18 October 2010

Lời thật mếch lòng

Dân tộc thông minh nhưng…lận đận

Đọc xong bài viết dưới đây, người ta có thể không đồng tình hoàn toàn, nhưng chắc chắn  phải thừa nhận có những điểm chính xác. Tâm tính Việt có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm mà có muốn sữa chữa cũng mất ít nhất vài thế hệ. (TTR)
Việt Nam ta cũng giỏi giang, nhưng cứ hai người trở lên là thì tiềm năng trí tuệ giảm đi một nửa. Chả hiểu có đúng không?

Bất kỳ một dân tộc nào khi được hỏi là họ có thông minh thì câu trả lời luôn là “có”, chẳng có ai thừa nhận mình dốt. Nhưng tại sao có quốc gia này lại hơn quốc gia kia? Có người thông minh làm nên nghiệp lớn, có kẻ chữ nghĩa đầy người nhưng suốt đời lận đận.

Viết bài này, tôi nhớ một bạn nước ngoài khi qua đường ở Hà Nội. Thấy dân ta chen lấn xô đẩy, xe máy phóng bừa bãi, mạnh ai nấy đi, chẳng có thứ tự, anh thốt lên “Đây không phải là đất nước thông minh như tôi đã từng nghe như thời chiến tranh”. Nghe mà nhói trong lòng.

Thời tôi là sinh viên lười học nhưng thường mong ước, giá được như người Do Thái vì họ thông minh nhất thế giới. Rồi chúng tôi xếp hạng người Đức vừa thông minh vừa có kỷ luật.

Người Mỹ không thông minh nhưng khi một nhóm ngồi lại với nhau thì độ thông minh tăng lên gấp bội.

Việt Nam ta cũng giỏi giang, nhưng cứ hai người trở lên là thì tiềm năng trí tuệ giảm đi một nửa. Chả hiểu có đúng không?

Muốn nói hươu vượn gì thì nói, dân tộc Việt Nam không được như chúng ta thường nói “thông minh, cần cù, chịu khó, có truyền thống hiếu học…”. Đại loại chúng ta không dốt nhưng cũng chẳng thông minh. Nói tới đây là HM lo chuẩn bị sọt để nhặt đá do bạn đọc ném.

Không thông minh

Nếu thông minh thì tại sao GDP bình quân mới đạt 1000$/người sau 35 năm hòa bình? Thử hỏi các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình quân đạt trên 10.000$/người/năm.

Người thông minh phải biết tìm ra con đường phát triển ngắn nhất và tối ưu nhất cho dân tộc mình, quê hương mình và gia đình mình. Người thông minh không nên chờ đợi một lý tưởng từ trên trời rơi xuống.

Nếu dân tộc ấy thông minh thì tại sao sau 35 năm vẫn còn chia rẽ vì cuộc chiến tranh, vết thương vẫn chưa lành, cho dù vài thế hệ đã được sinh ra và lớn lên.

Người Mỹ và người Nhật với chiến đẫm máu, nhưng ngay sau chiến tranh đã biết bỏ qua quá khứ đau thương, biến kẻ thù thành đồng minh, hợp tác cùng phát triển. Người Đức và châu Âu cũng thế. Xóa bỏ hận thù để hướng tới tương lai và là cách nghĩ của những người giầu trí tuệ.

Quốc gia thông minh đương nhiên lãnh đạo không thể kém. Nếu cách lựa chọn lãnh đạo được làm một cách thông minh thì sẽ tìm ra người thông minh biết dẫn dắt quốc gia.

Trong chuyến về quê mùa hè (7-2010), tôi có dịp đi một số miền đất quanh Hà Nội, nơi xa nhất là Thanh Hóa, cách Thủ đô 160km. Đập vào mắt là đâu đâu cũng là nhà xây cao, trên có chóp, motive giống nhau đến kỳ lạ, dù miếng đất to hay nhỏ, dài hay ngắn, nhưng nhà xây trên miếng đất đó nhất thiết phải hình ống.

Người thông minh không thể bắt chước nhau một cách đơn điệu và cũng không thể lười suy nghĩ đến thế.

