18 September 2017

Phản ứng ác nghiệt của kẻ tuyệt lộ (2)

Nguyễn Gia Thưởng

Ngày 9 tháng Giêng năm 1993, Jean-Claude Romand giết bà vợ và hai đứa con 5 tuổi và 7 tuổi. Sau đó đương sự lái xe đến nhà bố mẹ ruột của mình và bắn chết cả hai ông bà. Y trở về nhà và uống thuốc ngủ rồi phóng hỏa căn nhà. Tuy nhiên y đã được cứu sống và hiện nay thụ án án tù chung thân tại Pháp và có thể được thả vào năm nay.

Trông suốt cuộc đời của đương sự, đương sự chỉ sống trong sự dối trá. Đương sự đã lừa dối những người thân trong vòng 18 năm. JC Romand đã tự phong cho mình là bác sĩ làm việc cho tổ chức Y tế Quốc Tế và đánh lừa cả những anh bạn bác sĩ (bằng cách đem sách y khoa chuyên biệt đọc cho cả nhóm nghe). Đương sự sống nhờ những món tiền đương sự gạt gẫm từ năm này sang năm khác tất cả những người thân thuộc (cha mẹ ruột, che mẹ vợ, tình nhân) với lý do đem tiền đầu tư ở Thụy Sĩ. Đương sự còn đem bán thuốc giả chữa bệnh ung thư với giá cắt cố. Cuối cùng đương sự đã ra tay hạ thủ khi người thân trong gia đình bắt đầu khám phá sự thật về đương sự. Vợ của đương sự không hiểu tại sao không bao giờ gọi được trực tiếp đương sự ở sở. Một người bạn cuối cùng khám phá tên tuổi của đương sự không nằm trong danh sách những công chức của tổ chức Y tế Quốc tế (OMS – WHO). Tiền bạc bắt đầu cạn kiệt và các chủ nợ bắt đầu đòi, rơi vào bẫy do chính đương sự tự gài và không còn cách nào khác là phải tiêu diệt những chủ nợ.

Cuộc đời của đương sự được ông Emmanuel Carrère viết thành sách mang tựa đề “L’adversaire” (Đối thủ), xuất bản năm 2000. Diễn tiến cuộc đời của đương sự vượt lên trên mọi sự hiểu biết của người bình thường.

Trong một chừng mực nào đó Đảng Cộng sản Việt Nam cũng giống JC Romand. Cuộc đời của JC Romand có nhiều nét tương đồng với tiến trình hình thành và suy vong của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng cộng sản đã được nuôi sống trong sự dối trá và bạo lực và đã kéo dài đến 85 năm nay. Đến nay, các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhận thấy họ đã vận dụng hết những khả năng lừa dối nhân dân Việt Nam.

Cá nhân JC Romand lừa đảo bạn bè và gia đình được 18 năm. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lừa nhân dân Việt Nam đã 85 năm, có nghĩa là có khoảng chừng 5 lãnh tụ cộng sản Việt Nam lừa dối nhân dân trong vòng 17 năm.

Đây là lúc họ phải bịt miệng tiêu diệt những ai dám nói lên những sự thật này. Nếu có khả năng họ sẽ tìm cách tiêu diệt hết những ai cất tiếng nói lên sự thật. Những đứa con đẻ của đảng cũng nhận thấy rằng mình không thể sống sót với “cha già” độc ác này. Sự hung ác đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta, trước mắt thế giới.

Trong tiến trình suy thoái Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay tự chặt tay chân của mình, khủng bố, bắt giam, bỏ tù những người trước đây đã hết mình ủng hộ đảng, ngoan ngoãn tuân theo lệnh đảng. Cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn tự hào là những người tiên phong cách mạng, nhưng thực tế là họ chém giết lẫn nhau không thương tiếc để chiếm lấy ghế quyền lực. Hồ Chí Minh ra lệnh giết Lưỡng quốc tướng quân Hồng Thủy Nguyễn Sơn, người đã có công đưa Hồ Chí Minh lên tột đỉnh danh vọng. Lê Duẩn khống chế Hồ Chí Minh vào lúc cuối đời. Lê Đức Thọ hạ nhục Võ Nguyên Giáp. Nguyễn Văn Linh triệt tiêu Võ Văn Kiệt. Nguyễn Tấn Dũng triệt hạ Nguyễn Bá Thanh để uy hiếp Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang.

Tất cả những tội ác của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam đã được phơi bày. Tất cả những sự dối trá đã được lột trần nhưng hình như người Việt vẫn nhắm mắt làm ngơ chấp nhận sống chung với những tội ác này, hùa theo sự dối trá, biến nó thành một thực trạng bình thường.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiêu dùng gần hết những vốn liếng của dân tộc để duy trì quyền lực của mình và hiện nay đang biến đất nước thành một tỉnh phiên thuộc Trung Quốc. Những chứng cứ đã quá nhiều để không còn hồ nghi gì về việc Đảng Cộng sản Việt Nam sang nhượng lãnh thổ cho Trung Quốc. Điển hình nhất là việc ông Lê Đức Anh ra lệnh cấm không nổ súng đánh lại tàu Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Gạc Ma.

Nếu nhân dân Việt Nam không vô hiệu hóa Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn chúng ta sẽ cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam đi vào tiến trình diệt vong. Con thú giãy chết đang và tiếp tục có những hành động điên cuồng. Nhân dân Việt Nam đã đổ máu quá nhiều để nuôi sống con thú tàn ác này, con thú ăn thịt cả con mình. Trước khi chết nó sẽ cố kéo theo nhiều người theo nó, giống như JC Romand từng hành quyết cả gia đình của mình. Chúng ta cần tỉnh táo để không rơi vào bẫy của bao lực.

Nguyễn Gia Thưởng
(Nguồn: Thông Luận)

16 September 2017

Hãy Biến Ngay!, thơ cay

Hỡi Hữu Thỉnh! Thật tởm lợm!
Có ai tin chúng mày đâu,
Một lũ không tim, đầu trâu, mặt ngựa!
Dáng dấp của con người bẩn bựa,
Tận bên trong bựa đến bên ngoài,
Chúng mày chẳng che dấu được ai
Đã lộ nguyên hình quái thú!
Hãy biến ngay
Cho trái đất sạch sẽ,
Quả địa cầu tròn trịa hơn xưa!
Chúng mày sống bằng thừa,
như đã chết
Nên không gian quyện mùi hôi khủng khiếp!
Biến ngay,
Không đươc một giây nuối tiếc!

Tri Phương
Sydney, Australia

Đánh phá không được thì chiêu dụ: Thư Ông Hữu Thỉnh (Hà Nội) gửi nhà văn Phan Nhật Nam (Washington DC)*

Ngày 1/9 vừa qua, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, có gửi thư chiêu dụ nhà văn Phan Nhật Nam về Việt Nam tham dự cuộc gặp mặt, sẽ diễn ra ở Hà Nội và một số địa phương ở phía Bắc, từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. Ngày 9/9, nhà văn Phan Nhật Nam đã có thư trả lời ông Hữu Thỉnh. Dưới đây là nội dung thư trao đổi giữ hai người.
**

Thư gửi: Nhà văn Phan Nhật Nam

Thưa anh,

1- Để đỡ đường đột, xin giới thiệu. Tôi là Hữu Thỉnh, người từng đọc anh đã lâu, hiện nay đang làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi mới gặp Thụy Kha vừa ở bên ấy về, cho biết có gặp anh và hai người đã từng cùng nhau uống bia vui vẻ. Đấy quả là một sự kiện bất ngờ thú vị. Với dư âm của các cuộc gặp ấy, tôi viết thư này thăm anh và bày tỏ nguyện vọng “tái bản” cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn, thời gian dài hơn trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài. Đây là một cuộc hội ngộ mà chúng tôi mong mỏi từ lâu, nay mới có thể thực hiện được. Với ý nghĩa cao cả, góp phần làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp. Tôi chờ đợi được anh chia sẻ điều đó và chân thành mời anh tham gia sự kiện nói trên.

Anh Nam ơi, tôi muốn nói thêm rằng, chúng ta đều không còn trẻ nữa. Tôi hình dung cuộc gặp này là rất có ý nghĩa cho những năm tháng còn lại của mỗi chúng ta. Tôi cũng dự đoán rằng, có thể có những khó khăn. Nhưng từ trong sâu thẳm thiên chức nhà văn, chúng ta cùng chọn Dân Tộc làm mẫu số chung để vượt qua tất cả.

2- Cuộc gặp mặt dự kiến sẽ diễn ra từ 20 đến 25 tháng 10 năm 2017 tại Hà Nội và một số địa phương ở phía Bắc. Trường hợp anh Nam, Ban tổ chức sẽ lo chi phí toàn bộ đi về và thời gian tham gia Cuộc gặp mặt. Vì là lần đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, xin anh vui lòng lấy vé giúp và cho biết thời gian chuyến bay để chúng tôi ra đón anh tại sân bay Nội Bài. Quá trình chuẩn bị có gì cần trao đổi, xin anh cho chúng tôi biết sớm.

3- Ngay sau khi được hồi âm của anh, tôi sẽ gửi giấy mời chính thức cùng chương trình của Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt đang chờ đón Cuộc gặp mặt của chúng ta.

Chúc anh sức khỏe, may mắn, gia đìnhh hạnh phúc và mong sớm nhận tin tốt lành.

