ước của người tị nạn là sai trái.

Thật sự, nếu công an thẩm vấn người tị nạn để tìm ra những đường dây buôn người thì được nhưng không thể dùng căn cước của những người tị nạn để trả thù thân nhân họ như thói quen và đường lối trả thù của các nước cộng sản.
    
Nhưng câu hỏi được giới truyền thông Úc đặt ra là những người gọi là “tị nạn” này muốn gì khi đặt chân đến Úc?
    
Đa số không phải là người tị nạn thực sự.
    
Nhiều người khai là vô gia đình, nhưng hồ sơ cho thấy một số trước đây đã du lịch đến Úc. Có người, sau khi du lịch đến Úc, họ hủy visa và xin ở lại đoàn tụ với gia đình vì bị đàn áp.

Courier Mail hôm 28/7 nói làn sóng thuyền nhân Việt Nam gia tăng, với 759 người đến Úc năm nay, nguyên nhân có tổ chức đưa người Việt lên thuyền sang Úc làm gái bán dâm hoặc buôn ma túy.
    
Ở Darwin, chính quyền cũng đã phát hiện một ổ mại dâm của người Việt ngay bên trong trung tâm giam giữ người xin tị nạn! Quả thật xấu hổ!
    
Những người tị nạn đến Úc trước đây, giờ đã ổn định cuộc sống, thì lại muốn “trả ơn” cho đất nước đã cưu mang mình bằng cách trở về Việt Nam và đem bạch phiến trở lại Úc để đầu độc cho thanh niên nước này.
    
Nhật báo The Age ngày 27/7/09 cho biết cảnh sát Úc đã xác định được hơn 100 người Việt ở Melbourne chuyên tải bạch phiến từ Việt Nam vào Úc cho 7 tổ chức tội phạm lớn ở thành phố này. Cảnh sát cho biết những người mang bạch phiến xuống phi trường Melbourne hằng tuần và đã đi nhiều chuyến như thế. Trong tháng 2 năm 2009, chỉ trên một chuyến bay mà cảnh sát đã bắt được bốn người mang bạch phiến vào Úc.

Theo ước lượng của cảnh sát thì mỗi tổ chức buôn lậu này kiếm được khoảng $2 triệu Úc kim mỗi tháng.
    
Một phụ nữ “tải” bạch phiến từ Việt Nam đến Úc, được cảnh sát theo dõi cho biết chỉ trong vòng 6 tháng trong năm 2008, bà này đã “đốt” khoảng $3,7 triệu tại sòng bạc Casino Crown, và đặt $50,000 cho mỗi ván bài…
    
Theo tin Việt Nam, đã có 25 người Úc gốc Việt bị tống giam ở Việt Nam vì buôn lậu bạch phiến. Sáu người trong số này đang chờ ngày xét xử trong khi 19 người đã bị kết tội và bị lãnh án khác nhau, kể cả tử hình, 20 năm tù hoặc chung thân. Tám người trong số này là cư dân Việt hiện ở tại Victoria.
    
Từ năm 2003 đến nay, ở Việt Nam đã có 7 người Úc gốc Việt bị tuyên án tử hình nhưng đã được giảm xuống án chung thân vì có sự can thiệp của chính phủ Úc!
    
Phải chăng vì luật pháp nước Úc quá dễ dãi và vì nước Úc đã bỏ án tử hình từ 1973?
    
Chúng ta chưa quên bản án tử hình Singapore đã dành cho một người “tị nạn” được định cư tại Úc là Nguyễn Tường Vân vào năm 2004. Nếu nói về danh nghĩa “tị nạn”, không ai hơn được con người này vì chính Nguyễn Tường Vân và người em song sinh là Nguyễn Đăng Khoa, đã chào đời tại trại tị nạn Songkhla ở Nam Thái Lan ngày 17 tháng 8-1980, sau khi gia đình đã bỏ nước ra đi, và sau đó, đã được nước Úc giang vòng tay nhân ái đón nhận cho vào định cư.

Tháng 11-2002, trên đường từ Saigon qua Singapore về Úc, Nguyễn Tường Vân đã bị cảnh sát tại phi trường Changi bắt vì đã mang theo trong mình 396,2 gram bạch phiến, nhiều gấp 25 lần số lượng phải chịu án tử hình theo luật lệ của Singapore. Y khai với cảnh sát là cần kiếm tiền để trả nợ và lo án phí cho em là Nguyễn Đăng Khoa bị ra tòa vì tội sử dụng ma túy và ẩu đả.

