14 October 2017

Tháng Chín ở Elwood Beach..., thơ


Khi Mỹ vẽ lại lịch sử cuộc chiến VN

Đôi giòng:
Nhìn cách Mỹ bỏ rơi VNCH thật ngán ngẩm quá. Ngay việc đưa quân Mỹ vào Miền Nam đã đủ là dấu hiệu* Mỹ sẽ thua. Đau nhất vẫn là dân chúng Miền Nam. Xem VOA những năm sau này chả thấy ‘khí thế’ gì cả. Bọn làm phim Mỹ chỉ giỏi vẽ rồng, vẽ rắn! (SĐ)
**

Lữ Giang – 13/10/2017

Trong bài “Tất cả chính trị đều là ‘thực tế’ được giàn dựng”, cựu Dân biểu Robert Linlithgow đã viết: “Chính trị được giàn dựng. Nó không phải là thực tế.” (Politics is staged. It’s not reality). Quả đúng như vậy. Nhìn lại đống tài liệu về cuộc chiến Việt Nam từ 1954 đến 1975 dày khoảng 150.000 trang đã được Mỹ giải mã, chúng ta thấy các biến cố quan trọng đều do Mỹ giàn dựng rất công phu, từ việc lèo lái chính phủ Ngô Đình Diệm đi theo đường lối của Mỹ đến vụ giết hai tổng thống Ngô Đình Diệm và John Kennedy để đổ quân vào Việt Nam, thực hiệc mục tiêu của cuộc chiến rồi bỏ rơi Miền Nam… đều đã được tính toán rất tỉ mỉ và chính xác.

Mặc dầu đống tài liệu được giải mã cao ngất còn nằm sờ sờ trước mắt, tứ 1975 đến nay, Mỹ đã cho giàn dựng lại cuộc chiến Việt Nam với nhiều tình tiết rất khác xa với thực tế và sử liệu đã được công bố, để phục vụ cho các chính sách và mục tiêu từng giai đoạn của Mỹ.

NHỮNG NỖ LỰC ĐÁNG BUỒN

Có 4 bộ phim giàn dựng lại cuộc chiến VN đã được người Việt hải ngoại quan tâm và phản đối vì cho rằng không trung thực.

Bộ thứ nhất: “Vietnam The Ten Thousand Day War” (Việt Nam cuộc chiến 10.000 ngày) của Michael Maclear phổ biến 1980. Trọn bộ 13 tập.

Bộ thứ hai: “Vietnam: A Television History” (Việt Nam: một Lịch sử Truyền hình) gồm 13 tập do hãng WGBH-TV (thuộc PBS) ở Boston phổ biến năm 1983.

Bộ thứ ba: “Last days in Vietnam” (Những ngày cuối cùng ở Việt Nam) do đạo diễn Rory Kennedy thực hiện và phổ biến năm 2014.

Bộ thứ tư: “The Vietnam War” (Cuộc chiến Việt Nam) gồm 10 tập, do hai nhà đạo diễn Ken Burnes và Lynn Novick thực hiện, PBS mới phổ biến.

Averell Harriman (phải),
kẻ ra lệnh giết ông Diệm
và ông Nhu
Bộ thứ tư này quan trọng nhất, được mấy chục tổ chức tài chánh và truyền hình Mỹ tài trợ, đứng đầu là BANK OF AMERICA, Corporation for Public Broadcasting (CPB), The Public Broadcasting Service (PBS), The Park Foundation, The Arthur Vining Davis Foundations… Đạo diễn Ken Burns khoe đã phỏng vấn gần 80 nhân chứng, bao gồm cả những người Mỹ từng tham chiến và những người phản chiến, những người lính chiến và dân thường của cả hai phía Việt Nam, người thắng và người bại trong cuộc chiến. Ông nói: "Hơn bốn mươi năm đã trôi qua kể từ khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta vẫn chưa thể quên Việt Nam. Và chúng ta vẫn còn tranh luận vì sao cuộc chiến này lại đi đến sai lầm, trách nhiệm thuộc về ai và có đáng có một cuộc chiến như thế này không.”

Như chúng tôi đã nói, những thông tin được thu lợm kiểu này chỉ có thể được dùng để nói lên cách nhìn của một số cá nhân về cuộc chiến hay đưa tới những kết luận mà người phỏng vấn muốn, chứ không thể dùng làm sử liệu được, vì việc chọn người được phỏng vấn nhiều khi thiếu khách quan, những điều họ biết nhiều khi chỉ là một phần nhỏ của vấn đề và cảm tính thường xen lấn vào…

Ngoài dùng phim ảnh, Mỹ còn tổ chức các cuộc hội thảo để vẽ lại cuộc chiến Việt Nam.

Trong ba ngày 26, 27 và 28.4.2016, “Hội Nghị Thượng Đỉnh về Chiến Tranh Việt Nam” (Vietnam War Summit) đã được Hoa Kỳ tổ chức tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas, để vẽ lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam và đưa chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào thay chỗ của VNCH trước 1975. Nhân vật chính trong hội nghị là cựu Ngoại Trưởng Kissinger đã tuyên bố: “Không có ai muốn chiến tranh, không có ai muốn leo thang chiến tranh. Họ đều muốn hòa bình. Nhưng câu hỏi là, “Trong những điều kiện nào bạn có thể làm điều đó?”. Theo ông, thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam là do chính người Mỹ tự gây ra, và trước hết là đã đánh giá thấp sự kiên trì của giới lãnh đạo Bắc Việt!

KHÓ GỠ THÌ TÌM CÁCH ĐẠP XUỐNG

Khi vẽ lại chiến tranh Việt Nam để biến đen thành trắng và trắng thành đen, điều mà Mỹ gặp khó khăn nhất là việc lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trong cuốn hồi ký mang tên “The memoirs of Richard Nixon”, Tổng Tống Nixon có kể lại rằng khi đến Pakistan, ông đã gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm như sau:

“Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.” Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.”

Đó là một thực tế không thể phủ nhận được. Để làm giảm nhẹ bớt ảnh hưởng của biến cố tai hại này. khi vẽ lại lịch sử, Mỹ gần như không muốn nói về những gì đã xảy ra dưới thời Đệ I VNCH, chỉ đưa ra vài lời “chúc dữ” ông Diệm với ẩn ý giải thích tại sao Mỹ phải lật đổ và giết ông ta. Trong bộ phim “Vietnam: A Television History”, Mỹ đặt tên tập 3 là “America’s Mandarin (1954–1963)” (Vị Quan lại của Hoa Kỳ) trong đó mô tả ông Diệm đã áp dụng chế độ gia đình trị, nên Việt Cộng nổi lên chống Diệm và trở thành một sự đe dọa nghiêm trọng khiến Mỹ phải đưa quân vào để cứu Miền Nam. Trong bộ“The Vietnam War” Mỹ lại cho rằng ông Diệm “kiêu căng”“ngạo mạn” một “đấng cứu thế không có thông điệp”

Tuy nhiên, mặc dầu đã lấp liếm và đạp Đệ I VNCH xuống như vậy, hiện nay không một nước nào ở Đông Nam Á chịu đi theo Mỹ như VNCH trước đây, một số đứng hẳn về phía Trung Quốc và một số bắt cá hai tay. Để ngăn chận Việt Nam đứng hẵn về phía Trung Quốc, Mỹ phải ký tuyên bố “đối tác toàn diện” với Việt Nam và đang vẽ lại lịch sử chiến tranh Việt Nam để tiến tới “hòa giả hòa hợp”.

Để làm sáng tỏ lịch sử trong giai đoạn này, trong phạm vi bài này chúng tôi sẽ căn cứ vào sử liệu do Mỹ công bố, trình bày khái lược những thủ đoạn Mỹ đã xử dụng khi xây dựng rồi phá sập chế dộ Đệ I VNCH để tạo lý do đổ quân vào Việt Nam, thực hiện cuộc chiến mà Mỹ muốn.

CHUYỆN ‘KHI ĐỒNG MINH NHẢY VÀO”

Cầm cuốn “Khi Đồng Minh nhảy vào” của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tôi mở ra và tìm ngay có Nghị quyết số NSC 5429/2 ngày 20.8.1954 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ hay không.

Đại tá Lansdale được phái
đển giúp ông Diệm
Ông Diệm mới chấp chánh ngày 7.7.1954 thì ngày 20.8.1954, tức chỉ 43 ngày sau, HĐANQGHK đã họp và ban hành nghị quyết nói về chính sách của Hoa Kỳ sau Hiệp định Genève (US policies toward post-Geneva Vietnam), đồng thời phái Trung Tá Lansdale thuộc cơ quan OSS (tiền thân của CIA) đến hướng dẫn ông Diệm làm. Ông Diệm và ông Nhu không hay biết gì cả. Nghị quyết này được in trong bộ Foreign Relations of the United States (FRUS), 1952–1954, East Asia and the Pacific, Vol. XII, Part 1. p. 769 – 976.

Tôi rất mừng khi thấy sách Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nghị quyết đó đăng ở trang 198 – 200. Nhưng tôi thất vọng khi thấy Tiến Sĩ Hưng chỉ tóm lược phần phân tích và nhận định của nghị quyết mà thôi, còn phần các kế hoạch hành động cụ thể không được nói đến. Có lẽ Tiến Sĩ Hưng chưa đọc hết các tài liệu liên quan, nên không biết kế hoạch đó nằm trong phần Phụ đính, không in trong bộ FRUS 1952 – 1954, mà in trong The Pentagon Papers!

Về phương diện chính trị, kế hoạch này đã ấn định như sau:

“Chính trị: Pháp phải trao trả độc lập hoàn toàn (gồm cả quyền rút lui khỏi Liên Hiệp Pháp) cho Nam Việt Nam và và yểm trợ một chính phủ bản xứ mạnh (a strong indigenous government). Diệm phải mở rộng căn bản chính phủ, bầu cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp và truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp (legally dethrone Bao Dai). Sự hợp tác và hỗ trợ của Pháp cho những chính sách này là cần thiết; duy trì FEC (French Expeditionary Corps – Quân Đội Viễn Chính Pháp), là chủ yếu đối với an ninh Nam Việt Nam.”

(Gravel Edition, The Pentagon Papers, Volume I, Beacon Press, Boston, 1971, p. 204)

Chỉ với những câu viết vắn gọn như vậy, khi được triển khai, nó trở thành những biến cố lớn. Đọc các sử liệu tiếp theo, chúng ta sẽ hiểu tại sao ông Diệm phải truất phế Bảo Đại đến hai lần, việc dẹp tan các giáo phái, thống nhất quân đội và hình thành một chính phủ bản xứ mạnh (a strong indigenous government) bằng cách tiến tới một chế độ độc đảng giống Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan.

Tướng Lansdale đã tranh luận rất gay gắt với ông Frederick Reinhardt, Đại Sứ Hoa Kỳ tại VNCH (1955 – 1957) lúc đó về việc thành lập Đảng Cần Lao. Nhưng Đại sứ Reinhardt bảo: “Vì ông Diệm nay là Tổng Thống được bầu, ông ấy cần có một đảng riêng của ông”. Tướng Lansdale cho biết thêm: “Ông Reinhardt nói với tôi một cách cương quyết rằng quyết định về chính sách của Hoa Kỳ đã được ấn định và tôi phải hướng các hành động của tôi theo nó.”  Trong bản phúc trình 17.1.1961 Tướng Lansdale nói rõ: “Đảng Cần Lao không phải là ý kiến của nhà Ngô, “trước tiên nó được đề xướng bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ” để loại bỏ cộng sản ra khỏi đất nước (the CLP was not their idea; it “was originally promoted by the U.S. State Department” to rid the country of communists).

Tuy nhiên, khi Mỹ muốn đem quân vào Việt Nam để thực hiện mục tiêu mà Mỹ muốn, ông Diệm không đồng ý, Mỹ liền đảo ngược kế hoạch lại.

KHI MỸ QUYẾT PHÁ SẬP ĐỆ I VNCH

Ngày 14.3.1957, ông Elbridge Durbrow được bổ nhiệm làm Đại sứ Mỹ tại VNCH thay thế Đại sứ G. Frederick Reinhardt. Kế hoạch phá sập chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu.

Đại sứ Durbrow được phái đến
để phá sập Đệ I VNCH
Nếu khởi đầu Mỹ muốn ông Diệm hình thành tại miền Nam một chế độ giống các chế độ chuyên chế của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, của Park Chung Hee ở Nam Hàn, của Sukarno và Suharto ở Nam Đương hay của Lý Quang Diệu ở Singapore… để loại bỏ cộng sản khỏi đất nước (to rid the country of communists), thì nay Đại sứ Durbrow yêu cầu ông Diệm “thực hiện dân chủ để được lòng dân và thắng cộng sản”. Tướng Lansdale đã phản đối vì cho rằng việc thay đổi nhanh như thế sẽ làm Miền Nam trở thành bất ổn.

