27 June 2017

Hà Nội thuận cho thuê Cam Ranh ?

Bùi Anh Trinh

Đã có thương thảo ngầm trước chuyến đi

Ngày 4/6/2017 VOA đưa ra bài viết của Reuters xác nhận đã có thương thảo riêng giữa CVSN và ông Trump ngay sau khi ông Trump đắc cử.  Lý do khiến cho CSVN phải móc nối sớm như vậy là vì Trump tuyên bố sẽ hủy kế hoạch TPP;  mà đối với CSVN thì đó là một bi kịch :

“Đi đầu trong việc dàn xếp liên hệ là đại sứ của Việt Nam tại Washington, ông Phạm Quang Vinh … Ông Vinh cũng có vai trò quan trọng liên quan đến Hiệp định Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhưng ông Trump đã từ bỏ hiệp định này – một bi kịch đối với Việt Nam”.

“Việt Nam đã bắt đầu vận động hành lang ngay khi ông Trump đắc cử”… ..  “Việt Nam đã thu xếp được một cuộc điện đàm giữa hai ông Phúc và Trump hơn một tháng trước khi ông Trump nhậm chức.”

Trước đó CSVN có 7 lần mời ông Trump sang thăm Việt Nam (sic). Việc ông Trump có tham dự APEC và có thăm VN hay không là chuyện của nước Mỹ và chuyện riêng của cá nhân ông Trump.   Nhưng bảy lần mời liên tiếp khiến cho các nhà quan sát quốc tế hiểu rằng CSVN muốn ông Trump phải trả lời ngay về một chuyện gì đó chứ không phải là chuyện ông ta thăm Việt Nam.

Trước khi ông Phúc đến Mỹ, VOA đã đưa ra giải thích của ông Murray Hiebert, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Mỹ : “Ông ấy cần đến để chốt lại chuyện ông Trump sẽ đến tham dự thượng đỉnh APEC”

Không ai tin là ông Phúc đến Mỹ để chốt lại chuyện ông Trump có tham dự APEC hay không. Chuyện “chốt lại” không cần phải có một chuyến đi rình rang và 7 lần thúc hối.

Ngoài ra giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng cũng có nói xa gần: “Vấn đề là liệu ông Phúc có đặt một cái tương quan cá nhân nào tốt đẹp với ông Trump hay không thì nó sẽ thành công rất nhiều”.

Vậy cái “tương quan” đó là gì? Đã có trước khi ông Phúc sang Mỹ, hay là đợi ông Phúc sang Mỹ mới tạo nên cái tương quan đó?…  Để làm rõ nghĩa thêm cho câu nói của giáo sư Hùng, ngày 27/5/2016 VOA đã tiết lộ :

“Hãng tin Anh cho rằng đó là kết quả của “các cuộc gọi, các lá thư, các cuộc tiếp xúc ngoại giao và các chuyến thăm cấp thấp khởi sự từ trước cả khi ông Trump nhậm chức ở Washington, nơi Việt Nam vẫn duy trì một nhà vận động được trả giá 30 nghìn đôla một tháng”.

Rõ ràng đã có tiếp xúc mật từ khi ông Trump mới đắc cử Tổng thống Mỹ. Sau đó là chuyến đi Mỹ của Thứ trưởng ngoại giao Hà Kim Ngọc, rồi Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, và cuối cùng là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Kết quả “đi không về rồi” của ông Phúc chỉ là kết quả bề ngoài


Ngày 1/6/2017 Thông tấn xã CSVN đưa tin sau khi ông Phúc kết thúc chuyến đi : “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Donald Trump”.

Nghĩa là chỉ đi thăm chơi và nói chuyện thời tiết, chuyện mua bán, chuyện Bắc Hàn… rồi trở về tay không chứ không đạt được một thỏa thuận nào nơi ông Trump. *( Nội dung của buổi nói chuyện 30 phút đã được ông Trump nói trước với báo chí : “Chúng tôi sẽ nói chuyện về thương mại. Chúng tôi sẽ nói chuyện về Bắc Hàn. Chúng tôi có rất nhiều chuyện để nói…” ).

Không thể nào có chuyện ông Phúc “đi không về rồi” sau 7 lần cương quyết đòi gặp. Cũng không thể nào ông Trump gởi thư mời ông Phúc đến để nghe ông Phúc nói chuyện trên trời dưới đất, kể cả chuyện Bắc Hàn!

Vậy thì những gì trình diễn bên ngoài không phải là mục đích thực của chuyến đi. Mà phải là một đề nghị quan trọng của CSVN. Đề nghị này đã được đưa ra kể từ khi ông Trump mới đắc cử. CSVN cần ông Trump trả lời trước khi họ họp Hội nghị Trung ương 5.

Tiết lộ của Reuters

Lẽ ra thì chuyện có tiếp xúc mật sẽ không bao giờ được tiết lộ nếu như đề nghị của CSVN thất bại. Nhưng 2 ngày trước khi ông Phúc lên đường thì Reuters và VOA làm như vô tình hé lộ một chút bí mật. Thời điểm hé hộ trước chuyến đi có nghĩa là hai bên đã thỏa thuận rồi, chuyến đi chỉ là hợp thức hóa ( ký kết ).

Và sau khi phái đoàn của ông Phúc trở về thì VOA đăng bài bình luận của Reuters với tựa đề là “Việt Nam vận động Bạch Ốc vì lợi ích chiến lược”. Nội dung giải thích rõ hơn về chủ đề của cuộc dàn xếp riêng tư ngay sau khi ông Trump đắc cử.

Tựa đề “Vì lợi ích chiến lược” cho thấy ông Trump mời ông Phúc đến không phải là chuyện thương mại hay là chuyện Bắc Hàn.  Mà là chuyện chiến lược.  Tất nhiên chuyện chiến lược giữa Mỹ và CSVN thì chỉ có chuyện giữ an ninh (làm sen đầm) trên Biển Đông.  Vậy cuộc thương lượng mật lâu nay là “đề xuất giải quyết tình hình Biển Đông” của CSVN .

Nhưng CSVN đã có 7 lần thúc giục ông Trump phải trả lời đủ thấy là CSVN đã chấp thuận đòi hỏi lâu nay của Mỹ là Hạm đội Mỹ sẽ đảm trách nhiệm vụ “cảnh sát biển” tại khu vực Biển Đông với điều kiện Mỹ phải được thủ giữ vị trí chiến lược số một của vùng biển Đông Nam Á là hải cảng Cam Ranh của Việt Nam.

Kết quả dàn xếp giữa hai bên được thấy rõ là khi ông Trump đang bàn bạc ( ký kết ?) với ông Phúc tại Washington thì tại Hà Nội ông McCain đang nói chuyện ( ký kết ?) về hợp tác an ninh trên Biển Đông với Chủ tịch nước CSVN Trần Đại Quang.  Qua ngày hôm sau thì ông McCain đến Cam Ranh và lên thăm chiến hạm USS John S.McCain đang neo đậu tại Cam Ranh.  Không phải vô tình mà chiến hạm McCain có mặt tại Cam Ranh để tiếp đón ông.

Hẵn nhiên một khi hạm đội Mỹ có nhiệm vụ quốc tế là giữ an ninh trên Biển Đông thì những nước được bảo vệ an ninh phải đóng góp chi phí cho hạm đội Mỹ. Những nước được bảo vệ trực tiếp là Trung Cọng, Việt Nam, Phi Luật Tân, Malysia, Indonesia, Brunei, Đài Loan. Còn những nước được bảo vệ gián tiếp là những nước thường xuyên sử dụng hải lộ Biển Đông như Nhật, Hàn Quốc, Úc, Tân Tây Lan, Anh, Pháp, Ấn Độ…Đặc biệt nếu Trung Cọng thoái thác nghĩa vụ đóng góp thì các nước khác sẽ tình nguyện đóng thay cho TC.

Riêng Việt Nam muốn Mỹ giữ luôn an ninh cho bờ biển Việt Nam thì phải cho Hải quân Mỹ được sử dụng cảng Cam Ranh làm bản doanh của Hạm Đội. Hải quân Mỹ cần một bến cảng chiến lược để làm nơi đồn trú và tiếp liệu. Tuy nhiên nơi đồn trú của một Hạm đội bắt buộc phải là một căn cứ chiến thuật, tức là căn cứ chiến đấu. Không chỉ đơn thuần là tiếp tế hay sửa chữa tàu thuyền.

Mà hễ đã xây dựng căn cứ chiến thuật thì cần phải có hợp đồng thuê mướn dài hạn để Mỹ có thề đổ của xây dựng căn cứ vững chắc, lâu bền chứ không thể nào có chuyện cho ở miễn phí rồi lúc nào muốn đuổi thì đuổi. Tốt nhất là cho thuê trong 99 năm ( coi như bán ).

Tóm lại, Reuters và VOA muốn xác nhận là ông Trump và CSVN đã có thương lượng về Cam Ranh từ tháng 11 năm 2016 và nay ông Phúc đi Mỹ để “chốt lại”. Dĩ nhiên chuyện “chốt lại” chỉ là kết quả của 7 tháng thương lượng và những chuyến đi con thoi.  Mà chuyến đi con thoi sau cùng là chuyến đi của ông John McCain đến Cam Ranh.

Thông cáo kết thúc của phái đoàn “John McCain” cho biết phái đoàn đã tiếp xúc với Chủ tịch nước, Bộ trưởng Quốc phòng, Chủ tịch Quốc hội và những đại biểu Quốc hội khác trong kế hoạch Mỹ hỗ trợ an ninh và hợp tác quốc phòng với CSVN :

“…chuyến thăm được tiến hành trong bối cảnh có những diễn biến đáng ngại khu vực và những thách thức gia tăng tại vùng Biển Đông”…. “Đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ tìm cách mở rộng hỗ trợ an ninh và hợp tác quốc phòng với phía Việt Nam”…

Đài RFA nhận xét: “Thông cáo của đoàn nghị sĩ Hoa Kỳ nêu rõ điều đáng chú ý là vào khi các vị thượng nghị sĩ Mỹ đang có mặt tại Việt Nam thì chính quyền của tổng thống Donald Trump tuyên bố mong muốn làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam sau chuyến công du của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc”.

Mỹ và CSVN đẩy mạnh hợp tác giữ an ninh trên Biển Đông chứ không phải một mình Mỹ đối phó với TC trên Biển Đông. Nhưng vai trò của CSVN chỉ là cung cấp nơi đồn trú cho hạm đội Mỹ, tức là cho thuê cảng Cam Ranh.

Vậy có thể kết luận chuyến đi của ông Phúc là “chốt lại” chuyện cho thuê Cam Ranh đã được hai bên thương lượng lâu nay. Có thể hai bên đã thỏa thuận xong mọi chuyện nhưng chưa công bố vì cần một khoảng thời gian để chuẩn bị dư luận.

Bùi Anh Trinh
Nguồn: quanvan.net/bui-anh-trinh-ha-noi

26 June 2017

Đọc lại một đoạn trong một bài viết của Vũ Ngự Chiêu

"Dù không thể tháp tùng chúng tôi về nước, Mẹ tôi cũng đáp máy bay từ San Jose qua Houston sống với chúng tôi ít ngày. Tám mươi bảy tuổi, Mẹ nhiều hơn một lần sắm sẵn áo tang, khăn sô đi tìm mộ chồng, rồi thăm nuôi anh cả tôi, anh Tr., tại những vùng ma thiêng nước độc của thượng du Bắc Việt. Mẹ là một trong hàng triệu phụ nữ Việt Nam tiêu biểu trong thời buổi loạn ly, người hành hạ người, bắn giết, mổ bụng khoét mắt người với đầy đủ sự sảng khoái, kiêu hãnh và sủng kính nhờ những bàn tay phù phép ngoại lai. (Mới đây, ngày 6/1/2016, Mẹ đã vĩnh biệt cuộc đời và chúng tôi, ở tuổi 99, tại Los Angeles. Tang lễ cử hành tại Houston ngày 16/1/2016, lúc nhập quan, Mẹ vẫn tươi tắn như trong giấc ngủ. Hiền hậu và thương chồng, thương năm con hơn cả thân mình. Nước mắt ứa ra, lăn chậm trên gò má, phần vì thương kính và tri ơn, phần tự hào biết công dưỡng dục của Mẹ Cha đã giúp chúng tôi vượt qua bao thăng trầm, sống như một Người. Như câu di huấn của ông Nội đã truyền lại cho Cha, lúc đang bị đầy ải, lăng nhục ở những trại “cải tạo” Lang Hít, Bắc Kạn, là Ông “không buồn vì thiếu vài cây gậy chống sau quan tài—mà chỉ ngại các con cháu không đủ làm Người.” Ngày Cha từ biệt cõi đời, cả hai cây gậy theo sau quan tài đều vắng thiếu. Anh Tr., trong một trại “cải tạo” đất Bắc; và tôi, lưu vong quê người, miệt mài tìm đến những văn khố, thư viện để viết cho xong một bộ sử hầu như còn bỏ ngỏ)"
**

VIẾT TỪ CHÂN ĐỀN HÙNG
Vũ Ngự Chiêu

Từ California trở lại Houston, chiều Chủ Nhật, 14/11/2004, chúng tôi tổ chức một buổi họp mặt bỏ túi anh chị em tại tư gia, mừng sớm Lễ Tạ Ơn [Thanksgiving] thứ 30. Trong những lễ hội của Mỹ, tôi vẫn nghĩ Lễ Tạ Ơn quan trọng nhất, vượt trên ranh giới và phạm trù tôn giáo. Gà Tây cùng thực phẩm và hoa quả chỉ có tính cách biểu trưng. Tinh túy là sự tri ân đất nước mới, quê hương mới, và cuộc đời mới. Từ mùa Xuân buồn thảm 1975, Liên bang Mỹ đã trở thành quê hương mới của tôi, nơi dung chứa và ban phát cho tôi một cuộc sống thanh bình, tự do. Những đoá hoa tuyết đầu mùa mờ trắng bầu trời Eau Claire [Nước Trong] của bang Wisconsin vào giữa tháng 8/1975. Những săn đón, trân quí của vợ chồng Bruce Taylor, người không ngừng an ủi tôi rằng chỉ có những kẻ cầm bút chân chính, những nhà phù thủy chữ nghĩa, mới biết thương yêu lẫn nhau, trong một nghiệp dĩ nghiệt ngã, rút ruột nhả tơ. Những ly Irish coffee [cà-phê Ái Nhĩ Lan] lung linh ánh lửa lò sưởi, khi nhiệt độ hạ xuống mức âm số. Rồi sáu năm dài Madison, thủ đô Wisconsin. Hàng năm, Lễ Tạ Ơn luôn được mừng đón với xúc động tràn đầy, trong niềm thương mến và đùm bọc, ân cần của bao thày bạn. Những Richard D Coy, John R W Smail, Daniel F Doeppers, Gary Penanen, Duane Fischer, v.. v… Thời gian thoáng bay mau. Dòng sống đưa đẩy tôi xuống định cư tại Houston, Texas, chuyển qua luật học. Coy và Smail, Penanen, Fischer, đã ra đi, những mất mát lớn, khiến không thể không nghĩ đến những lời hứa chưa hoàn tất với họ—bắc một nhịp cầu tương thông, tương kính giữa hai dân tộc Việt-Mỹ, hàn gắn lại những đau thương dĩ vãng do những lỗi lầm của cả hai phe. Song song và mờ nhạt là những gợi ý, thúc dục của đồng nghiệp và thân hữu như Anatoli Sokolov, một học giả Nga chuyên biệt về Việt Nam. Ý định trở lại Việt Nam cho một chuyến nghiên cứu tại chỗ dần dần nở lớn. Cơ hội mở ra cho tôi là học bổng Fulbright của Bộ Ngoại Giao và chương trình Rockefeller của Trung tâm William Joiner Center tại Đại học Massachusetts, Boston trong niên khoá 2004-2005. Ít nữa thì có một cơ hội để tái khám phá quê cha đất tổ, tăng bổ cho thứ kiến thức ngày một mờ nhạt về người Việt, đất Việt của dĩ vãng.