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2004, phiên tòa Thượng Thẩm kết án tử hình Nguyễn Tường Vân và bản án đã được thi hành vào ngày 2 tháng 12- 2005, sau khi mọi can thiệp từ Thủ Tướng Úc John Howard, các cựu thủ tướng Gough Whitlam, Bob Hawke, cựu Tổng Toàn Quyền Sir Dean William, các Bộ Trưởng Ngoại Giao, Tư Pháp, dân biểu nghị sĩ Úc và cả Giáo hội Công Giáo… đến Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long đều vô hiệu. Thậm chí, cả Bộ Trưởng Tư pháp Úc Philip Ruddock.

Những người tị nạn Việt Nam đến Úc, như thanh niên Nguyễn Tường Vân, đã “trả ơn” quốc gia này bằng cách đem bạch phiến vào để đầu độc thanh niên Úc, không phải là ít, hai người khác cũng đã bị án tử hình trong số hàng trăm, bạo nhất là Nguyễn Văn Chinh với 1kg và Mai Công Thanh tới 1.7kg bạch phiến, số lượng gấp bốn lần của tử tội Nguyễn Tường Vân, cung cấp đủ 10,000 liều cho con ghiền.

Cánh cửa nhân ái tiếp đón những người tị nạn phải lìa bỏ quê hương đã đóng lại hay chính những người tị nạn đã làm cho những đất nước giang cánh tay đón họ thất vọng.
    
Trên con thuyền mỏng manh giữa biển cả mịt mùng, chúng ta cầu nguyện gì, ước ao gì, hứa hẹn gì, tất cả là chỉ mong được đặt chân đến đất liền. Mới ngày nào đến trại tị nạn chúng ta luôn luôn kêu gào chứng tỏ mình là kẻ bị áp bức, kỳ thị, đày ải, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, đủ cơm ăn, dư áo mặc, da trắng tóc dài… thì lại nghe chuyện trở về nơi mà mình đã nêu đủ lý do để ra đi, với những lý do xây mộ, thăm người nhà, dự tiệc cưới, về quê ăn Tết, du lịch hay hưởng thụ rong chơi.

Ngày nào người tị nạn kêu khổ, rầm rộ đổ vào nước Úc, nhận lãnh bao nhiêu thứ trợ cấp, ưu đãi, nhưng bây giờ vào ngày giáp Tết Âm Lịch Việt Nam, khu phố Caramatta ở Sydney, các cửa hiệu, hàng quán vắng vẻ vì thiên hạ bận về quê VN ăn Tết.
    
Ở các nước sau ngày Saigon thất thủ đã nhận cho vào bao nhiêu người tị nạn, nay có bao nhiêu người mỗi năm về Việt Nam, nơi mà chúng ta đã dùng nó như một lý do để xin tị nạn.
    
Chúng ta có thể nhìn thấy hàng trăm cách “trả ơn” nước Mỹ, nước Úc, nước Pháp, nước Anh, nước Gia Nã Đại…
    
Mỗi người tị nạn “trả ơn” quốc gia họ đến một cách khác nhau. Người trồng cần sa ở Anh và tổ chức buôn người vào cho dịch vụ này chính là những người tị nạn. 
    
1984, 9 năm sau khi bỏ nước ra đi, một số bác sĩ người Việt tị nạn vào Mỹ, được ưu tiên nâng đỡ cho học ngắn ngày để có thể trở lại nghề cũ, đã trả ơn bằng cách đục khoét, gian lận quỹ y tế để thủ lợi riêng.
    
Những thanh niên người Việt được nước Mỹ cho học hành, dùng kiến thức ăn cắp ID của người khác làm thẻ tín dụng để tiêu xài.
    
Bằng tấm lòng chân thật, chúng ta có thể thấy nhiều sự “trả ơn” của người Việt tị nạn cho quốc gia họ đang sinh sống.
    
Nguyễn Tường Vân đã đền tội cho sự vô ơn của mình với bản án tử hình, nhưng cũng có nhiều kẻ khác đang sống yên ổn giàu có bằng lối xử sự phản phúc với quốc gia đã cho mình tái định cư.
    
Chúng ta cũng không nên trách cách xử sự của chính quyền Úc đối với 759 người Việt dùng thuyền đến Úc “tị nạn” trong năm nay.
    