Người bạn bảo tôi, đó là tầm nhìn của người Việt, không có khả năng khai phá những miền đất lạ. Họ rất sợ đi xa, tìm nơi lạ như dân châu Âu. Dân ta tìm được miếng đất cắm dùi, xây được cái nhà yên ổn, dù hình ống, mặt tiền 3 mét, chiều sâu 10m, là quá lý tưởng cho một tổ ấm của 4-5 con người sống trong đó.

Kiến trúc đã thế thì giao thông cũng chả hơn gì. Dân tộc thông minh không thể là một dân tộc mà mạnh ai nấy chạy trên đường, vô kỷ luật. Thấy đèn đỏ vẫn vượt, bóp còi vô tội vạ. Tắc đường lập tức leo lên vỉa hè, lấn cả sang làn trái, đi ngược chiều.

Dân tộc đầy trí tuệ không ai xả rác ra đường, không ai nhổ bậy, đái bậy, chửi thề, nói tục. Đến lễ hội không bẻ hoa, chà đạp lên cái đẹp. Họ phải là quốc gia giầu truyền thống văn hóa.

Xây nhà nhỏ, hình ống, chen chúc nhau vì người Việt không thích đi xa, ít mở mang với thế giới bên ngoài. Nếu đi xa cũng chỉ vừa phải trong khu vực, mở bờ cõi không mang tầm chiến lược và có tầm nhìn xa.

Trong lịch sử Việt Nam, có ông Nguyễn Hoàng vì sợ anh rể Trịnh Kiểm giết, được Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” nghĩa là “Dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài”. Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá, bắt đầu miền Nam của nước ta từ đó. Bản thân Nguyễn Hoàng không nghĩ ra chuyện khai phá.

Đường tơ lụa mở mang ra thế giới bên ngoài đã giúp cho Trung Hoa có nền văn minh rực rỡ. Những cuộc thập tự chinh của La Mã, Ai Cập, Ba Tư đã làm nên những nền văn minh vì họ biết vượt ra khỏi lũy tre làng.

Cách đây 500-600 năm, người Hoà Lan, người Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha đã giương buồm đi khắp thế giới để thám hiểm những miền đất lạ, không sợ hiểm nguy. Mới hiểu tại sao lại có những đảo xa tít tắp ở giữa Thái Bình Dương lại thuộc một quốc gia ở châu Âu. Và tại sao người Âu lại đi trước người Á như hiện nay.

Dân tộc ta có trở thành thông minh?

Câu trả lời là có vì từng có nhiều nhân tài xuất hiện. Ngô Bảo Châu vừa nhận giải Fields là một ví dụ rất sống động.

Trong lịch sử Việt Nam, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những người thông minh nhất. Ông có khả năng tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau, được người Trung Hoa tặng “An Nam lý số hữu Trình Tuyền” và là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam.

Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là “Sấm Trạng Trình”.

Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê tồn tại vài thế kỷ.

Ngoài chuyện khuyên Nguyễn Hoàng như đã nói ở trên, nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc “Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể” (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa.

Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Vì Trạng trình đã nói : “Lê tồn Trịnh tại”.

Đó là sự tiên tri vượt qua không gian và thời gian mấy trăm năm.

Kể ra danh sách rất dài, nhưng đất nước ta vẫn…nghèo. Thông minh mà để nghèo thì chưa phải thông minh.

Người ta cho rằng, người Bắc uyên thâm, giỏi sách vở nhưng không thích thử thách. Anh Bắc Kỳ đủ tiền mua 3 tivi. Trước khi mua hỏi bạn bè chán chê, xem giá cả, soi catalog, mới quyết mua một chiếc. Sự uyên thâm rất cần cho hàng ngũ nghiên cứu, giảng dạy và lãnh đạo. Nhưng cẩn thận quá mức cần thiết đôi khi trở thành bất cập.

Người miền Trung chịu thương chịu khó vì miền đất khô cằn. Các cuộc cách mạng thường nổ ra ở đây vì ý chí vươn lên, muốn thay đổi số phận. Nhưng nghèo quá, chí không thể vượt đi xa. Đưa con thuyền ra biển lớn cần có cả tri thức, mạo hiểm. Duy ý chí thường làm hỏng mọi chuyện.

