06 May 2015

Hillary Clinton - ác mộng Trung Hoa?

Nếu như Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình luôn nhắc đến lý tưởng Giấc mơ Trung Hoa, thì việc bà Hillary Clinton đắc cử Tổng thống Mỹ nhiều khả năng sẽ tạo ra một cơn ác mộng.

Cư dân mạng "dậy sóng"

Hôm 12/4 vừa qua, chỉ vài giờ sau khi cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton chính thức tuyên bố sẽ tranh cử vị trí Tổng thống nhiệm kì tới, cư dân mạng Trung Quốc đã có những phản ứng dữ dội trước sự kiện này, theo tổng hợp của trang Foreign Policy (Mỹ).

Sau khi kênh truyền hình trung ương CCTV đăng tải thông tin về tuyên bố của bà Clinton, "comment" nhận được nhiều "like" nhất ví von cựu Đệ nhất phu nhân với hình ảnh không mấy thân thiện, đồng thời cho rằng việc bà đắc cử sẽ khiến "quan hệ Mỹ-Trung xấu đi trông thấy".

Những comment "lịch sự" hơn tập trung vào phân tích mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Một người dùng trên Weibo bày tỏ quan ngại rằng bà Clinton sẽ kết thân với Nhật Bản, kình địch của Trung Quốc, và gây bất lợi cho Bắc Kinh trong tranh chấp tại biển Hoa Đông.

Ngoài ra, người này cũng nhận định bà Clinton trong cương vị Tổng thống sẽ gây bất ổn cho Biển Đông, nơi Trung Quốc và Mỹ đang tranh giành ảnh hưởng.

Thậm chí, một người khác còn đi xa hơn, dự đoán rằng "Thế chiến thứ Ba sẽ không còn xa nữa" nếu cựu Ngoại trưởng Mỹ đắc cử.

Giới nghiên cứu cũng đứng ngồi không yên

Tháng 6 năm ngoái, cũng trong một bài viết trên Foreign Policy, nhà báo Isaac Stone Fish từng nhận định, Hillary Clinton trên tư cách Ngoại trưởng đã gây nhiều khó dễ, thì Hillary Clinton-bà chủ Nhà Trắng thậm chí sẽ là một cơn "ác mộng" với giới chức Trung Quốc.Theo ông, người Trung Quốc cho rằng bà Clinton mang theo quan điểm "chống Trung Quốc" trong các chính sách đối ngoại của mình khi còn giữ chức Ngoại trưởng, trong đó nổi bật nhất là chiến lược "xoay trục sang châu Á" do chính bà khởi xướng năm 2011.

Chính sách này, trong mắt người dân cũng như giới cầm quyền Trung Quốc, là một biện pháp công khai tranh giành ảnh hưởng với nước này tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ.

Nay, tuy bà Clinton không còn giữ chức vụ Ngoại trưởng, Bắc Kinh vẫn coi sự hiện diện về mặt quân sự của Mỹ trong khu vực hiện nay là hệ quả của những chính sách do cựu Đệ nhất phu nhân Mỹ áp đặt khi còn tại vị.

Thậm chí, vào năm 2013, sau khi bà Clinton rời bộ Ngoại giao Mỹ, Thời báo Hoàn Cầu còn đăng tải một bài phân tích tổng kết 5 năm đảm đương nhiệm vụ cánh tay phải của Tổng thống Obama trên trường quốc tế. Bài này kết luận:

Theo ông Fish, chiếu theo những gì truyền thông cũng như mạng xã hội Trung Quốc đăng tải, quan điểm tiêu cực của người dân nước này về Hillary Clinton vẫn không hề thay đổi so với lúc bấy giờ.

Không biết đối phó với... đàn bà?

Bên cạnh ác cảm xuất phát từ cái "trục", bà Clinton dường như còn gây khó dễ cho giới chức Trung Quốc trên phương diện... giới tính.

Trong bài phân tích năm ngoái của mình, ông Fish dẫn lời bà Kelley Currie, cố vấn cao cấp thuộc Viện Dự án 2049 của Mỹ, người từng có thời gian dài công tác với chính phủ Trung Quốc. Bà Currie cho rằng nữ chính trị gia là đối tượng mà các VIP người Hoa "không quen đối phó".

Bà Currie cũng chỉ ra rằng, kể từ thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc chưa bao giờ bổ nhiệm bất kì một người phụ nữ nào vào Ủy ban Thường vụ bộ Chính trị, bộ máy quyền lực của đảng Cộng sản nước này.

Chưa thể tìm ra cách đối phó với một chính trị gia không ngại cứng rắn với mình, do vậy nếu cái tên Hillary Clinton xuất hiện bên cạnh dòng chữ "Tổng thống Mỹ" vào tháng 11/2016 tới đây, khả năng "Giấc mơ Trung Hoa" biến thành "ác mộng" không phải là không có cơ sở.