Năm 1960 Đại Sứ Durbrow đã yểm trợ thành lập Khối Tự Do Tiến Bộ, thường được gọi là nhóm Caravelle, do ông Phan Khắc Sửu làm Trưởng Khối, để vận động thay thế ông Diệm. Tướng Lansdale đã viết giác thư đề ngày 20.9.1960 phân tích những sai lầm của Đại Sứ Durbrow. Nhưng Washington im lặng.

Một cuộc đảo chánh đã xảy ra ngày 11.11.1960, có nhiều thành phần của nhóm Caravelle tham dự. Cuộc đảo chánh thất bại. Hôm 4.12.1960 Đại Sứ Durbrow đã phải cho Luật sư Hoàng Cơ Thụy ngồi co gối trong thùng ngoại giao (valise diplomatique) để đưa ra khỏi Việt Nam.

Vì Đại Sứ Durbrow có nhiều bất đồng với chính phủ Ngô Đình Diệm và tai tiếng trong vụ đảo chánh ngày 11.11.1960, ngày 15.3.1961 Tổng Thống Kennedy đã quyết định cử ông Federick E. Nolting làm Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn thay thế Durbrow. Nhưng ngày 17.8.1963 Bộ Ngoại Giao đã cử ông Henry Cabot Lodge đến làm đại sứ tại Sài Gòn để tổ chức lật đổ và giết Tổng Thống Diệm.

MỞ ĐƯỜNG CHO BẮC VIỆT XÂM NHẬP VÀO MIỀN NAM

Từ ngày 12 đến 22.1.1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đã họp Hội nghị lần thứ 15 tại Hà Nội dưa ra nghị quyết “giải phóng miền Nam”. Tháng 5 năm 1959, Hà Nội quyết định mở con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để xâm nhập vào Miền Nam, lấy tên là Đường 559, thường được gọi là đường Hồ Chí Minh.

Muốn đi vào Nam, bộ đội Bắc Việt phải từ Quảng Bình theo quốc lộ 12 đi qua Lào bằng đèo Mụ Già rồi tiến vào Nam. Cái trở ngại lớn mà Cộng quân gặp phải là con đường số 9 nối liền Đồng Hà với tỉnh Savannakhet, nơi có quân đội VNCH tuần phòng thường xuyên. Cộng quân phải lập mật khu 601 gần Tchépone, nằm cách biên giới Việt – Lào khoảng 40 cây số để làm nơi trú quân. Từ đó Cộng quân vượt qua đường số 9 rồi đi lên cao nguyên Boloven để xuống ngã ba Tam Biên.

Chính phủ Ngô Đình Diệm đã ký hiệp ước với Lào cho Quân Lực VNCH đóng chốt ở Tchépone và Mường Phín, đồng thời giao cho Thiếu Tá Trần Khắc Kính, Phó Giám Đốc Sở Liên Lạc, mở các cuộc hành quân trên đất Lào để ngăn chận Cộng quân xâm nhập vào miền Nam. Số quân VNCH đóng chốt và hành quân ở Lào có lúc lên đến khoảng 170.000 người. Cộng quân khó xâm nhập được.


Henry Cabot Lodge, kẻ thi hành lệnh đảo chánh,
giết ông Diệm và ông Nhu
Đùng một cái, ngày 25.1.1963, Tổng Thống Kennedy tuyên bố ông muốn biến Lào thành “một nước độc lập, hòa bình và không liên kết”. Averell Harriman, Thứ Tưởng Ngoại Giao về Vấn Đề Chính Trị, được coi là người có quyền hành nhất lúc đó tại Tòa Bạch Ốc, cho rằng phải trung lập hóa Lào để ngăn chận Cộng quân dùng đất Lào xâm nhập vào Miền Nam. Ngày 16.5.1961, một Hội Nghị Quốc Tế Giải Quyết Vấn Đề Lào được triệu tập tại Genève. Chính phủ Ngô Đình Diệm phản đối rất mạnh, nhưng Harriman cứ tiến tới. Ngày 23.7.1962, Hiệp Ước Hòa Bình tại Lào đã được ký kết, 666 cố vấn Mỹ và toàn bộ quân đội của VNCH phải rút khỏi Lào. Bắc Việt cũng cam kết như thế. Nhưng thực tế không như Harriman tuyên bố. Theo báo cáo của CIA, sau khi Lào tuyên bố trung lập, khoảng 7000 bộ đội Bắc Việt chẳng những không chịu rút khỏi Lào mà còn bành trướng thêm.

Nhiều người tin rằng Harriman đã mở đường cho Bắc Việt tràn vào Miền Nam rồi viện vào lý do đó tuyên bố phải đổ quân vào để “cứu Miền Nam”!

LỊCH SỬ VẪN LÀ LỊCH SỬ…

Trên đây là những nét đại cương về tình hình Miền Nam dưới thời Đệ I VNCH được tìm thấy trong sử liệu của Mỹ, nhưng khi vẽ lại lịch sử chiến tranh Việt Nam để phục vụ mục tiêu mới, Mỹ đã tìm cách bôi bác để che dấu sự thật.

Robert F. Turner, Giáo sư Luật tại Đại học Virginia và cũng là một học giả nổi tiếng về chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, đã từng nhận định rằng đa số những gì về chiến tranh Việt Nam đang được giảng dạy tại các trường trung học và đại học ở Mỹ lại gần với thần thoại hơn là lịch sử.

Nhưng Đức Dalai Latma đã nói: “History is history. And my statement will not change past history”. Lịch sử là lịch sử. Và lời tuyên bố của tôi không thay đổi được lịch sử đã qua.

Ngày 12.10.2017
Lữ Giang
___________________
Nguồn: Blog Sầu Đông

12 October 2017

Gương đáng ngưỡng mộ của Chuck Feeney

Đây là một ông lão mới thoạt nhìn trông nghèo khó lại keo kiệt. Nhưng việc ông làm lại khiến ông trở thành tấm gương cho các phú hào khác như Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ ông.
Ông đã 76 tuổi, ở cùng vợ trong một căn hộ cho thuê ở thành phố San Francisco nước Mỹ. Ông chưa từng mặc qua quần áo hàng hiệu, kính mắt rất cũ kỹ, đồng hồ đeo tay cũng không hợp thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữa hâm nóng và bánh sandwich cà chua giá rẻ. Ông cũng không có ô tô riêng, ra ngoài thường đều đi bằng xe buýt, túi xách mà ông từng dùng để đi làm là túi vải.

Mặc khác, nếu bạn cùng ông đến một quán rượu nhỏ uống bia, ông nhất định sẽ cẩn thận kiểm tra đối chiếu hóa đơn; nếu bạn ở lại nhà ông ấy, trước khi ngủ ông ấy nhất định sẽ nhắc bạn tắt đèn.

Một ông già keo kiệt nghèo khó như vậy, bạn có biết trước 76 tuổi ông đã làm những việc gì chăng?

Ông đã từng cống hiến cho đại học Cornell 588 triệu đô la Mỹ, cho đại học California 125 triệu đô la Mỹ, cho đại học Stanford 60 triệu đô la Mỹ. Ông từng bỏ vốn 1 tỷ đô la cải tạo và xây mới 7 trường đại học ở New Ireland và hai trường đại học ở Northern Ireland. Ông từng thành lập quỹ từ thiện để phẩu thuật sứt môi hở hàm ếch cho trẻ em ở các nước đang phát triển…
Cho đến nay, ông đã quyên 4 tỷ đô la, còn 4 tỷ nữa đang chuẩn bị quyên góp.

Ông là người sáng lập tập đoàn được miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào phóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích được tiền – ông là Chuck Feeney.
     
Trước mắt, Chuck Feeney còn ba nguyện vọng: Một là trước năm 2016 quyên hết 4 tỷ đô la còn lại, nếu không chết không nhắm mắt. Hiện tại, từ số tiền kia mỗi năm đều có hơn 400 triệu đô la chảy về các nơi cần trên thế giới.
      
Ông đã dựng nên một tấm gương cho những người giàu có: “Trong khi hưởng thụ cuộc sống đồng thời quyên góp cho mọi người”. Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng nhiều từ ông mà đã thay đổi hành động của mình.
    
 Sau khi việc thiện của Chuck Feeney bị tiết lộ ra, rất nhiều phóng viên muốn tiếp xúc với ông. Trong tâm ai cũng đều có một nghi vấn: Làm sao Chuck Feeney có thể dửng dưng trước gia tài hàng tỷ đô la kia chứ?

 Đối với nghi vấn của mọi người, Chuck Feeney mỉm cười kể cho mọi người một câu chuyện:
“Một con hồ ly thấy bồ đào trong vườn kết trái đầy, muốn vào trong ăn một chầu no bụng, nhưng giờ nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để thân thể gầy xuống, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn rời đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó đi ra, bụng vẫn giống như lúc đi vào.”  
 Kể xong câu chuyện, Chuck Feeney nói: “Chỗ Thượng Đế ở không có ngân hàng, mỗi người đều là trần trụi sinh ra, cuối cùng cũng đơn độc ra đi, không ai có thể mang theo tài phú và danh tiếng mà bản thân đã đau khổ tìm kiếm cả đời.”
      
Truyền thông hỏi Chuck Feeney, vì sao ông lại quyên góp hết gia tài của mình?
      
Câu trả lời của ông đơn giản và ngoài dự đoán của mọi người! Ông nói: “Bởi vì tấm vải che tử thi không có túi.”

(Phan A. sưu tập)

11 October 2017

Nói Với Các Cựu Cán Binh Cộng Sản

Cuộc chiến vừa qua chỉ có một công dụng là mở cửa cho Tầu Cộng thôn tính Việt Nam.

Bs Trần Mộng Lâm

Tôi vừa xem một đoạn vidéo trong đó những người cựu sĩ quan, binh lính Miền Bắc huy chương đầy mình lên án CS bán nước.

Nếu như không thể không đồng ý với các anh trong những lời kết án gay gắt này, thì tôi cũng rất đau lòng trước một nhận xét khác.

Đó là việc các anh nói tới công trạng, xương máu đã bỏ ra trong cuộc chiến vừa qua. Tôi không hiểu các anh nói tới công trạng nào?

Nếu các anh đã chảy máu, gẫy xương, thậm chí bỏ mình, thì cũng bởi các anh gây ra khi cầm súng tấn công người Miền Nam chúng tôi. Người Miền Nam không bao giờ gây chiến, họ chỉ tự vệ mà thôi.

Nếu các anh nói rằng các anh chống Mỹ cứu nước, thì mặc nhiên các anh kết án chúng tôi là bán nước cho Mỹ. Trên 40 năm đã qua, các anh chưa nhận được ra là các anh đã sai hay sao ??? Đã có một cm nào của đất nước về tay người Mỹ hay không?? Trái lại, kể từ khi các anh chiến thắng, bằng những súng đạn Tầu, Nga cung cấp, đất nước đã ra thế nào ??

Cuộc chiến vừa qua đã tàn. Có người trong bọn các anh vẫn còn dùng chữ phe thắng trận một cách kiêu hãnh ngầm. Thắng hay thua cái gì, cuộc chiến tranh vừa qua chỉ là một vết nhơ không bao giờ bôi xóa được. quên nó đi là giải pháp hay nhất.

Trước hiểm họa mất nước về tay người láng giềng Trung Cộng, nếu còn lương thiện và lòng tự trọng, các anh nên nhận tội, nhận sai trái, nhận trách nhiệm. Nếu các anh cứ khư khư cho rằng mình có công trạng, thì giữa chúng ta, không còn gì để nói.

Những người như các anh, đã bị đầu độc bởi những lời tuyên truyền xảo trá, sở trường của người CS, thật hết thuốc chữa.

Vì lẽ đó, mấy chục năm nay, giữa chúng ta là cả một vực thẳm, không một cây cầu nào có thể bắc qua. Tôi đã xem những vidéo các bản nhạc liên quan đến cuộc chiến vừa qua. Phía bên dưới các vidéo đó, phần ý kiến, chỉ thấy chưởi nhau thậm tệ, tục tĩu.

Có cần phải làm như vậy hay không, và làm như vậy để làm gì ???

Nếu các anh cứ giữ đảng, giữ thần tượng như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, và nhẩy lên đông đổng khi thần tượng mình bị công kích, thì quả thật là hết thuốc chữa. Họ là những kẻ thù ngồi ngay sau lưng mà chúng ta không biết, và ngày nay còn biết bao nhiêu ả Mỵ Châu đang rải lông ngỗng cho quân thù đến giết cha.

Cuộc chiến vừa qua chỉ có một công dụng là mở cửa cho Tầu Cộng thôn tính Việt Nam. 

Cuộc chiến vừa qua chỉ có một kết quả là chia rẽ dân tộc và đưa lại cho người dân một đời sống tối tăm và không có tương lai. Dĩ nhiên có một số đảng viên và phe cánh của họ ăn trên ngồi chốc, tham nhũng và có cả tỷ đô la gửi ra ngoại quốc, nhưng số người đó là bao trong khi dân Việt lên đến hơn 90 triệu, và hàng ngày, không phải đi đâu xa, chỉ cần nhìn ra hè phố xem người dân sinh sống ra sao.