25 June 2017

6 chiếc bánh thịt nướng đã thành tựu một doanh nhân

Con trai tôi mặc dù lớn lên tại Nhật, nhưng tôi xưa nay vẫn không thực sự hiểu vì sao nhà trường và gia đình ở Nhật lại có mối quan hệ qua lại mật thiết như vậy. Họ đều coi việc giáo dưỡng hàng ngày cũng quan trọng như thành tích học tập.

Mãi cho tới một ngày tôi tham dự buổi họp phụ huynh của con trai tại trường trung học, được nghe thầy hiệu trưởng 80 tuổi kể về câu chuyện thuở ấu thơ của một doanh nhân nổi tiếng, tôi mới giật mình hiểu ra.

Con trai khóc đòi mua bánh thịt nướng

Câu chuyện thầy hiệu trưởng kể ngày hôm đó xảy ra vào sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Nhẹ nhàng, giản dị nhưng sâu sắc, câu chuyện ấy đã giúp chúng tôi thấu hiểu cách giáo dục con cái của gia đình truyền thống tại Nhật Bản như thế nào.

Thầy hiệu trưởng già kể chuyện với chúng tôi bằng giọng nói khàn khàn và đôi khi phải ngừng lại vì những cơn ho nhẹ. Ông nói, kinh tế của Nhật sau Chiến tranh thế giới vô cùng khó khăn, phần lớn các gia đình rơi vào cảnh nghèo túng, bởi vậy mong muốn lớn nhất của mọi người là được no bụng. Trong những ngày ấy, thịt là món vô cùng xa xỉ và chỉ có trên bàn ăn duy nhất vào dịp năm mới.

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới:
Ảnh dẫn theo kknews.cc
Câu chuyện của thầy hiệu trưởng diễn ra trong bối cảnh lịch sử ấy. Nó kể về thời thơ ấu của Kadokura Kiyojiro, chủ tịch một công ty tư vấn, một doanh nghiệp nổi tiếng của Nhật Bản mà người Nhật ai ai cũng biết.

Tuy nhiên, nhân vật chính trong câu chuyện không phải Kadokura Kiyojiro, mà là mẹ của ông, người phụ nữ hiền từ, dịu dàng, nhẫn nại nhưng vô cùng lý trí, kiên cường. Bà không chỉ sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm mà còn âm thầm hy sinh, không oán không hận đã khiến tất cả những người có mặt tại buổi lễ hôm ấy cảm động sâu sắc.

Mọi người dành cho bà sự ngưỡng mộ, cảm phục vì tất cả những gì bà đã làm và bởi bà chính là hiện thân cho những vẻ đẹp truyền thống cao quý, tốt đẹp đang dần bị mai một trong xã hội hiện đại.

Câu chuyện diễn ra vào một ngày trong kỳ nghỉ hè năm lớp 4, người mẹ dẫn Kadokura Kiyojiro lên phố mua đồ. Kadokura Kiyojiro ngoan ngoãn đi sau mẹ, đôi khi những món đồ chơi, những bộ quần áo đẹp lôi cuốn tâm trí cậu, nhưng cậu bé ngay lập tức nhớ ra hoàn cảnh gia đình mình đang rất khó khăn. Đúng lúc ra về, cậu bé nghe thấy những âm thanh “xèo… xèo” phát ra từ cửa hàng bán bánh thịt nướng, và mùi thơm phức, béo ngậy hấp dẫn cậu bé.

Vào mỗi giờ ra chơi, bạn bè trong lớp cậu bé thường nói chuyện với nhau về những món ngon trong gia đình và không ai không kể đến món bánh thịt nướng. Mỗi lần như thế, Kadokura Kiyojiro đều cảm thấy vô cùng tủi thân và xấu hổ, vì cậu là người duy nhất chưa biết tới hình dáng chiếc bánh thịt nướng như thế nào. Ngày nào cũng vậy, ba bữa cơm trong nhà đều chỉ có dưa muối và gạo mạch, và chiếc bánh thịt xa xỉ luôn chỉ tồn tại trong tưởng tượng và sự khao khát của Kadokura Kiyojiro mà thôi.

Nghĩ lại những điều ấy, Kadokura Kiyojiro bất chợt hét lớn lên giữa phố và nhất quyết đòi được ăn bánh thịt một lần. Cậu bé nắm chặt tay mẹ, năn nỉ đòi mua. Lúc đó, mẹ cậu nhìn cậu bằng ánh mắt dịu dàng và nhẹ nhàng giải thích: “Nhà mình không có điều kiện. Nếu mua về, cha sẽ rất tức giận và trách mắng mẹ con mình”.

Nhưng Kadokura Kiyojiro bồng bột không chịu dừng lại và nói với mẹ bằng giọng oán trách: “Các bạn trong lớp đều được ăn, chỉ có mình con là chưa bao giờ được biết đến mùi vị của bánh thịt. Mẹ mua cho con ăn đi, chỉ một lần thôi cũng được”.

Bánh thịt là loại bánh rán làm từ thịt bò và khoai tây. Ngày nay, đây là loại bánh rất bình dân, phổ biến ở Nhật, ai cũng có thể mua được một cách vô cùng dễ dàng. Nhưng sau chiến tranh, được ăn bánh nhân thịt là một điều hết sức xa xỉ ở Nhật. Do đó, những gia đình bình thường không thể gồng gánh được, nên tuyệt đối không thể vô duyên vô cớ mà mua về nhà ăn.

Kadokura Kiyojiro bình thường là cậu bé vô cùng ngoan ngoãn và biết vâng lời nhưng hôm đó bỗng dưng bất chấp tất cả mọi quy tắc, sẵn sàng giữa đường phố la khóc năn nỉ khiến mẹ cậu phải hạ quyết tâm làm một việc khó khăn. Mẹ nói với Kadokura Kiyojiro ngắn gọn và dứt khoát: “Con thực sự rất muốn ăn mà. Được rồi!”, và bà không do dự rảo bước tới cửa hàng mua sáu chiếc bánh thịt.

Cha nổi trận lôi đình trách mắng, mẹ âm thầm chịu đựng tất cả

Quả nhiên khi cha Kadokura Kiyojiro vừa về tới nhà, phát hiện thấy trên bàn ăn ngoài cơm rau muối hàng ngày còn có thêm một đĩa bánh thịt, ông lập tức nổi trận lôi đình với mẹ cậu: “Sao bà có thể tiêu xài tùy tiện như thế này, không màng gì tới hậu quả thế….”

Kadokura Kiyojiro lúc đó mới hiểu ra sự nghiêm trọng của việc này. Cậu bé thấp thỏm lo lắng, sợ mẹ nói ra sự thực thì tất cả sự tức giận và nóng nảy kia sẽ trút cả lên cậu. Kadokura Kiyojiro ngồi nép vào một góc nhà, ánh mắt không rời khỏi hình bóng của mẹ. Cậu nhìn những nét mặt và biểu cảm trên gương mặt mẹ để đoán xem sự việc gì sẽ có thể xảy ra với mình.

Nhưng mọi chuyện diễn ra hoàn toàn khác xa so với những gì cậu suy tính. Mẹ không nói một lời nào, không tỏ ra uất ức hay giận dữ mà chỉ âm thầm chịu đựng tất cả. Bà điềm tĩnh ngồi đó, im lặng cúi đầu và lắng nghe những câu trách móc và sự phẫn nộ của cha.

Có lẽ khi đưa ra quyết định mua bánh thịt, bà đã lường trước hậu quả sẽ như thế nào. Bà cũng cho đây hoàn toàn là quyết định của bà, chưa bàn bạc với chồng mà đã tự ý quyết định, bà xứng đáng phải chịu sự trách mắng như vậy.

Bà dũng cảm chịu trách nhiệm về việc mình đã làm, không oán không hận, đồng thời trong hoàn cảnh chịu tủi nhục, đắng cay ấy, bà vẫn tôn trọng địa vị và sự tôn nghiêm của người chủ gia đình là chồng mình.

Tình thương dành cho con và sự nhẫn chịu của người phụ nữ đã cho bà sức mạnh và sự kiên định để điềm tĩnh đối diện với bất cứ điều gì. Bà, một người phụ nữ truyền thống, coi trọng lễ nghi và đạo đức, vì các con mà sẵn sàng gánh chịu tất cả, hy sinh tất cả.

7 người nhưng chỉ có 6 chiếc bánh thịt

Câu chuyện khiến mọi người ai nấy đều xúc động và vô cùng khâm phục sự nhẫn nhịn của người mẹ. Cuộc sống hối hả khiến họ đôi khi đánh mất bản tính thuần khiết của mình, không thể nhẫn chịu, không thể bao dung, thậm chí không thể kiềm chế bản thân mình khi đối mặt với những chỉ trích vô cùng nhỏ nhặt.

Tuy nhiên, phần kết của câu chuyện mới thực sự để lại trong lòng người những suy tư không thể nào quên.

Hóa ra cha của những đứa bé khi đang tức giận trách mắng mẹ thì đột nhiên phát hiện trên đĩa chỉ có 6 cái bánh. Trong nhà có 5 đứa con, nên tổng cộng là 7 người, điều này có nghĩa là mẹ đã không mua bánh cho mình, chỉ có phần của cha và các con. Tiếng trách mắng của cha đột nhiên nghẹn lại, ông lặng lẽ chia chiếc bánh của mình thành 2 nửa, gắp một nửa chiếc bánh vào trong bát của vợ, sau đó lặng lẽ đưa nửa chiếc bánh còn lại lên miệng mình.

Món bánh thịt nướng tại Nhật Bản:
Ảnh dẫn theo epochtimes.com
Cha đã đồng ý ăn và không còn tức giận nữa. Theo phép tắc trong gia đình, chỉ khi cha ăn, mọi người mới được phép động đũa. Nhìn cha đưa chiếc bánh thịt lên miệng mà không nói thêm lời nào, mọi người đều hiểu ra, như vậy là mọi chuyện đã được thông qua, mọi người đã có thể ăn bánh.

Năm anh chị em cắn từng miếng từng miếng bánh thịt, mong ước bấy lâu nay của chúng cuối cùng đã được thỏa mãn. Đó là bữa tối vui vẻ và ngon lành nhất từ trước tới giờ.

Sau bữa ăn, ánh mắt mẹ và cậu bé đã gặp nhau, khuôn mặt mẹ rạng rỡ và sáng ngời vẻ hạnh phúc, mẹ vừa cười vừa nói: “Tốt quá rồi. Bánh ngon lắm phải không con”?

Bà cũng không một chút trách móc, không một lời giáo huấn, nhưng suốt đời Kadokura Kiyojiro cũng không thể quên được cách giáo dục không lời này của mẹ.

Kadokura Kiyojiro từ đó đã ghi sâu trong lòng bài học về tình yêu vô tư và sự hy sinh lớn lao, không oán không giận của mẹ dành cho cậu. Sự âm thầm chịu đựng, dũng khí và tâm thái của mẹ khi gánh vác trách nhiệm cho những việc mình làm đã in sâu trong trái tim Kadokura Kiyojiro.

Mẹ dành cho Kadokura Kiyojiro sự quan tâm và yêu thương chan chứa, mẹ hiểu nỗi lòng và ước mong của cậu khi khao khát một chiếc bánh thịt. Nhưng đó không phải là sự nuông chiều của mẹ khi quyết định mua bánh để cậu ngừng khóc, mẹ đã nhẹ nhàng giúp Kadokura Kiyojiro nhận ra những điều quan trọng trong cách sống, cách ứng xử của một con người và mẹ lặng lẽ lấy mình làm gương.

Kadokura Kiyojiro đã hiểu rằng làm người không được phép tùy tiện, không được bất chấp hậu quả; một khi đã quyết định thì phải dũng cảm gánh vác trách nhiệm, không được trốn tránh, cũng không được kiếm cớ thoái thác, quy kết nguyên nhân và lỗi lầm cho người khác.

Vẻ mặt cương nghị và thái độ dám làm dám chịu, không một lời thanh minh, không một chút hối hận của mẹ khiến Kadokura Kiyojiro cả đời không sao quên được. Điều này đã tạo nên thành công trong cuộc đời sau này của cậu.

Cách dạy bảo nhân từ của mẹ đã giúp Kadokura Kiyojiro nhận ra thế nào là tình yêu vô tư, sự hy sinh thầm lặng cũng như tấm lòng bao dung, suy nghĩ cho người khác, tinh thần sẵn sàng gánh vác trách nhiệm và không bao giờ oán trách người khác dù bản thân ở trong tình cảnh nào.

Nghe xong câu chuyện này, tôi mới hiểu, hóa ra những lời dạy bảo tốt đẹp và lấy mình làm gương của cha mẹ trong cuộc sống hàng ngày lại là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công trong cuộc đời của con cái.

Thầy hiệu trưởng nói rằng giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường giống như hai chiếc bánh của một cỗ xe, chỉ cần một bên bị chệch cũng sẽ gây ra mất cân bằng cho chiếc xe, từ đó sẽ xuất hiện vấn đề. Con đường xe chạy cũng như chặng đường mà con người bước đi.

Sự trưởng thành của con cái cần có sự giáo dục toàn diện của gia đình và nhà trường. Chỉ có như vậy thì cỗ xe cuộc đời này mới có thể chạy một cách bình ổn, an toàn trên con đường xã hội tương lai, nếu không có thể sẽ xảy ra sự cố hoặc nghiêm trọng thì xe sẽ bị lật giữa đường.