Anh hai Nam Bộ sống trong thiên nhiên ưu đãi, thích mạo hiểm, ưa gì là làm luôn. Ra cửa hàng thấy có tivi đời mới, nếu thích, bê luôn một chiếc, dù trong nhà đã có tới 3 cái. Người mạo hiểm rất cần cho phát triển kinh tế, nhưng mạo hiểm và ăn chơi như công tử Bạc Liêu cũng đáng sợ.

Một người Việt khó mà có tất cả những tố chất trên: uyên thâm, cần cù có ý chí vươn lên, ưa mạo hiểm. Ba “Nam” của ba miền ngồi lại với nhau đã làm cho độ thông minh của quốc gia này giảm đi…rất nhiều.

Không phải bỗng nhiên người xưa đã đúc kết “tam nam bất đồng hành” rồi “tam nam bất phú”. Cơ cấu “tam nam” chưa chắc đã phải là tốt trong lựa chọn lãnh đạo hiện nay.

Theo bạn, chúng ta làm thế nào để Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Ra đường, không ai vứt rác bừa bãi, nói bậy, chửi thề, chen lấn xô đẩy trong giao thông như người bạn nước ngoài đã nhìn thấy tại Hà Nội, hay cần lớp lãnh đạo có tâm và có tầm.

Hay vì dân tộc ấy quá thông minh theo cách riêng của mình nên…lận đận suốt đời.

ST
(HNG, Tor, chuyển)

17 October 2010

Autumn Lake




HỒ THU

oil on canvas
20x30 inch (61x76 cm)
by A.C.La

Đôi điều về bức tranh Autumn Lake

HỒ THU

Mỗi nước, mỗi vùng thường có những cảnh trí, hình thái địa lý riêng. Ngoài rặng Rockies thật hùng vĩ ở Miền Tây, những đồi núi trượt tuyết đủ tầm cỡ, Canada còn có rất nhiều sông hồ. Ai cũng biết cái xứ mang danh là "tủ lạnh" này còn có một trữ lương nước ngọt lớn nhất thế giới.

Nước để uống, để vận chuyển, đúng, nhưng nước còn để nhìn, để ngắm. Ở Canada sông, nhất là hồ, không phải nằm trên bình nguyên phẳng, mà nằm trên những thế đất đồi núi, tạo ra những cảnh trí thật ngoạn mục. Chính vì nằm trên đồi núi, nhiều hồ lớn có hàng trăm hàng ngàn hòn đảo xinh đẹp trồi lên mặt nước. Cảnh trí này nằm phần lớn ở Ontario.

Chỉ cần hai giờ đồng hồ lái xe từ Toronto chạy về hướng đông bắc, là đã gặp một vùng sông hồ lởm chởm vách đá nằm rải rác khắp nơi, người yêu mến thiên nhiên vừa đi vừa ngắm đến mòn con mắt. Khu này nằm dọc trục lộ Xuyên Canada (TransCanada) giữa Toronto và thủ đô Ottawa.

Hồ Ontario một đầu nhận nước chính yếu từ thác Niagara đổ xuống và đầu kia là khúc mở  ra Sông St. Lawrence mà có những  khúc là biên giới thiên nhiên Canada-Hoa Kỳ. Chính ở khúc đầu nguồn này của dòng sông, cũng có vô số đảo chen nhau trồi lên khỏi mặt sông. 

Cứ nhìn vào bản đồ cũng đủ thấy cảnh trí thay đổi như thế nào. Nhiều họa sĩ đã nhờ thiên nhiên gợi hứng  sáng tác biết bao bức họa về phong cảnh. 

Đứng bên bờ hồ nhìn ngắm đã không biết chán, nhưng nếu chèo thuyền ra xa, đi vòng quanh len lỏi vào giữa những đảo đá này mới bõ công đi vãng cảnh.

Cái máu "giang hồ" vặt vốn có trong người đã thúc đẩy tôi làm như thế. Chạy xe trên 200km, thuê một chiếc hoọc-bo nhỏ lang thang một buổi chiều trên mặt hồ vào một ngày ít gió.