Vậy thì đã đến lúc phải đặt dấu chấm trên chữ I cho nó rõ ràng :

1-Bài Học Số một : Đảng Cộng Sản Việt Nam bán nước, có tội với dân tộc, với đất nước.,

2-Bài học số 2 : Quân đội nhân dân (Cộng Sản) trong đó có các anh là công cụ của Đảng Cộng Sản  có tội với dân tộc, với đất nước.

3- Bài học số 3 : Trung Cộng là kẻ thù của Việt Nam, chúng chỉ có một mục tiêu duy nhất thôn tính Việt Nam.

Nếu ít năm nữa, nước Việt Nam biến thành một ngôi sao nhỏ trên lá cờ của Trung Cộng, thì chỉ tại các anh.

Formosa hiện diện tại Miền Trung, cũng như những Công Ty Trung Cộng đang tàn phá miền Cao Nguyên, cũng chỉ tại các anh.

Các anh nói tới công trạng, các anh có công trạng mẹ gì ???

Trần Mộng Lâm

Bóng tròn: Đội Mỹ bị loại không có tên tranh World Cup 2018 tại Nga

Chuyện bất ngờ nhất trong những chuyện bất ngờ vừa xảy ra

Trên cõi đời vô thường phù du nầy nhất là trong lãnh vực thể thao, những chuyện khó tin nhưng thường xảy ra cho dù đó là chuyên vui hay buồn. Từ đó chúng ta mới ngộ ra ý nghĩa hai chữ định mệnh. Thưa quý vị và các bạn, tôi muốn nói đến sự thất bại cay đắng - có thể nói là vô tiền khoáng hậu của đội tuyển quốc gia Hoa Kỳ để qualifying World Cup 2018 tại Nga, một thất bại thật sự đã dẫm nát hàng trăm triệu người mộ điệu đội bóng tròn Mỹ quốc mà trong đó không ít người Việt Nam.

Trước khi vào điểm chính, tôi xin lược thuật diễn tiến tình hình hiệp hội CONCACAF World Cup 2018. Trước những trận thi đấu sống còn ngày hôm qua thì bảng điểm các đội như sau:

1) Mexico 21 điểm
2) Costa Rica 16 điểm
3) USA 12 điểm
4) Panama 10 điểm
5) Honduras 10 điểm
6) Trinidad & Tobago 3 điểm
    
Khu CONCACAF sẽ chọn 3 đội ̣đầu bảng đươc̣ tham dự WC 2018.
Và ba trận đấu cuối cùng diễn ra ngày hôm qua là:
- USA vs Trinidad &Tobago
- Costa Rica vs Panama
- Mexico vs Honduras
      
Dựa theo thang tính điểm của FIFA thắng 3 điểm hòa 1 điểm, thì cho dù Panama và Honduras có thắng hai ông bự là Costa Rica và Mexico (chuyện nầy theo phóng ...đại viên tôi thì khó lắm) trong khi chàng khổng lô Goliah Mỹ chỉ cần thủ hòa với  chú bé David Trinidad & Tobago thì mặc dù cả ba đôị USA, Panama, Honduras đồng 13 điểm nhưng Mỹ vẫn qualifies WC vì hơn xa hiệu số bàn thắng bại.

Với tình hình như vậy thì việc Mỹ bị loại khỏi WC cũng khó như mò kim đáy biển vậy đó. Từ đó hầu như Mỹ sắp book vé máy bay cho đôi đi Nga.
       
Nhưng ai mà ngờ, ba kết quả thể thao tập hợp bất ngờ nhất đã xảy ra  với kết quả:
USA  1 - 2 Trinidad & Tobago
Costa Rica  1 -  2  Panama
Mexico  2  -  3  Honduras
      
Điều đáng nói là huấn luyện viên Mỹ Bruce Arena đã giữ nguyên đội hình vừa mới đè bẹp Panama 4-0 ngay mấy ngày trước mà lại gục ngã trước một đôi vừa thua 9 trận liên tiếp. Nhiều nhà bình luận cho rằng lý do Mỹ thua là vì các cầu thủ tự mãn trên chiến thắng nên khinh địch. Bằng cớ là nguyên hiệp 1, họ gần như không tận dụng hết sức mình. Tới chừng bị dẫn trước 0-2 (17' trúng chân hậu  vệ Mỹ và  cú 37' sút cầu âu 27 m) Mỹ mới wake up vùng lên thì muộn rồi mặc dù tiền vệ sáng chói Christian Polusic 19 tuổi gỡ được 1-2 ở phút thứ 47'. Ngoài ra thủ môn Trinidad & Tobago là Foncette trong một ngày xuấn thần cứu thua  nhiều bàn trông thấy. Đó là chưa kể ở phút thứ 77', tiền đạo Clint Dempsey từ 16 m sút banh trúng trụ thành làm Mỹ mất dịp san bằng cách biệt. Tưởng cũng nên nói thêm là trước trận đấu, bookie Las Vegas ra cược là ai "dám" bắt Trinidad & Tobago thắng Mỹ thì nếu thua  $100 còn thắng thì $400 tức 1 ăn  4.
     
Tính ra từ năm 1986 tới nay đây là lần đầu tiên Mỹ không có vé đi dự WC. Đau hơn hoạn.
   
Riêng tôi có nghi ngờ là không hiểu hai đội Mexico và Costa Rica (ăn thua gì cũng cũng vô WC) có lẽ không ưa Mỹ nên âm mưu hại bạn... Mỹ bằng cách cho thua hay nói nôm na là Mễ và Costa Rica ...đâm sau lưng chiến sĩ...Mỹ. Ha!Ha!Ha!

Ngoài ra trong khu vực CONMEBOL Nam Mỹ, Argentina thắng Ecuador 3-1 (Messy hat tricks) giờ chót lấy được vé đi Nga 2018.

Vài hàng gởi tin tức ...mình tới quý vị cho vui.

Phóng...đại viên Nguyên Trần

07 October 2017

"Bóng Trên Vách Đá", tranh A.C.La


"Bóng Trên Vách Đá"
Oil on canvas, 20x30 in. (51x76cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

"Tìm Bóng", thơ Trần Văn Lương

Dạo:
      Trăng đi thì bóng cũng đi,
Trăng về bóng hiện, can chi khổ tìm.

    尋 影
黑 雲 慢 慢 蓋 長 空,
客 影 月 輪 共 隱 蹤.
忙 辨 雜 聲 從 屋 外,
錯 遺 奇 寶 在 山 中.
幸 丟 鴨 迹 心 能 醒,
迷 找 人 頭 腦 受 瘋.
颸 起 雲 消 明 月 現,
因 知 影 子 未 曾 亡.
                陳 文 良
 
Âm Hán Việt:
            Tầm Ảnh
Hắc vân mạn mạn cái trường không,
Khách ảnh, nguyệt luân cộng ẩn tung.
Mang biện tạp thanh tùng ốc ngoại,
Thác di kỳ bảo tại sơn trung.
Hạnh đâu áp tích, tâm năng tỉnh,
Mê trảo nhân đầu, não thụ phong.
Ti khởi, vân tiêu, minh nguyệt hiện,
Nhân tri ảnh tử vị tằng vong.
            Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:
             Tìm Bóng
Mây đen dần dần che kín trời,
Bóng người và mặt trăng cùng nhau biến mất (giấu tung tích).
(Vì) bận rộn phân biện âm thanh đến từ phía ngoài nhà, (1)
(Nên) lầm lẫn bỏ sót bảo vật ở trong núi. (2)
May mắn đánh mất dấu vết đàn vịt (nên) tâm được tỉnh, (3)
Mê mờ (lo) tìm kiếm đầu người (nên) óc bị điên. (4) (5)
Gió nổi lên, mây tan, trăng sáng hiện ra,
(Bèn) biết rằng cái bóng (của người) chưa bao giờ mất đi.
Ghi chú:

(1) Bích Nham Lục, tắc 46: Cảnh Thanh Vũ Trích.

Cử:
     Thiền Sư Cảnh Thanh hỏi một ông tăng:
     - Ngoài cửa là tiếng gì vậy?
     Ông tăng nói:
     - Tiếng giọt mưa.
     Sư bảo:
     - Chúng sinh điên đảo, mê mờ chính mình để đuổi theo sự vật.
     Ông tăng nói:
     - Còn Hòa Thượng thì như thế nào?
     Sư bảo:
    - Ta suýt không mê mờ chính mình.
    Ông tăng nói:
    - Suýt không mê mờ chính mình, ý chỉ thế nào ?
    Sư đáp:
    - Xuất thân còn dễ, thoát thể mới khó.

(2) Bích Nham Lục, tắc 62: Vân Môn Nhất Bảo.

Cử:
    Thiền Sư Vân Môn dạy chúng:
    - Trong càn khôn, giữa vũ trụ, có một báu vật bí mật giấu trong núi hình. Cầm lồng đèn đến nơi Phật điện, đem tam môn đến đặt trên lồng đèn.

Trích lời Bình của Viên Ngộ:
...
    Hãy nói xem, Vân Môn nói như thế, ý như thế nào?
    Há không thấy cổ nhân nói: - Thực tính của vô minh là Phật tính, không thân huyễn hóa là Pháp thân. Lại nói: - Chính ngay phàm tâm mà thấy Phật tâm, núi hình chính là tứ đại ngũ uẩn vậy.
"Có một báu vật bí mật giấu trong núi hình". Cổ nhân bảo: - Chư Phật ở trong tâm, người mê đi tìm kiếm ở bên ngoài. Ôm báu vật vô giá ở trong lòng mà một đời chẳng biết.
...
(3) Bích Nham Lục, tắc 53: Bách Trượng Dã Áp.

Cử:
     Một lần Mã Đại Sư (Mã Tổ Đạo Nhất) và Bách Trượng cùng đi, thấy đám vịt trời bay qua.
     Đại Sư hỏi:
     - Cái gì đó?
     Bách Trượng đáp:        
     - Vịt trời.
     Đại Sư hỏi:
    - Bay đến chốn nào vậy ?
    Bách Trượng đáp:
    - Bay qua mất rồi.
    Đại Sư bèn nắm và vặn chót mũi của Bách Trượng. Bách Trượng đau đớn kêu lên.
    Đại Sư nói:
    - Đã từng có bay đi đâu?

Trích lời Bình của Viên Ngộ:
...
     Xét về chính nhãn, Bách Trượng có đầy đủ. Mã Đại Sư không gió mà gây ra sóng. Các người nếu muốn làm thầy của các Tổ sư thì hãy tham thủ Bách Trượng; còn nếu muốn tự cứu chẳng xong thì hãy tham thủ Mã Đại Sư. Hãy nhìn cổ nhân, trong 12 thời thần chưa từng không ở trong ấy. Bách Trượng không ăn mặn, muốn cùng thiên hạ làm cha. Hai mươi năm làm thị giả cho Mã Tổ, nhân lời nói này mà ngộ.
...
     Mã Đại Sư há chẳng biết đó là vịt trời sao? Tại sao lại hỏi như thế? Ý của Sư ở tại chỗ nào? Bách Trượng chỉ còn biết đi theo sau. Mã Tổ bèn vặn mũi. Bách Trượng kêu đau. Đại Sư nói:  - Đã từng có bay đi đâu? Bách Trượng nhờ đó có tỉnh ngộ. Như ngày nay có người vừa bị hỏi đã kêu đau, nhưng nhảy không ra khỏi.
...
(4)  Kinh Lăng Nghiêm (nguyên tên là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Bát Lạt Mật Đế dịch từ Phạn ra Hán, cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán ra Việt và chú thích), quyển 4:
"...
Đức Phật dạy tôn giả Phú Lâu Na:
... Chắc thầy có nghe, trong thành Thất-la-phiệt có anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa, vào một buổi sáng mai, lấy gương ra soi mặt, bỗng nhiên thấy thích cái đầu ở trong gương, vì có thể thấy được cả cặp mắt, lông mày. Rồi anh ta lại nổi giận, trách cứ cái đầu của mình, sao lại không thấy được mặt mày. Anh chàng cho cái đầu của mình là yêu quái, rồi không cớ gì, bỗng nhiên phát điên bỏ chạy! Thầy nghĩ thế nào? Người đó vì nguyên nhân gì mà vô cớ phát điên bỏ chạy?
...
Như anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa ở trong thành kia, đâu có nhân duyên gì, bỗng dưng tự sợ hãi cái đầu của mình mà bỏ chạy! Khi tâm trí bình tĩnh trở lại thì biết cái đầu của mình vẫn ở đó, hoàn toàn không phải do lấy được từ bên ngoài! Mà giả sử chưa bình tĩnh trở lại, cái lúc hoảng hốt bỏ chạy đó, thì cái đầu vẫn ở đó, chứ có mất đi đâu?
..."
(5) Philip Kapleau, Ba Trụ Thiền (The Three Pillars of Zen), bản dịch của Đỗ Đình Đồng, chương I, đoạn 8.
(Không hiểu tại sao trong sách này, Diễn Nhã Đạt Đa lại là nữ)
"...
      Người ta bảo rằng chuyện này xảy ra vào thời đức Phật. Chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết, tôi không thể nói được. Dẫu sao, Diễn-nhã-đạt-đa vẫn là một cô gái đẹp không thích gì hơn là ngắm mình trong gương mỗi sáng. Một hôm khi soi gương, nàng thấy mình không có đầu. Tại sao vào buổi sáng đặc biệt này nàng lại không có đầu, kinh không nói. Dù sao, nỗi kích động lớn đến nỗi nàng hóa điên, chạy quanh hỏi xem ai đã lấy mất đầu mình: “Ai lấy đầu tôi? Đầu tôi đâu rồi? Nếu không có đầu, tôi chết mất!” Rồi nàng khóc, mặc dù mọi người bảo nàng rằng: “Đừng có ngốc, đầu cô trên cổ cô đấy chứ có mất bao giờ đâu!” Nhưng nàng không tin: “Không, không đúng! Không, không đúng, phải có người nào đó đã lấy mất đầu tôi!” Nàng kêu lên, tiếp tục tìm kiếm điên cuồng. Cuối cùng, các bạn nàng tin nàng điên, lôi nàng về nhà, buộc nàng vào gốc cột đề phòng nàng tự làm hại mình.
..."
Phỏng dịch thơ:
             Tìm Bóng
Mây đen lấp kín mảnh đêm sầu,
Trăng ẩn, bóng người cũng lặn sâu.
Lạc lối bởi truy cầu sự vật,
Lầm đường nên đánh mất trân châu.
Cuối trời lũ vịt không lưu dấu,
Trong tối chàng trai mải kiếm đầu.
Gió nổi, mây tàn, trăng lại tỏ,
Bóng người vẫn đó, có đi đâu!
          Trần Văn Lương
            Cali, 10/2017 
Lời bàn của Phi Dã Thiền Sư :
     Trăng ẩn, bóng người cũng ẩn. Trăng sáng, bóng lại hiện.
    Tựu trung cái bóng vẫn còn đó với người, có bao giờ mất đâu. Chỉ cần có chút ánh sáng là bóng lại hiện ra ngay, việc gì phải đôn đáo chạy tìm trong vũng tối!
     Hỡi ơi, cứ hướng ngoại mò mẫm tìm cầu, phiền não biết bao giờ mới dứt!
     Nào hay khói Lô sơn, sóng Chiết giang cuối cùng rồi vẫn thế (*)