Hà Nội 1/9/2017

Thư gửi ông Hữu Thỉnh,
Hội Nhà Văn Hà Nội
Qua địa chỉ điện thư cô Đào Kim Hoa
Phụ Tá Ngoại Vụ Hội Nhà Văn

_____

Thư hồi đáp của nhà văn Phan Nhật Nam
**

Tôi, Phan Nhật Nam, nguyên là một sĩ quan cấp Đại Úy Hiện Dịch Thực Thụ thuộc Sư Đoàn Nhẩy Dù/ Quân Lực VNCH gởi đến Ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội để trả lời thư đề ngày 1 tháng 9, 2017 qua điện thư của cô Đào Kim Hoa

#1-Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân Lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hóa, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975. Tôi có thư nầy để trả lời mời gọi mà ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gởi đến cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là “Hòa Hợp Hòa Giải”. Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì những lẻ…

#2- Là một người sinh trưởng từ thập niên 1940, tiếp sống qua hai cuộc chiến 1945-1954; 1960-1975, thực tế lịch sử, chiến tranh, xã hội Việt Nam trước, sau 1975 đã cho người lính chúng tôi xác chứng: KHÔNG HỀ CÓ CHỦ TRƯƠNG HÒA HỢP HÒA GIẢI từ người/ chủ nghĩa/ chế độ cộng sản trong lý thuyết cũng như qua sách lược hành động.

#3-Từ thực tiễn của #2 thêm kinh nghiệm mà bản thân cá nhân là một đối tượng thụ nạn của thành phần gọi là “Ngụy Quân-Ngụy Quyền” thuộc chế độ Quốc Gia Việt Nam (1948-1954); Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) đến hôm nay vẫn tiếp tục bị miệt thị, xuyên tạc, và triệt hạ dẫu chiến tranh đã chấm dứt từ 1975.

#4- Trong tình thế chung nhất của #2; #3, chắc chắn rằng không thể nào thực hiện được “Hòa Hợp Hòa Giải” như thư ông Hữu Thỉnh đề nghị! Cũng bởi, giới Nhà Văn chính là đối tượng hàng đầu bị bách hại đối với tất cả chế độ cộng sản Đông-Tây. Lịch sử đẫm máu 100 năm của chế độ cộng sản từ 1917 đến nay như một vũng tối ghê rợn phủ chụp lên lương tri nhân loại. Hỏi thử buổi gặp mặt tháng 10 tại Hà Nội (cho dẫu thực lòng đi nữa) sẽ gây được tác dụng gì? Nhà Văn? Nhà Văn Việt Nam đích thực là những ai? Nhưng đây không phải là vấn đề của cá nhân tôi – Trước sau chỉ là một Người Lính-Viết Văn. Cũng bởi, tôi chưa hề nhận Chứng Chỉ Giải Ngũ của Bộ Quốc Phòng/ VNCH cho dù đã không mặc quân phục từ 1975.

#5- Cuối cùng, với bản chất đơn giản, chân thật của một Người Lính, tôi có một đề nghị như sau: Để thực hiện tinh thần và nội dung “Hòa Hợp, Hòa Giải Dân Tộc” như lá thư mời của ông Hữu Thỉnh đã đề cao. Hệ thống cầm quyền, cụ thể thành phần cán bộ làm công tác văn hóa, học thuật, truyền thông, báo chí… dưới chỉ đạo của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng nơi Hà Nội chấm dứt, điều chỉnh MỘT CÁCH THÀNH THỰC danh xưng miệt thị “Ngụy Quân/ Ngụy Quyền” trong tất cả sử liệu, văn khố, tài liệu giáo khoa, văn thư hành chánh, sinh hoạt xã hội… Cụ thể hơn hãy chấm dứt cách biểu tình với lời hô “Đả đảo Thương Phế Binh VNCH!!” như đã xẩy ra nơi Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn!

Hãy nhìn lại… Thương phế binhVNCH là những lão nhân phế binh, thương trận đã không được sống với dạng Con Người từ 30 Tháng 4, 1975. Hãy để cho Người Lính QLVNCH còn sống sót và gia đình được trở lại Miền Nam sửa sang phần mộ Chiến Hữu nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là nơi giới cầm quyền Hà Nội chủ trương phá bỏ một cách có hệ thống, dẫu người chết gần nửa thế kỷ qua không thể nào đe dọa đối với Chế độ XHCN!

Xin hãy “Hòa Hợp Hòa Giải” với những người đã chết. Với người đang cố sống sau thảm họa Formosa, Nghệ An. Hãy hoà hợp, hòa giải với “Khúc ruột ở trong nước” trước. Khi ấy không cần mời, chúng tôi “Khúc ruột ngàn dặm” sẽ về. Về rất đông. Người Viết Văn – Lương Tri và Chứng Nhân của Thời Đại sẽ VỀ. TẤT CẢ CÙNG VỀ VIỆT NAM.

Kính thư,

Người Lính-Viết Văn,
Công Dân Mỹ gốc Việt,
Phan Nhật Nam
Washington, DC
9 Tháng 9, 2017
___________________
Nguồn: FB Tuấn Lê
(*) Tựa đề của TTR

15 September 2017

Trị Bệnh Ung Thư Bằng Aspirine.

Đôi giòng:

Bài viết của bác sĩ Trần Mộng Lâm ở Montréal là một ví von cực kỳ đơn giản nhưng rõ ràng của một thày thuốc chuyên trị bệnh cho người; Ông cũng là người đã từng trải nhiều năm sống dưới chế độ cộng sản sau khi những người cộng sản chiếm được Miền Nam.
(SĐ)

Trị Bệnh Ung Thư Bằng Aspirine.

Một người bạn vừa gửi tôi  xem một video clip ghi lại hình ảnh một buổi hội thảo mới đây được tổ chức tại Montréal. Diễn giả là một cô gái Việt Nam rất trẻ, đến từ phương xa. Tôi không được mời tham dự cuộc hội thảo này nên không rõ nội dung cuộc nói chuyện ra sao, nhưng đoạn phim ngắn tôi xem được chỉ ghi lại lời của diễn giả khi cô trả lời một thắc mắc của cử tọa.


Cô ta nói : Chúng cháu không đặt vấn đề chống Cộng, chúng cháu chỉ chống cái ác, cái khổ mà đồng bào trong nước đương phải gánh chịu.

Già cả, chữ tác đánh chữ tộ, tôi chỉ có thể ghi lại được như thế, có gì sai, xin các cháu cho biết.

Tôi rất tôn trọng giới trẻ, và trong lòng chỉ ao ước một ngày nào đó, các cháu thay thế những cha anh, để tiếp tục cuộc chiến đấu cho đất nước Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam. Những gì tôi viết dưới đây không phải để công kích các cháu, chống lại hoặc chụp mũ bất cứ ai. Tuy nhiên tôi xin hỏi các cháu một điều là các cháu có biết nguyên ủy của cái ác, cái khổ của người Việt Nam từ đâu mà ra hay không ???

Nếu các cháu được sinh ra và lớn lên tự hải ngoại, thì tôi xin nói để các cháu hiểu là nguyên ủy của thảm trạng Việt Nam là do Cộng Sản . Nếu không có chế độ CS, người dân Việt Nam không khổ, và nếu con người CS tử tế, thương đồng loại, thì người dân không bị xử ác, thậm chí đến mạng vong nếu chống đối CS.

Những tội ác mà chúng ta thấy được trong xã hội Việt Nam chỉ là cái ngọn. Cái gốc là chế độ độc tài đảng trị mà đảng CS áp đặt lên Miền Nam sau khi chúng chiếm và đổi tên Sài Gòn. Sau 1975, hàng triệu người bị giam giữ, bị hành hạ trong các trại cải tạo. Họ bị giết, hoặc được tha sau nhiều năm trời. Sau đó, vì không sống đựợc cái ác, vì khổ sở cùng cực, họ phải liều chết vượt biên. Với bao sự khủng hoảng đó, họ trở nên bất bình thường, và sống với dư chứng của cái gọi là syndrome de stress post traumatique , nghĩa là gần như tàn tật..

Các cháu được hưởng cái may mắn sanh ra và lớn lên ở đây, đó là nhờ công ơn cha mẹ. Đừng vì cái hiện tại huy hoàng hiện tại mà quên đi những dĩ vãng đau buồn của đời cha.

Nay các cháu trở thành một phần nào giống như thanh nhiên của các nước tân tiến, sống thoải mái, có lý tưởng, thương người nghèo. Những việc đó rất tốt, không ai có thể cản ngăn hay nói xấu. Thế nhưng nói chống cái ác, cái khổ tại Việt Nam mà  không nói chống Cộng thì không đủ. Các cháu nói chỉ cần quàng trên cổ lá cờ vàng ba sọc đỏ là đủ nói lên là  các cháu không CS. Không đâu, việc tuyên bố chống Cộng lại cần nói ra, và nói to trên diễn đàn, nhất là trong một buổi hội thảo long trọng tổ chức bởi một cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn CS.

Vấn đề Việt Nam, bệnh có nguyên nhân là CS, khổ và ác trong xã hội chỉ là triệu chứng lâm sàng. Công Sản gây ra khổ và ác.

Chúng ta muốn hết khổ, hết ác, phải giải thể CS.

Việt Nam có thể ví von là đang bị nhiễm trùng gây nên nóng sốt..
Trị nhiễm trùng, cần trụ sinh chứ không cần aspirine giảm sốt.