Đứng trong bờ nhìn ra cứ tưởng trước mắt mình là bờ bên kia cây cối liền một giải. Khi đi ra xa mới thấy đó toàn là những hòn lớn nhỏ đủ cỡ. 

Tôi chụp được một số bức hình. Nhưng khi đưa lên máy vi tính, nhìn thất vọng vì chúng không đẹp, không sống như mình đã ngắm. Khi muốn vẽ một bức tranh dựa vào hình chụp, tôi phải cố gắng tái tạo lại những gì mình nhìn thấy từ trên chiếc thuyền. Rồi thì phải bố cục lại cho nó có thêm phần nghệ thuật.

A, B:  Để nhìn vui mắt hơn, hàng cây liền tù tì sẽ được cắt ra hai cụm lớn nhỏ khác nhau.
C1 và C2:  Để cho hòn đảo nhìn riêng biệt hẳn ra, background hai đầu được đưa lùi ra xa.
D:  Hòn đá chính được vẽ lồi lõm thêm để tăng thêm chất "nghệ thuật".
Thêm một hòn đá nhỏ và con vạc bên góc phải để tạo sự bất ngờ (Accident) và để thêm chiều sâu (Depth of field)


Trên đây là bốn điểm chính được bố cục lại để tạo ra bức tranh Hồ Thu

Thử nghe country music với đám trẻ

Our Song
by
Taylor Swift

16 October 2010

Giới thiệu sách

Of Mice and Men
(Chuột và Người)

Nguyên tác của John Steinbeck
Bản dịch Việt Ngữ của Đào Văn Bình

Đôi Lời Phi Lộ

John Steinbeck sinh tại Salinas, California năm 1902 - một thành phố cách xa bờ biển Thái Bình Dương vài dặm, gần Thung Lũng Salinas màu mỡ và cách San Jose khỏang 70 dặm Anh. Nơi đây đã được dùng làm bối cảnh cho nhiều tiểu thuyết của ông. John Steinbeck học sinh vật học dưới biển tại Đại Học Stanford nhưng ông phải bỏ dở và không đậu đạt gì cả. Sau khi phải làm một lọat những công việc nặng nhọc, ông bắt đầu viết văn. Ông thất bại khi thử hành nghề như một nhà báo tự do tại New York, ông quay trở lại California và tiếp tục viết văn trong một căn nhà lẻ loi. Sự thành công chỉ đến với ông vào năm 1935 với cuốn Tortilla Flat. Triển vọng tốt đẹp của cuốn sách đó được tiếp tục xác nhận bởi những tác phẩm kế đó như In Dublin Battle, Of Mice and Men và nhất là The Grapes of Wrath - một cuốn tiểu thuyết có uy thế tới nỗi nó vẫn còn là một nguyên mẫu của nền văn chương Hoa Kỳ. Luôn luôn lấy California làm bối cảnh, những tác phẩm sau đó của John Steinbeck bao gồm Cannery Row, The Wayward Bus, East of Eden, The Short Reign of Pippin IV và Travel With Charlie.

Ông mất năm 1968 sau khi đọat Giải Thưởng Văn Chương Nobel vào năm 1962. Khi thông báo giải thưởng, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã tuyên bố “Ông không có ý định làm một người vô tội để mua vui cho người khác. Thay vào đó, các đề tài mà ông chọn lựa đều có tính cáo giác - chẳng hạn như những khổ đau đánh vào những nông trang trồng bông và trồng trái cây ở California. Nguồn văn chương của ông vững vàng từng bước từng bước đạt tới sự thúc đẩy. Tác phẩm lớn Of Mice and Men ra đời, theo sau là những truyện ngắn có một không hai mà ông tập hợp lại trong cuốn The Long Valley. Con đường giờ đây đã mở ra cho tác phẩm lớn…thiên anh hùng ca biên niên sử The Grapes of Wrath.” (Tài liệu trên Internet)