Ghi chú:

(*)  Daisetz Teitaro Suzuki, Thiền Luận (Essays in Zen Buddhism), bản dịch của Trúc Thiên, quyển Thượng.
"...
Vậy, quan điểm cùng tuyệt của Thiền là vì vô minh nên ta lầm đường lạc lối, tưởng có sự chẻ đôi ở trong ta trong khi, từ nguyên thỉ, chưa hề có cuộc tranh chấp nào giữa hữu cực và vô cực; và sự tự do mà ta nhiệt thành tìm kiếm vẫn có đó tự bao giờ. Thi hào Tô Đông Pha, một quan đại phu đời nhà Tống, diễn lấy bằng mấy vần thơ như sau:
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều `

Khói ngút non Lô sóng Chiết giang
Khi chưa đến đó luôn mơ màng
Đến rồi hóa vẫn không gì khác
Khói ngút non Lô sóng Chiết giang

..."

Chuyện Đêm

Người viết truyện thường có nhiều băn khoăn: Focus vào tâm lý hay triết lý? Giữ cốt truyện chặt chẽ hay buông thả cho nhân vật sống đời sống của hắn? Truyện có thể là một tạp bút trá hình? Nghiêng về huyễn tưởng hay hiện thực? Chuyện Đêm là một cách kể chuyện khác: Trao cho tài liệu chất tiểu thuyết và cho tiểu thuyết tính chính xác của tài liệu.  – Trần Vũ.

Achtung! Hund!

Ngày 2 tháng 10-1941 Liên lộ quân Chính tâm (Heeresgruppe Mitte) của thống chế Fedor von Bock tiến hành chiến dịch Bão Tố (Opération Typhoon). Mục tiêu: Tiến chiếm Mạc Tư Khoa. Mũi xung kích là Xa đoàn 2 Thiết kỵ (Panzergruppe II) của đại tướng Heinz Guderian, lý thuyết gia của chiến tranh thần tốc Blitzkrieg và là người khai sáng binh chủng thiết giáp Đức. Xa đoàn 2 bao gộp 14 sư đoàn kỵ binh và bộ binh cơ động đã hành quân sấm sét từ miền đông Ba Lan đến Smolenks, tiêu diệt hàng loạt các Tập đoàn quân Sô-Viết tại Bialystok, Vitebsk, Kiev… Mùa Hè 1941, chiến xa Đức bách chiến bách thắng.

Trong cùng ngày, bộ chỉ huy Quân đoàn 47 Thiết giáp (XLVII Panzerkorps) ra tiêu lệnh bắn hạ tất cả những con chó trên đất Nga. Một mệnh lệnh lạ lùng.

Hai ngày trước, nhật ký hành quân của Sư đoàn 267 Bộ binh của chuẩn tướng Friedrich-Karl von Wachter ghi nhận: Các bãi mìn phòng thủ của Trung đoàn 497 liên tục phát nổ trước khi quân Nga tấn công. Sau đẩy lui, binh sĩ phát hiện nhiều đầu chó, đuôi chó vung vãi trên mặt đất. Một ngày sau, thành phần tiền phương của Sư đoàn 3 Kỵ binh (3rd Panzer Division) của thiếu tướng Walter Model chạm trán vũ khí mới của Hồng quân. Thiếu úy Lohse dẫn đầu chi đoàn chiến xa chạy qua một rừng hướng dương, những cánh hoa mặt trời lấp lánh. Phía xa là những ngôi làng với nóc nhà thờ trắng. Hạ sĩ Eikmeier đột ngột la lớn: “Achtung! Hund!”. “Coi chừng chó!” Lohse từ trên pháo tháp nhìn thấy rõ hai con dobermann lao tới, trên lưng chúng quấn một sợi dây to bản với một hộp chữ nhật và cần ăng-ten bên trên. Lohse rút súng lục Luger nhắm bắn. Hụt! Lohse bắn phát thứ nhì. Hụt nữa! Con chó đã chui xuống gầm xe. Một nháng lửa và tiếng nổ ầm cùng lúc. Trên chiến xa phía sau, đại úy Peschke trông thấy rõ cảnh tượng, chiến xa 611 của thiếu úy Lohse vừa như bị hất tung lên với cột khói đen. Con chó thứ nhì đã chồm đến. Peschke nhắm bắn, con chó gục ngay tức khắc, nhưng nhiều con khác từ trong ruộng hướng dương lao ra. Hạ sĩ Müller nhô đầu lên khỏi vị trí hiệu thính viên, bắn bằng tiểu liên. Con chó trúng đạn vẫn phóng tới, lồng lên trước khi ngã dụi. Các con chó đều bị bịt mõm để không gây tiếng sũa.

“Achtung! Hund!”. “Chó mìn!”

Lúc này thì không còn có thể bắn từng viên được nữa. Hàng loạt chó lao tới. Peschke quát: “Đại liên! Khai hỏa!”. “Maschinengewehre! Feuer!” Đại liên MG-34 nhịp bắn 900 viên/phút tưới đạn chung quanh đoàn xe, bắn nát cánh rừng hướng dương. Binh sĩ tùng thiết quăng lựu đạn rồi khai quang bằng súng phun lửa. Súng phun lửa! Vũ khí hiệu nghiệm chống chó. Trước các vòi lửa, đàn chó thối lui làm mồi cho súng liên thanh. Lính của đại úy Peschke đếm được 108 xác chó của Đại đội Quân khuyển Nông trường Tuổi trẻ Lénine.

06 October 2017

Passport Hoa Kỳ và Đôi điền cần biết (năm 2017)

Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Mỹ sẽ bắt đầu cho thay đổi sổThông hành ( Passport) với một kỹ thuật mới ( high-tech embedded Chip) về mức độ an toàn để giúp giảm thiểu gian lận và sử dụng không đúng. Thiết kế mới dự kiến áp dụng vào cuối năm 2017 đầu năm 2018, sẽ sử dụng một Chip điện tử, trong đó chứa tất cả lý lịch cá nhân của người mang sổThông hành.

Từ 2005 sổ Thông hành Hoa Kỳ đã sử dụng " Chip" nhưng theo thời gian cùng với sự phát triển của Khoa học kỹthuật, con " Chip" mới chứa đựng dữ liệu sẽ được bao phủbởi một lớp Polycarbonate, và được cấu tạo hình theo cách mà chỉ có các nước với Công nghệ tương tự sẽ có thể đọc được, và xác minh tính xác thực của "Chip". Hơn nữa lớp phủ này cũng sẽ bảo vệ cuốn sổ Thông hành không bị rách, hư hại, hoặc lọt vào tay của những người ăn cắp dữ liệu chuyên nghiệp.

Ngoài sử dụng Chip với Công nghệ cao, Bộ Nội an cũng phối hợp chặt chẽ với văn phòng điêu khắc và in ấn Hoa Kỳ trong việc thay đổi màu mực, thiết kế màu sắc, dùng những đồ hoạ và chữ in rất nhỏ (micro-printing), sao cho phù hợp thị hiếu, nhưng khó khăn cho việc giả mạo.

Sổ Thông hành mới sẽ nhỏ hơn chỉ có 28 trang, thay vì 52 trang như trước kia. Thêm vào đó, các trang sẽ được đục lỗ với những lỗ nhỏ khác nhau về kích thước để không dễ bịrách, hay làm xáo trộn. Đặc biệt khi con dấu Quan thuế đã đủsố 28 rồi, thì bắt buộc phải làm sổ Thông hành mới.

(Phan A. lượm lặt)

01 October 2017

Nhà văn Võ Phiến qua đời

Võ Phiến, một trong những nhà văn hàng đầu của Việt Nam, vừa qua đời tại bang California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.
Ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 7:00 PM ngày Thứ Hai 28-9-2015 tại Santa Ana, California. 

Gia đình nhà văn cho biết, Võ Phiến sinh ngày 20-10-1925 tại làng Trà Bình, huyện Phú Mỹ, tỉnh Bình Định, tên thật là Đoàn Thế Nhơn.


Ông nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 qua hơn 20 tác phẩm thuộc nhiều thể loại.

Đa số các nhà phê bình và độc giả cho rằng ông thành công nhất ở thể loại tùy bút. Nói với BBC ngày 29/9, nhà phê bình Đặng Tiến từ Pháp nhận xét tùy bút của Võ Phiến rất đa dạng. “Tùy bút là thể loại mà Võ Phiến thành công nhất, để lại nhiều tác phẩm và tư liệu hay nhất.” (Tổng hợp)

Biên tập viên đài RFA, Mặc Lâm, phỏng vấn GS Nguyễn Hưng Quốc về nhà văn Võ Phiến

Võ Phiến là cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam từ thập niên 60 khi cuộc chuyển mình giữa hai luồng tư tưởng tự do và cộng sản lên tới đình cao nhất. Tác phẩm của ông để lại cho Văn học Việt Nam đồ sộ không những ở con số của các trang sách mà trong từng trang sách ấy chứa đựng sự sáng tạo, trăn trở với văn học, với con đường đất nước đã lặn lội qua nhiều chế độ.

Để tưởng nhớ ông, Mặc Lâm có cuộc trao đổi với nhà phê bình văn học Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, người đã theo dõi và viết nhiều chuyên đề về nhà văn Võ Phiến.


Mặc Lâm: Thưa GS, là người theo dõi, viết nhiều về nhà văn Võ Phiến xin ông cho biết ấn tượng nào của ông về văn nghiệp của nhà văn được xem là lớn và nhiều ảnh hưởng nhất của Văn học Việt Nam hiện đại này.

GS Nguyễn Hưng Quốc: Tôi có ấn tượng rất tốt về Võ Phiến, đó là sự quan tâm của ông đối với văn chương. Ông say mê viết lách đã đành, ông còn có niềm say mê đọc những người khác. Mỗi lần thấy người nào viết hay ông trầm trồ, khen ngợi, động viên khuyến khích họ. Ông không hề có một chút gì ghen tỵ hay khó chịu.

Mỗi lần tôi ra một cuốn sách hay viết một bài báo nào đó mà ông đọc được thì ông trầm trồ khen ngợi bằng những bức thư dài 3, 4 trang để bình luận về một bài báo của tôi. Tôi nghĩ là ở Võ Phiến ngoài cái tài của ông thì điều mà người ta không thể phủ nhận được còn cái tâm của ông đối với giới viết lách, văn chương. Tôi nghĩ hiếm có người nào mà vừa say mê văn chương lại vừa rộng lượng với người khác như Võ Phiến.