Ngày 2 tháng 12-2005, vào giờ Nguyễn Tường Vân lên giá treo cổ ở Singapore, thánh đường Saint Ignatius Richmond ở Melbourne, nước Úc đã đổ 25 hồi chuông thương tiếc, tượng trưng cho 25 năm của cuộc đời người tử tội này, nhưng nước Úc chưa bao giờ có những hồi chuông cầu nguyện cho quốc gia này không còn những kẻ tị nạn vong ân như thế nữa.

Huy Phương

14 November 2013

Mãnh Thú, thơ Trần văn Lương

Dạo:
      Thong dong lên núi tìm trăng,
Nào hay mãnh hổ nhe răng chực chờ
           猛 獸
山 池 水 底 睡 姮 娥,
寂 寞 森 林 野 獸 多.
身 著 金 衣 盲 鶴 舞,
手 持 瓦 鏡 啞 猴 歌.
桐 峯 老 虎 無 剛 爪,
百 丈 大 蟲 具 利 牙.
客 欲 登 高 崧 翫 月,
誰 知 半 路 遇 長 沙.
             陳 文 良
Âm Hán Việt:
       
           Mãnh Thú
Sơn trì thủy để thụy Hằng Nga,
Tịch mịch sâm lâm, dã thú đa.
Thân trước kim y, manh hạc vũ,
Thủ trì ngõa kính, á hầu ca.
Đồng Phong lão hổ vô cương trảo,
Bách Trượng đại trùng cụ lợi nha.
Khách dục đăng cao tung ngoạn nguyệt,
Thùy tri bán lộ ngộ Trường Sa.
               Trần Văn Lương
  