(Theo Đại Lộ)
___________________


Bắc Kinh nhắc khéo bà Clinton không nên chỉ trích Trung Quốc

Hai tờ báo Hoa Lục là Nhân dân Nhật báo và Global Times vừa đăng những bài xã luận thể hiện quan điểm của chính phủ Hoa Lục, là bà Clinton không nên chỉ trích Trung Quốc trong chiến dịch tranh cử Tổng thống của mình.
...........Bài báo, đã xoáy sâu vào cuốn sách bán chạy của bà Clinton vào năm 2014 là Hard Choices (lựa chọn khó khăn), trong đó bà Clinton kêu gọi các nước trong khu vực châu Á hãy đoàn kết tạo thành một liên minh chống Trung Quốc và bà cũng chỉ trích sự kiểm duyệt thông tin Internet tại Trung Quốc. Cuốn sách cũng đề cập đến cuộc đối đầu của bà Clinton với cựu Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào xung quanh chủ đề về nhà sư Tây tạng lưu vong Đạt-lai Lạt-ma.

Bà Clinton từng gây tức giận đối với Hoa Lục khi bà sang thăm Việt Nam và năm 2010, bà cho rằng Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì hàng hải ở Biển Đông mà Hoa Lục  ngang nhiên tự tuyên bố là chủ quyền lãnh hải không thể chối cãi của mình.

Hai tờ báo Hoa Lục còn dọa rằng nếu bà Clinton tiếp tục cứng rắn với họ, phía Hoa Lục có thể công khai những khoản tài chính mập mờ mà vợ chồng bà đang sở hữu để thực hiện chiến dịch tranh cử.

Cựu quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ John Tkacik cho biết rằng ông nghĩ lo lắng của Hoa Lục có phần đúng khi nói về bà Clinton.

Ông nnói: "Tôi không phải là một người hâm mộ lớn của bà Clinton nhưng tôi phải thừa nhận bà là ứng cử viên sáng giá nhất hiện nay. Đó là một nghịch lý khi mà cả hai ứng cử viên của Đảng Dân chủ đều gây ra sự hoài nghi cho Trung Quốc: Bà Clinton và Thượng nghị sĩ Jim Webb".
  
Thiên Hà (theo free Beacon)

05 May 2015

Con người cộng sản chai đá và cực kỳ vị kỷ

Trong khi du khách nước ngoài xắn tay áo giúp vãn hồi thảm cảnh động đất ở Nepal thì
một nhân viên Chữ Thập Đỏ Việt Nam đứng tay chỉ chỏ cười đùa.

Những Vấn Nạn và Nghịch Lý 40 Năm Kinh Tế Việt Nam

Nguyễn Bá Lộc

Cộng sản VN cưởng chiếm miền Nam và dựng lên chánh quyền CS trên toàn quốc nay đã 40 năm.

Nhưng đảng và chánh quyền CS chẳng những không đáp lại được mong ước chánh đáng của toàn dân đã chịu đựng quá nhiều mất mát trong quá khứ, mà CSVN còn tạo ra nhiều đau khổ hơn về đời sống kinh tế và nhiều xáo trộn xã hội từ những hậu quả kinh tế.

Cho tới nay , kinh tế XHCN của VN còn tồn tại nhiều vấn nạn nghiêm trọng và khó có thể cất cánh được. Mặc dù bề ngoài và trên một vài mặt , nó có một số tiến bộ. Nhưng rất nhỏ nhoi so với những tiêu cực quá lớn đã và sẽ không vượt qua nỗi, vì nguyên nhân chánh yếu bắt nguồn từ bản chất chế độ.

I.VỀ MÔT SỐ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trong 10 năm đầu sau khi hiếm miền Nam, nền kinh tế suy sụp , chìm tới đáy vực. Từ 1986 nhờ “đổi mới kinh tế”, VN đạt được một số phát triển trên  một số mặt. Những  sự kiện kinh tế đó chỉ có tánh cách bề ngoài, không bền vững, có mưu tính sai trái và bất công. Tôi xin tóm tắt và phân tích một số tiến bộ đó.

1-Về tỷ suất phát triển và tổng sản lượng quốc gia

Từ khi thay đổi mô hình kinh tế (1986) tỷ suất phát triển có đạt con số khá theo báo cáo của VN, trong khoảng 8-8.5%. Nhưng cũng chỉ trong 8 năm từ 2001-2008. Còn các năm khác , trước 2001 và sau 2008, chỉ đạt 4.5-5.5%, đó là tỷ suất thấp so với các nước đang phát triển. Ví dụ: 2012 có 5.4%, 2013: 5.2%, 2014: 6%. Thực sự năm rồi kinh tế vẫn rất yếu , nhưng vì năm tới là đại hội đảng , các lảnh đạo đang “cải sửa” để tranh giành quyền lực.