Mặc Lâm: Nhà văn Võ Phiến từ nhiều chục năm qua được nhiều người cho rằng là ngòi viết chống cộng, dĩ nhiên các quan chức văn nghệ Việt Nam là những người ủng hộ cho ý kiến này nhất. Riêng GS ông có cho rằng Võ Phiến xem việc chống cộng cho mục tiêu viết lách của mình hay không?

GS Nguyễn Hưng Quốc: Tôi hoàn toàn không đồng ý. Trước năm 1975 ở miền Nam Võ Phiến có viết nhiều thể loại khác nhau trong đó ông viết bình luận văn học, bình luận về chính trị. Ngoài ra ông còn viết tùy bút, truyện dài, truyện ngắn. Thành tựu lớn nhất của Võ Phiến là tùy bút, truyện ngắn thế nhưng người ta bị ám ảnh nhiều về những bài bình luận chính trị của Võ Phiến và người ta cho ông là cây bút chống cộng.

Tôi nghĩ điều này thật ra xuất phát từ chỗ không phải Võ Phiến viết bài chống cộng nhiều nhưng mà chủ yếu ở chỗ Võ Phiến viết bài chống cộng hay anh ạ. Sau này tôi đọc lại những bài bình luận chính trị của Võ Phiến viết về chủ nghĩa cộng sản cũng như cộng sản miền Bắc nói chung từ những năm 60-61-62… trong giai đoạn đó Võ Phiến hiểu rất rõ, rất tinh tế những âm mưu, ý đồ của cộng sản miền Bắc.

Tôi nghĩ rằng người ta gán cho Võ Phiến danh xưng nhà văn chống cộng bởi vì người ta sợ ông, sợ sự sắc sảo của ông. Bởi vậy không có gì ngẫu nhiên sau năm 1975 khi chiếm được miền Nam thì Võ Phiến được coi là cây bút đứng đầu trong danh sách chống cộng, những cây bút được coi là phản động là biệt kích chống cộng… và toàn bộ sách của ông bị cấm xuất bản thậm chí bị tịch thu, thiêu hủy.

Mặc Lâm: Giáo sư có quan hệ mật thiết với nhiều nhà văn trong nước ông thấy thái độ của họ thế nào? Họ có đồng thuận với cáo buộc của nhà nước cho rằng tác phẩm của Võ Phiến là tiền đồn chống cộng hay không?

GS Nguyễn Hưng Quốc: Một cách chính thức trên sách báo xuất phát từ bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền Việt Nam thì tôi nghĩ là mọi người ai cũng thấy Võ Phiến bị lên án, bị công kích và phê phán rất nhiều, thế nhưng trong những cuộc gặp gỡ riêng tư tôi lại thấy người ta rất nể phục Võ Phiến. Ví dụ trước năm 79 hay 80-81 gì đó tôi có dịp gặp nhà thơ Chế Lan Viên một lần tại Sài Gòn ông có nhắc đến Võ Phiến và rất khen ngợi Võ Phiến. Sau này gặp nhiều người khác tôi cũng nghe người ta rất khen Võ Phiến. Một trong những người khen Võ Phiến nhiệt tình nhất là nhà văn Nguyễn Khải.

Cách đây khoản 10 năm Nguyễn Khải có dịp sang Mỹ thì ông có viết thư cho Võ Phiến và bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Võ Phiến. Nhà văn Võ Phiến có giao bức thư của nhà văn Nguyễn Khải cho tôi để tôi giữ làm tài liệu. Khá nhiều người cầm bút ở miền Bắc cũng như trong nước sau 1975 bộc lộ niềm ngưỡng mộ đối với Võ Phiến.

Mặc Lâm: Trong sự nghiệp văn chương của Võ Phiến có lẽ thành tựu lớn nhất của ông là tập Văn học Miền Nam Tổng quan, là người nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam Giáo sư đánh giá công trình này như thế nào?

GS Nguyễn Hưng Quốc: Vâng, sau năm 1975 ở hải ngoại Võ Phiến viết nhiều thể loại khác nhau. Ông viết truyện dài, truyện ngắn, tùy bút, tạp bút thậm chí ông làm thơ nữa! Theo tôi thành tựu lớn nhất của Võ Phiến sau năm 1975 ở hải ngoại chính là bộ Văn Học Miền Nam, trong đó bao gồm nhiều tập mà tập anh vừa nêu là tập đầu tiên, giới thiệu toàn bộ bối cảnh sinh hoạt văn học miền Nam trước năm 75 cũng như những thành tựu, những xu hướng, trường phái khác nhau trong 20 năm văn học miền Nam. Tuy nhiên sau đó ông xuất bản thêm khá nhiều tập khác, có mấy tập chuyên về thơ, về tiều thuyết, tùy bút, kịch….

Nói chung đó không những là thành tựu lớn nhất của Võ Phiến sau 1975 mà thậm chí đó là thành tựu lớn nhất của cả hải ngoại nói chung về văn học miền Nam trước 75. Cho tới bây giờ chưa có người nào viết về văn học miền Nam một cách đầy đủ, sắc sảo, tinh tế đến như vậy anh ạ.

Cho đến bây giờ khi đọc lại cuốn Văn học Miền Nam Tổng quan của Võ Phiến cũng như những bài nhận xét của Võ Phiến về một số nhà thơ, nhà văn miền Nam thì tôi nghĩ người ta sẽ hiểu hơn một nền văn học bị trù dập, bị âm mưu xóa bỏ sau 1975.

Mặc Lâm: Riêng tại hải ngoại GS có nghĩ rằng nhiều người theo dõi, đọc và bị ảnh hưởng tác phẩm của nhà văn hay không?

GS Nguyễn Hưng Quốc: Thật ra có lẽ những người chịu ảnh hưởng của Võ Phiến cũng khá nhiều nhưng bàng bạc đây đó rất khó ghi nhận. Võ Phiến vốn là một nhà văn lặng lẽ tuy ông có phong cách xuất sắc riêng rất độc đáo nhưng rất lặng lẽ cho nên ảnh hưởng của Võ Phiến đối với người sáng tác khác ở hải ngoại có lẽ không rõ ràng lắm trừ chuyện ông chuyển lửa cho họ bằng sự đam mê, nồng nhiệt của mình. Khuyến khích họ cầm bút, khuyến khích họ tiếp tục sáng tác.

Mặc Lâm: Riêng về giới viết lách và nghiên cứu văn học trong thế hệ của GS có ai xem Võ Phiến là ngọn nến soi rọi trên sáng tác hay nghiên cứu của họ không?

GS Nguyễn Hưng Quốc: Thế hệ chúng tôi khác hơn Võ Phiến nhiều chỗ bởi vì chúng tôi trưởng thành và ra hải ngoại sớm bởi vậy thành thật mà nói những tác phẩm chúng tôi đọc thì có lẽ của phương Tây nhiều hơn là văn học Việt Nam. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là chúng tôi không chịu ảnh hưởng của Võ Phiến. Chúng tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ phong cách viết lách của ông. Chịu ảnh hưởng từ đam mê của ông, từ thái độ nghiêm túc đối với chuyện viết văn, làm thơ. Ảnh hưởng của ông đối với thế hệ chúng tôi có lẽ sâu đậm mà còn cần thời gian chúng ta mới nhận ra nó cụ thể như thế nào.

Mặc Lâm: Xin được một câu hỏi cuối, với tư cách cá nhân là người tiếp xúc thường xuyên với nhà văn Võ Phiến, GS có chia sẻ gì về sự ra đi của ông?

GS Nguyễn Hưng Quốc: Với tư cách cá nhân của tôi do quen biết khá nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam trước 1975 cũng như ở hải ngoại sau 1975 thì người gần gũi nhất với tôi là Võ Phiến. Lý do gần gũi bởi vì từ năm 1996 tôi có xuất bản một chuyên khảo viết về Võ Phiến. Trước đó để cung cấp tài liệu thì Võ Phiến gửi thư cho tôi hầu như hàng tuần hoặc hàng tháng. Tôi nhận được hàng trăm bức thư khác nhau của ông trong đó ông kể về cuộc đời, về quan niệm của ông đối với chuyện sáng tác. Về những kỷ niệm của ông trong sinh hoạt nghệ thuật ở miền Nam trước và sau năm 1975, cho nên qua những thư từ trao đổi như vậy tôi thấy rất gần gũi với Võ Phiến.

Tôi có cảm giác Võ Phiến không phải là nhà văn ở ngoài mà là người thân trong gia đình, bởi vậy khi nghe tin Võ Phiến mất thành thật mà nói tôi rất xúc động, bàng hoàng có cảm giác nghẹn ngào như nghe một người thân của mình vừa mới qua đời.
Đó là chỗ riêng tư còn nói một cách tổng quát tôi cho sự ra đi của Võ Phiến là một mất mát với nền văn học Việt Nam nói chung. Không thể hoài nghi được trong suốt thế kỷ 20 thì Võ Phiến là một nhà văn xuất sắc nhất của chúng ta. Mất ông chúng ta mất đi một đại thụ trong văn học Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn GS Nguyễn Hưng Quốc.

29 September 2017

Buổi chiều ở Wildcatters Park, thơ


Nước Cuốn Theo Giòng, hồi ký

Hình: Internet
Trần Bạch Thu

Buổi chiều hôm ấy tôi khóc gần hết nước mắt khi Bà Ngoại đưa tôi đến trường rồi lẻn ra cửa sau đi mất. Trong lớp cũng có nhiều đứa khóc nhưng sau một lúc đến giờ ra chơi thì quên hết. Riêng tôi cứ ứa nước mắt hoài, không nín được vì nhớ nắm tay thật chặt của Ngoại trên con đường nắng chang chang. Ngoại bảo đi cho thật nhanh kẻo trễ giờ. Quần cộc áo ngắn, chân đất đầu trần đi sát lề lộ tráng nhựa rát đến độ muốn phỏng chân. Ấy là năm 54 tôi vào học lớp Đồng ấu với thầy Tỷ, nhà ở dưới ngã ba bờ sông phía đường đi Mộc Hóa.

Trường lúc bấy giờ là một dãy thành Tây cũ mái lợp ngói vãy cá, nền cao lót gạch đỏ nằm sát bên cầu Kinh. Đến năm 59 thì dở bỏ và xây lầu thành trường trung học Đốc Binh Kiều sau nầy, chỉ giữ lại sân tennis là còn nguyên trong sân trường. Còn trường tiểu học Cai Lậy thì dời về dãy nhà trệt nhiều căn mới xây trước miễu Bốn Ông và bắt đầu sử dụng từ năm 58.

Cai Lậy lúc bấy giờ phố xá còn thưa thớt lắm, từ trong sân trường tiểu học cũ có thế nhìn trống trải ra thấy Dinh quận, dãy phố Lê Minh Viên và mặt tiền nhà lồng chợ, điểm đặc biệt là chợ Cai Lậy có hai nhà lồng, nhà phía trên có mấy quầy bán đồ ba-gia, kế đến là các sạp bán đồ ăn xen lẫn với các quầy bán nước đá, cà phê, sinh tố và chè cháo rất tiện cho khách có thể vừa ngồi ở quán nước vừa gọi được đồ ăn đủ loại ở kế một bên. Cách nhau một con đường chính chạy từ phía Chùa Bà đến khu phố có tiệm thuốc tây của chú Tám Lọ và nhà thầy giáo Nam. v..v.. là nhà lồng thứ hai chủ yếu gồm có các sạp bán vải và vật liệu đồ sắt.

Phố xá Cai Lậy ở hai bên hông nhà lồng chợ chỉ độ mười mấy gian có thể kể những tên tiệm rất quen thuộc như cà phê Châu Đức Hiền, tiệm thuốc bắc Xuân Đức Đường, tiệm vàng Hoa Nam. v..v.. Sau nầy cặp theo đường phố còn rộng ngăn cách giữa hai nhà lồng chợ, chủ phố cho xây thêm các dãy kiosque nhỏ mà đầu dãy là gian hàng bán nước mắm Thanh Hương của cô giáo Hương, tiệm hớt tóc Hai Oanh …

Qua khỏi nhà lồng chợ là phố bờ sông, đẹp không sao tả xiết với những căn nhà xây theo kiểu cổ, phía trước lan can trên lầu có khắc phù điêu, quét vôi màu vàng mỡ gà hướng ra bờ sông với những bảng hiệu mà chữ nghĩa tôi còn nhớ đến tận bây giờ như Lâm Thoại Hưng, Lâm Hoành Cơ …

Tuổi thơ tôi sáng ở chợ, sau khi lót dạ 5 cắc xôi Bà Ngoại cho rồi thì xếp hàng đầu vòng quanh gánh xiếc “Sơn Đông Mãi Võ” bán thuốc “Cao Đơn Huờn Tán” coi chơi cho đến trưa, tận đến giờ đi học. Chỉ kịp về nhà ôm cái cặp đệm tưa viền cuốn mép cũ xì và dính lốm đốp màu mực xanh đỏ. Mặt mày tôi cũng lấm lem bụi bặm cả ngày ở ngoài chợ. Hôm nào gánh xiếc tan sớm hay bị dời đi chỗ khác thì tôi mới có dư thì giờ chạy xuống bờ sông tắm lội cả tiếng đồng hồ. Những hôm như thế thì mặt mày mới sáng sủa hơn và tóc mới được chải nước nằm sát da đầu ép ngược về phía sau trông giống như mấy ông Tây trong hình vẽ quảng cáo.