Cuối cùng thì tôi cũng đã hiểu vì sao Nhật Bản lại coi trọng giáo dục trong cuộc sống và làm người như vậy. Tôi hiểu rằng giáo dục làm người chính là cốt lõi để làm nên một xã hội văn minh, một xã hội phát triển bền vững.

Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Hoa
Hiểu Liên biên dịch

24 June 2017

Nét đẹp Sài gòn


Phụ nữ Sài Gòn những năm 60 rất ưa mua sắm, chưng diện. Họ khéo léo trong việc chọn trang phục với họa tiết nền nã, màu đơn sắc đem đến vẻ thanh lịch mà sang trọng

Nữ sinh trường trung học Marie Curie, Sài Gòn thập niên 70 với chân váy xếp li và áo trắng sành điệu.


Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của quý cô thành thị. Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận.

Họ phá cách, hiện đại nhưng vẫn toát lên nét thanh lịch và trẻ trung vốn có. Phụ nữ Sài Gòn xưa đã mang tới những chuẩn mực về vẻ đẹp khó bị mai một theo thời gian, và vẫn là nguồn cảm hứng cho tới tận bây giờ.  

(Thiên An theo Tri Thức Trẻ)

23 June 2017

Giòng Đời & Những Ngày Chiến Nạn

TTR: Có lẽ không có dân tộc và đất nước nào gặp những hoàn cảnh điêu linh như Việt Nam trong thế kỷ vừa qua. Khoảng 4 triệu người đã chết trong cuộc nội chiến khốc liệt và dai dẳng chưa từng có. Lớp người sinh ra trong chiến tranh, lớn lên để chứng kiến quê hương mình rách nát và cho đến bây giờ vẫn không quên được những trải nghiệm thống khổ tột cùng in đậm trong tâm khảm họ. Trong số những người này có tác giả Vũ Minh Ngọc, người đã từng giữ những chức vụ theo sát với những nạn nhân chiến tranh.

Vũ Minh Ngọc tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ban Đốc sự Khóa 16. Tháng 1/72 nhận chức vụ Phó Quận Trưởng Chơn tỉnh Thành Bình Long. Tháng 3/73: Phó Tinh Trưởng Bình Long. Tháng 4/75: Phó Tỉnh trưởng Tỉnh Long Khánh.

Mới đây tác cho ra đời quyển hồi ký "Dòng Đời & Những Ngày Chiến Nạn", tựa đề sách cũng chính là tựa đề bài viết in trong tập hồi ký, TTR xin trân trọng giới thiệu sau đây.

** 

Tôi sinh ra vào một ngày đầu tháng 6 năm 1947 năm Đinh Hợi tại Hưng Yên. Nghe Mẹ tôi kể lại, lúc đó máy bay Pháp đang truy kích việt minh, và Người phải tản cư, đang chạy trên đê thì chuyển bụng, Bố tôi là công chức Tỉnh, nên bận rộn, may có ông Ngoại tôi giúp đỡ.. Phải chăng vừa mới chào đã lánh cư, chạy loạn đã vận đến cả cuộc đời chiến nạn sau này của tôi?

Năm 1953, vì tình hình an ninh, Bố Mẹ tôi cho gửi tôi lên nhà bà Cô trên đường Quang Trung, Hà Nội, gần hồ Hale (nay gọi là Hồ Gươm), để năm sau, Bố tôi lo được phương tiện vào Nam bằng máy bay, thay vì đi tầu há mồm như mọi người khác.

Đến Saigon, cả đoàn người được đưa về tạm trú tại  trường tiểu học Đa Kao, tuần lễ sau đó, Bố Mẹ tôi thuê được một căn nhà tại khu Bàn Cờ, đây là thời điểm đổi đời đầu tiên, sau khi dời khỏi nơi tôi chào đời: Hưng Yên, nơi nổi tiếng với những quả nhãn lồng mọng nước, thơm ngon. Một thời gian sau, gia đình dọn về đường Phan Thanh Giản, phía sau hãng nước hoa Khiêm Tín hãng, sau đó dọn về đường Lê văn Duyệt cho đến ngày di tản. Cuộc đời tôi mê mộng bay bổng nên đã hai lần tình nguyện ra nhập khoá sĩ quan Không quân, nhưng cả hai lần đều bị loại vì lý do sức khoẻ. Tháng 8 năm 1968, tôi trúng tuyển vào Học Viện Quốc gia Hành Chánh, Ban Đốc Sự khoá 16, một niềm vui đến với Bố Mẹ tôi. Bố tôi là một công chức, làm trong Phủ Tổng Uỷ dinh điền, sau về làm trong phòng nhân viên bộ Nội Vụ, Mẹ tôi một mẫu người Mẹ Việt Nam, chạy hàng xách, phụ chồng nuôi đàn con 8 đứa... Vẫn mang trong lòng những suy nghĩ một điều hạnh phúc khi có con làm "quan". Tin tôi trúng tuyển vào Quốc gia Hành Chánh làm người   bừng dậy, ôm lấy tôi và dẫn ra thắp hương trước ban thờ Tổ tiên để tạ ơn. 

Sau một năm học lý thuyết tại Học Viện, nhưng vừa mới bắt đầu, ban giảng huấn phải thay đổi vì Giáo sư Nguyễn Văn Bông giảng về luật  Hiến pháp bận lo lập nội các, nhưng chưa kịp thì bị ám sát. Trong tang lễ, vì các con của Giáo sư còn nhỏ, nên vì trong ban Đại diện sinh viên, tôi được cử ôm hình Giáo sư, và giáo sư Nguyễn ngọc Huy giảng môn "những vấn đề chính trị” lại đi tham dự cuộc hoà đàm tại Paris.

Đến năm thứ hai tôi đi thực tập tại Tỉnh Gia Định, và thỉnh thoảng lên Long Khánh "học lóm" vì anh tôi, anh Vũ Văn Khuông ĐS 8 đang làm Phó Tỉnh Trưởng Long Khánh. Khoảng thời gian thực tập tại Ty Nội An Gia Định là thời gian "ăn nhậu" thả giàn, nhất là lúc làm việc tại phòng Quân Vụ, cũng như khi qua phòng Kinh Tế thì mỗi lần theo phái đoàn đi xét cấp giấy phép cho các bar rượu.. thì ôi thôi! họ theo đúng luật lệ quy định và có khi hơn cả luật quy định.. mà bar nào cũng có "bà lớn" đứng đỡ đầu!

Sau đó tôi về lại Học viện theo họ lý thuyết của năm thứ ba và đi thực tập tại Bộ Kinh Tế để chuẩn bị cho luận văn ra trường với Giáo sư Đoàn triệu Yến.

Cuối năm 1971 tôi ra trường, tuy điểm không được cao, nhưng nhờ theo học Anh văn tại Hội Việt Mỹ do Học Viện gửi đi, nên điểm về đúng lúc, và nhờ đó, điểm ra trường tăng cao và được ưu tiên chọn nhiệm sở khi ra trường. Với một hoài bão đi làm tại địa phương, tôi đã chọn Bộ Nội vụ để chấp nhận thân làm phó... 

Ngày chọn nhiệm sở tại Bộ Nội Vụ, nhìn danh sách thì hỡi ơi, toàn là địa đầu giới tuyến của Vùng 1 và Vùng 2 và một vài tỉnh vùng 4, riêng vùng 3 chỉ có Bình Long là gần Saigon nhất, lúc đó, đứa con đầu lòng mới chào đời...Thôi đành phó thác cho số mạng vậy! Tôi đành chọn Bình Long! không ngờ đây là khúc quanh cuộc đời đáng ghi nhớ nhất.

Bình Long, một tỉnh lỵ nằm về phía Bắc của Sài gòn, cách khoảng trên 100 cây số, trước đây chỉ là một thị trấn nhỏ mang tên Hớn Quản thuộc Tỉnh Thủ Dàu Một, sau đổi thành Bình Dương. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, để đáp ứng nhu cầu hành chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Tỉnh Bình Long với 3 quận: An Lộc, Lộc Ninh và Chơn Thành.

Tỉnh Bình Long nằm giáp biên giới Campuchia về phía Bắc và Tây Bắc, Đông giáp Tỉnh Phước Long, Nam giáp Bình Dương và phía Tây giáp Tỉnh Tây Ninh. Diện tích tỉnh Bình Long với 2,140 cây số vuông, có nhiều núi đồi thấp và rừng rậm, hầu hết ở phía Bắc và phía Đông. Về phía Nam ít núi hơn hoặc là núi thấp như núi Đất cao khoảng 108 thước.

Về hệ thống sông ngòi, con sông chính là sông Bé và sông Sài gòn, Sông Bé ở phía Đông chảy dọc từ Bắc xuống Nam và nằm trên ranh giới hai Tỉnh Bình Long và Phước Long. Sông Sài gòn nằm song song với sông Bé, nhưng nằm cạnh biên giới Tỉnh Tây Ninh và có những chi lưu chảy qua Tỉnh Bình Long như những con sông: Prek Thléa, Tonglé Cham và sông Cây Da.

Bình Long là một vùng đất đỏ rất phì nhiêu và chịu ảnh hưởng khí hậu với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười Một và mùa khô từ tháng Mười Hai đến tháng Tư. Những trục lộ giao thông chính là Quốc Lộ 13 nối liền Bình Long với Bình Dương để dẫn vào Thủ đô Sài gòn. Ngoài ra Liên Tỉnh Lộ 13 là một trục giao thông quan trọng để liên lạc với các Tỉnh phụ cận.

Về dân cư, với trên 76.000 người, đa số là người Kinh và rất đông đồng bào Thượng thuộc các sắc dân Stiêng, Mọa, Tà Mun, người Việt gốc Chàm và gốc Khmer. Những tôn giáo chính là Phật giáo, Thiên Chúa, Cao Đài, Hòa Hảo, thờ cúng Tổ Tiên và Thần Linh.. Riêng Quận An Lộc bao gồm thành phố tỉnh lỵ rộng khoảng 760 cây số vuông, qui tụ trên 45.000 dân, tập trung trong Xã Tân Lập Phú. Với rừng rậm và đất đỏ, Bình Long được bao quanh bởi những đồn điền cao su rộng ngút ngàn, và là nơi có nhiều rừng cao su nhất nước.

Rừng Bình Long có rất nhiều loại gỗ quý như cẩm lai, sao, gõ.. nên ngành khai thác lâm sản tại Bình Long phát triển rất mạnh.. Ngoài các loại gỗ quý, rừng Bình Long cũng cung cấp nhiều loại gỗ tạp hoặc các cây rừng cho các lò than... Dọc Quốc Lộ 13, từ Tân Khai dẫn vào An Lộc, những rừng cao su xanh rì và xếp hàng thẳng tắp, là những hình ảnh thiên nhiên và hùng vĩ của Bình Long... An Lộc được bao quanh bởi những ngọn đồi Gío, đồi 100 và đồi Đồng Long.. là những hình ảnh đẹp thiên nhiên, nhưng lại mang những giá trị chiến lược về lãnh vực Quân sự.

Về lãnh vực Hành chánh, Tỉnh Bình Long gồm 3 Quận Chơn Thành, An Lộc và Lộc Ninh. Từ Sài gòn đi, sau khi vượt qua Quận Bến Cát, vào Lai Khê, là gặp Quận Chơn Thành, một quận nhỏ gồm hai xã Hưng Long và Minh Thạnh. Chơn Thành với trên 10.000 dân nằm trên trục giao thông Quốc Lộ 13 (lên An Lộc) và Liên Tỉnh Lộ 13 (qua Sông Bé-Phước Long). Qua khỏi Chơn Thành, sẽ gặp các địa danh Tàu Ô, Tân Khai, Xa Cát, Xa Cam, Xa Trạch rồi bước vào Tân Lập Phú, thị trấn trù phú như cái tên được đặt cho.. Xa hơn phề phía Bắc, là Quận Lộc Ninh nằm sát biên giới Việt-Campuchia, bao bọc bởi rừng rậm và rừng cao su và là nơi sinh sống của rất đông đồng bào Thượng.

Giữa những lúc mà đồng bào miền Nam chưa hết bàng hoàng về cuộc xâm lăng công khai của cộng quân, vượt vĩ tuyến 17 tấn công vào Quảng Trị, thì một mặt trận mới của cộng quân được mở ra, tiến mũi công vào Bình Long, lực lượng quân sự quân sự của cộng quân gồm quân số 4 công trường: Công trường 5, 7, 9 và công trường Bình Long cùng trung đoàn 203 chiến xa từ vùng 

Lưỡi Câu, Campuchia tràn qua được trang bị bởi những khẩu trọng pháo 130 ly có tầm bắn xa. Tổng số ước chừng khoảng 40.000 lính cộng quân đã tham gia trận đánh tấn công vào Bình Long với ước muốn là dứt điểm Bình Long hầu dùng đây làm bàn đạp đế tiến quân về phía Nam, uy hiếp thủ đô Sài gòn. (Trong phạm vi bài viết, tác giả xin không ghi lại những chi tiết về mặt quân sự) .




Cuộc Di Tản

Ngày 12 tháng 6 năm 1972, hàng chục ngàn trái đạn pháo kích của cộng quân đổ xuống An Lộc, tỉnh lỵ Bình Long, đã xua đuổi người dân hiền hòa xứ Hớn Quản, phải xa lìa quê hương, chạy dọc quốc lộ 13 để về Chơn Thành tìm tự do.. Đoạn đường gần 20 cây số ngàn, đã đượm máu và xương của người dân lành, của những người lính Cộng hòa, đã hy sinh cho lý tưởng tự do, của cả những cán binh Việt cộng, sinh bắc tử nam, để cho đến khi nằm xuống, họ vẫn còn bị những người lãnh đạo lường gạt..
 
Cộng quân càng ngày càng gia tăng pháo kích, để tránh mọi thảm khốc, từng đợt hàng ngàn người bồng bế nhau vượt đoạn đường mang tên Quốc lộ máu, vượt Tân Khai qua suối Tàu Ô, để về Chơn Thành.. Chuyến đi đông nhất vào ngày 12 tháng 6, với trên 12.000 người đã rời bỏ ruộng vườn, bồng bế nhau để tìm về chốn Tự Do...

Để cầm chân đồng bào, cộng quân đã mất hết lương tri, rót theo những trái đạn pháo kích, những cảnh máu đổ thịt rơi, những hình ảnh tang thương của người Mẹ, đang ôm chặt lấy con, mà đứa con chết lúc nào không biết.. Hai mươi cây số ngàn đượm máu, nhưng cái chết đã không cản được lòng người dân, họ căm thù cộng quân, vượt đường máu tìm tự do.