Chữa bệnh Việt Nam mà nói không chống Cộng Sản khác nào dùng aspirine hay dầu cù là chữa bệnh nan y. Ai cũng biết Aspirine chẳng có tác dụng nhiều gì, tuy cũng không phải là không hữu ích cho một vài trường hợp. Cancer mà dùng aspirine trị thì cũng như gãi ghẻ mà thôi

Trần Mộng Lâm
Nguồn: Thư luân lưu trên [cvaxagan] via Blog Sầu Đông

Nghe nhạc cuối tuần

Bonnie Tyler - Total Eclipse of the Heart

“Mỗi khoảnh khắc anh chưa quay về, em chỉ biết đi quanh quẩn, cô đơn, mệt mỏi hơn và chỉ biết  lắng nghe dòng nước mắt chảy dài trên má bởi vì từng giây qua, em chợt lo ngại những giây phút đẹp nhất đã trôi qua, bởi vì tình yêu của anh và em là bất tận, là như bóng mát che chở em mọi lúc. Trong tim em giờ đây là khoảng tối (eclipse), em thấy mình gục ngã và đêm nay em cần có anh: hãy ôm em  thật chặt, hai ta sẽ có nhau trong vòng tay mãi mãi và sẽ không còn gì phải e ngại ”

Hãy dành đôi phút thưởng thức khúc nhạc tình  tạm thời quên đi những tất tả trong cuộc sống kể cả những khó khăn của hai cơn bão gây ra nơi quê hương thứ hai của chúng ta. Cũng xin thưa với Qúi anh chị: cung cấp và viết lời binh cho những bản nhạc chỉ là thiện chí. Nếu quí anh chị nào không thích xin delete và thông cảm. Cảm ơn nhiều.

Viết tại San Jose ngày 9/9/17
TeHong

14 September 2017

Jimmy Carter khuyên Trump: 'Hãy gìn giữ hòa bình ... hãy nói thật'

BILL BARROW , Associated Press • Ngày 12 tháng 9 năm 2017

ATLANTA (AP) - Hôm thứ Ba, Cựu Tổng thống Jimmy Carter đã đưa ra một bản cáo trạng chỉ trích chính sách đối ngoại và các vấn đề nội bộ của Hoa Kỳ. Ông nói rằng chính sách tiền tệ làm cho quốc gia giống như một "bọn đầu sỏ hơn là một nền dân chủ" và mô tả Donald Trump như là một thất vọng trên sân khấu thế giới .

Những lời chỉ trích của Carter, được đưa ra trong bản phúc trình hàng năm của ông cho những người ủng hộ Trung tâm Carter ở Atlanta hậu-tổng thống, đã vượt qua Trump, nhưng ông đặc biệt phê bình hướng đi của quốc gia dưới sự lãnh đạo của vị tổng thống Cộng hòa.

Tổng thống thứ 39, thuộc đảng Dân chủ, đã đưa ra lời khuyên này cho tổng thống thứ 45: "Hãy gìn giữ hòa bình, quảng bá nhân quyền và hãy nói thật."

Carter, 92 tuổi, đã không đề cập rõ ràng đến những trao đổi doạ dẫm của TT Trump với nhà độc tài Kim Jong-un của Triều Tiên Trump trong mùa hè này, nhưng cựu tổng thống Mỹ nói rằng Hoa Kỳ nên liên hệ trực tiếp với nhà lãnh đạo bán đảo và thảo luận về một hiệp ước hòa bình để thay thế cho thỏa ước ngừng bắn đã chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên năm 1953.

Carter nói : "Tôi sẽ đưa người đứng đầu của tôi đến Bình Nhưỡng ngay lập tức, nếu tôi không đi"; nên biết rằng ông đã ba lần đến nước này, ngay cả khi các chính quyền liên tiếp của Mỹ từ chối giao dịch với chế độ này.

Carter cho biết, người Bắc Triều Tiên muốn có một hiệp định đảm bảo Mỹ sẽ không tấn công trừ khi Triều Tiên tấn công Hoa Kỳ hoặc một đồng minh, đặc biệt là Hàn Quốc. Ông nói: "Cho đến khi chúng ta nói chuyện với họ và đối xử với họ với sự tôn trọng - như những con người, họ là gì - tôi không nghĩ chúng ta sẽ đạt được tiến triển".

Ông cũng bác bỏ sự lạc quan của Trump rằng Trump có thể kiến tạo hòa bình Trung Đông. Trump đã giao nhiệm vụ này cho con rể của mình, Jared Kushner, giải quyết một vấn đề đã làm phật lòng chính quyền Hoa Kỳ từ nhiều thế hệ, nhưng đặc biệt là tổng thống Trump đã rút lại sự ủng hộ vị thế của Hoa Kỳ đang nắm giữ lâu nay kêu gọi giải pháp hai quốc gia Israel và Palestine.

Carter nói rằng ông "thực thất vọng" rằng bất cứ điều gì Trump đưa ra sẽ đem lại "công lý cho người Palestine."

Carter nói: "Tôi không nghĩ rằng Trump hay các thành viên trong gia đình của ông đang làm gì trong sự tôn trọng này”. Ông chỉ trích cả lãnh đạo Israel và Palestine thiếu tính linh hoạt, nhưng ông đã nêu ra Thủ tướng Israel Benjamin Netenyahu, một đồng minh của Trump, "không có ý định chấp nhận giải pháp hai quốc gia".

Cựu tổng thống và phu nhân, Rosalynn, chủ yếu hướng về chính trị đảng phái, từ lâu đã có vai trò tích cực trong Đảng Dân chủ. Nhưng họ duy trì sự ủng hộ cao độ thông qua Trung tâm Carter, tập trung vào quyền con người, y tế công cộng và các cuộc bầu cử dân chủ.
. . . . . . .

TNT phỏng dịch

11 September 2017

Ai cũng tham nhũng thì lấy ai chống tham nhũng?

Có thể khẳng định rằng, 72 năm qua, kể từ khi cụ Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nhà nước VHDCCH nay là CHXHCNVN, chưa bao giờ vấn nạn tham nhũng lại gây nhức nhối trong xã hội đến như vậy. Tham nhũng thực sự đã trở thành “quốc nạn”. Nó không chỉ làm bào mòn lòng tin của người dân vào Đảng, đe doạ sự ổn định chính trị, sự tồn vong của chế độ mà nguy hại hơn nó làm cho đất nước khánh kiệt, người dân khốn khổ.

Bây giờ, tham nhũng không chỉ là tiền bạc, tài sản, mà còn tham nhũng cả cơ chế, tham nhũng quyền lực. Trong đó, tham nhũng quyền lực là nguy hiểm và gây hậu quả nghiêm trọng nhất.

Người đứng đầu Đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng thẳng thắn thừa nhận:“tham nhũng… nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có”. Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng từng than phiền "Tôi càng đi càng thấy buồn, ăn của dân không từ một cái gì”.

Như chúng ta thấy, tham nhũng hiện nay xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực, các cấp các ngành, từ cấp thấp nhất cho đến cấp cao nhất trong hệ thống chính trị. Lãnh đạo cấp xã thì ăn chặn tiền cứu trợ, bán đất trục lợi, lợi dụng trương trình nông thôn mới tham nhũng. Lãnh đạo cấp huyện, cấp tỉnh, cấp bộ thì tham nhũng dự án, công trình, nhận tiền biếu xén, chạy chức chạy quyền…

Quan chức bây giờ nhiều người quá giàu, siêu giàu. Một ông chủ tịch xã lương chừng vài triệu/tháng chỉ một nhiệm kỳ đã xây được nhà bạc tỷ thì đủ hiểu từ chủ tịch huyện trở lên sẽ thế nào. Giám đốc sở, bí thư huyện, chủ tịch tỉnh, bí thư tỉnh, tổng thanh tra chính phủ, bộ trưởng, thứ trưởng… họ lấy tiền đâu để xây biệt thự, biệt phủ nếu không tham nhũng?

Chống tham nhũng, hô hào thì rất lớn, quyết tâm thì cũng rất mạnh, bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu hội nghị bàn về chống tham nhũng nhưng rồi cũng chẳng mang lại kết quả nào đáng kể. Vì sao? rất đơn giản, là vì cơ chế này nó đẻ ra tham nhũng và ngược lại tham nhũng nuôi sống cơ chế. Vậy chống tham nhũng là chống lại cơ chế mà chống lại cơ chế khác nào “đem nạng chống trời”. Khi quan chức ai cũng tham nhũng như ai thì lấy ai chống tham nhũng? Chẳng có vị lãnh đạo nào thanh liêm mà thăng quan tiến chức được trong cơ chế này. Họ chỉ khác nhau là tham nhũng ít hay nhiều, người ăn kín đáo, kẻ ăn lộ liễu. Tôi chắc chắn điều đó.

Vừa rồi, Nguyễn Xuân Sơn bị cáo trong đại án OceanBank đang xét xử khai trước toà là chi hàng trăm tỷ cho các đồng chí lãnh đạo trong các dịp lễ tết: “chi cho ngoại giao các dịp lễ tết, chi từ cấp nhỏ đến lớn... Cấp nhỏ nhất là chuyên viên, tết mỗi phong bì 50 triệu. Còn cấp lớn, dịp tết chi phong bì tới 200 triệu đồng… mà chỉ là phong trào như các doanh nghiệp khác mỗi dịp lễ, tết” (theo báo Thanh niên). Đó mới chỉ là một doanh nghiệp, còn trong hàng trăm doanh nghiệp, tổng công ty, công ty số tiền lễ tết biết bao nhiêu mà kể.

Hay như vụ án VN Pharma buôn thuốc giả thu lợi bất chính hàng ngàn tỷ đồng, trong đó chi cả trăm tỷ tiền hoa hồng cho bác sĩ, quan chức quản lý. Đó là chưa kể những khuất tất liên quan đến Bộ trưởng Y tế đương nhiệm.

Chỉ hai vụ việc đang được dư luận quan tâm trên, đủ để chúng ta hình dung tham nhũng làm mục nát đất nước này như thế nào.