Tổng sản lượng quốc gia (GDP) và lợi tức đầu người (Income/capita) có tăng. Từ 180 US$/ người vào năm 1985 lên $620 (2001) và khoảng 2000 US năm 2013  (theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới). Năm 2005  Nhựt hơn VN 62 lần, Đại Hàn hơn 25 lần, Đài Loan hơn 25 lần (Ngân hàng thế giới). Gần đây khoảng cách không thu hẹp mà bị bỏ xa hơn nhứt là đối với một số nước như Đại Hàn, Malaysia, Singapore. Trong lịch sử phát triển kinh tế, các nứơc tân hưng, trong 10 năm đầu, cũng đã đạt tỷ lệ 8-10%.

Các con số trên cùng thực tế 40 năm qua nói lên kinh tế VN phát triển yếu kém, có nhiều mâu thuẩn và rất bấp bênh. Một nước như vậy không thể nào “cất cánh” được nói chi đến mơ ước trở thành “rồng con kinh tế”. Trên bình diện thế giới, cho tới bây giờ VN vẫn còn là một nước nghèo trong các nước đang phát triển. Về phương diện thời gian, 40 năm qua là khá lâu so với các nước mới phát triển trước kia chì cần độ 10 - 15 năm đã tạo được cái nền và cái đà khá tốt để tiến tới.

2- Về đầu tư khu vực nhà nước
 
Tại VN đầu tư công, tức là đầu tư do vốn nhà nước gồm đầu tư cho các lảnh vực xây dựng và phát triển không có tính cách kinh doanh, và đầu tư của các quốc doanh.

Đầu tư công gia tăng rất nhanh, nhứt là trong 10 năm nay. Đó là một nghịch lý vì khi chủ trương cho tư doanh lớn lên thì phải giảm bớt đầu tư công nhứt là quốc doanh

Từ 2001 đến 2012 đầu tư công tăng gấp 3.2 lần (mỗi năm trung bình tăng 13.9%). Đây là sự gia tăng rất lớn. Khu vực công áp đảo khu  vực tư doanh. Thứ hai là chánh phủ cần giử mức độ đầu tư công lớn để giữ mức độ phát triển.

Chánh phủ VN không tính đầu tư của quốc doanh nằm trong tổng số đầu tư công. Trong khi đó theo nguyên tắc của cơ quan Liên hiệp quốc thì phải tính chung vào.  Vì vậy năm 2013, Chánh quyền VN cho rằng tỷ lệ đầu tư công chỉ là 60% của GDP (mức tối đa mà VN có thể chấp nhận là 65%, theo Tổng cuộc thống kê), nhưng theo Ngân hàng thế giới là 106%, vượt xa mức độ nguy hiểm (GDP năm 2012 là 150 tỷ mỹ kim).

Trong đầu tư công trên, có một hiểm họa và nghịch lý là sự gia tăng đầu tư cho quốc doanh, đặc biệt là cho các Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty từ 2005 trở lại đây. Tăng từ 37.3% năm 1990 lên 60% năm 2012. Trong khi đó quốc doanh chỉ đóng góp có 30-35% số thu ngân sách , mặc dù chiếm giử 70% tài sản cố định xã hội, và chiếm 60% tổng số tín dụng. Chính khu vực quốc doanh có vai trò quan trọng làm cơ cấu kinh tế mất quân bình và không tạo sự kết hợp và hổ tương cần thiết của các khu vực trong phát triển kinh tế.

3- Về đầu tư ngoại quốc (FDI)

Đối với những nước có tronng nước quá yếu kém, thì đầu tư ngoại quốc hết sức cần thiết.

Trong 30 năm qua FDI có gia tăng, nhưng không ổn định. Một số khó khăn lớn còn đó. Các trở ngại cho FDI gồm có:

* Mục tiêu các dự án FDI chú trọng đến đoản kỳ hơn là lợi ích trường kỳ cho đất nước. Ngoài dầu khí phần chánh là gia công may mặc, điện tử, cho các công ty ngoại quốc. Kế là nhà đất, khách sản.

* FDI đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế, chiếm 70% trị giá hàng xuất cảng, mà trị giá xuất cảng chiếm 70% GDP (theo Tổng cục thống kê VN 2008). Nếu FDI sụt giảm mạnh thì kinh tế bị suy yếu ngay.

*Môi trường đầu tư không tốt: luật lệ rắc rối, nhiều thay đổi, thống kê và chỉ số kinh tế không minh bạch, lạm phát cao, kinh tế không ổn định. VN vẫn bị các cơ quan quốc tế đánh giá thấp, ở hạng khoảng 117 trên 170 nước. (Theo tổ chức quốc tế Heritage).