Ngày 13/01/1972 tôi lên Bình Long để trình diện và nhận nhiệm sở mới, và tôi được cử làm Phó Quận Trưởng Quận Chơn Thành, Quận Chơn Thành nằm về phương nam của An Lộc và cách Saigon 60 km. Cuộc đời làm phó lúc đó thật gian nan vì không biết sống chết lúc nào? Ở trong chi khu thì bị pháo kích liên tục, ở ngoài với dân thì ngại bọn việt cộng lẻn về tối dẫn đi thủ tiêu!

Vào thời điểm đó, Cộng quân vượt vĩ tuyến 17 tấn công vào Quảng Trị và tung quân muốn chiếm An Lộc, và cô lập quận Chơn Thành... lực lượng quân sự của cộng quân gồm quân số 4 công trường: Công trường 5, 7, 9 và công trường Bình Long cùng trung đoàn 203 chiến xa từ vùng Lưỡi Câu, Campuchia tràn qua được trang bị bởi những khẩu trọng pháo 130 ly có tầm bắn xa. Tổng số ước chừng khoảng 40.000 lính đã tham gia trận đánh tấn công vào Bình Long với ước muốn là dứt điểm Bình Long hầu dùng đây làm bàn đạp đế tiến quân về phía Nam, uy hiếp thủ đô Sài gòn. 

Ngày 12 tháng 6 năm 1972, hàng chục ngàn trái đạn pháo kích của cộng quân đổ xuống An Lộc, tỉnh lỵ Bình Long, đã xua đuổi người dân hiền hòa xứ Hớn Quản, phải xa lìa quê hương, chạy dọc quốc lộ 13 để về Chơn Thành tìm tự do..  Đoạn đường gần 20 cây số ngàn, đã đượm máu và xương của người dân lành, của những người lính Cộng hòa, đã hy sinh cho lý tưởng tự do, của cả những cán binh Việt cộng, đã sinh bắc tử nam, để cho đến khi nằm xuống, họ vẫn còn bị những người lãnh đạo lường gạt..

Cộng quân càng ngày càng gia tăng pháo kích, để tránh mọi thảm khốc, từng đợt hàng ngàn người bồng bế nhau vượt đoạn đường mang tên Quốc lộ máu, vượt Tân Khai qua suối Tàu Ô, để về Chơn Thành.. Chuyến đi đông nhất vào ngày 12 tháng 6, với trên 12.000 người đã rời bỏ nhà cửa, bồng bế nhau để tìm về chốn Tự Do... Để cầm chân đồng bào, cộng quân đã mất hết lương tri, rót theo những trái đạn pháo kích, những cảnh máu đổ thịt rơi, những hình ảnh tang thương của người Mẹ, đang ôm chặt lấy con, mà đứa con chết lúc nào không biết.. Hai mươi cây số ngàn đượm máu, nhưng cái chết đã không cản được lòng người dân, họ căm thù cộng quân, vượt đường máu tìm tự do. 

Để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp cứu trợ, chính quyền Quận  ra tận địa đầu giới tuyến để đón đồng bào chạy về, với loa phóng thanh, tôi xin đồng bào ở Chơn Thành mỗi nhà một nồi cơm với xì dầu để cấp phát cho đồng bào chiến nạn, hay phụ giúp chi Y tế để băng bó vết thương cho những người bị nạn. Nhưng vì an ninh tại Chơn Thành không bảo đảm, Đại Tá Trần Văn Nhựt, Tỉnh Trưởng Bình Long đã quyết định để đoàn người chiến nạn chạy bộ về Phú Văn (Tỉnh Bình Dương) và tôi cũng được chuyển về Phú Văn để phụ giúp công tác cứu trợ. 

Công Cuộc Tiếp Cư 

Tính đến cuối tháng 6 năm 1972, Trên bốn chục ngàn đồng bào Bình Long đã về tới Bình Dương để lánh cư, một số lớn, đã chết vì bom đạn của cộng quân, hoặc mất xác trên đường tìm tự do dọc trên Quốc lộ Máu.. Chính quyền và đồng bào Tỉnh Bình Dương đã tiếp đón họ.. trại gia binh Phú Văn được tu sửa khẩn cấp để tiếp đón đồng bào chiến nạn. Lúc đầu, chỉ có 2 trại Phú Văn 1 và Phú Văn 2, Nhưng số đồng bào tỵ nạn càng về càng đông nên các trại 3 và 4 được thành lập để đáp ứng nhu cầu.. Những căn lều dã chiến được dựng lên nhanh chóng.. nhưng dựng đến đâu, dân vào ở đến đó.. Một điều không tránh khỏi là lợi dụng cơ hội này, một số đồng bào không phải là dân chiến nạn Bình Long cũng xin gia nhập để được nhận lãnh trợ cấp xã hội, lý do rất giản dị.. giấy tờ tùy thân bị cháy trong chiến trận, tình trạng này càng tạo nên một gánh nặng cho cơ quan chính quyền...

Các Trại tạm cư được tổ chức khá quy củ, các viên chức Xã Ấp, quý vị dân cử của Bình Long vẫn tiếp tục lo lắng, phụ giúp cho cơ quan chính quyền tỉnh Bình Dương trong công tác điều hành trại. Trong thời gian tạm trú trong trại, tiêu chuẩn cấp phát của Bộ Xã Hội dành cho dân tỵ nạn là mỗi đầu người lãnh 500gr gạo mỗi ngày, ngoài ra còn có bánh mì, nước mắm.. Để phần nào xoa dịu những vết thương do chiến tranh gây ra, rất nhiều cơ quan từ thiện từ Saigon và các tỉnh phụ cận, hàng tuần xuống cứu trợ, họ muốn trực tiếp trao tận tay đồng bào chiến nạn, từng gói mì, túi gạo, hộp sữa.. đó là những món quà ân tình trong tình nghĩa đồng bào bao bọc lẫn nhau, Họ đến với những lời an ủi và mong rằng một ngày gần, đồng bào chiến nạn sẽ được về xây dựng lại căn nhà đã đổ nát vì bom đạn của cộng quân.. Khi trại tạm cư đã ổn định và Toà Hành Chánh Tỉnh Bình Long được điều động về phụ trách cuộc điều hành trại tạm cư, tôi được lệnh trở lên Chơn Thành lo cho số dân còn lại, đồng thời cùng các Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn và Nhân Dân Tự Vệ lo công tác sơn cờ, dành dân, lấn đất theo hiệp ước của Hội đàm Paris.

Đúng lúc dầu sôi lửa bỏng, Đại tá Nguyễn Thống Thành được cử về làm Tỉnh Trưởng, ông gặp tôi trong bộ bà ba đen, đeo colt 45, áo giáp, nón sắt... chạy Honda nên để ý và đề cử làm Phó Tỉnh Trưởng Tỉnh Bình Long thay thế đàn anh Võ Tấn Vinh ĐS 8, vì lúc đó, dân Hành chánh không còn ai ở lại, ngoài tôi.

Lúc đó, một niềm vui và hãnh diện cho cá nhân tôi, khi được Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 3 trao gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với huy chương vàng, nhân ngày Quân Lực, trong số người được trao huân chương, tôi là viên chức hành chánh duy nhất.  

Theo chương trình của Bộ Xã Hội, Phủ Khẩn Hoang Lập Ấp thì  người dân chiến nạn đang sống trong các trại tạm cư được lựa chọn một trong hai chương trình, hoặc là định cư tự túc, hoặc là định cư theo chương trình khẩn hoang lập ấp. Nếu chọn chương trình định cư tự túc, mỗi gia đình được trợ cấp 100.000$ để làm phương tiện sinh sống mới, họ sẽ rời khỏi trại tạm cư để về Saigon hay đến các tỉnh khác để tự túc làm ăn.. Đã có gần 3.000 gia đình quyết định lựa chọn phương thức định cư này. Số còn lại, sẽ theo chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp tại Long Khánh. 

Đồng Bào Chiến Nạn Bình Long Và Chương Trình
Khẩn Hoang Lập Ấp

Tình hình chiến sự tại mặt trận Bình Long ngày một gia tăng, giấc mơ của người dân Hớn Quản được trở về quê hương cũ mỗi ngày một xa vời. Để giải quyết vấn đề, Bộ Xã Hội và Phủ Khẩn Hoang Lập Ấp quyết định thuyên chuyển số đồng bào chiến nạn Bình Long đang tạm cư tại Phú Văn đến 2 khu vực: Rừng Lá (Ngã ba Long Khánh – Bình Tuy) và Đồng đền (trên đường đi Tánh Linh, Bình Tuy) theo quy chế Khẩn Hoang Lập Ấp. Các phương thức giải quyết cho đồng bào chiến nạn Tỉnh Bình Long:

      -  Kiểm kê chính xác số đồng bào chiến nạn xin đi định cư tự túc.
Một phái đoàn từ Trung Ương gồm khoảng 100 thanh niên sinh viên được cử xuống thiết lập danh sách đồng bào chiến nạn. Dựa vào danh sách này (khoảng trên 3,000 gia đình), Tỉnh Bình Long trình Phủ Đặc Ủy Khẩn Hoang Lập Ấp kế hoạch gỉai tỏa trại tạm cư. 

Trên thực tế, lợi dụng tình hình xáo trộn lúc dân chiến nạn Bình Long kéo về, một số đông đồng bào khu vực Bình Dương đã khai man là dân chiến nạn (lý do chạy nạn, mất hết giấy tờ) để khai lãnh trợ cấp xã hội. Để giảm thiểu sự khai gian, dựa trên danh sách do phái đoàn sinh viên cử xuống thiết lập, một uỷ ban kiểm kê được lập ra bao gồm đại diện dân cử, nhân viên xã ấp, Cảnh Sát quốc Gia... và chính các vị dân cử sẽ phải xác nhận xem ngưởi khai có phản dân chiến nạn Bình Long hay không? Nếu đúng, tôi ký chi phiếu 100,000$00 cho mỗi gia đình và người dân ra Ty ngân khố Tỉnh để lãnh, còn ấp úng hoặc nhân viên xã ấp không xác nhận thì mội vài con dê tế thần bị uỷ ban bắt giam. Nhờ vậy khoảng 500 hộ dân "tự động" rút lui... Các cuộc cấp phát này đều có sự chứng kiến của Cố Vấn Hoa Kỳ, nơi tài trợ và giúp đỡ ngân khoản cho Phủ Khẩn Hoang Lập Ấp.

-    Khẩn Hoang Lập Ấp. 
Số gia đình còn lại sẽ theo chương trình KHLA, Đây là một chương trình rất quy mô và được sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan như: Phủ KHLA, Quân Đoàn 3, Công Binh, Bộ Công Chánh Điền địa, Tòa Hành Chánh Tỉnh Bình Long.

Sau khi địa điểm KHLA được Trung Ương chọn lựa, Bộ Công Chánh và Điền địa sẽ vẽ họa đồ khu KHLA và lực lượng Công Binh sẽ ủi đất, san bằng địa thế theo họa đồ có sẵn. Mỗi gia đình đồng bào chiến nạn sẽ được cấp phát: ½ mẫu đất làm khu gia cư và 2 mẫu đất làm khu canh tác ở vòng đai khu gia cư. Mỗi gia đình được trợ cấp 35,000$00 để cất nhà tạm trú (nhà thuộc loại tiền chế, bằng gỗ mái tôn, sản xuất đồng loạt. Đồng bào đã tự tổ chức thành từng nhóm, giúp đỡ nhau tự xây cất lấy)  Trong thời gian chờ ra đất canh tác, đồng bào vẫn được trợ cấp 500 gr gạo cho mỗi đầu người.

-    Bốc thăm ra lô khu gia cư: 
Vấn đề được bàn cãi là ai sẽ chọn được lô đất khu thị tứ (gần quốc lộ), ai sẽ ở khu xa gần bìa rừng.. Với một lô đất nửa mẫu gần quốc lộ, lúc đó thật có gía. Cá nhân tôi, người trách nhiệm của chương trình bốc thăm, đã nhận được biết bao cú phone từ Trung Ương, Các Bộ, Quân đoàn, ngay cả bên Tòa Án.. ai cũng xin một lô. Nhưng với tinh thần phục vụ đồng bào là trên hết, với sự hăng say của tuổi trẻ.. tôi đành phải xin lỗi khước từ mọi yêu cầu. Ty Công Chánh và Điền địa đã trình lên một họa đồ phân lô, ghi rõ 550 lô đất cho đợt đầu, tương ứng với danh sách 550 gia đình sẽ bốc thăm. 

Một căn lều lớn được dựng tiền chế ngay khu định cư, sẽ là nơi tổ chức bốc thăm, Cuộc bốc thăm với sự hiện diện của Tỉnh, Hội đồng Tỉnh, các đại diện xã ấp và các chủ gia đình có tên trong danh sách bốc thăm ra lô. Các đại diện xã ấp, chủ gia đình sẽ kiểm soát 550 lá phiếu, đánh số từ 001 đến 550, tương ứng với 550 lô đất trên họa đồ. Sau khi kiểm soát xong, chủ gia đình thứ nhất sẽ tự tay bốc lá phiếu, và tên sẽ được ghi ngay vào trên lô đất tương ứng với số thứ tự ghi trong lá phiếu. Ty Công Chánh và Điền địa sẽ hoàn tất thủ tục cấp phát chủ quyền cho gia đình người vừa bốc thăm. Cuộc bốc thăm được diễn tiến trong công bằng và dân chủ. Một trường hợp được mọi người hoan nghênh khi một em 14 tuổi, cha mẹ bị tử nạn trên đường di tản, đã bốc thăm trúng lô đất đẹp nhất, ngay sát quốc lộ. Đã có người đặt mua lại với gía cao, nhưng Ủy Ban không chấp thuận vì em còn qúa bé…

Chỉ sau 6 tháng được chia lô gia cư, mỗi gia đình đều có một căn nhà gỗ mái tôn, chung quanh khu đất được rào bằng những rặng khoai mì, vừa trang trí, vừa có hoa mầu, đường xá trong khu gia cư được Ty Công chánh & Điền địa tu sửa để người dân tiện đi lại. Trong một lần viếng thăm, Bác Sĩ Phan Quang Đán, Phó Thủ Tướng đặc trách KHLA đã cùng tôi dùng trực thăng bay quan sát toàn thể khu gia cư. Từ trên cao, những căn gia cư thẳng tắp như một bàn cờ, chen kẽ những rặng khoai mì xanh, những hoa mầu khác, tạo nên một hình ảnh tuyệt đẹp. Bác Sĩ Phan Quang Đán rất hài lòng với thành qủa và ông là người có thể ký chi phiếu trợ cấp bất cứ ở đâu, miễn sao giấy tờ chứng minh hợp lệ và đến tận tay người dân.