Vào lớp học ít lắm chỉ mong tới giờ ra chơi, có hôm còn trốn ra phía sau trường lặn ngụp dưới rạch Cầu Kinh cho tới khi nghe tiếng trống vô học mới trồi lên. Bài vở trong sách tập đọc dễ ẹc so với chữ nghĩa trong toa thuốc quảng cáo ở ngoài chợ mà tôi đánh vần hằng ngày từ sáng tới trưa. Giấy sách báo rời cắt nhỏ dùng để gói đồ tôi đọc không sót một chữ nào khi có trong tay.

Tâm tình với nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng về việc G.S Tương Lai ra khỏi Đảng

Nguyễn Thị Thanh Bình

Nguyễn Thị Thanh Bình: Thưa nhà báo, nhà văn, T.S kinh tế Phạm Chí Dũng, cho phép xin được “tra tấn” thêm một chuyên viên trả lời phỏng vấn rất tinh tế và thành thật như anh. Chắc anh đã nghe, đã thấy và cũng không lạ gì với tình trạng hỗn mang tranh sáng tranh tối của giới đấu tranh cho dân chủ tự do, và nhân quyền lúc này. Do đó hy vọng cuộc trò chuyện này được mở ra trong tinh thần xây dựng, có lý có tình hơn là sẵn sàng bôi bác, thành kiến và đào sâu thêm những hố thẳm chia rẽ, ngăn cách.

Thường thì khi đảng viên sắp hoặc đã về hưu trí, có chữ “nguyên” đi kèm đánh dấu mọi sự ngừng sinh hoạt, cũng có thể cả đảng phái của họ, thì những đảng viên ấy mới dám phản tỉnh bằng cách nộp đơn ra khỏi Đảng, vậy điều gì đã khiến họ phải “ngâm tôm” nỗi bứt rứt trăn trở của mình suốt năm tháng dài để cuối cùng mới dám đưa ra quyết định hẳn là rất nhiêu khê khó khăn ấy? Phải chăng đa phần chỉ vì sợ sẽ bị khai trừ sớm muộn trước sau gì, hoặc hứa hẹn gặp phải phiền toái nào đó nên đảng viên mới chọn cảnh “dứt áo ra đi” mà thôi, và khi ra đi thì liệu họ có còn điều gì để phải cảm thấy lấn cấn, ngoài những hệ lụy gia đình chăng?

Nhà báo Phạm Chí Dũng: Nếu tính từ năm 2013 trở lại đây, con số bỏ đảng là quá ít ỏi so với gần 4 triệu đảng viên đăng ký trên sổ sách của đảng. Tình hình này phản ánh tâm thế e ngại và sợ sệt vẫn bao phủ trong tuyệt đại đa số đảng viên, mặc dù theo tôi biết thì tâm lý đảng viên trong đảng đã quá chán ngán chế độ chính trị này, và hầu như mất hẳn niềm tin vào đảng.

Do bị gò bò bởi kỷ luật đảng và sợ ảnh hưởng đến vị thế chính trị lẫn công việc nên rất hiếm trường hợp đảng viên dám ra đảng trong lúc còn làm việc, mà chỉ đến khi nghỉ hưu mới có một ít người dám “xổ lồng”. Cho tới nay, đây vẫn là một tâm lý bao phủ lên 3,7 triệu đảng viên.

Nhưng có một thực tế là ngay cả một ít đảng viên hưu trí từ bỏ đảng lại không phải xuất phát từ thái độ dứt khoát chia tay ý thức hệ hoặc phản kháng với một đảng tham nhũng, mà do những người này đã có những hoạt động bị đảng quy kết là “đa nguyên”, thậm chí “ủng hộ các thế lực phản động”, nên cấp ủy đảng gây sức ép khai trừ họ. Để tránh bị “hạ nhục”, những đảng viên này đã chủ động tuyên bố ra đảng trước khi bị khai trừ.

Tuy nhiên, tình trạng thoái đảng lại rất lớn ở Việt Nam. Phần lớn những người thoái đảng thuộc về lớp cán bộ, công chức hưu trí. Họ âm thầm không nộp hồ sơ đảng từ nơi làm việc trước đó về nơi cư trú, và nếu sau một thời gian mà không thấy “nhắc nhở”, thì coi như không sinh hoạt đảng và cũng xem như đã “ra đảng”. Cũng có những đảng viên thoái đảng theo những cách khác như cố ý không sinh hoạt đảng dù có tên trong chi bộ địa phương, cố ý không đóng đảng phí, cố ý gây ra mâu thuẫn nội bộ để chi bộ bắt buộc phải khai trừ mình. Một số đảng viên khác, vì nguyện vọng đi định cư ở nước ngài cùng gia đình, đã đương nhiên đề nghị đảng xóa tên mình…

Năm 2013, một con số thống kê chính thức của một cơ quan đảng đã cho thấy có đến 40% đảng viên nằm trong những dạng thoái đảng khác nhau tại các địa phương. Cho tới nay, hẳn tỷ lệ này còn phải cao hơn, trong bối cảnh chính trị và xã hội nhiễu nhương hơn nhiều trước đây và còn chưa tới đáy.

Nếu như những năm trước, có những người muốn bỏ đảng nhưng vẫn lo sợ bị chính quyền cắt sổ hưu hoặc bị sách nhiễu bản thân và thân nhân, thì với một số trường hợp bỏ đảng từ năm 2013 đến nay, đặc biệt gần đây như ông Võ Văn Thôn – cựu giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM, ông Lê Văn Hòa – cựu chuyên viên Ban Nội chính Trung ương, Giáo sư Nguyễn Đình Cống, nhà báo Tống Văn Công – nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động… cho thấy áp lực và thủ đoạn gây khó khăn của chính quyền và công an đối với họ và những người thân giảm hẳn. Thậm chí đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ hưu trí, xuất thân từ lực lượng vũ trang như quân đội và công an, cũng muốn công khai bỏ đảng.

Hoàn toàn không thể có chuyện chính quyền cắt sổ hưu của người bỏ đảng, vì làm như vậy là vi phạm pháp luật.

Một nguy cơ khác đối với đảng cầm quyền là đang manh nha dấu hiệu một số cán bộ lão thành, trung cấp và cả cao cấp, muốn từ bỏ đảng CSVN để trở về… đảng Lao Động. Trường hợp này vừa xảy ra với giáo sư Tương Lai ở Sài Gòn. Nếu khuynh hướng này mở rộng trong thời gian tới, tương lai “tách đảng” là dễ thấy.

CS Triều Tiên xử tử người vớt gạo cứu đói

Hàng chục binh sĩ Biên phòng CS Triều Tiên bị bắn bỏ, vì dám vớt gạo trôi sông từ Hàn Quốc.

Lòng tốt của người dân Hàn Quốc đôi khi lại là con dao 2 lưỡi, khiến những người ở bên kia chiến tuyến phải bỏ mạng !.

Mới đây theo một nguồn tin tình báo từ Mỹ cho biết: Hàng chục binh lính CS Triều Tiên đã bị xử tử hình không thương tiếc.

Những lính CS Triều Tiên bị xử tử này là những người đã lén vớt những chai gạo được thả trôi sông từ Hàn Quốc.

Theo AP: Những người bị tử hình đều là những lính CS Biên phòng, những người này bị cáo buộc tôi danh sử dụng sản phẩm của kẻ thù. Nguyên nhân tử hình được cho là vô lý, nhưng ở Triều Tiên CS, đó lại nằm trong những điều luật cấm.

Chai chứa gạo cứu đói
Triều Tiên CS đang chịu lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc, nhằm ngăn chặn chương trình nguyên tử và hỏa tiễn của nước CS này.

Chính vì thế, kinh tế của nước này ngày càng bị cô lập, nạn đói xảy ra, người dân không đủ ăn. Mặc dù ngân sách dồn hết cho quốc phòng, nhưng những binh sĩ cũng không mấy no đủ.

Triều Tiên CS đã kêu gọi Liên Hiệp Quốc hỗ trợ gạo, đáp lại là sự phớt lờ lạnh lùng, tuy nhiên người dân Hàn Quốc đã gom góp để thả hàng tấn gạo xuống sông, để giúp đỡ người dân bên kia chiến tuyến.

Hàng tấn gạo được san sẻ qua các chai nhựa nhỏ, họ bỏ thêm tiền để người dân Triều Tiên có thêm cái ăn trong những ngày đói kém.

Gạo được gửi đến Triều Tiên CS bằng các chai nhựa, dán chữ để người nhận biết được gạo đến từ Hàn Quốc. Mỗi chai nhựa chứa khoảng một kg gạo, và được ném xuống biển, gần đảo Ganghwa.

Ông Kim chắc chắn rằng: Các chai gạo sẽ đến huyện Ongjin, và thành phố Haeju của tỉnh Hwanghae (Triều Tiên CS), muộn nhất vào ngày hôm sau.

Ông Kim giải thích: “Tôi không ở Ongjin, nhưng tôi thường ở khu vực quân đội Triều Tiên CS gần Haeju của tỉnh Hwanghae. Vào những năm 1970, khi có lũ lụt, rất nhiều thứ trôi theo dòng sông. Chúng tôi thường ra sông nhặt những thứ đó. Vì vậy, tôi chắc chắn 100% những đồ thả ở đây sẽ đến được Triều Tiên CS !”.

Ông Kim cũng nhận được hỗ trợ từ những người Triều Tiên CS, và các tình nguyện viên ở Hàn Quốc. Một số người thậm chí còn cho những đồng tiền USD vào trong chai gạo để thả xuống biển nữa !.

Ông Kang Myong-hwa, một trong các thành viên nhà thờ, nói: “Người Triều Tiên CS bị đói, và sống trong hoàn cảnh thiếu thốn. Tôi hy vọng tôi có thể giúp họ cho dù chỉ một chút thôi !”.

Còn Park Young-hak, cũng là một người trốn chạy khỏi Triều Tiên CS, đang đóng gói các chai gạo, nói: “Điều này sẽ giúp người Triều Tiên CS đang bị đói. Cho dù một lính CS Triều Tiên vớt được cũng không sao. Tôi cũng nghe nói họ bị đói rồi !. Tôi hy vọng rằng việc này sẽ giúp nuôi sống thêm một người !”.

Hành động của người dân Hàn Quốc khiến cả thế giới khâm phục tinh thần dân tộc của họ: “Tuy chia làm 2 miền, nhưng dù sao họ cũng chung dòng máu cha ông, chung ngôn ngữ, chúng tôi muốn giúp đỡ họ phần nào”, một người Hàn Quốc cho hay. (Internet)

26 September 2017

Lối Mòn, tranh A.C.La


Lối Mòn
(Tough Path)

Oil on canvas, 18x24 inch (47x61 cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
**

Lảm nhảm quanh bức tranh

Giữ sức khỏe, cách hay nhất là đi bộ. Vừa đơn giản lại không tốn nhiều tiền mua máy móc và chật nhà. Nhưng đi bộ quanh nhà mình mãi cũng chán trong khi đó vùng trong và quanh thành phố tại hạ đang sống, Hamilton City, có rất nhiều khu bảo tồn có rừng, có thác nước, sông suối với lối đi bộ quanh co. Hai trong số những nơi này là khu Thác Albion và Thác Smockey Hollow chỉ cách xa nhà 10-15 phút lái xe. Quả là một điều thích thú, và may mắn. . .

Tôi đậu xe, lấy theo chiếc gậy, lần mò vào lối dã hành. Chưa đi được bao lâu, gặp ngay một bà chắc cũng thích thiên nhiên như mình, đi ngược chiều, mồ hôi nhễ nhại, thở hổn hển nói: "Wow! Tough path." (Lối gồ ghề quá!). Tôi tính trả lời: "Vậy mới thú" (But amazing, though!) nhưng bà ấy đi nhanh quá. Mình thì lại thuộc nhóm phản ứng chậm vì ...hơi già! Bà ta thuộc loại khỏe; đi một vòng con đường mòn không đoạn nào thẳng, và phẳng. Quanh co, lên xuống dốc,  mặt đường đá to nhỏ chen với đất. Đi nhanh như bà ta chỉ dăm mười phút là đã toát mồ hôi, vậy mà vẫn còn sức để nói năng sau khi đi một vòng thì là người yếu sao được.