Công cuộc chống tham nhũng của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ là một cuộc chiến nữa vời như lời ông đã từng nói “kỷ luật một vài người để cứu muôn người”. Cho nên, mới có chuyện kỷ luật một vài quan chức về hưu, còn các vị đương nhiệm thấy đã kỷ luật, khởi tố được ai đâu. Vụ cô Trần Vũ Quỳnh Anh ở Thanh Hoá đến nay vẫn không tin tức. Vụ cả nhà bí thư Bắc Ninh Nguyễn Nhân Chiến làm quan rơi vào im lặng. Chuyện quan chức tỉnh Yên Bái sở hữu khu đất vàng không còn được nhắc đến. Dự án xe buýt nhanh ở Hà Nội thất bại, không thấy ai chịu trách nhiệm. Kết quả thanh tra tài sản của ông Phạm Sĩ Quý – Giám đốc sở TN&MT Yên Bái. Vấn đề sai phạm của các dự án BOT… Tại sao những vụ việc trên được báo chí thông tin, dư luận ồn ào, dân chúng bất bình rồi một thời gian rơi vào im lặng ?

Để kết thúc bài viết, xin mượn lời của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh: Tham nhũng phát sinh ra từ thể chế mà quyền lực không được kiểm soát khách quan. Tham nhũng như là thuộc tính của thể chế nầy thì làm sao chống lại được. Ông Trọng lấy gì bảo đảm thay quan tham nhũng nầy bằng bằng quan khác sẽ không tham nhũng?

Đ.An
(LINK dẫn tới nguồn: Dân Luận)

Tháng Chín ở Huntington Beach, thơ


Tin buồn

Đồng môn Quốc Gia Hành Chánh Ban Đốc Sự Khóa 9

 Ông

NGUYỄN ÂN TRUNG
 đã từ trần tại Việt Nam. Hưởng thọ 76 tuổi
(Nguồn Hội QGHC Nam California)

09 September 2017

Sự tan vỡ đang tới của Trung Quốc

David Shambaugh
Kevin Bùi chuyển ngữ

Ván bài cuối của chế độ cộng sản ở Trung Quốc đã bắt đầu, và các biện pháp tàn nhẫn của Tập Cận Bình chỉ đưa quốc gia này tới gần điểm tan vỡ hơn

Thứ năm vừa qua, Quốc hội nhân dân (TQ) họp tại Bắc Kinh với lịch trình quen thuộc như một nghi lễ hàng năm. Gần 3000 đại biểu “được bầu” từ khắp nơi trên toàn đất nước – từ các đại diện dân tộc thiểu số với trang phục sặc sỡ tới các tỷ phú tao nhã – sẽ gặp gỡ trong vòng một tuần để thảo luận về tình trạng quốc gia và tham dự vào việc giả vờ tham gia chính trị.

Một số xem việc tập hợp đầy ấn tượng này là một dấu hiệu của sức mạnh của hệ thống chính trị Trung Quốc – nhưng thực chất nó chỉ là lớp mặt nạ của những khiếm khuyết nghiêm trọng. Chính trị Trung Quốc vốn luôn là một sân khấu đa tầng, với các sự kiện như Quốc hội muốn phô trương sức mạnh và sự ổn định của đảng cộng sản Trung Quốc (CPP). Các quan chức và người dân đều biết rằng họ có nghĩa vụ phải uốn mình theo các nghi lễ này, nồng nhiệt tham gia và hô vang các khẩu hiệu chính thức. Hành vi này được biết đến trong tiếng Hoa là “ biaotai” – biểu đạt vị thế, nhưng nó chỉ là một sự tuân thủ mang tính biểu tượng.

Bất kể vẻ bề ngoài ra sao, hệ thống chính trị của Trung Quốc cũng đang bị phá vỡ nghiêm trọng, và không ai biết rõ hơn chính bản thân đảng cộng sản. Người lãnh đạo mạnh mẽ của Trung Quốc, Tập Cận Bình, hy vọng rằng việc đàn áp giới bất đồng chính kiến và tham nhũng sẽ củng cố sự cai trị của đảng. Ông kiên định trong việc tránh trở thành Mikhail Gorbachev của Trung Quốc, chủ trì sự sụp đổ của đảng. Nhưng thay vì trở thành phản đề của ông Gorbachev, ông Tập cũng rất có thể đẩy gió lên theo hướng tương tự, và dẫn tới cùng kết cục. Sự chuyên chế của ông làm trầm trọng thêm hệ thống và xã hội Trung Quốc – và mang quốc gia này tới gần hơn điểm tới hạn.

Dự đoán sự sụp đổ của các chế độ độc tài là một công việc mạo hiểm. Có rất ít các chuyên gia phương Tây dự đoán sự sụp đổ của Liên bang Xô viết trước khi xảy ra vào năm 1991; CIA hoàn toàn không tiên liệu được điều này. Sự sụp đổ của các quốc gia cộng sản Đông Âu hai năm trước đó đã bị coi khinh như những suy tưởng mộng mơ của những kẻ chống cộng sản – cho tới khi nó thực sự xảy đến. Các cuộc “cách mạng màu” hậu Xô viết ở Georgia, Ukraine và Kyrgyzstan từ năm 2003 tới 2005, cũng như sự nổi dậy của những mùa xuân Ả rập năm 2011, hoàn toàn bật ra bất ngờ.

Những nhà quan sát về Trung Quốc đã ở mức cảnh giác cao với các dấu hiệu về sự phân rã và suy giảm của chế độ kể từ lần chết hụt của chế độ tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Kể từ đó, nhiều nhà Hán học dày dạn đã đánh liều với uy tín nghề nghiệp của mình bằng cách khẳng định rằng sự sụp đổ của chế độ đảng cộng sản là không thể tránh khỏi. Một số khác thận trọng hơn – bao gồm chính tôi (Tác giả bài viết – David Shambaugh). Nhưng thời gian đã thay đổi ở Trung Quốc, và do vậy các phân tích của chúng ta cũng phải thay đổi.

Trò chơi cuối của chế độ cộng sản Trung Quốc đã bắt đầu, tôi tin là vậy, và nó đã tiến triển xa hơn mức nhiều người nghĩ tới. Tât nhiên, chúng ta không biết con đường từ bây giờ cho tới khi kết thúc sẽ như thế nào. Nó có thể sẽ là quá trình rất bất ổn và rối loạn. Nhưng cho tới khi hệ thống bắt đầu làm sáng tỏ theo một vài hướng rõ ràng, thì những người bên trong hệ thống sẽ cùng chơi một trò chơi – giữ gìn hình ảnh ổn định bên ngoài.

Chế độ cộng sản ở Trung Quốc hẳn sẽ không kết thúc lặng lẽ. Một sự kiện duy nhất nào đó sẽ không có khả năng kích hoạt sự sụp đổ trong hoà bình của chế độ. Sự băng hà của nó có lẽ sẽ được kéo dài, hỗn độn và bạo lực. Tôi sẽ không loại trừ khả năng ông Tập sẽ bị lật đổ trong một cuộc đấu tranh quyền lực hoặc đảo chính. Với chiến dịch chống tham nhũng mạnh mẽ của ông – trọng tâm thảo luận của Quốc hội nhân dân (Trung Quốc) tuần này – ông đã chơi quá tay với một quân bài yếu và chọc quá sâu vào giới lãnh đạo chóp bu của đảng, chính phủ, quân đội cũng như giới tài phiệt.

Người Trung Quốc có một câu tục ngữ, “waiying, neiruan” – bên ngoài thì cứng, bên trong thì mềm. Ông Tập thực sự là một nhà cai trị cứng rắn. Ông bộc lộ rõ sức thuyết phục và sự tự tin. Nhưng tính cách cứng rắn này gây một ấn tượng nhầm lẫn về đảng và hệ thống chính trị mà hiện tại vô cùng mong manh ở bên trong.

Hãy xem xét năm chỉ số về sự dễ tổn thương của chế độ và những yếu điểm mang tính hệ thống của đảng.

Đầu tiên, giới tinh hoa kinh tế của Trung Quốc đã đặt một chân ra khỏi cửa, và họ đã sẵn sàng chạy trốn hàng đoàn nếu hệ thống thực sự bắt đầu sụp đổ. Trong năm 2014, Viện nghiên cứu Hurun Thượng Hải, nghiên cứu tầng lớp giàu có của Trung Quốc, phát hiện rằng 64% những người “có giá trị ròng cao” mà viện này thăm dò – 393 các nhà triệu phú và tỷ phú – đều hoặc là đã di cư hoặc đang lên kế hoạch để làm điều đó. Người giàu Trung Quốc gửi con cái đi học ở nước ngoài với những con số kỷ lục (những số liệu này tự nó cũng là bản cáo trạng về chất lượng của hệ thống giáo dục Trung Quốc).

Cũng ngay trong tuần này, tạp chí (Wall Street Journal) cho biết các nhà điều tra liên bang đã kiểm tra một số các địa điểm ở Nam California mà chính quyền Mỹ cho là có liên quan tới “các doanh nghiệp du lịch – sinh con trị giá nhiều triệu dollar nhằm đưa hàng ngàn phụ nữ Trung Quốc sang du lịch và trở về với đứa con sơ sinh mang quốc tịch Mỹ”. Người giàu Trung Quốc cũng mua bất động sản ở nước ngoài với mức độ và giá cả kỷ lục, và họ đặt tài sản tài chính của mình ở nước ngoài, thường ở các thiên đường thuế và bởi các công ty chỉ có vỏ suông( đăng ký tên nhưng không có hoạt động).

Trong khi đó, Bắc Kinh đang cố gắng để dẫn độ về Trung Quốc một số lượng lớn những người bị cáo buộc vi phạm về tài chính đang trốn ở nước ngoài. Khi giới thượng lưu của một đất nước – rất nhiều trong số đó là đảng viên – chạy trốn với số lượng lớn như vậy, thì đó là dấu hiệu của sự thiếu niềm tin vào chế độ và tương lai của đất nước.