John Steinbeck trước đây có đến thăm Miền Nam. Theo lời nhà thơ Cung Trầm Tưởng, trong dịp ông viếng thăm Việt Nam, một số nhà văn, nhà thơ đã mời ông đi ăn thịt chó. Ông đã khóc khi bỏ miếng thịt chó vào miệng nhai để chứng tỏ ông hòa mình với phong tục tập quán xứ người. Còn nhà văn Võ Phiến sau khi nhận được bản dịch Of Mice and Men do dịch giả gửi tặng đã hồi ức lại kỷ niện gặp gỡ với John Steinbeck như sau, “Quận Cam Tháng 6, 2004. Thưa bác Đào Văn Bình: John Steinbeck có nhiều duyên nợ với Việt Nam! Chuyện ông qua Sài Gòn, chuyện ông ăn thịt chó v.v…đã thích thú. Lại có chuyện con trai ông từng tu với Ông Đạo Dừa! Anh em cầm bút cỡ tuổi tôi chắc còn nhớ cả những sách của ông ta mình từng đọc, cuộc tiếp xúc với ông ở Sài Gòn v.v.. Riêng tôi lại còn một kỷ niệm là vụ cãi cọ với Tú Rua năm nọ về Chuột và Người. Mọi chuyện rồi cũng qua đi, theo thời gian. Nay được bác cho sách, bồi hồi nhớ lại bao việc cũ. Xin chân thành thâm tạ món quà văn chương của bác. Võ Phiến. “

Còn nhà văn Dõan Quốc Sĩ (Houston) sau khi nhận được bản dịch Of Mice and Men do dịch giả gửi tặng cũng đã khuyến khích như sau, “Nên in bản dịch này ra thành sách để phổ biến cho nhiều người đọc”.

Không biết tác phẩm Of Mice and Men trước đây đã được dịch sang tiếng Việt chưa? Song bản dịch này có một nét đặc biệt. Tôi đã mua cuốn sách này lúc còn ở trại tù Hà Tây - do anh em lén lút đưa vào với giá 8 đồng (đủ để mua một kilô thịt heo) rồi đọc và nghiền ngẫm. Khi ra khỏi tù, tôi tiếp tục đọc và khi vượt biển tôi bắt đầu dịch sang tiếng Việt. Mãi tới năm 1999 bản dịch này mới được đăng từng kỳ trên Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong.

Thông thường, mỗi bản dịch đều mang một văn phong khác nhau. Ở Nhật Bản, vì số lượng độc giả quá đông đảo cho nên đôi khi có cả chục bản dịch khi một tác phẩm hay được giới thiệu vào trong nước. Điều này cũng dễ hiểu vì độc giả - có khi thích lối dịch của người này mà không thích lối dịch của người khác. Chỉ có một bản dịch duy nhất cho một tác phẩm lớn du nhập vào trong nước là dấu hiệu nghèo nàn của sinh họat văn chương.

Dầu sao việc chuyển ngữ một tác phẩm viết bằng tiếng người sang tiếng mẹ đẻ - nhất là tác phẩm lớn như Of Mice and Men – mà các nhân vật trong truyện dùng rất nhiều tiếng lóng và lọai ngôn ngữ bình dân thô lỗ, rất khó hiểu đối với người không sinh đẻ tại Hoa Kỳ - chắc chắn không tránh khỏi sơ sót. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi lời chỉ giáo để sau này nếu tác phẩm được in sẽ là một bản dịch hòan hảo để phục vụ quý độc giả Việt Nam không có thì giờ đọc nguyên tác mà cũng có thể thưởng thức một tác phẩm lớn của nền văn chương Hoa Kỳ mà uy thế của nó vẫn còn vang vọng tới ngày nay.

Xin lưu ý, bản dịch muốn phổ biến trên các website, in thành sách hoặc đăng từng kỳ trên các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, hoặc đọc trên các chương trình phát thanh - thì phải có sự đồng ý (bằng thư) của tác giả. Qúy vị có thể liên lạc với dịch giả qua địa chỉ email: daovanbinh@sbcglobal.net

Xin quý vị vào weblog: http://www.cattien.us rồi bấm eBooks để thưởng thức tác phẩm này.

Trân trọng,

Đào Văn Bình
California, tháng 10, 2010
_______________
Hình minh họa là bìa cuốn truyện xuất bản lần đầu năm 1937. (TTR)
_______________

Xin cám ơn Anh Bình thật nhiều.