-    Bốc thăm khu canh tác: 
Tương tự như khu gia cư, khu canh tác được cấp phát sau, hầu người dân có đủ thời gian thu hoạch hoa mầu.

Khu Hành Chánh, Tôn Giáo:
Vì tương lai khu KHLA càng ngày sẽ càng quy tụ đông dân hơn, nên một kế hoạch mới dự trù biến khu KHLA thành một Quận mới, trực thuộc tỉnh Long Khánh… Một trong các đề nghị là Quận mới sẽ mang tên Quận Bình Khánh (Bình Long- Long Khánh). Vào thời điểm này, ngoài việc đồng bào chiến nạn Tỉnh Bình Long đến KHLA tại Long Khánh, mà ngay cả lực lượng quân sự thuộc chi khu An Lộc, chính quyền và toàn thể viên chức xã ấp An Lộc đều về định cư tại Rừng Lá và Đồng Đền. Cho đến cả vị Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Long Đại Tá Phạm Văn Phúc, kiêm nhiệm chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Long Khánh. Cá nhân tôi, vào giờ chót của cuộc chiến, được chuyển qua Long Khánh lo Tòa Hành Chánh Tỉnh Long Khánh và số dân Long Khánh đang chạy loạn khi cộng quân tấn công vào Quân Xuân Lộc. Khi nhận nhiệm sở mới tại Long Khánh, thật lòng tôi hơi lo, vì các Trưởng Ty Sở tại Long Khánh ai nấy cũng học hơn tôi, 5, 6 khoá, lúc đó tuổi đời tôi mới tròn 27 tuổi. 

Khi nói đến khu hành chánh, người ta nghĩ ngay đến khu công sở, văn phòng Xã Ấp, Trường học, bệnh xá, khu tôn gíao và các cơ sở thương mại. Trước một cái nhìn tổng quát cho khu vực Hành Chánh, Tỉnh Bình Long đã đệ trình một họa đồ phát triển khu hành chánh kiểu mẫu tại Rừng Lá. Tuy nhiên, những khó khăn bất chợt đổ xập xuống làm trở ngại cho công tác xây dựng này: Đầu tiên, một số anh em Thương Phế Binh đưa thỉnh nguyện thư là muốn có khu gia cư gần quốc lộ để tiện di chuyển, số anh em này đưa ra những chứng cớ, vì tổ quốc mà phải hy sinh một phần thân thể, nên phải được ưu tiên.  Thỉnh cầu của anh em Thương Phế Binh chưa giải quyết xong thì các bà qủa phụ có chồng con hy sinh vì Tổ quốc lên tiếng đòi hỏi phải được ưu tiên chọn chỗ tốt.

Chưa giải quyết xong thì bên Phật giáo cũng như bên Công giáo, dưới sự lãnh đạo của qúy vị Đại Đức, Linh Mục đưa yêu sách là muốn khu gia cư của các giáo dân phải được sống quanh khu nhà thờ, cũng như các gia đình Phật tử được sống cạnh nhau gần các chùa chiền.  Tôi không thể tưởng tượng nổi sự xáo trộn lúc bấy giờ, họa đồ chia lô được niêm yết và được Phủ Phó Thủ Tướng đặc trách KHLA phê chuẩn và duyệt y nay xáo trộn tất cả: không rõ nguyên do thúc đẩy phía sau là gì? 

Nhưng ngày 30 tháng 4 đã gỉai quyết xong mọi đòi hỏi, và không một ai dám chống đối. Và cũng chính ngày 30 tháng 4 đã kết thúc tất cả những gì tốt đẹp nhất mà chương trình KHLA đã đem lại, để thay thế bằng chương trình kinh tế mới của cộng sản đặt ra.

Bốn mươi năm đã qua, dưới chế độ cộng sản, những người lãnh đạo đất nước thực sự đã không lo cho người dân, và đã biến đất nước này thành một quốc gia nghèo đói và tham nhũng. 

Với tư cách một người trách nhiệm trực tiếp điều hành công tác định cư, khẩn hoang lập ấp tỉnh Bình Long, qua bài hồi ký này, tôi xin ghi lại đôi dòng như một nhân chứng sống để nhớ đến cuộc chiến đấu hào hùng của quân dân cán chính Tỉnh Bình Long, Long Khánh và để tưởng nhớ đến những người đã hy sinh nằm xuống, và nghĩ đến những người, đã một lần trong đời tô đượm cho danh từ Bình Long Anh Dũng .

Vũ Minh Ngọc

Hình ảnh VN


TẨU THUỐC XỨ THƯƠNG

Đã từ lâu hình ảnh các già làng ngồi bên bếp lửa, miệng ngậm tẩu thuốc trở thành nét văn hóa đặc sắc vùng cao, họ hút để chống lại không khí lạnh lẽo nơi núi rừng hoang vắng, chống lại sự cô đơn nơi ít người và suy ngẫm về những vui buồn trong cuộc sống. Vì vậy tẩu thuốc trở thành vật dụng gần gũi với đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Tẩu thuốc nhỏ nhắn, xinh xắn do chính tay đồng bào làm ra xuất phát từ hình dáng những chiếc tẩu ở phương Tây... Cách làm tẩu thuốc khá cầu kỳ, mỗi người chọn một miếng gỗ mà họ ưng ý, thường là gỗ trắc hoặc gỗ hương, sau đó tác tẩu thuốc theo sở thích riêng của mình.

Đầu tiên họ cưa gỗ thành hai khúc nhỏ theo kích thước định sẵn, dùng dao nhỏ để tạo hình và tiến hành khoan lỗ, đây là giai đoạn công phu, đòi hỏi sự tỉ mỉ bởi nếu sơ suất sẽ làm hỏng sản phẩm. Ở phần đầu tẩu thuốc được khoét một lỗ có đường kính từ 1 cm đến 1,5 cm để chứa lá thuốc rồi dùng giấy nhám và sáp ong hơ lửa để tạo độ bóng. Sau khi hoàn thành công đoạn chế tác tẩu thuốc, họ sẽ chạm trỗ hoa văn, họa tiết cổ truyền mang nét đặc trưng của vùng.

Tẩu thuốc không chỉ để sử dụng mà còn như một vật trang trí thường được đặt ở tủ trưng bày trong phòng khách gia đình. Do đó người làm ra nó hết sức tỉ mẫn khi thực hiện các công việc rèn, giũa tạo hình dáng đẹp, chuốc đi chuốc lại để chiếc tẩu bóng, nhẵn nhụi. Tẩu thuốc quá nhỏ bé và quen thuộc đến nỗi nhiều người không để ý nhưng nó vô tình trở thành những vật dụng tăng thêm vẻ đẹp đặc trưng...

(Trích theo "Tẩu thuốc trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên" của Nguyễn Mỹ Lệ đăng trên baogialai.com.vn/)

21 June 2017

70 Năm Tưởng Niệm Khái Hưng

Phạm Ngọc Lũy 

Khái Hưng tham gia Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh thành lập từ 1932, với ba thành viên trụ cột là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo. Qua tờ Phong Hóa (1933) và Ngày Nay (1936) họ đã làm một cuộc cách mạng về văn học, mở đầu lối viết văn giản dị truyền bá tư tưởng, khuyến khích sống lý tưởng, nghị lực, tham gia việc xã hội, phá bỏ những cổ tục lỗi thời, gây cao trào làm nhà “ánh sáng” để thoát nghèo, kêu gọi yêu nước, đòi hỏi nhân quyền.

Khái Hưng mất tích sau Tết Đinh Hợi 1947, theo một số tài liệu và nhân chứng, Ông bị Việt Minh thủ tiêu đêm giao thừa 70 năm trước.

**

Khái Hưng sinh năm 1896, tên thật là Trần Khánh Giư. Bút hiệu Khái Hưng là do sự đảo lộn những mẫu tự trong hai chữ Khánh Giư mà ra. Ông sinh tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Năm 1930, Cổ Am bị Pháp ném bom tàn phá để triệt hạ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cụ thân sinh là Trần Mỹ, Tuần Phủ ở Phú Thọ, Khái Hưng là rể cụ Thượng Lê Văn Đính, Tổng Đốc tỉnh Bắc Ninh, quê làng Lịch Diệp, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Em ông là Trần Tiêu, cũng là một nhà văn, tác giả tiểu thuyết “Con Trâu.”

Khái Hưng theo Tây học, học trường trung học Pháp Albert Sarraut, đậu tú tài ban cổ điển ở Hà Nội, dạy học tại trường tư thục Thăng Long và chơi thân với giáo sư Nguyễn Tường Tam thành lập Tự Lực Văn Đoàn với sự cộng tác của các nhà văn, nhà thơ, như Khái Hưng, Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Thế Lữ Nguyễn Thứ Lễ… đã khai mở một kỷ nguyên mới về văn học. Những cây bút lớp trước như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác… bị ảnh hưởng sâu đậm của Hán học, văn thường dùng điển tích, vừa nặng nề, khó hiểu, lại khô khan, nên không có tác động mạnh trong quần chúng. Thêm nữa, ở buổi giao thời, thực dân Pháp đã khuyến khích hút thuốc phiện tự do. Thuốc phiện bán công khai ngoài phố. Con người trở nên yếm thế, văn chương cũng bị ảnh hưởng theo. Giọt Lệ Thu của Tương Phố Đỗ Thị Đàm, Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách, Tuyết Hồng Lệ Sử dịch Hán Văn của Từ Trẩm Á…. ra đời khiến cho bầu không khí sầu thảm lại càng trở nên ngột ngạt.

Thanh niên Việt Nam đứng trước một bế tắc thì Tự Lực Văn Đoàn hiện ra như một vì sao sáng chói với tờ Tuần báo Phong Hóa phổ biến rất rộng rãi, từ Bắc chí Nam, gây được cao trào văn chương với lối viết rất gọn ghẽ, giản dị và trong sáng. Về phương diện xã hội, họ viết báo cổ động bài trừ, đả phá những cổ tục, giành lại quyền sống chính đáng của phụ nữ, công kích kiệt liệt quan niệm trọng nam khinh nữ, đòi hỏi một xã hội công bằng, con người được sống tự do, nhà ở không còn là những ổ chuột. Họ lập ra hội “Ánh Sáng” để giúp dân nghèo tự làm căn nhà sao cho giản dị, giữ được vệ sinh, bên trong đầy ánh sáng. Tuần báo Phong Hóa bị thực dân đóng cửa, tuần báo Ngày Nay ra tiếp theo (1936).

Đầu thập niên 40 (1940), thời thế chiến biến chuyển mạnh, quân Đức thắng như chẻ tre ở Âu Châu. Nhật đổ bộ vào Đông Dương. Đại Việt Dân Chính, hậu thân của đảng Hưng Việt ra đời năm 1940 do Nguyễn Tường Tam là Tổng Thư Ký. Khái Hưng cũng tham gia hoạt động, lợi dụng tình hình quốc tế biến chuyển để xây dựng lực lượng chuẩn bị giành độc lập, thoát vòng nô lệ của Pháp. Năm 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí (họa sĩ) bị Pháp bắt đưa đi giam tại nhà lao ở Vụ Bản (tỉnh Hòa Bình) nơi vùng nước độc, nằm trên trục lộ Nho Quan, Hòa Bình. Năm 1943, Khái Hưng được tha và quản thúc ở Hà Nội. Nhật đảo chính Pháp chớp nhoáng trong đêm 9/3/1945.

Khái Hưng được thả lỏng. Hai trái bom nguyên tử trên ném xuống Hiroshima ngày 6/8/45 và Nagasaki ngày 9/8/45. Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 14/8/45. Các nhà cách mệnh quốc gia lưu vong bên Trung Quốc lục đục kéo về nước.

Việt Minh cướp chính quyền ngày 19/8/45, ra tuyên ngôn độc lập, nhanh chóng lập chính phủ, lập ra các ủy ban hành chính xã để củng cố thế đứng. Họ tuyên truyền chống Pháp, lập ra các tổ chức Cứu Quốc như: “Phụ Lão Cứu Quốc”, “Nhi Đồng Cứu Quốc”, “Phụ Nữ Cứu Quốc”, “Văn Hóa Cứu Quốc”…v.v… Dân chúng không biết Việt Minh là Cộng Sản, chỉ nghe nói chống Pháp giành độc lập cho Tổ Quốc là đa số ùa theo, mọi tầng lớp, mọi ngành nghề đều hăng hái tham gia. Ở Hà Nội, nơi thị tứ có tai mắt quốc tế thì tương đối Việt Minh ít khủng bố chứ ở các vùng thôn quê thì họ khủng bố, bắt bớ, thủ tiêu không nương tay, bất cứ nhóm nào, cá nhân nào bất đồng ý kiến, chứ đừng nói đến chống lại. Việt Minh thường tuyển dụng những thành phần bất hảo, hay lợi dụng những hiềm khích tư thù để tiêu diệt mầm mống phản kháng.

Đầu tháng 8/45 tờ Ngày Nay bộ mới vẫn còn xuất bản số cuối cùng. “Sáng ngày 19/8/45, Khái Hưng và tôi (Nguyễn Tường Bách), ngồi ở tòa soạn đường Quan Thánh thì làn sóng người biểu tình mỗi lúc mỗi đông, đi về phía bờ hồ Hoàn Kiếm… Dù sao chúng tôi cũng thấy cô độc trong lúc ấy. Họ (Việt Minh) vẫn gán cho chúng tôi là thân Nhật, tuy rằng sự thật không phải thế…” (Nguyễn Tường Bách - Việt Nam, Những Ngày Lịch Sử).

Nguyễn Tường Bách và Khái Hưng xuất bản tờ Việt Nam đầu tháng 9. 1945, chủ yếu là đăng tin tức và hô hào bảo vệ độc lập chống đế quốc, phong kiến. Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, nên đã biến tờ Việt Nam thành cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng, đó cũng là tờ báo tranh đấu công khai đầu tiên của phe quốc gia.

Chính phủ Liên Hiệp Quốc Gia ra đời do Hồ Chí Minh là Chủ Tịch, Nguyễn Hải Thần là Phó Chủ Tịch, Cố Vấn tối cao là Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại). Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao, sau khi hai phe Việt Minh - Việt Quốc thỏa hiệp hợp tác “tinh thần đoàn kết”. Nhiều người cho rằng phe quốc gia quá non nớt nên hợp tác với cáo già Việt Minh, nhưng sự thực là nếu không chịu đứng trong Chính Phủ Liên Hiệp thì sẽ bị diệt ngay. Chỉ ít lâu sau, Vĩnh Thụy, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam đều bỏ nước lánh sang Trung Hoa vì nhận thấy không thể nào hợp tác với Việt Minh.