* Tham nhũng quá khủng khiếp của viên chức cán bộ toàn các cấp chánh quyền. Sau 30 năm từ khi đổi mới, bộ máy chánh quyền chỉ thay đổi vụn vặt về thủ tục hành chánh. Mức độ tham nhũng chẳng những không giảm mà còn tăng. Theo cơ quan chánh thức của CSVN và theo cơ quan quốc tế, các viên chức liên hệ dự án và viện trợ quốc tế tham nhũng khoảng 20-30% tổng tri giá viện trợ. Cho tới nay tổng viện trợ là 50 tỷ mỹ kim.

4. Về xuất nhập cảng. 

Xuất cảng và nhập cảng đều gia tăng từ sau đổi mới.

VN chủ trương đẩy mạnh xuất cảng bằng mọi giá. Các nước mới bắt đầu phát triển cũng theo con đường như vậy. Nhưng qua 10-15 năm khi nền kinh tế đã cất cánh, hầu hết các nước tân hưng đều có chánh sách chọn lọc trong xuất cảng cũng như nhập cảng. Kinh tế VN loạn hoạn yếu đuối mãi cho tới bây giờ. Cho nên hàng xuất cảng cũng là hàng gia công, khoáng sản, dầu thô, gạo, ca phê. Còn nhập cảng thì đủ thứ kể cả nông sản làm cho nông nghiệp lạc hậu bị suy yếu thêm. Một số hàng hóa phục vụ nông nnghiệp và kỹ nghệ đáng lẽ phải cố gắng giảm nhập và sản xuất trong nước, thì gần như không đạt kết quả nào, như phân bón, một số máy móc thô sơ cho nông nghiệp, một số nguyên liệu như tơ sợi, bột giấy… Sau 30-40 năm rồi những cái căn bản đó không thực hiện được thì đến bao giờ. Về nhập cảng với tình trạng kinh tế VN  đáng lý phải hết sức giới hạn nhập hàng tiêu thụ xa xỉ.

Có một điều rất đáng lo ngại là sự lệ thuộc kinh tế Trung quốc (TQ) quá nặng nề. Đặc biệt gia tăng quá nhanh trong vòng 10 năm nay. VN bị lệ thuộc trên mọi mặt. Nhập siêu từ 9 tỷ năm 2012 lên 29 tỷ năm 2014, nhập siêu TQ chiếm 90% tổng nhập siêu của VN.

5-Về viện trợ kinh tế

Viện trợ kinh tế phần lớn dưới dạng ODA. Số tiền viện trợ tăng nhanh trong 10 năm trở lại đây. Tồng cộng đến năm 2008 là 12 tỷ mỹ kim, đến 2012 là 50 tỷ.

Viện trợ kinh tế từ hai nguồn: từ một số quốc gia và từ các cơ quan quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Á châu, Quĩ tiền tệ quốc tế. Có một số nhược điểm lớn từ viện trợ quốc tế:
-Lạm dụng viện trợ cho nhiều dự án không ưu tiên như đường  xe lửa, cảng
-Hiệu quả xử dụng tiền vay nợ thấp
-Nhiều thế hệ phải trả nợ cho việc xài phung phí và chiếm đoạt bòn rút viện trợ.

II. NHỮNG VẤN NẠN KINH TẾ NGHIÊM TRỌNG TỒN TẠI

04 May 2015

Một tấm ảnh khiến người ta liên tưởng tới một tấm ảnh khác

"Reservoir Dogs" là cuốn phim sản xuất năm 1992 mô tả một băng đảng tội phạm tàn ác tụ tập tại hang ổ của chúng là một nhà kho sau khi chúng cướp vụng một cửa hàng bán kim cương, khiến hai đồng đảng mất tích, và không bao lâu nhận ra trong bọn chúng có một chỉ điểm viên cảnh sát. 

Ảnh các quan chức cộng sản trong ngày 30/04, 2015 (hình trên) khiến ta dễ liên tưởng tới một tấm ảnh quảng cáo cuốn phim nói trên (Hình dưới).



Những ảnh này là hình chụp lại trên net (Nguồn Blog Sầu Đông)

02 May 2015

Bốn mươi năm Võ Phiến – Nhà văn lưu đày

Ngô Thế Vinh
Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. [Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến 28-10-1998]

***

 Nhà văn Võ Phiến
(nguồn: Viễn Phố 2015)

Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...

Rồi qua người bạn tấm cám Nghiêu Đề, qua toà soạn Bách Khoa, tôi quen ông từ những năm trước 1960 cho tới khi ra hải ngoại về sau này.