Thứ hai, kể từ khi nhậm chức vào năm 2012, ông Tập đã tăng cường đáng kể các áp chế chính trị vốn đã bao phủ toàn Trung Hoa kể từ năm 2009. Các mục tiêu bao gồm báo chí, các phương tiện truyền thông, phim ảnh, văn học nghệ thuật, các nhóm tôn giáo, Internet, giới trí thức, người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ (Uighur), người bất đồng chính kiến, luật sư, các tổ chức phi chính phủ (NGO), sinh viên đại học và thậm chí cả sách giáo khoa. Uỷ ban trung ương đã gửi một lệnh hà khắc năm 2013, gọi là văn bản số 9 xuống thông qua hệ thống tổ chức đảng, ra lệnh cho tất cả các chi bộ đảng thanh lọc tất cả những gì gọi là các “giá trị phổ quát” mà phương Tây tán dương – bao gồm dân chủ lập hiến, xã hội dân sự, tự do báo chí và kinh tế tự do kiểu mới (neoliberal economics).

Một chính phủ ổn định hơn và tự tin hơn sẽ không thiết lập một chiến dịch đàn áp nghiêm trọng như vậy. Đó là một triệu chứng của sự lo lắng và bất an sâu sắc của nhóm lãnh đạo đảng.

Thứ ba, thậm chí nhiều người trung thành với chế độ cũng đã trải qua các dịch chuyển. Thật khó để không nhìn thấy sân khấu của sự giá trá vốn đã lan tràn khắp cơ thể chính trị của Trung Quốc trong vài năm qua. Mùa hè năm ngoái, tôi là một trong số ít ỏi người nước ngoài (và chỉ có người Mỹ) tham dự hội nghị về “Giấc mơ Trung Hoa”, một khái niệm vốn mang đậm dấu ấn của ông Tập, tại một viện nghiên cứu trực thuộc đảng tại Bắc Kinh. Chúng tôi trải qua hai ngày mệt óc với những bài thuyết trình không ngừng của khoảng hai tá học giả đảng – nhưng gương mặt của họ băng giá, ngôn ngữ cơ thể của họ cứng như gỗ, và sự chán nản của họ là dễ thấy. Họ giả vờ tuân thủ theo thần chú mới nhất của đảng và các lãnh đạo. Nhưng rõ ràng là công tác tuyên truyền đã mất đi sức mạnh của nó, và hoàng đế thì đang cởi truồng.

Tháng 12 vừa qua, tôi trở lại Bắc Kinh trong một cuộc họp tại Trường Đảng Trung ương, học viện cao nhất của các giáo lý dẫn đường của đảng, và một lần nữa, các quan chức hàng đầu của đất nước và các chuyên gia về chính sách nước ngoài đọc phần khẩu hiệu của họ đúng nguyên văn. Một ngày, trong giờ ăn trưa tôi tới nhà sách của trường – luôn là một điểm dừng quan trọng để tôi có thể cập nhật về những gì mà các cán bộ lãnh đạo của Trung Quốc đang được giảng dạy. Hàng chồng dày trên các giá sách có từ “Chọn lọc các công trình của Lê Nin” cho tới hồi ký của Condoleezza Rice, và một cái bàn ở lối vào chất đầy các bản sao của một cuốn sách nhỏ viết bởi ông Tập về chiến dịch của mình nhằm thúc đẩy “niềm tin đại chúng” – chính là sự kết nối của đảng với đại chúng. “Cái này bán chạy không?, tôi hỏi một nhân viên. “ Ồ không”, cô trả lời, “chúng tôi cho không”. Độ dày của chồng sách dường như cho thấy nó không phải là một cuốn sách được ưa chuộng.

Thứ tư, tham nhũng, đã bắn thủng lỗ chỗ đảng, nhà nước và quân đội và cũng đang lan tràn khắp toàn xã hội Trung Quốc. Chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập là lâu bền và nghiêm khắc nhất từ trước tới giờ, nhưng sẽ không có chiến dịch nào có thể loại bỏ được vấn đề. Đó là một vấn đề ngoan cố, bắt rễ sâu vào hệ thống độc đảng, hệ thống ban phát bổng lộc, một nền kinh tế hoàn toàn thiếu minh bạch, với phương tiện truyền thông nằm trong tay nhà nước và sự thiếu vắng luật pháp.

Hơn nữa, chiến dịch của ông Tập lại chuyển thành không chỉ là chiến dịch chống hối lộ mà còn là một cuộc thanh trừng chọn lọc. Nhiều người trong số các mục tiêu cho tới nay là đồng minh chính trị của cựu lãnh đạo Trung Quốc Giang Trạch Dân. Bây giờ đã 88 tuổi, ông Giang vẫn là cha đỡ đầu của nền chính trị Trung Quốc. Đuổi diệt mạng lưới bảo trợ của ông Giang ngay khi ông còn sống là rất nguy hiểm cho ông Tập, đặc biệt khi ông Tập dường như không kéo theo phe cánh trung thành của mình để chiếm giữ các vị trí quyền lực. Một vấn đề khác: Ông Tập, một người con của thế hệ lãnh đạo cách mạng đầu tiên, là một trong những “ thái tử đảng” và các mối liên kết chính trị của ông chủ yếu là mở rộng tới các thái tử đảng khác. Thế hệ thìa bạc này (có nhiều may mắn, thuận lợi từ khi sinh ra -nd) bị chửi rủa rộng rãi trong xã hội Trung Quốc nói chung.

Cuối cùng, nền kinh tế Trung Quốc – với tất cả các quan điểm phương Tây đều cho rằng nó là một người khổng lồ không thể ngăn cản được- đang mắc kẹt trong một chuỗi các bẫy hệ thống mà không có lối thoát dễ dàng. Vào tháng 11 năm 2013, ông Tập chủ trì Hội nghị thứ ba của đảng, đã công bố một gói lớn các đề xuất cải cách kinh tế nhưng cho tới giờ, chúng vẫn chỉ nằm yên trên bệ phóng. Đúng là chi tiêu tiêu dùng đã tăng lên, các hạn chế được giảm bớt, và một số các cải cách tài chính đã được đưa ra, nhưng xét toàn thể, các mục tiêu tham vọng của ông Tập đã chết yểu. Gói cải cách đã thách thức các nhóm lợi ích đầy quyền lực – chẳng hạn như các doanh nghiệp nhà nước và giới chức đảng địa phương – và họ thẳng thừng ngăn chặn việc triển khai gói này.

Năm vết nứt ngày càng hiện rõ trong sự kiểm soát của chế độ chỉ có thể được hàn gắn thông qua cải cách chính trị. Cho đến khi, và trừ khi Trung Quốc nới lỏng sự kiểm soát chính trị hà khắc của họ, nó sẽ không bao giờ trở thành một xã hội sáng tạo và “nền kinh tế tri thức” – một mục tiêu chủ chốt của các cải cách từ Hội nghị lần ba. Hệ thống chính trị đã trở thành trở ngại chính của các cải cách xã hội và kinh tế cần thiết của Trung Quốc. Nếu ông Tập và các lãnh đạo đảng không thả lỏng sự kìm kẹp, họ sẽ nhận lại chính định mệnh mà họ hy vọng tránh khỏi.

Trong các thập kỷ kể từ khi sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, giới thượng tầng lãnh đạo của Trung Quốc đã bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của người anh em cộng sản khổng lồ. Hàng trăm các bài phân tích của Trung Quốc đã tập trung mổ xẻ những nguyên nhân của sự tan rã của Liên Xô.

“Giấc mơ Trung Hoa” thực sự của ông Tập là tránh vết xe đổ của Liên Xô. Chỉ vài tháng vào đầu nhiệm kỳ của mình, ông đã đưa ra một bài phát biểu nội bộ phân tích sự sụp đổ của Liên Xô và than thở về sự phản bội của ông Gorbachev, cho rằng Moscow đã thiếu một “người đàn ông thực sự” để đứng lên chống lại nhà lãnh đạo cải cách cuối cùng này. Làn sóng đàn áp của ông Tập hiện nay được hiểu là đối nghịch với những “perestroika” và “glasnost” của ông Gorbachev. Thay vì mở cửa, ông Tập tăng gấp đôi sự kiểm soát với những người bất đồng chính kiến, với nền kinh tế và thậm chí các đối thủ trong đảng.

Nhưng sự chống lại và đàn áp không phải là lựa chọn duy nhất của ông Tập. Những người tiền nhiệm của ông, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, rút ra những bài học hoàn toàn khác từ sự sụp đổ của Liên Xô. Từ năm 2000 tới 2008, họ đưa ra các chính sách nhằm mở rộng hệ thống với các cải cách chính trị một cách hạn chế và cẩn trọng.

Họ tăng cường các đảng uỷ cấp địa phương và thử nghiệm bỏ phiếu cho các bí thư đảng với nhiều ứng cử viên. Họ tuyển nhiều doanh nhân và trí thức vào đảng. Họ đã mở rộng sự tham vấn với các nhóm trung lập và khiến các quy trình của Bộ chính trị trở nên minh bạch hơn. Họ cải thiện các cơ chế phản hồi trong nội bộ đảng, thực hiện nhiều tiêu chí trọng dụng nhân tài hơn trong việc đánh giá và thăng chức, và tạo ra một hệ thống đào tạo bắt buộc giữa sự nghiệp cho tất cả 45 triệu cán bộ nhà nước và đảng. Họ thực thi đúng các qui định về tuổi hưu trí và luân chuyển cán bộ, sỹ quan quân sự cứ vài năm một lần.

Trong thực tế, trong một quãng thời gian, ông Giang và ông Hồ đã tìm cách để quản lý sự thay đổi chứ không phải chống lại nó. Nhưng ông Tập thì hoàn toàn khác. Từ năm 2009 (khi ngay cả ông Hồ cởi mở trước đây, cũng đã thay đổi và bắt đầu kiểm soát), chế độ ngày càng lo lắng này đã rút lại từng cải cách nói trên (với ngoại lệ là hệ thống đào tạo cán bộ). Các cải cách này được đưa ra và đạo diễn bởi quân sư chính trị và là cựu phó chủ tịch Tăng Khánh Hồng, người nghỉ hưu năm 2008 và giờ đây đang là đối tượng tình nghi của chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập – một biểu tượng thù địch khác của ông Tập với các biện pháp có thể làm dịu các căn bệnh của một hệ thống đang sụp đổ.