Dịch nghĩa:
                 Thú Dữ
Dưới đáy nước của cái ao trên núi, mặt trăng nằm ngủ,
Rừng rậm lặng yên, thú hoang nhiều.
Mình mặc áo vàng, con hạc mù nhảy múa,
Tay cầm cái gương soi làm bằng ngói (1) , con khỉ câm hát.
Con hổ già của Đồng Phong không có nanh vuốt cứng, (2)
(Trái lại) con cọp của Bách Trượng có đầy đủ răng sắc. (3)
Khách muốn lên núi cao ngắm trăng,
Nào hay nửa đường gặp phải Trường Sa.  (4)
Chú thích:
(1)  Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển 3, truyện Nam Nhạc Hoài Nhượng Thiền Sư
     Niên hiệu Tiên Thiên (đời Đường) năm thứ 2, Sư (Hoài Nhượng) đến núi Hoành Nhạc, trụ ở chùa Bát Nhã.     
     Nơi viện Khai Nguyên có vị sa môn tên Đạo Nhất (tức Mã Tổ) thường ngồi Thiền.  Sư biết đó là pháp khí (người có giá trị trong đạo) bèn đến hỏi:
    - Đại đức ngồi Thiền để muốn làm gì?
    Đạo Nhất nói:
     - Muốn thành Phật.
    Sư bèn lấy một cục gạch đến mài trên hòn đá trước am của Đạo Nhất. Đạo Nhất hỏi:
     - Mài gạch để làm gì?
     Sư đáp:
     - Để làm gương soi.
     - Gạch mài làm sao thành gương được?
     - Nếu mài gạch đã không thể thành gương thì ngồi Thiền cũng làm sao thành Phật?
     Đạo Nhất hỏi:
     - Thế nào mới phải?
     Sư nói:
     - Như con bò kéo xe, nếu xe không đi thì đánh xe là đúng hay đánh con bò là đúng?
     Đạo Nhất không đáp được.
     Sư lại nói:
     - Ngươi học ngồi Thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi Thiền thì Thiền không phải ngồi nằm, còn học ngồi Phật thì Phật không có cái tướng nào nhất định. Phải ở nơi pháp không trụ, không được thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp vào tướng ngồi thì chẳng thấu được lý.
(2)  Bích Nham Lục, tắc 88, Đồng Phong Hổ Thanh 
Cử :
    Một ông tăng đến nơi ở của Đồng Phong Am Chủ và hỏi:
    - Nếu chỗ này bỗng gặp cọp thì phải làm sao?
    Am Chủ làm tiếng hổ gầm. Ông tăng làm ra dáng sợ hãi. Am Chủ cười ha ha. Ông tăng nói:
   - Cái tên giặc già này !
   Am Chủ nói:
   - Vậy ông làm gì được lão tăng nào?
   Ông tăng bèn thôi, bỏ đi.
     Sư (Tuyết Đậu) nói:  Đúng thì có đúng, nhưng hai tên giặc gian ác này chỉ có biết bịt tai đi ăn trộm chuông mà thôi.
Trích lời Bình của Viên Ngộ:
"...
       Đúng thì có đúng song cả hai đều không thấu triệt, cho nên từ thiên cổ đến nay thường bị người đời phê phán. Tuyết Đậu nói, " Đúng thì có đúng, nhưng hai tên giặc gian ác này chỉ có biết bịt tai đi ăn trộm chuông mà thôi".  Cả hai tuy đều là kẻ cắp, nhưng gặp cơ lại không dùng được, cho nên đành giống kẻ bịt tai đi trộm chuông. Hai lão này giống như bày ra trận giết nhau chỉ để tranh một cái chổi.
      Nếu luận về việc này thì phải có khả năng giết người không chớp mắt mới được. Nếu chỉ biết buông mà không biết nắm giữ, chỉ biết giết mà không biết làm cho sống thì khó mà không bị người chê cười. Tuy nhiên như thế, nhưng người xưa cũng chẳng có gì là nhiều chuyện. Nhìn họ hai người như vậy cũng chỉ là thấy cơ mà hành động thôi.
..."
(3)  Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển 4, truyện Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư
     Ngày kia Bách Trượng hỏi Sư (Hoàng Bá, đệ tử của Bách Trượng):
     - Từ đâu đến?
     Sư đáp:
     - Từ chân núi Đại Hùng hái nấm đến.
     Bách Trượng hỏi:
     -  Có thấy cọp không?
     Sư giả tiếng cọp gầm. Bách Trượng nhặt búa lên làm thế chém. Sư bèn cho Bách Trượng một cái tát tai. Bách Trượng cười hi hi rồi trở về, sau đó thăng tòa bảo đại chúng:
     - Dưới chân núi Đại Hùng có một con cọp, các ông phải coi chừng cho kỹ. Lão già Bách Trượng hôm nay bị nó táp một miếng!
(4)  Bích Nham Lục, tắc 36,  Trường Sa Du Sơn
Trích lời Bình của Viên Ngộ:
"...
     Ngưỡng Sơn cơ phong sắc bén được xếp vào bậc nhất. Một ngày kia Sư cùng đi với Trường Sa (*) để ngắm trăng. Sư chỉ mặt trăng nói:
    -  Ai ai cũng có cái đó, chỉ là người ta không dùng được cái đó mà thôi.
    Trường Sa nói:
    - Thế thì mời ngươi dùng cái đó !
    Ngưỡng Sơn nói:
    - Xin Hòa thượng dùng thử xem.
    Trường Sa bèn đạp cho Ngưỡng Sơn một cái ngã nhào. Ngưỡng Sơn đứng dậy nói:   
     - Lão huynh (**) giống như cọp vậy.
     Từ đó thiên hạ gọi Trường Sa là "con cọp Cảnh Sầm" (Sầm đại trùng).
..."
(*) Trường Sa Cảnh Sầm Lộc Uyển Chiêu Hiền Thiền Sư là pháp từ của Nam Tuyền Phổ Nguyện và đồng vai vế với thầy của Ngưỡng Sơn là Qui Sơn Linh Hựu. Qui Sơn là đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải. Bách Trượng và Nam Tuyền cùng là học trò của Mã Tổ Đạo Nhất.
(**) Đúng lý ra Ngưỡng Sơn phải gọi Trường Sa bằng "sư thúc" như trong bản dịch tiếng Việt của Thiền Sư Thích Mãn Giác. Nhưng trong bản nguyên tác Hán văn đang có, chữ "lão huynh" được dùng. Do đó, đành tuân theo nguyên bản.
Phỏng dịch thơ:
            Thú Dữ   
Ao khuya lặng khép bóng trăng tà,
Dã thú rừng sâu vụt kéo ra.
Hạc nhỏ mù lòa lăn lóc múa,
Khỉ già câm điếc véo von ca.
Hùm thiêng Bách Trượng toàn nanh vuốt,
Cọp dữ Đồng Phong chỉ thịt da.
Khách tục tìm non cao thưởng nguyệt,
Ngỡ ngàng lối hẹp gặp Trường Sa.
                Trần Văn Lương
                  Cali, 11/2013

Lời than của Phi Dã Thiền Sư :
    Non cao vòi vọi, mãnh thú đầy rừng.
    Cọp nào có răng, cọp nào không răng, làm sao phân biện?
    Hỡi ơi ! Ghê gớm thay nanh vuốt của con cọp Cảnh Sầm !

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...