Võ Phiến Bắt Trẻ Đồng Xanh

Võ Phiến viết Bắt Trẻ Đồng Xanh, đăng trên Bách Khoa tháng 10 năm 1968, tựa đề từ cuốn sách dịch của Phùng Khánh Phùng Thăng The Catcher in the Rye của nhà văn Mỹ J.D. Salinger, nhưng nội dung bài viết thì lại nói về kế hoạch cộng sản miền Bắc đưa trẻ em từ trong Nam ra Bắc huấn luyện rồi sau đó đưa trở về miền Nam. Cộng sản cũng đã làm như vậy sau khi ký hiệp định Geneve 1954. Võ Phiến viết: 

“…trong giai đoạn ác liệt sau cùng của chiến cuộc tại miền Nam này, nếu không vì lý do quan trọng, đảng và nhà nước cộng sản nhất định không bao giờ khổ công gom góp thiếu nhi ở đây đưa ra Bắc, trải qua bao nhiêu gian nan khó nhọc… họ đang ra sức thực hiện một kế hoạch bắt trẻ qui mô trên một phạm vi hết sức rộng lớn: đồng loạt người ta phát giác ra trẻ em bị bắt ở khắp nơi từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Pleiku, Kontum, đến Mỹ Tho, Cà Mau, người ta gặp những toán trẻ em chuyển ra Bắc Việt bằng phi cơ từ Cam Bốt, hoặc bị dẫn đi lũ lượt trên đường mòn Hồ Chí Minh…”

“Hỡi các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Riêng về phần mình, các em đã chịu côi cút ngay từ lúc này; còn đất nước thì sẽ vì những chuyến ra đi của các em mà lâm vào cảnh đau thương bất tận. Tai hoạ xẩy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở.” (Võ Phiến, Bắt Trẻ Đồng Xanh, Bách Khoa 10/1968)

Bắt Trẻ Đồng Xanh hoàn toàn không phải là tuỳ bút hay truyện ngắn mà là một bài chính luận, một bạch thư tố cáo dã tâm của người cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ thực sự muốn có hoà bình, nếu có hoà đàm thì đó chỉ là bước hoãn binh chiến lược, họ vẫn chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khác. Bài viết như một tiên tri, một báo động đã thực sự gây chấn động dư luận bên trong cũng như ngoài nước, với cái giá Võ Phiến phải trả là bị Việt Cộng lên án, và cả hăm doạ tính mạng tiếp sau cái chết của ký giả Từ Chung tổng thư ký báo Chính Luận, do bị đặc công CSVN ám sát. Theo Lê Tất Điều, đã có lúc Võ Phiến nghĩ tới tạm lánh xuống vùng Hoà Hảo, một khu được coi là miễn nhiễm với mọi xâm nhập của cộng sản. Đó cũng là lý do tại sao, Võ Phiến có thời gian làm giáo sư văn chương trường Đại học Hoà Hảo, Long Xuyên. Trong nghịch cảnh cũng có cái may, nơi đây anh quen một đồng nghiệp trẻ Đỗ Văn Gia, lúc đó cũng đang dạy bộ môn Triết học Đông phương. Sau này ra hải ngoại, chính anh Đỗ Văn Gia trong thời gian làm giảng viên văn học và ngôn ngữ Việt Nam tại Đại học Cornell từ 1982, đã giúp nhà văn Võ Phiến rất nhiều tư liệu ban đầu để có thể hoàn tất bộ Văn Học Miền Nam.

Bánh tráng xứ Nẫu trên đất Mỹ

30 April 2015

30/4/1975 – Ngày Giải phóng?

Thời trung học, tôi cũng quen dùng từ "giải phóng" một cách vô thức như bao người. Song từ lúc vào đại học, do ngán ngẩm lối giáo dục đầy dối trá, tôi bắt đầu tự tìm hiểu sự thật lịch sử để trang bị lại kiến thức cho mình và nhờ đó nhận ra sự lố bịch của hai chữ "giải phóng".
 Luật sư Lê Công Định
Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Nhiều người Việt sau 1975 còn giữ thói quen dùng từ “giải phóng” trong các cụm từ “giải phóng Sài Gòn”, “ngày giải phóng”, “trước giải phóng”, “sau giải phóng”, “quân giải phóng”, v.v…, đó cũng là cách gọi có chủ đích tuyên truyền của chế độ này sau khi Bắc Việt thôn tính toàn bộ miền Nam.

Từ trước đến nay, chính quyền cộng sản vẫn luôn lập luận rằng nước Việt Nam là một dải thống nhất từ Bắc chí Nam, tạm thời bị chia cắt tại vĩ tuyến 17 do kết quả hội nghị Geneva 1954, đồng bào miền Nam gánh chịu ách nô lệ và áp bức của “Đế quốc Mỹ xâm lược” và “ngụy quyền tay sai”; do vậy, quân dân miền Bắc có nhiệm vụ “giải phóng” miền Nam, thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, lập luận nêu trên tự mâu thuẫn và hiển nhiên bị bác bỏ bởi các sự kiện lịch sử hiện đại mà chúng ta đều đã biết. Dưới đây là một số nhận định xung quanh cái gọi là “giải phóng” nhân dịp chính quyền đang khơi gợi quá khứ, mà chính họ luôn hô hào gác lại, bằng các buổi lễ kỷ niệm và diễu binh chướng mắt trên các đường phố Sài Gòn.