Một số chuyên gia cho rằng chiến thuật khắc nghiệt của ông Tập có thể thực ra là tiền đề của phương hướng cải cách và cởi mở sau này trong nhiệm kỳ của ông. Tôi không đồng ý. Nhà lãnh đạo này và chế độ này (cộng sản) coi chính trị là trò chơi có tổng bằng không: Nới lỏng kiểm soát, theo họ, là bước chắc chắn tới sự sụp đổ của hệ thống và sự hạ bệ của chính họ. Họ cũng duy trì cách nhìn nghi ngại rằng Mỹ đang hoạt động tích cực để lật đổ sự trị vì của đảng Cộng sản. Không điều nào trong số này cho thấy rằng cải cách chỉ còn cách một khúc quanh.

Chúng tôi không thể dự đoán khi nào đảng cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ, nhưng không khó gì để kết luận rằng chúng ta đang chứng kiến giai đoạn cuối cùng của nó. Đảng cộng sản Trung Quốc là chế độ cầm quyền dài thứ hai trên thế giới (chỉ sau Bắc Triều Tiên), và không có đảng nào có thể thống trị mãi mãi.

Nhìn về tương lai, các nhà quan sát về Trung Quốc nên để mắt tới các công cụ kiểm soát của chế độ và những người được giao để sử dụng những công cụ này. Một số lượng lớn các công dân và đảng viên đã bỏ phiếu bằng đôi chân của họ và rời đất nước hoặc thể hiện sự không thành thật của mình bằng cách giả vờ tuân theo những mệnh lệnh của đảng.

Chúng ta nên đợi tới ngày mà các cán bộ tuyên truyền của chế độ và bộ máy an ninh nội bộ trở nên lỏng lẻo trong việc thi hành các chỉ dụ của đảng – hoặc khi họ bắt đầu đồng nhất với những người bất đồng chính kiến, giống như mật vụ Đông Đức Stasi trong phim “ The Lives of Others – Cuộc đời của những người khác” đã trở nên đồng cảm với những mục tiêu gián điệp của mình. Khi sự đồng cảm của con người bắt đầu chiến thắng sự cai trị cứng nhắc, thì ngày cuối của đảng cộng sản Trung Quốc đã thực sự bắt đầu.

Tiến sĩ Shambaugh là Giáo sư về các vấn đề quốc tế và Giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington và một thành viên cao cấp tại Viện Brookings. Các cuốn sách của ông bao gồm “China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation” và gần đây nhất “China Goes Global: The Partial Power”.

07 September 2017

Chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng

Lê Duy San
Chủ nghĩa thực dân là một chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác để cai trị, ngõ hầu dễ dàng chiếm đoạt tài nguyên của nước bị trị cũng như dễ dàng bóc lột nguồn lao động của dân bản xứ nhằm làm giầu cho nước mình.

Núp dưới các dự án kinh tế, giặc Tàu đã chiếm lĩnh hàng
loạt vị trí xung yếu trên khắp đất nước ta.
Nguồn ảnh Bà Đầm Xòe
Người ta thường nghĩ rằng chủ nghĩa thực dân phát xuất từ Âu Châu vào thế kỷ 12, 13 khi người Bồ Đào Nha và các nước khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hòa Lan v.v. bắt đầu mở rộng lãnh thổ ra hải ngoại xa xôi như Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu và Úc Châu. Thực ra thì trước đó, từ lâu, người Trung Hoa cũng đã thi hành chủ nghĩa này, nhưng chỉ để xâm chiếm những nước chung quanh. Bằng cớ là ngay từ thời Việt Nam lập quốc (2879 trước tây lịch) nước ta đã bị người Tầu (đời nhà Hán) xâm chiếm và lập thành quận huyện của họ để đô hộ.

Chủ nghĩa thực dân mỗi ngày một thịnh vượng và kéo dài tới đệ II Thế Chiến (1939-1945) thì bắt đầu suy thoái và tới giữa thập niên 50 (1954) thì được coi là chấm dứt và thay vào đó là việc các nước lớn và mạnh dùng ảnh hưởng kinh tế của mình để can thiệp vào nội tình chính trị của nước khác, nhỏ và yếu, để giành thị trường tiêu thụ mà người ta gọi đó là chủ nghĩa thực dân mới.

Trước năm 1975, người Mỹ đã dùng sức mạnh kinh tế của mình nhưng không phải là để mở rộng thị trường tiêu thụ ở Việt Nam, mà là dùng Việt Nam Cộng Hòa làm tiền đồn để ngăn chặn làn sóng đỏ (cộng sản) từ phương Bắc. Nhưng chính sách này đã bị một số trí thức thân Cộng thời đó gọi là “chủ nghĩa thực dân mới” và một số người vô ý thức thì gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là bọn lính đánh thuê cho Hoa Kỳ. Thực ra chính Liên Sô và Trung Cộng mới chính là bọn thực dân mới và chính quân đội nhân dân của ngụy quyền cộng sản Hà Nội mới là bọn lính đánh thuê cho Nga Tầu. Thực vậy, bọn Nga, Tầu đã dùng chủ nghĩa Mác Lê tức chủ nghĩa cộng sản để, không những chiếm đoạt đất đai, chiếm đoạt thị trường (với chủ trương vô tổ quốc) mà còn sai khiến luôn cả ngụy quyền Hà Nội với chiêu bài thi hành nghĩa vụ quốc tế để toan tính nhuộm đỏ toàn thể thế giới.

I/ Hình thức chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng được áp dụng tại VN như thế nào?

Sau năm 1990, các nước cộng sản Nga Sô và Đông Âu tan rã, chỉ còn 4 nước theo chủ nghĩa cộng sản là Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam và Cu Ba. Nhưng chỉ có Trung Cộng là hùng mạnh, nhờ vào sự chấm dứt chính sách thù nghịch của Mỹ và thay vào đó là sự bình thường hóa quan hệ Mỹ Trung. Việt Nam thì nợ nần Trung Cộng quá nhiều vì tham vọng thôn tính miền Nam Việt Nam nên đã bị Trung Cộng dùng chủ nghĩa này chi phối và lấn áp mọi mặt.

Để áp dụng chủ nghỉa thực dân mới này, Trung Cộng đã áp dụng những chính sách sau tại Việt Nam và một số các nước nghèo đói, chậm tiến trên thế giới:

1/ Xâm chiếm lãnh thổ

Mặc dầu đi xâm chiếm lãnh thổ của nước khác để nhập vào lãnh thổ của mình, ngày nay đã bị thế giới lên án nặng nề. Nhưng bọn bành trướng Trung Cộng cậy có sức mạnh, cậy có dân đông (trên 1.3 tỷ người), cậy có tiền bạc nhiều, cũng vẫn làm nếu chúng có thể làm được. Điển hình là chúng đã thôn tính Tây Tạng, Nội Mông. Đối với Việt Nam, chúng đã lấn chiếm ải Nam Quan, thác Bản Giốc, hàng chục ngàn cây số vuông giáp ranh với Trung Cộng, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa và hàng trăm ngàn cây số vuông lãnh hải của Việt Nam.
Nếu nơi nào mà bọn Trung Cộng không lấn chiếm được, chúng dùng tiền để thuê mướn như chúng đã thuê ở nhiều nơi thuộc 9 tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam để trồng cây kỹ nghệ và 1

tỉnh thuộc miền cao nguyên Trung phần của Việt Nam để khai thác quặng bô-xít và nhiều nơi thuộc những tỉnh miền Nam để xây những khu phố Tầu (khu thương mại) trong thời hạn 50 năm. Trung Cộng cũng bỏ tiền của ra mua hoặc thuê mướn đất ở nhiều nước ở Châu Phi và Châu Mỹ LaTinh để tìm kiếm những quặng mỏ mà Trung Cộng có nhu cầu. Hậu quả của việc thuê mướn này rất là tai hại không những về kinh tế, kỹ nghệ mà cả về chính trị và xã hội cho nước bị lấn chiếm hay cho thuê mướn.

2/ Dùng chủ nghĩa cộng sản, dùng kỷ luật Đảng Cộng Sản và dùng tài chánh để sai khiến nước khác

Việt Nam cũng là một nước theo chủ nghĩa cộng sản như Trung Cộng nhưng lại là một nước nhỏ và nợ nần Trung Cộng nhiều, sau 20 năm chiến tranh. Do đó, đảng Cộng sản Việt Nam được coi như một đảng cộng sản đàn em, một chi nhánh của đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất nhất mọi sự đều phải theo lệnh của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chính tướng Việt Cộng là Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã thú nhận: “Tôi nói rồi, bất kỳ người nào lên lãnh đạo Trung Quốc họ cũng đều lấn át chúng tôi cả. Họ đều thực hành chủ nghĩa bành trướng, bá quyền đối với chúng tôi thôi. Còn phía lãnh đạo của chúng tôi, tôi còn theo dõi, thế mà từ trước đến nay họ không hề cãi gì với Trung Quốc cả.”

Đối với những nước không theo chế độ cộng sản nhưng nghèo đói như những nước ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Trung Cộng đã dùng tiền bạc thuê mướn đất đai dài hạn, mua chuộc chính quyền địa phương và truyền cấy chủ nghĩa cộng sản.

3/ Di dân

Mặc dầu Trung Cộng thuê mướn đất đai để khai thác quặng mỏ, xây cất các nhà máy, cơ xưởng, nhưng Trung Cộng không thuê mướn các công nhân bản xứ mà đem, không những các chuyên viên tới mà cả công nhân Trung Cộng cùng gia đình của họ từ Trung Cộng tới.