Tờ Việt Nam cảnh cáo nếu theo Cộng Sản thì bị Đồng Minh bỏ rơi, đế quốc Pháp sẽ trở lại, Việt Nam sẽ bị cô lập và có cơ nguy mất nền độc lập. Dưới bút hiệu Chàng Lẩn Thẩn, Khái Hưng phê bình gay gắt Việt Minh Cộng Sản về chính sách đối nội và đối ngoại. Ngọn bút vừa có duyên vừa sâu sắc của Khái Hưng đã sớm cảnh tỉnh nhiều người Việt Nam về hậu họa Cộng Sản, khiến họ hiểu được phần nào mối nguy Cộng Sản. Tiếc rằng tờ Việt Nam chỉ lưu hành quanh quẩn trong thủ đô Hà Nội không sao phổ biến tới thôn quê vì thiếu cán bộ hoạt động ở các làng xã. Được sống ở Hà Nội thời đó mới nhận thấy rõ sự phân ranyh Quốc - Cộng thật ác liệt. Chống lại Việt Minh một cách tích cực và công khai còn có tờ Thiết Thực của Phan Huy Đán (Phan Quang Đán) và tờ Hồn Công Giáo của nhóm Mai Ngọc Liên.

Tôi xin đan cử một thí dụ về sự che đậy tập thể Việt Minh là Cộng Sản, do Cộng Sản lãnh đạo. Năm 1943, Đặng Xuân Thiều, một tay Cộng Sản gộc, người Hành Thiện, em họ Trường Chinh Đặng Xuân Khu và là bác bà Đức Thụ, có đến An Lễ thuyết phục anh em chúng tôi cộng tác với người Anh để chống Nhật, chứ không hề đả động gì đến Việt Minh, không nói câu nào về Cộng Sản Nga. Anh Chác tôi đặt vấn đề: Anh là đế quốc có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới, cộng tác với Anh không có lợi, mà có thể gián tiếp giúp Pháp, vì Pháp - Anh là đồng minh. Sau bữa cơm chia tay, không bao giờ Đặng Xuân Thiều trở lại nữa. Thiều biết anh em chúng tôi thuần túy quốc gia.

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, Đặng Xuân Thiều đã có mặt trong Quốc Hội đầu tiên của Việt Minh tổ chức.

Ngay sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, trái với ước tính của phe quốc gia, trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng ở các tỉnh đều bị tấn công bất ngờ để bắt những đảng viên vào cũng một đêm. Đầu tháng 7/1946, Nguyễn Tường Bách, Vũ Hồng Khanh cùng một số đảng viên rút lên Vĩnh Yên, Việt Trì. Nội chiến toàn diện bùng nổ. Quân đội Việt Minh tấn công Phú Thọ, bất chấp có phái đoàn đại biểu Quốc Dân Đảng là Nguyễn Tườmg Long. Đoàn quân thất thế Việt Nam Quốc Dân Đảng lúc này có thêm Nguyễn Tường Long, rút lên Yên Báy, rồi Lào Kay vào cuối tháng 7/1946. Bại quân Việt Nam Quốc Dân Đảng bỏ Lào Kay, chạy sang Hà Khẩu, đất Trung Hoa để bắt đầu cuộc đời lưu vong biệt xứ.

Trong khi Việt Minh đàn áp để tiêu diệt người quốc gia yêu nước thì quân Pháp thường tỏ vẻ khiêu khích ở Hải Phòng. Dân chúng thật hoang mang. Ở Hải Phòng tôi có lán xẻ gỗ và bán vật liệu xây cất nhà cửa. Trong tình thế Pháp - Việt rất gay go, tôi về quê An Lễ để nhắn tin anh Phạm Ngọc Chác biết tình hình ngoài cảnh rất rối ran, đột biến có thể xảy ra bất cứ lúc nào và cũng để thu xếp tiền lấy cái thuyền trọng tải 50 tấn đóng ở Nghệ An bằng gỗ sáng lẻ có thể chịu được nước biển. Anh Chác đã rời quê An Lễ ngay từ cuối năm 1945. Thuyền vừa dùng để lấy than ở Hòn Gay chở đi cho các lò gạch ở Đáp Cầu đổi lấy ngói về bán, vừa có thể chạy được ven biển khi hữu sự như lời dặn của hai anh Chác và Giáo Kiên. Tôi về quê được ba, bốn ngày thì quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng ngày 23/11/46, mở đầu cho những năm tháng gieo neo của đất nước.

Về cái chết bi thảm của nhà văn Khái Hưng, tôi trình bày theo bốn nguồn tin, theo thứ tự thời gian mà tôi biết, để vụ án thêm sáng tỏ.

NGUỒN TIN THỨ NHẤT:

Ngày 19/12/46, khoảng 5 giờ chiều tôi rời Hà Nội trong lúc tình hình thật căng thẳng để chạy về quê nhà tôi ở Đan Nhiễm tọa lạc ngay sát bờ sông Nhuệ, thuộc Thanh Oai, Hà Đông. Vào nửa đêm, tiếng súng đại bác nổ gầm vang dội về, khiến cả dân làng ùa ra bờ sông, chỉ cách Hà Nội khoảng 10 cây số. Tin tức theo dân tản cư bay đi rất nhanh: Pháp tấn công thủ đô Hà Nội, cuộc chiến Việt - Pháp bắt đầu. Giữa tháng 12/47, giặc Pháp tảo thanh các vùng quanh thủ đô. Gia đình tôi phải rời Đan Nhuệ, đi xuống Đồng Quan, lấy thuyền theo sông Nhuệ, qua Chợ Đại, xuống Cống Thần. Từ Cống Thần gần Phủ Lý, chúng tôi lấy đò trên sông Quan theo đường bộ ngược lên Hòa Bình, để lấy đò đi Việt Trì. Lên bộ ở Việt Trì, chúng tôi đi dần lên mạn bắc, rồi tạm cư ở vùng Chàng Sảo, bên bờ sông Lô, gần Phủ Đoan Hùng, Phú Thọ. Bên kia sông Lô là Thái Nguyên với nhiều dãy núi trùng điệp, nơi Việt Minh lập chiến khu hồi hoạt động bí mật. Bốn, năm tháng sau, sợ bị ngã nước, tiền lại hết, nên cả gia đình nheo nhóc với hai con nhỏ, chúng tôi lếch thếch kéo nhau ra Phú Thọ, qua sông Hồng, đi bộ theo đường nhỏ xuống Chợ Vàng về Hưng Hóa. Qua sông Đà, tiếp tục đi bộ qua phủ Quốc Oai rồi về tạm trú ở Đạm Trai, quê ngoại nhà tôi, gần thị xã Sơn Tây, lúc này đã bị phá hủy (tiêu thổ kháng chiến) thành bình địa. Về tới Đạm Trai tính ra mất hơn bốn ngày, cứ ngày đi đêm ngủ nhờ các làng ven đường. Chúng tôi phải cõng luân phiên hai đứa con, đứa 4 tuổi, đứa được 5 tháng, suốt quãng đường đầy gian nan này. Nghỉ ở Đạm Trai một ngày chúng tôi lấy đò ra sông Đáy, xuống Vân Đình để đi bộ ra Đồng Quan, theo sông Nhuệ qua Chợ Đại đến Phượng Viền, nơi định cư mới. Dọc đường chúng tôi gặp nhiều gia đình chạy nạn, chạy quẩn, chạy quanh, toán lên mạn ngược, toán chạy về xuôi.

Sau khi thu xếp cho gia đình có thể sống tự túc bằng cách nuôi vịt, se bông chỉ, tôi bắt đầu liên lạc với anh Chác đang hoạt động trong Duy Tân. Như hầu hết thanh niên thời bấy giờ, tôi cảm thấy không thể ngồi yên, ăn hai bữa cơm hàng ngày, thản nhiên sống trong khi bao nhiêu anh em, bạn hữu cùng lứa tuổi, hoặc đi kháng chiến, hoặc mưu tìm nền độc lập cho nước nhà bằng cách này hay cách khá. Tuy không phải là một đảng viên Duy Tân, tôi tự nguyện nhận công tác giúp anh em Duy Tân đang tích cực hoạt động bí mật chống Cộng Sản. Nhưng thật là chua xót, Việt Minh Cộng Sản lợi dụng chiêu bài quốc gia để kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Pháp, nhưng một mặt lại tìm cách tiêu diệt những người yêu nước chỉ vì họ không chấp nhận Cộng Sản. Đời sau, nếu ai viết sử, nên nghiên cứu từng tận, vì cớ gì Việt Minh Cộng Sản lại khai phát súng đầu tiên để gây nội chiến trong khi Pháp muốn tái lập nền đô hộ.

Hai anh Giáo Kiên, Chác lúc này, mang tên Nguyễn Bá Tửu - đều lui về vùng Kim Sơn, Phát Diệm, chủ trương chống Pháp nhưng không thể hợp tác với Việt Minh, vì biết chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Tôi tản cư về gần vùng Chợ Đại, nơi buôn bán sầm uất, rất tiện lợi cho sự đi lại nên hai anh giao cho tôi công tác liên lạc với anh em liên tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Ban kinh tài của tổ chức ở Đồng Quan ở kế cận vùng Tề (vùng Pháp chiếm đóng) nên bọn con buôn tụ tập ở đây rất đông, nơi cửa ngõ lấy hàng ở thành ra để phân phối đi các nơi. Họ mua cả thuốc tây để tiếp tế cho kháng chiến. Đồng Quan nằm trên trục giao thông từ vùng rừng núi mạn ngược hay trung châu đi xuống đồng bằng, đổ xuống Ninh Bình để về miền biển hay vào Thanh Hóa, Nghệ An, Bến Vân, tôi gọi Bến Vân vì trên sông Vân Sàng, cạnh núi Dục Thúy, Ninh Bình, là nơi đổ bộ của đồng bào chạy nạn từ mạn trên xuống vùng biển Kim Sơn.

Tôi vốn thích thiên nhiên, ưa sông nước, nhưng lúc này tinh thần luôn dao động, một phần sợ bị bắt bất cứ lúc nào, nếu lộ tông tích, một phần lo làm sao công việc đảm nhận được trót lọt tốt đẹp, nên chẳng còn cái thư thái để hưởng vẻ đẹp của trời đất. Ở Phượng Viền người ta thường gọi chúng tôi bằng tên con trai lớn, lại thêm có hai con còn nhỏ, lếch thếch chạy từ rừng về nên ít ai chú ý tới. Nhận công tác liên lạc, khi tới Bồng Tiên, Thái Bình, anh Nghiêm cho biết anh em vùng này đều kín đáo tham gia Ủy Ban Kháng Chiến nên không bị nghi ngờ. Ở đây một đêm, tôi đi Vũ Tiên qua chùa Keo, lấy đò Keo qua Hành Thiện để đến làng Lịch Diệp, một làng khá trù phú vì làm nghề dệt vải. Tôi đến nhà Lê Văn Thoan. Thoan là con cụ Nhất Hoán, trước lấy Là, cô em họ tôi, nhưng hai người đã ly dị. Tôi nhận ra Thoan nhưng không biết Thoan có nhận ra tôi không, nhưng chúng tôi không ai nói ra, hay nhắc đến chuyện cũ. Sau khi trao đổi tin tức, tình hình các nơi, Thoan kể cho tơi nghe về cái chết bi thảm và kinh khủng của Khái Hưng. Người có mặt duy nhất lúc ấy là Đào Văn Dương, giáo sư toán… ở trường Chu Văn An, Saigon.

Cụ Thượng Lê Văn Đính, Tổng Đốc tỉnh Bắc Ninh là thân phụ bà Khái Hưng và cũng là bác ruột Lê Văn Thoan. Như vậy, bà Khái Hưng và Thoan là hai anh em con chú, con bác ruột. Khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ thì Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp là quê vợ. Ông bị bắt ở đây, công an không phải mất công truy lùng, tìm kiếm. Khái Hưng bị đưa đi giam ở Lạc Quần. Người em họ Thoan cũng ở làng Lịch Diệp làm công an, lúc đầu vì ưa thích, ủng hộ Việt Minh.

Vào đêm cuối năm, hắn được lệnh đưa Khái Hưng rời nhà giam Lạc Quần ra đi đò. Theo sông Ninh Cơ, thuyền đi qua địa phận Bùi Chu, Hành Thiện, khi đến bến đò Cựa Gà thuộc làng Ngọc Cục, hắn thi hành lệnh cấp trên là phải thủ tiêu Khái Hưng. Nhà văn có công lớn với nền văn học của ta, khi bị nhát dao đâm thứ nhất, đã kêu lên:

- Tao không ngờ chúng mày dã man đến thế.

Tên công an bồi thêm mấy nhát dao cho đến khi Khái Hưng chết hẳn, bỏ xác vào bao bố, buộc chặt rồi vất xuống sông, ngay bến đò Cựa Gà (bãi giữa sông). Sau khi thi hành bản án dã man tàn bạo ngoài sức tưởng tượng của mọi người, tên sát nhân không hiểu bất mãn với Việt Minh vì lẽ gì, đã về làng khai ra hết. Sau năm 1954, Lê Văn Thoan tản cư vào Saigon, mở tiệm sách rồi mất trong Nam.

NGUỒN TIN THỨ HAI:

Vào gần cuối tháng 11/1946, mới năm giờ sáng, tôi đã rời quê An Lễ để qua Đò Mười, lấy chuyến ô tô sớm đi Nam Định để kịp tới Hải Phòng cùng ngày, thì hai giờ sau, công an ập đến nhà vây bắt hụt. Họ nghi tôi hoạt động trong Việt Nam Quốc Dân Đảng. Khi ra tới Kiến An, tôi mới biết nhà tôi bỏ hết nhà cửa, chỉ kịp ôm con chạy lên Rế, thuộc An Dương, vì Pháp tấn công chiếm Hải Phòng ngày 23/11/46. Đưa gia đình về tới Nam Định, tôi được anh Phạm Ngọc Kha nhắn tin đừng về quê nữa. Chúng tôi chạy lên Hà Nội.