Sau khi đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ, chính ông Hồ Chí Minh và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới áp lực của Trung Quốc, đã đồng ý ký kết Hiệp định Geneva 1954 chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền, trong lúc đại diện của chính phủ quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng hoàn toàn bác bỏ sự phân cắt đó. Nói cách khác, những người cộng sản đã góp tay vào việc chia đôi đất nước, nên việc tự trao cho mình nhiệm vụ thống nhất đất nước chỉ là hành động đạo đức giả, che đậy ý đồ chính trị và quân sự riêng.

Gắp lửa bỏ tay người

Thoạt đầu, sau năm 1954, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế và giúp huấn luyện các đơn vị vũ trang của chính quyền Sài Gòn với mục đích tái lập trật tự xã hội sau chiến tranh với Pháp. Đến khi chiến sự leo thang do Bắc Việt lén lút chuyển quân vào Nam, Hoa Kỳ mới chính thức can dự quân sự từ năm 1965. Tuy nhiên, sự tuyên truyền về “Đế quốc Mỹ xâm lược” đã được những người cộng sản tung ra ngay từ lúc Hiệp định Geneva còn chưa ráo mực, tức có sự hoạch định cố ý từ trước nhằm chuẩn bị nguyên cớ phát động chiến tranh. Một hành động “gắp lửa bỏ tay người” không hơn không kém của giới lãnh đạo Bắc Việt lúc ấy.

Cần lưu ý, gần mười năm trước khi Hoa Kỳ gửi quân sang chiến đấu chống cộng sản tại miền Nam, quân đội Trung Quốc đã hiện diện ở miền Bắc. Sau đó lần lượt Liên Sô và Bắc Triều Tiên cũng cử quân nhân sang trực chiến. Vậy nếu sự kiện Mỹ đưa quân tham chiến, dù được sự chấp thuận của chính quyền Sài Gòn, bị xem là “xâm lược”, thì hành động của Trung Quốc, Liên Sô và Bắc Triều Tiên nên gọi là gì? Phải chăng giới lãnh đạo Bắc Việt đã thiếu sáng suốt trong nhận định về "địch ta" hay vì lý do nào khác?

Hòa đàm Paris 1973 mở đường cho 'hòa bình' và Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng chỉ hai năm sau, miền Bắc đã 'giải phóng' miền Nam bằng biện pháp chiến tranh.

Trong giai đoạn từ 1955 đến 1974, Trung Quốc đã liên tiếp xác lập chủ quyền và chiếm đóng các hải đảo thuộc Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, nhưng vì lý do nào hành động của Trung Quốc lại không được bộ máy tuyên truyền Bắc Việt đương thời gọi là “xâm lược”? Cuộc chiến tranh “giải phóng dân tộc” vì sao chỉ tập trung vào miền Nam mà bỏ qua mục tiêu giải phóng các hải đảo, vốn cũng là một phần lãnh thổ thiêng liêng và quan trọng của tổ quốc? Chiến thắng đang được ca ngợi thiết nghĩ hãy còn dang dở, và liệu có thể hãnh diện với một chiến thắng như vậy?

Đặt ngược vấn đề

Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chính trị và hành chính hợp pháp trên phương diện công pháp quốc tế, tương tự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi hành động chính trị và quân sự của bất kỳ nhà nước nào đều phải đặt trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, nên việc tự trao nhiệm vụ “giải phóng miền Nam” không đương nhiên biện minh quyền sử dụng vũ lực xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền khác. Đặt ngược lại vấn đề, nếu cách hành xử của Bắc Việt là đúng, thì đương nhiên quân đội Sài Gòn cũng có quyền tương tự là mang quân xâm chiếm miền Bắc? Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không hành xử như vậy, không phải vì thiếu khả năng, mà do họ tôn trọng luật pháp quốc tế.

Ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đương thời đã có nhiều tiếng nói phản đối chiến tranh và đề xuất giải pháp hòa bình hợp tác giữa hai miền Nam Bắc. Lịch sử thế giới hiện đại cũng cho thấy sự thống nhất nước Đức bằng con đường thương lượng ôn hòa đã mang lại kết quả tốt đẹp cho dân tộc Đức. Tuy vậy, chủ trương hòa bình trong Đảng Cộng sản bị dập tắt, phe chủ chiến thắng thế và muốn tiến hành chiến tranh bằng mọi giá. Và cái giá phải trả để thống nhất đất nước bằng giải pháp chiến tranh là sinh mạng của hàng triệu người Việt ngã xuống vô nghĩa, nỗi đau ấy vẫn còn đến tận ngày nay.