Nói về cái phản ứng không được nhanh nhẹn của tuổi già, nghĩ lại có lần thấy phái ngượng và xấu hổ. Một hôm ghé tiệm sách mua một quyển bây giờ quên tên rồi. Tiện hạ ra quầy trả tiền và anh chàng nhân viên gói sách đưa cho tôi nói "Enjoy your book, Sir". Không biết trời xui đất khiến thế nào mà hôm ấy tôi nhanh miệng đáp "You too!". Chúa ơi! Nói xong tôi ngượng chín người. Chàng thanh niên tính tiền chiếu ánh mắt ngỡ ngàng vào tôi khiến tôi muốn độn thổ cho rồi! Có thể anh ta nghĩ rằng tôi mua giùm sách cho một người khác chứ không phải cho tôi đọc. Từ hôm đó bụng bảo dạ hãy cứ chậm rãi mà nói; chẳng ai trách người không còn trẻ chậm chạp đâu.

Thiết nghĩ sức bén nhậy nơi người lớn tuổi sẽ suy giảm nhanh nếu thiếu thể dục. Dưỡng khi, cảnh vật những nơi thoáng mát ngoài thiên nhiên hẳn sẽ giúp trí óc minh mẫn hay ít ra giảm mức thoái hóa của não bộ nhiều, rất nhiều.

Bức tranh trên đây vẽ một góc trong khu dã hành 'Thác Smockey Hollow', Hamilton, Ontario.

(A.C.La)



24 September 2017

Động Đất Ở Virginia, chuyện vui

(kỷ niệm ngày 23 tháng 8 năm 2011)
Phạm Thành Châu
 
Tôi xin kể một chuyện vui, cách nay khá lâu. Chuyện thật, nhưng chỉ thật một nửa. Vụ động đất ở Virginia vào trưa ngày 23 tháng 8 năm 2011 (5.8 độ Richter) là có thật, còn hai nhân vật trong truyện làm gì với nhau trong nhà đóng cửa thì làm sao biết đưọc? Tôi chỉ nghe nhân vật “nam” kể lại mà viết ra đây để quí vị đọc cho vui thôi.
 
Chuyện như thế nầy. Có một anh chàng, tên Dũng, khoảng hơn bốn mươi tuổi, độc thân, có việc làm ổn định, cư ngụ tại tiểu bang California, miền tây Hoa Kỳ. Anh ta độc thân vì bị vợ bỏ hay bỏ vợ gì đó, không ai hiểu. Anh chàng Dũng là người khỏe mạnh, cao ráo, đẹp trai nên quen biết với nhiều bà, nhiều cô. Nhiều đến độ quí bà chạm mặt nhau là háy, nguýt, xỏ xiên đôi khi chửi nhau vì ghen tuông. Về sau, vì bị các bà tìm đến làm phiền nhiều quá và sợ có hại cho sức khỏe nên anh ta đổi số điện thoại, đổi địa chỉ, tự coi như mất tích. Nhưng không gặp các bà thì lại buồn, thế nên anh ta thường gọi đến bạn bè để chuyện trò. Trong số bạn đó, có một bà chủ tiệm làm móng tay (nail) ở tiểu bang Virginia. Vì là hàng xóm khi còn ở bên Việt Nam, thân nhau từ nhỏ nên họ không bỏ được cách xưng hô “mi, tao” thuở trước. Một lần anh ta gọi bà bạn “Mi kiếm giùm tao một cô độc thân để tao trò chuyện, lúc đó tao sẽ không gọi quấy rầy mi nữa” Bà bạn hỏi “Mi ưng đứa ra răng (như thế nào)? Già trẻ, xấu, đẹp, lớn bé, thấp hay cao?” “Tao cần người để nói chuyện tào lao thôi. Chẳng cần gặp mặt, miễn sao có giọng nói thanh tao và cách chuyện trò dễ nghe, nhất là tao có lỡ miệng nói bậy thì đương sự không giận là được” “Tiệm làm móng tay của tao, khách Việt tấp nập, để tao lựa cho mi một cô ngon lành, ăn nói dịu dàng, khôn ngoan”.
 
Nhân vật nữ được giới thiệu tên Liên Hoa, gốc Bắc kỳ “ri cư” chín nút (di cư năm 1954), theo lời bà chủ tiệm nail (người bạn chung của anh chàng Dũng và cô Liên Hoa) thì cô Hoa nầy lại sợ đàn ông. Cô đã có chồng nhưng đã li dị vì ông chồng về Việt Nam cưới một con bé đáng tuổi con mình đem qua Mỹ, thế nên “nhận định” về đàn ông, cô nói “Đàn ông giả dối và phản trắc”. Khi cô bạn muốn giới thiệu chàng Dũng để làm quen, cô Liên Hoa ra điều kiện là chỉ gặp nhau trên điện thoại mà thôi. Nếu cô không thấy thích, không muốn chuyện trò thì không được gọi phá rầy cô nữa. Thế là họ được cho số điện thoại để quen nhau. Cả hai đồng ý chỉ gọi vào buổi tối, khi lên giường, chuẩn bị đi ngủ. Hai người ở cách nhau ba múi giờ nên anh chàng Dũng (ở Cali.) phải gọi cô Liên Hoa lúc bảy giờ tối, tức là mười giờ tối ở Virginia. Lúc đầu, trò chuyện linh tinh, tưởng chỉ thời gian ngắn là chán, nhưng dần dà, hai người, ngày càng thích nhau, tối nào cũng cười nói với nhau trên điện thoại đến khuya. Cô Liên Hoa là người Bắc Kỳ chính cống Hà Nội, giọng nói dịu dàng, thánh thót, nghe hoài không chán. Xin được vài giòng về giọng nói “Hà Nội năm tư”. Năm 1954, theo hiệp định Geneve, miền Bắc Việt Nam thuộc về Việt Minh, miền Nam, từ vĩ tuyến 17 thuộc chính quyền Quốc Gia. Lúc đó hàng triệu người miền Bắc di cư vào Nam để tránh họa Cộng Sản. Dân Hà Nội vào Nam gần hết, chỉ còn một số ít, có tài sản, cơ sở kinh doanh, sản xuất còn nấn ná ở lại Hà Nội, vì tiếc của, lại nghe tuyên truyền của Việt Minh quá hay nên họ ở lại để “góp một bàn tay xây dựng đất nước”. Không ngờ, khi Việt Minh vào tiếp thu Hà Nội, liền mở chiến dịch đánh tư bản bóc lột, tịch thu tài sản của những người còn ở lại, tống cổ họ lên “kinh tế mới”, là vùng núi rừng Tây Bắc, với hai bàn tay trắng, ở chung với các dân tộc thiểu số Mường, Mán, Tày, Nùng... Dân thành thị, làm gì biết phát rẫy trồng trọt, chăn nuôi. Họ sống lây lất giữa núi rừng thâm u, khắc nghiệt... để rồi biến mất dần. Như vậy Hà Nội không còn người Hà Nội nữa. Những người kháng chiến của Việt Minh vào chiếm ngụ Hà Nội. Họ nói “giọng bây giờ”. Đa số nói ngọng và sai chính tả. Có người nói nhanh như líu lưỡi, như sợ người khác cướp lời. Giọng nói tiêu biểu nhất là trên đài phát thanh. Nghe the thé, chanh chua và sắt máu, vì họ là người Cộng Sản được giáo dục để căm thù và đấu tranh để tiêu diệt bất cứ kẻ nào không theo họ. Cách đối thoại cũng khác. Ngoài xã hội, họ thích chửi thề, nói tục. Báo chí trong nước thường đăng những bài phóng sự về “Cháo chửi, bún mắng”, bảo đó là “văn hóa ẩm thực” của người Hà Nội hiện nay.
 
Nhờ chạy vào Nam nên những người “Bắc Kỳ chín nút” nầy mới giữ được giọng Hà Nội, phong cách Hà Nội, và truyền lại cho các thế hệ sau. Cô Liên Hoa nói giọng Bắc “pha” Nam kỳ, lại sống trong miền Nam trù phú, sung túc nên cách nói, cách suy nghĩ, cư xử thẳng thắn y như người miền Nam, một là một, hai là hai. Chàng Dũng mê giọng cô Liên Hoa là đương nhiên. Còn cô Liên Hoa thích chàng Dũng vì anh ta hay kể chuyện vui và chọc ghẹo cô mà theo cô là rất “dễ thương”. Cả hai tuyệt đối không hề thắc mắc về dĩ vãng hay về dung nhan của nhau. Họ không muốn gặp nhau. Họ giống như thính giả nghe đài phát thanh vậy thôi. Thông thường buổi tối, chàng Dũng gọi “A lô, ngủ chưa?” Bên kia trả lời “Em chờ anh gọi để nghe anh kể chuyện vui đây!” Vậy là anh chàng đem chuyện ngoài đường, trong sở làm, đôi khi đọc trong báo có tin tức gì vui cũng đem ra kể cho cô nàng nghe, để được cô nàng “Thế hả?” rồi đưa ra nhận xét với giọng thủ thỉ, ngọt ngào. Nếu chuyện chỉ có thế thì không đáng làm mất thì giờ quí bạn. Vì bạn cũng từng có bạn gái phương xa kiểu đó nhưng chỉ chuyện trò trên điện thoại ít lâu thì chấm dứt vì chán. Nhưng phần tiếp sau đây mới đáng theo dõi.

Một hôm chàng Dũng báo cho cô Liên Hoa biết là sẽ nghỉ phép mươi ngày, qua Virginia thăm bạn bè. Cô nàng hỏi “"Ngày nào anh đến Virginia?" - ” “"Anh mua vé rồi. Ngày 15 tháng 8 (năm 2011) nầy sẽ đến phi truờng Dulles".” Im lặng một lúc rồi cô nói “"Ngày đó em sẽ đi Florida với bạn trai cho đến khi nào anh quay về California thì em mới về lại nhà ở Virginia" - ” "“Em đừng bận tâm. Có đến Virginia anh cũng không tìm cách gặp em đâu. Nhưng sao em nói không thích đàn ông mà bây giờ lại có bạn trai?". Cô Liên Hoa cười trong điện thoại "“Em đi chơi với baÏn trai nhưng mỗi người một phòng riêng. Em đi Florida để tránh gặp anh. Anh có giận em không?" -” “"Mình đâu phải bồ bịch gì mà giận hờn như trẻ con. Chúc em đi chơi vui vẻ." -” "“Em sẽ nhờ chị bạn giới thiệu cho anh một cô để anh đỡ cô đơn trong thời gian ở Virginia. Tiệm móng tay của chị ấy, thợ độc thân, vui tính nhiều lắm".” “"Đó cũng là ý kiến hay. Bạn bè của anh bên tiểu bang Virginia cũng nhiều, nhưng toàn là bạn trai, anh cần một cô bạn hướng dẫn, nếu cô ta có thì giờ". ” “"Cô chủ tiệm nail sẽ giới thiệu cho anh một cô thợ để đưa anh đi chơi buổi sáng, vì cô ta làm việc buổi chiều. Mỗi tối, nhớ gọi em, kể cho em nghe anh đi chơi như thế nào. Gọi em lúc mười giờ tối như thường lệ nghe anh”". “"Bạn trai bên cạnh em, khi anh gọi, có trở ngại gì không? Anh sợ bị hiểu lầm thì hai người mất vui".” “"Em đã nói với anh, mỗi người một phòng riêng. Anh đừng lo cho em, cũng đừng buồn vì em không gặp anh”".                                        
Nhưng tại sao cô Liên Hoa lại tránh mặt chàng Dũng? Xin bạn kiên nhẫn, đọc tiếp sẽ rõ.
    “
Alô! Liên Hoa. Em ngủ chưa?” “Chưa! Em chờ anh gọi đây. Anh qua Virginia chưa?” “Qua rồi. Xuống máy bay lúc bảy giờ tối” “Sáng nay có gì vui không?". ” “"Có mới gọi em chứ. Nhưng em đi Florida có vui không?" -” "“Vui lắm. Tắm biển, ăn cá tươi, đến nhà bạn bè ăn trái cây... Anh kể cho em nghe đi! Sáng nay có gì vui?" -  "Anh gặp bạn bè chưa?" - ” "“Chưa. Nhưng anh làm quen được với một cô công chúa Nga La Tư".” Cô Liên Hoa kêu lên “"Ối giời ôi! Công chúa Nga La Tư đâu có sẵn mà anh quen được nhanh thế? Anh quen cô ta trong trường hợp nào?" - ” “"Đằng sau khách sạn anh ở có một công viên. Sáng nay anh dậy sớm, ra công viên đi dạo thì gặp cô ta đang ngồi cô đơn trên ghế đá. Anh đến chuyện trò. Được biết cô ta thuộc dòng dõi chính thống Nga hoàng, xếp vào hàng công chúa. Trước cách mạng Nga 1917, gia đình cô đã qua Pháp rồi, nhưng phải đổi tên họ để Liên Xô không tìm đến mà ám hại. Năm nay, cô và gia đình qua Mỹ nghỉ hè". -” “"Anh tả dung nhan cô ta cho em nghe với" -” “"Cô ta đẹp mê hồn. Mắt đen long lanh, miệng cười tươi như hoa, thân hình gọn gàng, tròn lẳn, hấp dẫn”" - "“Rồi sao nữa?" -” "“Anh mời cô ta đi ăn phở. Cô ta khen ngon, ăn hết tô luôn, chứng tỏ thức ăn Việt Nam ngon thật chứ không khen lấy lòng." -” “"Chúc mừng anh gặp được người đẹp. Nhưng chuyện anh kể cho em nghe, đúng được bao nhiêu phần trăm? Cô công chúa Nga La Tư của anh tên gì?" -” “"Chúng mình là bạn bè. Anh xạo với em làm gì. Cô ta tên Ê-va-nô-víc Lana" -” Cô Liên Hoa cười vang trong điện thoại. “"Thôi đi ông ơi! Xạo vừa thôi. Người Nga mà biết tiếng Việt! Cái cô Lana nô víc gì đó của anh chính là cô Lam Kiều, bạn em. Cô chủ tiệm nail nhờ cô Lam Kiều đến đón anh đi ăn uống, chuyện trò cho anh đỡ buồn. Đúng không? Hai người còn hẹn nhau sáng mai đi ăn bún bò Huế". ” Chàng Dũng hơi “quê”, cười giả lả  “"Anh đâu có ngờ cô Lam Kiều là bạn em nên anh xạo với em cho vui”".  “"Nhận xét, cảm tưởng của anh về cô Lam Kiều, bạn em như thế nào? Quan trọng là anh không được hỏi cô ta bất cứ điều gì về em" -” “"Em 'yên chí lớn', anh sẽ không nói, không hỏi gì về em. Em mãi mãi là người vô hình. Lúc nãy anh đã tả cô ta cho em nghe rồi. Nghĩa là rất đẹp, hấp dẫn, thấy phát thèm. Có một khuyết điểm là cô nói giọng rất khó nghe, như giả giọng. Khi thì nói giọng Quảng, khi thì giọng Huế, khi thì pha giọng Nam Kỳ lục tỉnh. Anh phải cố gắng lắm mới hiểu được"”.
 