John Steinbeck với khuynh hướng hiện thực xã hội, trình bày những bối cảnh xung đột gay gắt trong cuộc mưu sinh, đặc biệt trong môi trường canh nông và chài lưới ở California (Monterey, Salinas ...). Ông nổi tiếng một phần cũng nhờ các nước "xã hội chủ nghĩa" lâng-xê các tác phẩm của ông để nói lên tính "đấu tranh giai cấp" là có thật trong "xã hội tư bản." Tuy nhiên John Steinbeck còn có những tác phẩm mang tính thần thoại dân gian hay tuyệt mà một trong số đó là "The Pearl, Viên Ngọc Trai." Trước đây hai mươi năm tôi đã chọn "The Pearl" đế làm Term Paper cho môn World Literature nên tôi có dịp nghiên cứu khá sâu về cuộc đời và văn nghiệp của John Steinbeck. Anh Bình xem thử có nên dịch The Pearl không vì độc giả trẻ sẽ thích tác phẩm gần 100 trang này lắm, nhất là độc giả tại Việt Nam.

Thân kính,

tranvietlong

Thơ Á Nghi

15 October 2010

Thư bạn đọc

Nhìn người nghĩ đến ta: Tương Lai Tây Nguyên

Thưa quý anh chị và quý bạn,

Thứ Hai, mùng 4 tháng 10, 2010 vừa qua thảm họa đã xảy ra tại Hungary khi một khúc đê của hồ chứa bùn quặng bô-xit bị vỡ, đổ xuống hạ lưu. Các thành phố Devecser và Kolontar đã bị ngập trong bùn đỏ. Báo cáo đầu tiên có 4 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Nhưng trầm trọng hơn cả là những di hại nhiều năm sau về sức khỏe con người và hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn.

Dưới đây là một số hình ảnh tôi thu thập từ bản tin trên internet của các hãng truyền thông AP, BBC, Boston.com, CBS, CNN, NBC, NYT, WP, xin quý anh chị và quý bạn tiếp tay phổ biến, nhất là cho thân nhân, bạn bè và đồng bào ở quê nhà để mọi người thấy được thảm trạng này.

Hungary là một nước cựu cộng sản, tiêu chuẩn an toàn tương đối thấp. Tiêu chuẩn an toàn ở VN cũng không hơn gì. Nhưng còn tệ hại hơn nữa là tại nước ta việc khai thác nằm trong tay Tàu Cộng, lại càng không thể nói chuyện đòi hỏi an toàn, vì đối với Tàu Cộng thì “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Do đó những hình ảnh dưới đây sẽ là hình ảnh của Tây Nguyên Nước Việt một ngày tương lai không xa.

Đa số đồng bào chúng ta trong nước bận lo mưu sinh, ít quan tâm đến chuyện Tàu Cộng khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, thậm chí nhiều người không biết rằng Tàu Cộng đã đem hàng trăm ngàn “công nhân” vào đất nước ta để khai thác một mỏ quặng, mà hại nhiều hơn lợi. Mong rằng những hình ảnh này với giá trị của “một tấm hình bằng ngàn lời nói” sẽ giúp đồng bào ta thức tỉnh, cương quyết vùng lên đòi nhà cầm quyền CS phải chấm dứt cho người Tàu vào khai thác. Và cũng mong rằng có những cán bộ CS sẽ thoát khỏi cảnh “chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ” để đứng về phía nhân dân.

Một lần nữa xin quý anh chị và quý bạn tiếp tay chuyển những hình ảnh và lời nhắn nhủ trên về cho thân nhân, bạn bè ở trong nước.

Trân trọng

Nguyễn Trọng Dzũng

















14 October 2010

Thơ họa mùa Thu

vì thu vàng vàng thu, xin gởi:
mong manh

Em sẽ đến một vùng đất rất lạ
lá đổ vàng sau tháng hạ không mây
những mùa thu em gọi suốt tháng ngày
nay đã đến nơi hàng cây đỏ úa.