Tuy chiến tranh diễn ra khốc liệt, song những đô thị miền Nam vẫn luôn duy trì sự phát triển phồn thịnh. Điều đó một mặt nói lên rằng chính quyền Sài Gòn đã duy trì bộ máy quản lý quốc gia rất tốt về phương diện dân sự, bất chấp hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác, liệu có thể tin rằng đoàn quân đói rách đến từ vùng đất nghèo nàn hơn về kinh tế lại mang sứ mệnh “giải phóng” xứ sở phồn thịnh hơn? Tình huống đó lẽ ra nên gọi là “cướp” hoặc “chiếm đoạt”, thì thích hợp hơn. Tất nhiên, chẳng ai tin, trừ phi bị lừa dối, và chính các chiến sĩ Bắc Việt đã ngây thơ nghĩ rằng đồng bào miền Nam đang rên xiết ngày đêm trong cảnh nghèo đói và nô lệ (!).
Sự lố bịch của giải phóng

Kẻ “được giải phóng” lẽ ra phải hàm ơn người "giải phóng", nhưng ngoại trừ những gia đình sống bám hoặc kiếm tiền nhờ vào chế độ cộng sản, khó tìm thấy thường dân nào ở miền Nam đang chật vật mấy bữa cơm hàng ngày cảm thấy mang ơn đoàn quân “giải phóng” mỗi khi có dịp nhắc lại biến cố bi thảm đó. Đấy là chưa nói, nhiều năm sau 1975 hàng triệu kẻ “được giải phóng” đã phải tự giải phóng mình một lần nữa bằng cách vượt biên, gây nên thảm cảnh thuyền nhân nhức nhối trong lòng dân tộc. Vậy sự ly tán của các gia đình Việt Nam tưởng đã chấm dứt khi chiến tranh kết thúc, nhưng lại vẫn tiếp diễn một cách đáng buồn vì "giải phóng".

Nhiều khẩu hiệu, áp phích chào mừng 'Đại thắng Mùa Xuân' 1975 và 'Giải phóng Miền Nam' lại được chính quyền trưng ra trong dịp này.

Giải phóng bao hàm sự bao dung đối với bên thua cuộc, nhưng thay cho chính sách hòa giải dân tộc là các trại cải tạo mọc lên như nấm sau cơn mưa để giam cầm không qua xét xử hợp pháp các quân nhân và công chức của chế độ Sài Gòn. Mang hận thù và chia rẽ đến giữa lòng dân tộc thì giải phóng ai và vì cái gì? 40 năm sau biến cố "giải phóng", xã hội ngày càng trở nên vô đạo đức nghiêm trọng, vậy phải chăng con người đã bị giải phóng khỏi đức hạnh và văn minh để quay trở về thời kỳ hoang dã?

Thời trung học, tôi cũng quen dùng từ "giải phóng" một cách vô thức như bao người. Song từ lúc vào đại học, do ngán ngẩm lối giáo dục đầy dối trá, tôi bắt đầu tự tìm hiểu sự thật lịch sử để trang bị lại kiến thức cho mình và nhờ đó nhận ra sự lố bịch của hai chữ "giải phóng".

Tất nhiên, lịch sử không có chữ nếu, nhưng giá mà không có cái gọi là "giải phóng" ấy từ năm 1954, rồi 1975, hẳn đất nước không trì trệ và lạc hậu như ngày nay, mà thay vào đó người Việt ở các giai tầng xã hội khác nhau đã cùng nắm tay đưa con thuyền tổ quốc đến bến bờ mới của nền thịnh trị và xã hội thịnh vượng từ lâu.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một luật sư, cựu tù nhân lương tâm, đang chịu quản chế ở Sài Gòn. Bài viết được gửi đến cho BBC sau khi BBC mời độc giả, nhà nghiên cứu, nhân chứng chia sẻ bài viết, thông tin, hình ảnh, cảm tưởng nhân tròn bốn mươi năm sự kiện 30/4.
Chia sẻ tin này Về mục Chia sẻ.

Ls Lê Công Định
(Nguồn BBC Tiếng Việt)

28 April 2015

30 tháng Tư của một Đồng Môn

Saigon 28/4/2015

Hôm nay là 28/4, giỗ tổ Hùng Vương. Năm nay ở Việt Nam công nhân viên được nghỉ 6 ngày kỷ niệm 30/4 và 1/5. Nhiều người đi chơi xa, còn anh em mình 'cố thủ' ỏ Sài gòn, đóng cửa gặm nhấm nỗi buồn ngày xưa. Tôi còn nhớ mãi ngày 25/3 lúc 7 giờ tối nghe BBC và VOA, nghe tin Quảng Tín bị mất liên lạc, mọi người hoang mang vô cùng.

Tôi và mấy anh em QGHC bám lên mấy chiếc xe GMC đi ra quốc lộ 1 hy vọng ra được căn cứ Chu Lai để gặp sư đoàn II ở đó. Xe chạy suốt đêm hôm đó, gần sáng thì bị pháo kích, người chết và bị thương nằm la liệt.  Đang phân vân không biết làm sao thì nghe tiếng loa, nhìn ra thì thấy mấy 'nón tai bèo' xuất hiện cùng với súng AK. Họ bắt buộc chúng tôi đi bộ trở lại tỉnh Quảng Ngãi.