Trung Cộng áp lực Việt Nam phải chấp nhận để cho dân Trung quốc tự do nhập cảnh vào Việt Nam. Họ không những không cần hộ chiếu mà ngay cả giấy tờ tùy thân cũng không bị đòi hỏi. Lợi dụng tình trạng này, nhiều người Trung Cộng đã sang Việt Nam làm ăn, sinh sống và buôn bán một cách bất hợp pháp.

Tại phiên thảo luận về dự án luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chiều 28/11/2013, các đại biểu Quốc hội cộng sản Việt Nam đã nêu lên một vấn đề rất đáng lo ngại, lao động nước ngoài, đông nhất là từ Tàu, nhập cư vào Việt Nam, đang “lập xóm, lập làng, lập phố Tầu ở một vài địa phương”.

II/ Hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng

1/ Hậu quả về kinh tế và xã hội

Với 3 chính sách trên: xâm chiếm đất đai để khai thác, chi phối chính quyền địa phương, và di dân, bọn Tầu chỉ cốt làm sao cho được càng nhiều lợi càng tốt. Chúng không cần biết những hậu quả tai hại gì sẽ xẩy ra cho môi trường, cho dân chúng địa phương. Nơi nào chúng tính chuyện lâu dài, thì chúng cho nhân công của chúng đem vợ con tới sinh sống, làm ăn buôn bán và lập nghiệp. Với những hàng hoá dư thừa hoặc không đủ tiêu chuẩn bị ngoại quốc trả về, chúng mang vào Việt Nam bán với giá rẻ như bèo. Thử hỏi hàng hoá Việt Nam nào cạnh tranh nổi ? Rút cuộc các xí nghiệp sản xuất của Việt Nam sạt nghiệp và Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ của Trung Cộng.

Không những làm ăn buôn bán, những nhân công nào chưa có gia đình thì lấy người Địa phương và sinh con đẻ cái, dần dần chúng trở thành người Việt gốc Hoa, nhưng phong tục tập quán của người Hoa thì chúng vẫn giữ. Đây chính là phương pháp trồng người của bọn chúng.

Tại một thị trấn tại Lào, thị trấn Boten, không những tiếng Hoa được dùng hoàn toàn trong việc buôn bán mà cả trong lãnh vực hành chánh. Đồng Nhân Dân tệ của Trung Cộng cũng được dùng thay cho tiền Lào. Giờ giấc cũng chạy theo giờ Bắc Kinh. Rồi Việt Nam cũng sẽ tiến tới như vậy. Tới lúc đó thì dù hợp đồng thuê mướn đã mãn hạn, cũng không thể nào mà trục xuất họ về nước được.

2/ Hậu quả về chính trị.

Với cái thái độ nhu nhược và hèn nhát của ngụy quyền Hà Nội như chúng ta đã thấy trong những vụ ngư dân Việt Nam đánh cá trong những vùng biển Việt Nam bị tầu Trung Quốc chận bắt. Không những cá của ngư dân Việt Nam bị cướp mà cả người lẫn thuyền cũng bị chúng bắt giữ và đòi tiền chuộc mà bọn ngụy quyền Hà Nội cũng không dám phản đối thì thử hỏi còn đâu là chủ quyền của một nước?

Công an Việt Cộng hầu như không có thẩm quyền đối với những vụ tranh chấp giữa các nhân công Trung Cộng và người Việt Nam. Công nhân Trung Cộng không coi luật pháp Việt Nam ra gì cả. Chúng coi như vùng chúng ở là vùng tự trị của chúng. Chúng ăn uống, nhậu nhẹt tại các quán ăn của người Việt Nam có khi không những không trả tiền mà còn đập phá. Nếu chủ quán Việt Nam mà mạnh tay với chúng là có chuyện. Chúng kéo cả bọn mang gậy gộc, dao búa tới đập phá và đánh đập chủ quán và thân nhân của họ rất dã man mà công an Viêt Nam cũng bó tay, không dám can thiệp. Mới tới có ít lâu mà bọn chúng còn như vậy thì thử hỏi sau khi bọn chúng đã ở được vài ba chục năm, bọn chúng còn lộng hành đến đâu?

Mới đây, vào dịp Tết Bính Thân 2016, bà Tuyết Hương về thăm Việt Nam đã có cảm nghĩ về tương lai Việt Nam như sau: “... Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp Trung Cộng, có thể nói rằng trong dịp Tết này, Trung Cộng nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng ... Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác Trung Cộng mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy? ... Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân? Và tội lỗi này do đâu mà có? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết?

Tóm lại, với chế độ thực dân mới của Trung Cộng, với những chính sách mà Trung Cộng đã áp dụng tại Việt Nam, nếu chế độ cộng sản Việt Nam còn tồn tại thì chỉ vài chục năm nữa, Việt Nam sẽ có cả chục triệu người Tầu hoặc người Việt gốc Tầu (Tầu lai). Loại dân này sẽ trở thành một thứ kiêu dân, nếu không trực tiếp nắm quyền chính trị thì cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với chính quyền Việt Nam. Ngoài ra, bọn kiêu dân này còn có những hoạt động ưu thế về kinh tế và tài chánh (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…cho vay lãi, kim cương, vàng bạc…) và có thể còn có cả những cơ quan truyền thông, báo chí, điện ảnh giống như người Do Thái ở Đức trước đệ Nhị Thế Chiến và người Do Thái bây giờ tại Mỹ. Họ (Do Thái) sống cả ngàn năm ở Âu Châu, nhưng vẫn giữ tôn giáo riêng, phong tục tập quán riêng, không thèm hội nhập vào dòng văn hoá chính. Do đó, Trung Cộng cũng chẳng cần chiến tranh, chỉ sau vài thập niên nữa, Việt Nam nếu không trở thành quận huyện của Trung Quốc thì cũng sẽ trở thành một nước chư hầu tuyệt đối trung thành với mẫu quốc là Trung Cộng.

Đảng Cộng Sản Việt Nam
Đây cũng là điều mong muốn của bọn Việt Cộng bán nước. Chính Tố Hữu, một nhà thơ Việt Cộng đã có thời kỳ làm Phó Thủ Tướng ngụy quyền Việt Cộng (1981-1986) đã nói:

Bên này biên giới là nhà,
Bên kia biên giới cũng là quê hương.

Chỉ khi nào chế độ cộng sản Trung Quốc tan rã như Liên Xô, lúc đó chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tan rã theo và Việt Nam mới mong thoát khỏi bàn tay của lông lá của Trung Quốc. Mong rằng lời nói của bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho tờ The Atlantic như sau, sẽ thành sự thật: "Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm “những việc vô ích như những gã hề”.

Lê Duy San

Nguồn: Diễn Đàn Người Dân Việt Nam
Trích: Tập Tùy Bút “Tà Quyền Khiếp Nhược” của Luật Sư Lê Duy San gửi đến BBT Diễn Đàn Người Dân.

Thu Trường Sơn, thơ


06 September 2017

Cũng chỉ là những cái lắp bắp

Phạm Thanh Nghiên
Suốt tháng 8/2017, Trung cộng đã tiến hành hàng loạt cuộc tập trận đổ bộ gần cửa khẩu Việt Nam (xin xem bài viết "Trung Quốc đâu chỉ tập trận ở sát biển Việt Nam" của nhạc sĩ Tuấn Khanh), Nhà nước CHXHCN VN im thin thít. À, chắc là tại "nó đã xâm phạm lãnh thổ mình đâu, đã sang đến đất mình đâu mà mình nói", có thể các "đồng chí lãnh đạo đảng ta" nghĩ thế.

Cho đến khi "nó", tức thằng Trung cộng (chứ chẳng phải cái "nước lạ" chết tiệt nào) ra thông báo chính thức sẽ tiến hành diễn tập quân sự tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ từ 28/8 đến 4/9/2017 thì người phát ngôn bộ ngoại giao nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới lắp bắp vài câu, thể hiện sự quan ngại rồi... tịt. Mà cũng phải chờ đến 31/8, tức là sau khi Trung cộng đã tập trận rầm rầm tại khu vực rộng lớn trên biển cách Đà Nẵng chỉ 75 hải lý 3 ngày trời thì Hằng lưỡi gỗ mới được lệnh ú ớ lên vài câu như thế.

Như thế người ta gọi là nói cho có lệ, nói để giải quyết khâu oai. Và quan trọng hơn, để lừa phỉnh hơn 90 triệu người dân Việt mà trong ấy đảng biết tỏng là có đứa nó chả tin đâu. Nhưng phải làm thế cho nó đúng quy trình.

Với lại, vài đứa trong hàng chục triệu đứa dân có biết tỏng sự thật, thì cũng chả giải quyết được vấn đề gì. Cái chính là lừa được số đông và làm mát lòng rười rượi bố Tàu.

Đấy, cái hay, cái giỏi, cái thiên tài của đảng ta là ở những cái chỗ như thế. Chứ nào đâu chỉ giỏi trong thời chiến, du kích ta dùng tay không vật ngã máy bay địch. Nhở?

Cái sự lắp bắp của đảng ta trước đàn anh "nước lạ" nói mãi cũng nhàm. Ta tìm cái khác. À đây, rất hợp với không khí với cái ngày được gọi là "quốc khánh 2/9" nhá. Ố ồ, chợt nghĩ sao không nói toẹt (mẹ nó) ra là ngày "đảng khánh" nhỉ, bày đặt rồi nhận vơ là "quốc khánh" Quốc cái con khỉ. Làm gì có đất nước nào, dân tộc nào vui khi bị đày đọa trong đói nghèo khốn khó, trong khổ đau, tù đày, chết chóc và lạc hậu suốt mấy chục năm ròng. Và chưa biết bao giờ mới kết thúc.