Em chưa thấy sắc thu nơi bờ dậu
vì quê ta mưa nắng có hai mùa
nhưng tiếng vọng thu về không cần dấu
thấm xuyên lòng khi em nghĩ đến tình ta.

Này em ơi, nơi vùng đất lạ
em nghe chăng tiếng thu về ngoài lối ngõ
lá xạc xào hay tiếng bước ai lại tìm nhau.
Em nghe chăng tiếng thu về ngoài lối ngõ
dáng bâng khuâng tay áo gió nâng niu
che thẹn thùng đưa tin ngày anh đến.

Anh đau đớn nghĩ đến ngày gặp lại
anh tầm thường anh sợ
phút chia ly thêm đau đớn
như ngày kia xa làng lên tỉnh học
bóng đa rậm ôm chân thời bé bỏng
như tim em cầm giữ bước chân anh.

Chẳng mấy chốc rừng huyên trút lá
đứng nín thinh tĩnh lặng bốn bề
em nào ngỡ thân anh thành hạt tuyết
đến thăm em khi ngày đông dừng bước
đọng trên cành ngủ đỗ giá băng
rồi theo gió ra về chiều ngắn ngủi.
Chiều mong manh
hạt tuyết mong manh.-

tôn thất tuệ

13 October 2010

Chuyện phiếm

Có vải che cái sự đời

Có một vị tướng bây giờ đã đạp rào chạy lung tung. Ông rất thích tử vi. Tuy ông phủ nhận, nghe nói thầy bói Lộc đường Pasteur Saigon là quân sư. Ông ca ngợi cụ Ba La. Cụ Ba La theo tôn chỉ "vấn hung bất vấn cát" nên xem tử vi cho ai thì nói một hay hai câu xấu.

Về ông Trần Thiện Khiêm, cụ nói cái gì đó mà hiểu như ri: Thông thường đầy tớ trong nhà bỏ đi cuỗm đồ đạc, tiền bạc. Trong lúc ấy theo số ông Khiêm, đầy tớ trong nhà qua nhà người khác đánh cắp của đem về cho chủ.

Từ khi lên làm thủ tướng ông đem tất cả các cơ quan béo bở về phủ thủ tướng. Thương cảng Saigon (thuộc bộ Giao Thông?) do người em ruột đứng đấu là ví dụ đầu tiên. Thứ đến là Cơ Quan Mãi Dịch thuộc Bộ Tài Chánh. Có lẽ sau đó ông Châu Kim Nhân đã thành phụ tá thủ tướng; xin nói tôi không biết rõ.

Theo dangvannham.com, ông Khiêm và ông Khánh đều đã vào bưng VC nhưng rồi trở ra tề. Nhiều bài viết đồng ý với nhau TTK chủ chốt trong việc lật đổ ông Diệm. Họ phê phán ông phản chủ. Ít nhất về mặt hiện tượng, điều nầy rõ ràng như ông Đính là con nuôi của ông Diệm.

Các nhà bình luận trên kết án TTK bán chủ quyền cho Mỹ. TTK cũng như mọi người từ bắc chí nam, từ ải Nam Quan cho đến Cà Mâu có ai có chủ quyền mô, thì TTK làm gi có cái ấy?!. Hai bên Đỏ và Vàng ở trong hai vị trí khác nhau, thuận lợi khác nhau về tuyên truyền. Bên Vàng bất lợi hơn. Nói khác bên Đỏ mất chủ quyền, nhưng ở miền Bắc mồm dân bị khóa còn bên Vàng thì có tự do hơn tuy chưa được một chăm phần chăm.

Đôi ba phần phần trăm cũng đủ gây thiệt hại.

Tôi không đủ sức viết rộng hơn về chủ quyền. Nhưng chủ quyền không phải là một "good issue".
Vàng và Đỏ chỉ hơn nhau: ai có mấy phần trăm tự do, ai có vải cho dân không lòi háng lòi khu, phụ nữ che không kín cái sự đời, có cơm không lòi xương. Pragmatism thái quá chăng?

(Rất thương mến Vĩnh đã biết trong trại, Trọng Đạt trong các bài viết).

tôn thất tuệ

tb: ông tướng là ông Đỗ Mậu

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...