Giữa đêm ngày 19/12/46, tiếng súng bùng nổ, Pháp tấn công Việt Minh ở Hà Nội. Việt Minh khủng bố, bắt bớ khắp nơi, thi hành chính sách cực kỳ tàn ác, thà giết lầm còn hơn để lọt lưới. Kha cũng bị bắt ngay khi đó, đưa đi giam ở Hải Hậu ba ngày, rồi được một trung đội áp tải giải đi Lạc Quần. Công an đưa tin có thể bị đánh giải vây ở dọc đường vì họ cho anh là cán bộ cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đồn Lạc Quần là một trại lính khố xanh thời Pháp thuộc, nằm bên bờ sông Ninh cơ, trên đường ô tô chạy từ Bến Đò Quan, Nam Định, về chợ Cồn, Văn Lý. Hai tháng bị giam ở Lạc Quần, anh bị tra tấn cực kỳ dã man, hết bị quay điện, rồi bị đánh đập bằng những thanh củi tạ. Sau đấy, anh bị đưa đi giam ở Thượng Lỗi, rồi Bình Bo, Mỹ Lộc, để bắt buộc tham gia phá hoại thành phố Nam Định. Cùng bị giam ở Bình Bo, có ông Lại Văn Tư và Phạm Văn Bính, rồi sau hai người bị đưa đi Chi-nê. Phạm Văn Bính, sau này làm Thủ Hiến Bắc Việt. Anh Kha bị đưa đi ra xử ở tòa án quân sự do Hà Kế Tấn là quan tòa và mang cái án hai năm ở tù trại Đầm Đùn bị kết tội là âm mưu lật đổ chính phủ.

Mấy chục người bị giam trong một căn phòng nhỏ hẹp ở Lạc Quần trong đó có nhà văn Khái Hưng. Khái Hưng kể rằng ông rời Hà Nội vào ngày 19/12/46, và phải đưa bà vợ về Lịch Diệp. Về đến quê vợ thì trời vừa tối, ông phải ở nán lại, chờ sáng hôm sau di chuyển đi nơi khác thì ngay đêm ấy công an đến bắt. Khái Hưng thường nói với mọi người, ông là người yêu nước, không ai có thể nghi ngờ hay hiểu lầm được. Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu là bạn ông biết rõ điều đó, ông không thể nào hợp tác với Pháp. Mọi người bị giam đều cho rằng nhà văn Khái Hưng quá chân thật đến độ ngây thơ. Ông ngõ ý với trưởng trại giam cho ông giấy bút để viết báo hô hào, kêu gọi dân chúng tiếp tục kháng chiến, chống Pháp để giành độc lập. Tên đồn trưởng Lạc Quần hứa sẽ trình lên cấp trên.

Vài ngày sau, Khái Hưng nhận được thư mời đi gặp cấp cao ở một địa phương khác. Tất cả anh em bị giam đều xôn xao vì có kinh nghiệm: khi Việt Minh muốn bắt ai thường gửi thư mời đến trình diện rồi giữ luôn. Khái Hưng vẫn một mực tin tưởng vào lòng ngay thẳng yêu nước của mình, vẫn cười nói thản nhiên.

Vào lúc gần tối ngày giáp Tết Đinh Hợi - 30 tháng Chạp Bính Tuất, là ngày 21 tháng 1, 1947, sau bữa cơm chiều, khi anh em bị giam đã nấu bánh chưng xong để đón giao thừa thì hai tên công an Đang và Thoại mời Khái Hưng lên Ty Thông Tin ở xa và nhắc ông phải mang hết quần áo đi. Khái Hưng thu xếp quần áo, ăn mặc chỉnh tề, vui vẻ chào từ giả mọi người, lòng đầy hy vọng sẽ được lãnh giấy bút để viết báo cổ võ toàn dân kháng chiến chống Pháp. Mọi người đều lo ngại cho ông nhưng không ai dám nói ra.

Hôm sau, hai tên công an trở về trại giam ở Lạc Quần nói rằng ông Khái Hưng đã bỏ trốn ở dọc đường, nhưng cả trại giam không ai tin. Anh Phạm Ngọc Kha năm nay (1996) được 80 tuổi, hiện đang ở quận Santa Clara, tiểu bang California, sang Mỹ năm 1991 để đoàn tụ với các con.

NGUỒN TIN THỨ BA:

Đoàn Văn Lụy, quê ở Tương Nam gần Cổ Lễ, trước học trường St Thomas d'Aquin, nhưng khác lớp, cùng một thời gian (1935 - 36) với Mai Ngọc Liệu và tôi. Kể từ năm 1937, tôi lên Hà Nội học nên không có dịp gặp lại Lụy nữa. Lụy chơi thân với Mai Ngọc Liệu vì cùng bạn Hướng Đạo. Năm 1954, Mai Ngọc Liệu là Tổng Thanh Tra Hành Chính Bắc Việt, lúc có phong trào di cư từ Bắc vào Nam sau khi hiệp định Genève chia đôi đất nước, hiện đang ở San Jose, năm nay (1996) được 79 tuổi.

Sau khi đọc Hồi Ký Một Đời Người tập I, đoạn nói sơ qua về ông Khái Hưng bị thủ tiêu, Mai Ngọc Liệu cho biết thêm một vài chi tiết khá quan trọng. Đoàn Văn Lụy cũng bị giam ở Lạc Quần và cũng được chứng kiến lúc nhà văn Khái Hưng rời khỏi nhà giam. Hai tên công an hôm sau trở về, một đứa mặc áo “ba đờ xuy” (pardessus), một đứa đội cái mũ “phớt” (feutre) nói là của ông Khái Hưng bỏ lại lúc trốn thoát ở dọc đường (Đoàn Văn Lụy đã qua đời tại Saigon năm 1989).

NGUỒN TIN THỨ TƯ:

Trung tá VĐK, trước là lục sự ở Nha Quân Pháp, rồi về làm việc ở Tối Cao Pháp Viện, là bạn với tôi từ đầu thập niên 40 (1940) ở Hải Phòng. Tôi gặp anh lần cuối vào năm 1967 khi tàu Phong Châu ghé bến Cầu Đá, Nha Trang. Khi đổi về Saigon làm việc, anh đi xe mobylette còn mới, mượn của người em họ, đến thăm tôi ở đường Tân Phước, khu Nguyễn Tri Phương. Dựng chiếc xe đi mượn không khóa ở ngay vỉa hè trước nhà, anh vừa qua lưng ra ngoài đường thì quân gian đã nhảy lên xe ngồi, nổ máy rồi chạy, theo sau có hai ba tên cũng phóng nhanh bằng xe gắn máy. Kể từ đó anh không dám lại thăm tôi nữa, sợ mất xe phải đền lần nữa. Thật bất ngờ, tôi nhận được thư anh VĐK sang Úc đoàn tụ với các con từ năm 1989.

Thư ngày 24/06/95, anh viết:

. . . . .

Một anh bạn của tôi, cũng người Nam Định, sinh năm 1928, giữ nhiều chức vụ hồi 1965 - 75, đọc HKMĐN có góp ý về vài sự việc có liên quan đến anh ấy, hay anh ấy là nhân chứng.

* Hồi 1950, anh ấy trọ học tại nhà ngang của bà cụ thân sinh ra anh Phạm Văn Liễu, ở đường Gia Long, Hà Nội. Lúc đó anh Liễu đeo cấp bậc Trung Úy.

* Nơi anh trọ học ở Nam Định, Phố Năng Tĩnh, là nhà Thầy Phú (có con tên là Quý). Chánh tòa án (vụ xử anh Phạm Ngọc Kha tôi bị kết án tù hai năm vì âm mưu lật đổ chính phủ và năm 1947), là Hà Kế Tấn chứ không phải Chu Văn Tấn. Hà Kế Tấn là Tướng Việt Cộng chỉ huy Công Trường Thủy Điện Hòa Bình, hồi thập niên 80. Chu Văn Tấn, người Cao Bằng, chỉ huy đoàn lính dõng tiền thân của Bộ Đội Giải Phóng hay Quân Đội Nhân Dân của Việt Minh. Việt Minh lấy ngày 22/2/44 là ngày thành lập lực lượng trên để kỷ niệm hàng năm…

“Khái Hưng chết ở gần Lạc Quần. Ba tên được lệnh dẫn ông đi, đến nơi, chúng bỏ ông vào bao, lấy gậy đánh đâm cho đến chết rồi mới vất xuống sông. Tên chỉ huy lúc trở về báo cáo lại, anh ấy có nghe thấy”

Khi viết xong bản thảo “Vụ Án Nhà Văn Khái Hưng”, tôi gửi cho Cụ Đỗ Khắc Siêm đọc. Cụ cho biết thêm nhiều chi tiết soi sáng vụ án. Thời gian 1947 - 1949, cụ làm Thẩm Phán huyện Trực Ninh, và được trưởng toán cảnh vệ nơi đây cho biết: Ông Khái Hưng bị giam ở đây là bị đưa đi trầm hà trên sông Ninh Cơ trong khi đó Việt Cộng còn bịa đặt ra một tin để đánh lừa dư luận. Họ nói Công An dẫn ông Khái Hưng qua cầu Vô Tình (huyện Trực Ninh) một toán du kích bên kia cầu hiểu lầm đã xả súng bắn là ông Khái Hưng bị tử thương.

Phối kiểm tin trên, ta có thể tìm ra manh mối một cách khá chính xác về cái chết của nhà văn Khái Hưng:

Khái Hưng bị đưa ra khỏi trại giam Lạc Quần, sau bữa ăn chiều, lúc gần tối, ngày 30 tháng Chạp năm Bính Tuất. Từ Lạc Quần theo sông Ninh Cơ lên đến bến đò Cựa Gà khoảng 10 cây số, thuộc địa phận làng Ngọc Cục (Xuân Trường, Nam Định). Như vậy, tính theo khoảng cách Lạc Quần - Bến Đò Cựa Gà, ta có thể kết luận, nhà văn Khái Hưng bị giết ở bãi giữa sông Ninh Cơ, bỏ vào bao buông sông trước giao thừa sang năm mới Đinh Hợi, tức là gần nửa đêm 30 tháng Chạp năm Bính Tuất (21/01/1947).

70 năm sau ngày Khái Hưng bị giết rồi buông sông, lòng yêu nước, sự nghiệp văn chương của ông vẫn mãi trường tồn với non sông, tên tuổi ông sẽ lưu lại ngàn đời. Tội ác ô nhục gây nên cái chết bi thảm cho ông sẽ còn lưu xú đến muôn năm.

Trích Phạm Ngọc Lũy 
(Khái Hưng; Kỷ Vật Đầu Tay và Cuối Cùng)

20 June 2017

Cười tí tỉnh








 

Miếng pizza của tôi bị khét,
Chai bia bị đông đá,
Vợ tôi thì có bầu.

Tắt một điều,
tôi không bao giờ lấy ra đúng lúc!!

(Phan A. lượm lặt)

Đất Chưa Lỗi Thề, thơ


Máy bay Hoa Lục gặp nhiễu động, nhiều hành khách bị thương


(Chủ nhật 18/6) - Chuyến bay MU774 của hãng hàng không China Eastern Airlines gặp nhiễu động mạnh khi đang trên đường từ Paris, Pháp, tới Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, theo BBC.

Các bác sĩ cho hay một số hành khách bị gãy xương, rách da đầu và chấn thương mô mềm vì hành lý đổ xuống hay do va chạm với khoang chứa đồ phía trên.

"Tôi có mặt trên chuyến bay, tôi cứ nghĩ mình không thể sống sót nổi", một hành khách viết trên mạng xã hội Weibo. "Rất nhiều người bị thương và trong số đó, không ít người quên thắt dây bảo hiểm".

Theo hãng thông tấn Xinhua, máy bay phải chịu hai cú rung lắc mạnh và nhiều lần rung lắc nhẹ hơn trong khoảng 10 phút. Hãng China Eastern Airlines sau đó cho biết phi cơ đã hạ cánh an toàn tại Côn Minh.

Tuần trước, một chuyến bay của hãng China Eastern Airlines tới Thượng Hải phải quay đầu trở lại thành phố Sydney, Australia, sau khi xảy ra sự cố kỹ thuật khiến vỏ động cơ bị thủng lỗ. Hành khách kể họ ngửi thấy mùi khét bên trong khoang.

Vũ Hoàng
Theo vnexpress

Người Tị Nạn và Việt Kiều

Lâm Văn Bé
       
Sau năm 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi tị nạn đã bị Cộng Sản gọi bằng những danh từ khác nhau. Những danh từ nầy mang những hậu ý chính trị gian xảo, do đó việc tìm hiểu ý nghĩa chính xác những danh từ nầy thật cần thiết để chúng ta sử dụng chính xác trong từng trường hợp.

        Người tị nạn.
     
Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng Sản đã gọi tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy. Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vựơt biển, vượt biên để xin tị nạn ở các xứ tự do, cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.

Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bể. cặn bả xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sửa cặn» . Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế còn hằn học hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam : Những người di tản đáng bị chặt đầu.

Nhưng chẳng bao lâu, Cộng Sản hiện nguyên hình là bọn gian manh. Năm 1990, khi Cộng Sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, "bọn đĩ điếm" được cộng sản «nâng cấp» lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bố Việt Kiều là những khúc ruột ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.

Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng Sản. «Kiều» chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác được dùng làm tỉnh từ cho những danh từ như «kiều dân» là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, «kiều bào» là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là «Việt kiều yêu nước».

Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng Sản có gian ý là muốn «tóm thâu» cái khối chất xám nầy là «con dân» của họ, còn đặt dưới quyền sinh sát của họ. Nghị định số 78/2009/NĐ ngày 22/09/2009 về luật quốc tịch xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phép từ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc…Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia của ông cha họ đã định cư, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa phép làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.

Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản. Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 , «Người VN định cư ở nước ngoài vẫn có quốc tịch VN. Sau 5 năm từ khi luật nầy có hiệu lực, kiều bào phải đến cơ quan đại diện của chính phủ VN tại nước ngoài để đăng ký xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch».

Sau 5 năm, chỉ có khoảng 6000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.

Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Cho đến ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN giải thích «rộng rãi» theo luật rừng. Chính bà Ngô Bá Thành, chuyên viên xách động xuống đường thời VNCH, được CS phong cho chức Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội đã ví von : Việt Nam có một rừng luật và áp dụng luật rừng.

Và cho đến đầu năm 2014, chính phủ VN vẫn còn khư khư giữ quan niệm cha chú nầy với người Việt tị nạn. Trong bài huấn từ của Nguyễn Thanh Sơn, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Cục Người Việt nước ngoài đã nhắn nhủ cho phái đoàn «Việt Kiều yêu nước» về quê ăn Tết, ông nhắc lại lời của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt 20 năm trước như sau: «Cộng đồng người Việt ra đi sau chiến tranh và định cư ở nước ngoài rất đặc thù, không giống các cộng đồng ngoại kiều khác. Những thuyền nhân ra đi đa số là vì mục tiêu kinh tế chứ không phải mục đích chính trị. Có bộ phận những người ra đi sau cuộc chiến tranh mang theo tư tưởng hận thù của những người thua trận và được tuyên truyền rất nhiều điều ghê sợ không có thực về chủ nghĩa cộng sản ... Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, coi cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, tức là những người máu mủ ruột thịt thực sự, không phân biệt đó là thành phần nào, đó là ai." (Xuân quê hương 2014 – danlambao 3/2/2014).