Trở lại với cái lắp bắp trong ngày "đảng khánh" tôi vừa nghĩ đến, là tuyên bố của ông Giáo sư Tương Lai. Ông chọn đúng ngày hôm nay, ngày mà đối với ông nó vô cùng ý nghĩa để tuyên bố "chấm dứt mọi quan hệ với đảng của Nguyễn Phú Trọng đang thao túng". Tôi tự cho phép mình được suy diễn một tí. Chắc là ông Giáo sư chọn thời điểm này để ra tuyên bố cá nhân, tuyên bố chính trị với ý nghĩ việc ông làm sẽ như một cú đá vào lịch sử, một quả vả trời giáng vào giữa mặt ông Trọng và đồng bọn của ông. Ừ, thế cũng không sao, đấu tranh là phải thế, phải biết lựa thời điểm, chọn thời cơ. Tuy nhiên cú vả ấy có làm Trọng nổ đom đóm mắt không, có làm lịch sử rùng mình không thì chưa biết chắc. Nhưng nó làm tôi - một con bé từng làm nghề quét rác - không kìm được nụ cười nhạt và tiếng thở dài ngao ngán trước suy nghĩ này của ông Giáo sư nổi tiếng.

Thôi thì cứ cho là ông có quyền hoài niệm về một thời tuổi trẻ đầy máu lửa, nhiệt huyết, cái thời đi theo ông Hồ Chí Minh ấy. Thời ấy, không riêng gì ông mà nhiều lớp thanh niên Việt Nam, cả trí thức và nhiều thành phần xã hội theo ông Hồ, theo đảng cộng sản với lòng yêu nước thực sự. Họ cống hiến, hy sinh để rồi góp phần tạo nên một đất nước với diện mạo như chúng ta đang thấy hôm nay. Vì thế mà sau này mới có những con người thuộc thế hệ hôm qua phải cay đắng thốt lên rằng "trong những điều vĩ đại, cuộc lừa này là vĩ đại vô song".

Đấy là cơn bừng tỉnh của những người biết trăn trở về vận nước, của những người còn lương tri đã vượt qua cơn mộng mị và thẳng thắn nhìn lại chính mình.

Ông giáo sư Tương Lai chấm dứt quan hệ với đảng Cộng sản "của ông Trọng" để tiếp tục chiến đấu với tư cách một đảng viên đảng Lao Động Việt Nam như ngày tuyên thệ đứng vào đảng "của ông Hồ". Hiểu một cách đơn giản nhất, ông Tương Lai cho rằng đảng của ông Hồ tốt, đảng của ông Trọng xấu nên ông phải trung thành với Hồ, từ bỏ và thoát ly khỏi Trọng. Ông Tương Lai không nhớ sao, không nhớ cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, xét lại chống đảng, công hàm 1958 và vô vàn tội ác khác do ông Hồ gây ra cho dân tộc này hay sao?

Chẳng có đảng nào là đảng "của ông Hồ" hay "của ông Trọng" đâu ông Tương Lai ạ. Nó đích thị chỉ là một, tên gọi của nó là đảng cộng sản Việt Nam, thủ phạm gây ra mọi tội ác với nhân dân Việt Nam trong suốt mấy chục năm kể từ ngày ra đời 3-2-1930 đến nay. Hồ, Duẩn, Linh, Mười, Mạnh, Trọng... chỉ là những kẻ luân phiên nhau cầm đầu cái đảng ấy để làm khổ người dân VN thôi ông ạ.

Qua tuyên bố này của ông, tôi nghĩ đến những người có suy nghĩ tương tự như ông. Họ luôn cho rằng đảng cs xưa thì tốt, nay thì xấu. Hoặc đảng luôn đúng, chỉ có một số kẻ làm sai, làm bậy. Rằng tôi chỉ phấn đấu làm sao để đất nước tiến lên, có dân chủ chứ không chống đảng, tôi muốn đảng tốt lên như ngày xưa. Đại loại thế.

Tôi thì nghĩ ngắn gọn thế này: Muốn có dân chủ thì dứt khoát không dan díu với độc tài.

Cái suy nghĩ của ông và của một số người cùng quan điểm nêu trên, theo tôi thể hiện hai điểm sau:

Thứ nhất: Do nhận thức chưa đầy đủ, vẫn còn nét ngây thơ chính trị. Viết đến đây phải mở cái ngoặc đơn suy tư rằng, với một ông giáo sư có tiếng như ông Tương Lai, một con người già trải nghiệm như thế mà nhận thức chỉ đến vầy là khó tin.

Thứ hai: Biết hết, nhận thức được mọi nguyên nhân, mọi chuyện đang phơi bày trên đất nước này nhưng nghĩ một đằng phát biểu một nẻo để nịnh chế độ. Để vừa được tiếng là dám đấu tranh, dũng cảm phê phán chuyện tiêu cực nhưng ta đây cũng rất khách quan và công bằng, cái gì đảng tốt ta vẫn khen, xấu ta mới chê. Đấu tranh kiểu ấy chắc chắn là khôn ngoan, là nhận được sự tôn trọng và nhất là sự nhẹ tay của các anh công an nếu phải đương đầu với đàn áp. Và quan trọng hơn là khỏi phải ngồi tù. Khôn ngoan hơn khối đứa cứ thò mặt ra là bị đánh, bị xúc phạm, chửi bới, và bị bắt, bị tù.

Nếu rơi vào trường hợp thứ nhất, chắc chắn còn hy vọng một ngày nào đó người ta sẽ nhận ra. Nhưng ở trường hợp thứ hai thì ôi thôi không còn gì để nói. Tiếc rằng, nhiều người vẫn đang cổ vũ cho quan điểm này.

Ai cũng có quyền bày tỏ quan điểm và đáng được tôn trọng, kể cả bày tỏ sự yêu mến, tin tưởng đảng cộng sản. Nhưng yêu nó, tin nó khi biết chắc nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân đưa đất nước đến thảm họa ngày hôm nay, thì thứ tình yêu và niềm tin ấy chỉ là sự méo mó, xộc xệch, bệnh hoạn nếu không nói là có tội với dân tộc.

2/9/2017
Phạm Thanh Nghiên
Nguồn: phamthanhnghien.blogspot.com

Phát hiện danh tính 3 mật vụ từ Việt Nam tham gia bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh

Trung Khoa

Nhóm mật vụ từ Việt Nam đã trú ngụ tại khách sạn Sylte Hof tại đường Kurfürstenstraße 114, Berlin từ ngày 21 đến 23.7 để theo dõi và bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh

Hiện trường khách sạn Sylte Hof
tại đường Kurfürstenstraße 114, Berlin
Theo những thông tin mới nhất, Cảnh sát điều tra Berlin đang truy nã 3 người đàn ông từ Việt Nam sang Đức trong thời điểm từ ngày 21 đến 23.7 với nhóm trưởng là môt người đàn ông có độ tuổi khoảng 50, 2 người còn lại từ 30 đến 40 tuổi.

Trong nhóm này chỉ có 1 người nói được rất ít tiếng Anh và họ hoàn toàn không biết tiếng Đức.

Hình ảnh kamera ghi hình trong khách sạn đã cung cấp cho Cảnh sát điều tra các chân dung rõ nét với đầy đủ các hoạt động ra vào của những nghi phạm này, các tấm ảnh nhận dạng đã được in ra từ các thước phim Video có độ phân giải cao để phục vụ công tác điều tra.

Nhiều cửa hàng xung quanh khi vực khách sạn đã được Cảnh sát tới thăm, cho xem ảnh nghi phạm và yêu cầu cung cấp thông tin khi những đối tượng này xuất hiện trong những ngày lưu trú tại đây.

Đặc biệt nhóm nghi phạm thường xuyên tới các quán ăn châu Á trên nhiều dãy phố lân cận để thưởng thức món ``Phở Berlin`` và nhanh chóng rời đi, họ cũng không ăn nhậu hay uống rượu, bia ở những nơi này.

3 tấm hộ chiếu Việt Nam đã được chủ khách sạn ghi chép danh tính khi thuê phòng và cung cấp cho Cảnh sát điều tra, họ cũng cho biết tới ngày 23.7 thì nhóm này đã rời khỏi khách sạn trên một chiếc xe do người khác lái tới.

Theo nhận định của chuyên viên Đức về điều tra bắt cóc, giết người và khủng bố tại Tòa án Hình sự Quốc tế Den Haag, Hà Lan (ICC) "nhóm người này đã được dẫn đường bởi người rất thông thạo địa bàn tại chỗ", có thể họ hiện đang sống tại Berlin, khi chứng minh được đối tượng có liên quan thì sẽ phải chịu khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù cho tội hỗ trợ bắt cóc, ngoài ra các đối tượng trực tiếp tham gia bắt cóc sẽ chịu phạt tù từ 5 đến 10 năm, trường hợp nguy hiểm có thể ngồi tù chung thân.

Hiện nay các mẫu xét nghiệm DNA của nhóm nghi phạm đã được thu thập tại phòng khách sạn và trên chiếc xe 7 chỗ với nhiều vết máu để truy nã các đối tượng bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh. Cơ sở dữ liệu tại EUROPOL cũng được cập nhật để lập tức phát hiện và bắt giữ những người này khi họ đặt chân tới châu Âu.

Trung Khoa 
(Thoibao.de)

05 September 2017

Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

Phạm Tín An Ninh

Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình. Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng”nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”... Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”. Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ...”v.v...

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc. Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu...? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu... và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ... về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”. Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!

Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ "Sát Cộng" và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế.

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc... hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,... hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn, Nguyễn Văn Tý... khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này. Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngọn sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

4/9/2017
Phạm Tín An Ninh
danlambaovn.blogspot.com