Hơn một tuần ở Virginia, nếu chàng Dũng không gặp bạn bè thì cô Lam Kiều đưa xe đến đón đi ăn uống, viếng cảnh đẹp trong vùng. Họ đi thăm thủ đô Washington DC, đi theo với đoàn du ngoạn New York, sáng đi chiều về hoặc đi biển, vào rừng, đến các tiểu bang lân cận, viếng danh lam, thắng cảnh. Cô Liên Hoa tò mò “"Đi chơi chung với nhau, tối đến anh chị có ngủ chung không?" -” “ 'Mỗi người một phòng riêng ' -” “ 'Anh có gõ cửa phòng cô ta không?" - ”"“Có gõ cửa, nhưng cô ta không mở cửa" -” "“Vậy là cô ta biết âm mưu của anh rồi”." - “"Anh không biết cô ta nghĩ gì, nhưng sáng hôm qua cô ta có mời anh đến nhà." -” “"Ôi chà chà! Hai anh chị có làm điều gì “phi pháp” không?.  Kể cho em nghe với!" -” “"Anh cũng hi vọng xảy ra chuyện “gì đó” như em nghĩ. Nhưng khi vào nhà, anh sà xuống xa lông, ngồi gần thì cô ngồi hơi xích ra một chút. Coi bộ cô ta đề phòng cẩn mật vì thấy đôi mắt anh không được lương thiện lắm”." - "“Anh nhà quê thấy mồ. Chả lẽ cô ta ngồi yên. Bất cứ người đàn bà nào cũng làm như vậy. Đã mời anh đến nhà, mà nhà lại vắng người, tất phải có “thiện chí” trong đó. Anh cũng không còn trẻ con mà không hiểu cô ta, Chán anh quá!" -” “"Anh cũng chán cô ta rồi. Lúc nào cũng giữ kẽ. Anh sắp về lại Cali. rồi. Nhưng cô ta có hẹn sáng mai cô đến đón đi điểm tâm và về nhà cô ta uống trà." -” "“Lần nầy, anh nhớ đừng có uống trà suông với cô ta rồi than chán. Nữ nhi mà anh. Có muốn cũng không nói. Anh phải cố mà hiểu chứ!" -  “"Em xúi anh thì em chịu trách nhiệm nghe. Rủi cô ta chống cự rồi đuổi anh ra khỏi nhà thì mất mặt nam nhi. Hay là em gọi cô ta dặn trước rằng. Anh có làm gì thì đừng phản đối!" -” “"Giời đất ơi! Chuyện của hai người mà bắt em xía vô. Anh phải chủ động chứ! Mỡ đến miệng mèo mà mèo nằm yên liếm mép". - "Nhưng trong lúc chuyện trò, cô ta có nói gì đặc biệt với anh không?" -” "“Cô ta có nói nhỏ với anh câu gì đó, nhưng giọng nói rất khó nghe, anh đoán không ra nhưng cũng không hỏi lại.  Cô ta coi bộ giận anh, xụ mặt lại”. - “"Anh không nghe rõ, nhưng em biết. Cô ta nói “'Sao anh hiền quá vậy?'” Đúng không?”" Chàng Dũng kêu lên “"Trời đất! Sao em thông minh quá vậy? Bây giờ nhớ lại. Đúng là câu nói đó. Em lại giả giọng y hệt giọng của cô ta. Em tài thật?" -” “"Cô Lam Kiều là bạn em, giọng nói đó có gì khó nghe đâu. Chuyện gì cô ta cũng kể cho em nghe cả. Chán anh thật! Thôi. Em buồn ngủ lắm rồi. Chúc anh ngày mai thành công. Bye anh!”"
 
Sáng ngày 23 tháng 8 năm 2011, cô Lam Kiều đón chàng Dũng đi ăn điểm tâm rồi đưa về nhà cô ta ngồi uống trà, chuyện trò. Nhà cô Lam Kiều là một căn liền vách (townhouse) trong một xóm của người trung lưu, giống hệt những căn nhà cùng dãy. Dãy nầy với hai dãy khác tạo thành ba cạnh của một khu đất vuông, giữa là chỗ đậu xe. Bên kia đường cũng là những dãy nhà giống hệt, ẩn nấp sau hàng cây cao trồng dọc lề đường để cản bớt tiếng xe cộ ồn ào.                                       

Tôi phải để ngày tháng vào để bạn muốn biết chuyện gì xảy ra khi cô Lam Kiều mời chàng Dũng đến nhà, thì cứ gọi chàng Dũng bắt kể chi tiết cho mà nghe.  Hôm đó là ngày cuối ở Virginia, (tối đó, chàng Dũng sẽ lên máy bay về lại California). Coi bộ anh chàng không hăng hái lắm mặc dù cô Lam Kiều thỉnh thoảng nhìn chàng ta với đôi mắt long lanh, cảm tình lai láng. Vì trước giờ, anh chàng thường được phái nữ chiều chuộng, khuyến khích trước nên chàng ta quen thói, chờ người đẹp gợi ý nhưng chỉ thấy cô Lam Kiều cười mím mím mà không chịu nói câu “'Sao anh hiền quá vậy?!'” để anh ta theo lời xúi bẩy của cô Liên Hoa mà nhào qua bên kia bàn. Chuyện trò linh tinh như thế theo kiểu “tình trong như đã mặt ngoài còn e” được chừng nửa giờ thì chàng Dũng quyết định đứng lên. Cô Lam Kiều cũng đứng lên, lắc đầu với tiếng thở dài đầy thất vọng. Cô không thấy hứng thú khi phải đưa anh chàng thiếu thông minh nầy về khách sạn. Trong lúc hai anh chị “dùng dằng nửa ở nửa về” thì bỗng nhiên mặt đất rung chuyển một cách khủng khiếp. Ngoài đường, nghe rầm rầm như có hàng trăm chiếc xe tăng cùng mở hết tốc độ xông lên phía trước, sắp sửa nhả đạn vào đối phương. Cả ngôi nhà rung lên bần bật, các cánh cửa kêu lách cách, loảng xoảng như có hàng trăm cánh tay nắm lấy cửa mà lắc một cách điên cuồng. Cô Lam Kiều thất kinh hồn vía, không biết chuyện gì xảy ra. Cô kêu lên, giọng Bắc Kỳ '“Ối giời ôi! Giời sập. Giời sập!'.” Chàng Dũng kêu lên “"Động đất. Nằm xuống ngay. Nằm sát vào chân ghế xa lông."” A! Hóa ra cô Lam Kiều chính là cô Liên Hoa, là cô mà tối nào cũng nói chuyện “sa đà” trên điện thoại với chàng Dũng. Cô Liên Hoa chẳng đi Florida với bạn trai nào cả. Cô đến đón chàng Dũng nhưng không nói giọng Bắc Kỳ mà giả giọng Nam Kỳ, xưng tên Lam Kiều để đánh lừa chàng ta. Ban ngày đưa nhau đi chơi, tối đến chuyện trò với chàng ta trên điện thoại. Bất ngờ trận động đất khiến cô quên giả giọng. Tiểu bang Virginia chưa hề có động đất mạnh nên cô Liên Hoa hoảng sợ. Chàng Dũng ở tiểu bang California, thường có động đất nên biết phải làm gì. Sau khi nghe cô nàng trở lại giọng Bắc Kỳ, chàng ta hiểu ngay, nhất là khi thấy cô Liên Hoa chúi đầu vào chân ghế, nằm co rúm người, vùi mặt xuống thảm thì chàng ta nhanh trí kêu lên, giọng “nghĩa hiệp” như trong truyện Tàu “'Coi chừng sập nhà'. Để anh nằm trên người em, che cho em. Rủi sập nhà thì anh hi sinh để em được an toàn.” Nói xong chàng ta phóc qua bàn, nằm đè lên cô Liên Hoa, ôm cô cứng ngắc "“Đừng sợ. Có anh che chở thì nhà có sập, em cũng không sao cả!"”. Trận động đất chỉ xảy ra trong một phút, nhưng chàng Dũng vẫn tiếp tục “che chở” cho cô Liên Hoa. Cô Liên Hoa thì thầm “"Hết động đất chưa anh?" -” “"Chưa đâu. Còn dư chấn" -” “"Dư chấn là sao anh?" -” “"Là động đất vài lần tiếp theo" -” “"Bao lâu nữa thì dư chấn xảy ra anh?" -” “"Khoảng nửa giờ. Dư chấn thường mạnh hơn động đất. Nhà nầy có thể sập".” Cả người cô Liên Hoa bắt đầu rung lên một cơn chấn động nhẹ vì hồi hộp. Cô nói trong hơi thở đứt quãng “"Có chết không anh?”" - “"Chết chứ. Nhưng em yên tâm. Có anh nằm trên em, che chở cho em. Sợ gì!"” Cô đề nghị một cách miễn cưỡng “"Mình có nên chạy ra khỏi nhà không anh?" -” “"Em cứ nằm yên. Nhiều khi chạy chưa ra khỏi nhà thì nhà đã sập rồi. Ở Cali. nhiều người bị như vậy lắm."” Cô đã hết sợ, không còn co rúm người nữa nhưng vẫn thì thào “"Em sợ quá!'” Giọng chàng Dũng, cũng rất hồi hộp “"Có anh thì chẳng có gì phải sợ cả. Nhưng... em nên nằm im".” "“Dạ. Vâng ạ!... Ối! Đừng làm em sợ!" -” “"Nằm im. Đừng nói to, ông “thần Động Đất” nghe, ổng tới làm sập nhà, hai đứa mình chết hết" -” “"Dạ, vâng ạ! Nhưng em run quá!" -” “"Anh cũng run như em ..." - ” “ 'Trước giờ em có nghe ai nói ông thần Động Đất là gì đâu? Ối! Đừng anh! Đó là ông Thổ Địa, trên núi thì có thần núi gọi là Sơn Thần”. “Bây giờ em sợ anh còn hơn sợ ông Thổ Địa của anh nữa!" -” "“Sợ anh thì phải nằm im. Giỏi anh thương!"” Cả hai yên lặng, một lúc thì cô Liên Hoa bỗng kêu lên nho nhỏ “"Ối! Chết em, anh ơi!...”"

Kể đến đoạn “nguy hiểm”, gay cấn, hấp dẫn đến độ hai tai tôi cứ vểnh ngược lên thì anh chàng Dũng không chịu kể tiếp. Tôi rất hồi hộp, sợ nhà sập thì nguy cho cả hai, nhưng nhà không sập mà họ vẫn ở trong nhà thì nguy cho cô Liên Hoa. Anh chàng Dũng nầy ẩu tả lắm! Theo anh ta kể. Nhiều cô, bà mới gặp lần đầu mà đã “chết ngất” với anh ta rồi... Vừa tò mò vừa sốt ruột, tôi hỏi “"Rồi sao nữa? Kể tiếp cho nghe với!"” Tôi năn nỉ bao nhiêu anh ta cũng lắc đầu. Tôi mua chuộc “Một tô phở với ly cà phê?” Anh ta cười cười “Biết rồi còn hỏi!”. Tôi tức quá mới nói “Chính hai ông bà làm mặt đất cả tiểu bang Virginia rung chuyển chứ động đất gì cả nửa tiếng đồng hồ mà chưa dứt?”.

PTC