Đối với những 'Việt Kiều yêu nước', Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng Sản, họ không phải là Việt kiều mà là người Mỹ, người Canadiens , người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy và phải tôn trọng quyền chọn lựa của họ là không chấp nhận chế độ cộng sản.

        Việt Kiều và Nghị Quyết 36.
     
Không người Việt tị nạn nào ngu xuẩn tự xưng mình là Việt kiều, nếu có, đó là những 'Việt kiều yêu nước'. Tưởng cần biết qua lai lịch của những 'Việt kiều yêu nước' nầy.
     
Đa số những Việt Kiều nầy là những sinh viên xuất ngoại du học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nhờ học bổng của Plan Colombo hay các quốc gia Âu Mỹ. Từ cuối năm 1970, một số con em của những người có thế lực, nhà giàu cũng được xuất ngoại tự túc. Những sinh viên có học bổng sau khi hết học bổng không chịu về nước vì sợ đi quân dịch, nên tìm cách ở lại tại các quốc gia đã du học một cách bất hợp pháp. Phương thức thông thường là kết hôn với người dân sở tại để có quốc tịch, và để biện minh cho hành động hèn nhát, họ chạy theo các phong trào sinh viên phản chiến ở Pháp, Mỹ, Canada để chống chiến tranh Việt Nam mà theo họ là do Mỹ và chế độ quân phiệt miền Nam chủ động. Họ được cộng sản lợi dụng để tuyên truyền và được phong danh hiệu là 'Việt kiều yêu nước'. Sau 1975, nhiều đám sinh viên phản chiến phản quốc nầy từ Nhựt, Âu châu, Mỹ chạy sang Canada xin tị nạn cùng lúc với thân nhân của họ vừa di tản đến. Họ trương cờ đỏ sao vàng ở những tụ điểm của họ, một số xin về nước để lấy uy với bạn bè, nhưng chính phủ cộng sản lạnh lùng với họ, có khi còn bắt họ bởi lẽ cộng sản dư biết những 'Việt kiều yêu nước' nầy chỉ là bọn hèn, theo đóm ăn tàn.

Từ cuối thập niên 1990 xuất hiện thêm một số Việt kiều yêu nước già, nguyên gốc là HO, có học và vô học, vì không hội nhập được vào xã hội định cư nên đi đi về về Việt Nam để sống với tiền xã hội của quốc gia định cư, một số khác thất nghiệp muốn về VN để kiếm việc, làm ăn buôn bán. Để đạt được ý định, họ lập công với cộng sản bằng những mưu chước hèn hạ, phản bội lại đồng hương và đồng đội họ, xâm nhập vào các hội đoàn, cơ quan ngôn luận để quấy phá. Nghị Quyết 36 nhờ sự tiếp tay của những Việt Kiều trở cờ phản bội nầy.

Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường những tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị. Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại về nước và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm:

        - Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
        - Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
        -Thu góp tiền bạc và chất xám
        - Biện pháp đối với các thành phần chống lại chánh phủ và Đảng ở hải ngoại
        - Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại

Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất gian xảo, trịch thượng. Làm sao CS có khả năng và uy tín giúp người Việt hải ngoại trong cuộc sinh sống trong khi họ đã đẩy đa số người dân trong nước đến chổ bần cùng và mất cả đạo lý, và càng tệ hại hơn, họ xuất cảng tệ trạng ăn cắp tràn lan tại những nơi mà cán bộ của họ đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điễn, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu: Cảnh cáo Ăn cắp vặt, No dogs, no Vietnamese.

Họ nói giúp người tị nạn đoàn kết với nhau, nhưng thực sự họ đưa công an và 'Việt kiều yêu nước' xâm nhập các đoàn thể để gây đố kỵ, đánh phá nhau. Chuyện thu góp tài sản thì quá rõ, từ việc gởi tiền đến Việt kiều du lịch mang về nước tiêu xài cung cấp cho cộng sản 12% GDP, duy chỉ có chuyện thu góp chất xám là một cuộc thảm bại.

Một số tác hại của NQ 36 đã thấy rõ trong một số công tác chiến lược như sau:

        - Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền
     
Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng cộng sản. Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống cộng.
Trong đại hội «Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36 và công tác đối với người Việt nước ngoài» ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Quý đã có chỉ thị rõ rệt «…Cần sớm có quy chế về việc dạy tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…»
        - Xâm nhập các cơ quan truyền thông

Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn để mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ hai từ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012 ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã nói rõ chương trình hành động: «Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triển lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động từ thiện, du lịch, sinh hoạt khoa học, sinh hoạt các nhóm trong cộng đồng người Việt hải ngoại…»

Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels (Bộ Trưởng Thông tin Tuyên truyển của Đức Quốc Xã): Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu người ta không tin, lần lần người ta bán tin bán nghi sau cùng người ta tin là sự thật. Internet và báo chí là những phương tiện hữu hiệu dể chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi lực lượng chống cộng. để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều - Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.

        Nhưng Cộng Sản có hai bộ mặt chồng chéo nhau: dịu ngọt và bạo lực.

Tạp chí Cộng Sản gần đây đã viết: «…Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẻ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta …» (TCCS. Phát huy vai trò của Cộng đồng @ttp://tapchicongsan. orgvn ngày 28/05/2013)

Chánh sách vừa chiêu dụ vừa khủng bố của Cộng Sản đã có tác dụng phần nào trên các vùng đất có người Việt định cư ở Bắc Âu và Đông Âu, nơi có đông đảo người lao động xuát khẩu, di dân bất hợp pháp và du sinh. Trong thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36: «… Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả, thiết thực các thế lực thù địch…». Mười ba cộng đồng cộng sản nầy là : 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều lao động xuất khẩu (Hàn Quốc, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ – ( chú thích: tại Thụy Sĩ còn có một cộng đồng chống Cộng của người Việt tị nạn). Các chủ tịch các cộng đồng nầy là người cộng sản, chỉ làm bù nhìn, việc điều khiển Cộng Đồng do sứ quán hay tòa lãnh sự đảm nhiệm theo quyết định Q12 năm 2008 (Mobiliser les Vietnamiens à l’étranger, p.50).
Ngày 18 tháng 8 , 2014, Trung ương đảng đã tổ chức một cuộc «mạn đàm» tại Praha (Tiệp Khắc) qui tụ những nhân vật cao cấp của Bộ Chính Trị từ trong nước và các đại sứ, đại diện 14 cộng đồng người Việt ở Đông Âu, Bắc Âu , kể cả Thụy Sĩ, Anh, Bỉ để «trao đổi công tác xây dựng tổ chức, vận động quần chúng, lôi cuốn giới trẻ tham gia và phát huy các sinh hoạt cộng đồng»

        - Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện

        Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy, Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm «phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống». Từ mươi năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán. Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.

        Người Việt ở hải ngoại

Ngoài ra, chúng ta thường có thói quen gọi chúng ta thuộc cộng đồng người Việt hải ngoại (diaspora) mà Cộng Sản gọi là người Việt nước ngoài. Nếu từ ngữ nầy đúng với tất cả các sắc tộc khác nhưng đối với người Việt, có khi không đúng hẳn bởi lẽ trong số người Việt hải ngoại lại có thêm những người không phải là người tị nạn. Đó là những người xuất khẩu lao động, di dân kinh tế hợp pháp và bất hợp pháp, các du học sinh thân cộng hay theo Cộng. Hiểu như vậy, sự chính xác của từ ngữ sử dụng cần phân biệt theo nội dung và hoàn cảnh.

        Bảng 1- Tổng số người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại:


        Bảng 2- Số người Việt xuất khẩu lao động, du sinh, định cư
        hợp pháp và bất hợp pháp tại hải ngoại (Việt Kiều):


        Nguồn :
        - Người Việt ờ nước ngoài @ww.vietkieu.info;
        - Wikipedia,
        - Migration Policy Institute.
        - World Facts Book

        Chú thích :

Bảng thống kê trên, tuy xuất xứ từ các cơ quan thẩm quyền nhưng chỉ là những con số ước lượng gồm có:

        - 700 000 người Việt ở Cambốt, Thái Lan và Lào là người Việt đã sống lâu đời nhiều thế hệ tại các quốc gia nầy, đại đa số đã nhập tịch. Về người Việt ở Cambot, số thống kê chỉ là phỏng định vì quốc gia nầy không có thống kê. TheoWikipedia, và World Facts Book, người Cambốt gốc Việt chiếm 5% dân số tức khoảng 600 000 người. Bertrand Didier trong bài Vietnamiens au Cambodgevà Annuska Derks trong A picture of the Vietnamese in Cambodia trình bày chi tiết các giai đoạn di cư, định cư, diện mạo của người Việt ở Cambốt (có thể đọc online).

Migration Policy Institute thiết lập thống kê người di dân VN (immigrants) vào tháng 9 năm 2013 dựa vào ước lượng của United Nations Population Division công bố một con số thấp hơn chỉ gồm người di cư xuất khẩu lao động: Cambot: 37 000, Lào: 11 000, Thái Lan: 6000.

       - 700 000 người ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mã Lai, Nhựt, Trung Quốc, Đông Âu , Nga, Bangladesh, Trung Đông và Phi Châu. Dân số VN tại các quốc gia nầy thuộc nhiều diện khác nhau:

          - một số là cư dân hợp pháp phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mã Lai và những du học sinh tại các quốc gia Đông Âu, Nga, được nhập tịch tại các quốc gia nầy
          - một số là người xuất khẩu lao động và cư dân bất hợp pháp.

Như vậy tổng số người Việt ở hải ngoại là :
          - Người tị nạn Cộng sản: 2.500 000 người (số tròn) Bảng 1
          - Người Việt di cư kinh tế, xuất khẩu lao động, du học sinh, định cư bất hợp pháp: 1 400 000 người Bảng 2

        Tổng cộng số người Việt ở hải ngoại: 3 900 000 người.
        Một cách dễ nhớ: 4 triệu người.
        Nguồn : Lâm Vĩnh Bình, Giá Tự Do

Về tổng số người Việt ở hải ngoại, thống kê của nhiều người viết, ngay cả những nhà nghiên cứu khoa bảng thường có khuynh hướng khuếch đại con số, bởi lẽ thay vì sử dụng thống kê chính thức của các quốc gia sở tại, họ lại sử dụng những thống kê của Cục Người Việt nước ngoài của Cộng Sản mà bản chất là gian dối, thiếu chính xác. Đan kể như luận án tiến sĩ : Mobiliser les Vietnamiens de l’étranger : enjeux, stratégies et effets d’un nationalisme transnational của Christophe Vigne do Institut de recherche sur l’Asie du Sud-Est contemporaine (IRASEC) xuất bản năm 2012 cho biết là người Việt ở hải ngoại là 4.3 triệu người trong đó người Việt ở Mỹ là 2.2 triệu (thay vì 1.5 triệu) và ở Canada là 250 000 (thay vì 220 000). «Le RSVN estime à environ 4.3 M le nombre de Vietnamiens résidents à l’étranger. La communauté vietnamienne des États-Unis est de loin la plus nombreuse avec 2.2M de personnes. Environ 250 000 Viet Kieu vivent au Canada, 120 000 en Allemagne et 60 000 en Russie…(p. 13).

        Kết luận
      
Chúng tôi vừa phân tích hai từ ngữ người tị nạn và Việt kiều để phân biệt hoàn cảnh lúc ra đi và vị trí chính trị đối với chế độ cộng sản. Tuy nhiên, khi phải nhắc đến một từ ngữ khác có chữ kiều là kiều hối (mà cộng sản dùng thay cho danh từ ngoại tệ), cái biên giới giữa người tị nạn và Việt Kiều như không còn nữa bởi cả hai đều dùng kiều hối để nuôi dưỡng và củng cố chế độ trong nước.

Thật vậy, kể từ khi Clinton bắt tay với VN năm 1995, người Việt tị nạn về nước ào ạt vì đủ thứ lý do, thăm gia đình, du lịch, du hí… Thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù, và trên đất mới, sau đó cũng không bao lâu, họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN để chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim kiều hối chỉ trong hai tháng. Ngoài ra, việc gởi tiền về VN triền miên từ 40 năm nay để nói là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số kiều hối khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân cộng?

Theo Viện Nghiên cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Central Institute for Economic Management CIEM), « tính từ năm 1991 đến 2013, lượng kiều hối gởi về hơn 90 tỷ mỹ kim, là chiếc phao cứu tinh cho nhiều doanh nghiệp và là nguồn tài chính quan trọng cho quốc gia. Số tiền trên không kể đến 28% «kiều hối chui» không qua đường dây chính thức và những khoản tiền tiêu khi Việt kiều về thăm nhà. Chỉ năm 2013, số kiều hối gởi về là 11 tỷ. Mỹ là quốc gia chuyển kiều hối về VN nhiều nhất (57% trong tổng số kiều hối chính thức), kế đó là Úc (khoảng 9%), Canada (8%), Đức (6%), Pháp (4%) . Kiều hối là nguồn vốn thứ hai tại VN sau FDI (chú thích của người viết: Foreign Direct Investment là tiền ngoại quốc đem vào VN đầu tư) giúp tăng tiết kiệm, đầu tư, giảm nợ, cải tiến bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, giúp ổn định tỉ giá, cán cân thanh toán và tăng dự trử ngoại hối . Tóm lại, kiều hối dùng để trả sinh hoạt hằng ngày, đầu tư vào sản xuất kinh doanh và trả nợ». (Cứu tinh của nền kinh tế VN /Alan Phan - ngày 18/12/2014.)

Thông tin trên phát xuất từ một cơ quan kinh tế chiến lược đầu não của cộng sản đã cho thấy không phải là nhóm Việt kiều Đông Âu, hay nói chung những Việt kiều thân Cộng đã gởi tiền về nước để nuôi chế độ mà chính đa số làngười tị nạn. Chỉ tại 5 quốc gia có đông đảo người tị nạn, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã đóng góp hàng năm cho cộng sản VN 84% ngoại tệ. Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng tài trợ cho Việt Cộng. Giải quyết cái phi lý nầy phải là chuyện số một phải làm, tuy đã muộn màng lắm rồi, trước khi nói đến những chuyện tranh đấu khác.
 

Lâm Văn Bé
____________________________
        Tác giả Lâm Văn Bé: trước 1975 làm việc và từng giữ các chức vụ:

        ·         Giáo sư, Giám học, Hiệu trưởng Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho
        ·         Tổng Thư Ký Viện Đại Học Tiền Giang
        ·         Chánh Sở Học Chánh Định Tường

        Sau 1975, ông làm Giám đốc Thư Viện Mile End ở Montreal, Canada. Hiện nay, ông về hưu và dành thời gian viết biên khảo.

(Nguồn: Ba Cây Trúc)