Thức suốt đêm qua lại không có gì ăn, ai cũng mệt muốn xỉu. Về gần đến tỉnh thì một tên du kích kêu đích danh tôi, bắt trình diện. Họ đưa tôi vào một căn nhà xét đồ đạc của tôi trong khi đó bên ngoài có tiếng ồn ào la ó "Bắt được tên Quận Trưởng ác ôn rồi, bắn nó đi, giết nó đi. Tôi cảm thấy cuộc đời mình coi như xong. Sau đó họ lột giầy, bắt tôi đi chân không, trói tay tôi lại giong đi cùng một số người khác. Họ đưa chúng chúng tôi vào mật khu, trong đó thấy xe tăng T54 đậu dài dài. Bọn lính hỏi: "Đưa đi bắn hả?".

Chúng tôi phải đi suốt đêm. Sáng hôm sau thì lên đến đỉnh núi Sơn Cao. Rồi từ đó chúng tôi phải trải qua những ngày tủi nhục, đói khát, bị đánh đập dã man và đi lao động khổ sai.

Sáng ngày 30/4, chúng tôi đang chặt cây trên rừng thì loa phóng thanh kêu tất cả trở về trại. Về đến nơi chúng tôi được nghe radio. Lúc nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, bọn chúng tôi sững sờ rồi ôm nhau... khóc!

Sau đó là những ngày kinh hoàng, đói khổ, bệnh tật và thất vọng.Ở trong trại, tôi bị đánh hộc máu. Anh em phải kiếm cua dong, giã ra cho tôi uống để làm tan máu bầm. Tôi lại bị lao động nặng quá, chịu không nổi, chúng lại đánh tôi và bắt tôi đi làm ruộng đến độ cụp xương sống. Tôi chịu đựng đến giữa năm 1981 thì được thả mang theo thân tàn ma dại và bệnh ho lao về nhà*.

Ở nhà tôi không còn thứ gì có thể bán đi để chạy thuốc thang cả. Hàng ngày tôi phải đạp xe đạp từ nhà ở đường Phan Đăng Lưu đến bệnh viện Chợ Rẫy dậy tiếng Pháp cho một số bác sĩ, rồi lại tiếp tục đi dậy ở các Trung Tâm Ngôn Ngữ (Language Centers) để kiếm sống.

Cũng nhờ mấy anh học trò là bác sĩ, họ kiếm thuốccho tôi uống. Nhiều khi tôi phải xin nhau (placenta) của sản phụ, ăn để tăng sức chịu đựng. Cũng nhờ vậy mà tôi khỏi bệnh. Tuy nhiên sức khỏe của tôi sa sút trầm trọng khiến tôi bị stroke và tiểu đường, bây giờ tàn phế, ăn nhờ các con!

Tính tôi không thícg than vãn nên ít khi tôi kể khổ bởi vì:
"Gemir, pleurer, prier est egalement lache"
(Than vãn, kêu khóc, van xin tất cả đều là hèn)

Tôi cứ cắn răng chịu đựng vì qua 9 tháng ở (Trường Bộ binh) Thủ Đức và gần 7 năm học "Cao học" tôi đã trải qua tất cả cực khổ rồi, bây giờ có khổ thêm thì cũng vậy thôi!

Cuộc đời tôi còn trải qua nhiều gian khổ nữa, nhưng thôi! Có nói nữa cũng chẳng làm gì!**

**

Tôi xin dừng bút ở đây. Một lần nữa, xin đa tạ các bạn có lòng nghĩ đến tôi và gửi quà về giúp đỡ. Thân chúc các bạn và gia đình luôn vui mạnh và gặp nhiều may mắn. Rất mong có ngày mình gặp lại nhau.

BC
(Từ VN)
(*) Chính vì bị lao phổi nên không hội đủ điều kiện sức khỏe mà người bạn chúng ta không thể ra đi theo diện HO.
(**) Đã thế người bạn đường lại mất sớm.
     

27 April 2015

Đạo luật "Hành Trình Tìm Tự Do", Ý kiến từ cộng đồng và từ những người bạn Canada

Cuộc Đào Thoát Ly Kỳ Của Một Tù Nhân "Cải Tạo" Trốn Trại qua Kampuchia

Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù đuợc đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này.

Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long.Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.

Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẻm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc bố trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.

Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.

Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp.

Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẻm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luởi dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.

Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…

Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi uớt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu huớng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là  biết để đi cả ban đêm.

Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào.

Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.

Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.

Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra.

Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt.

Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài.

Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại.

Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đem trăng lên dễ thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.

Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay.

Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.

Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ.

Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chổ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc.

Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn rào tre.

Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có thêm hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn.

Bình chui ra truớc là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng. Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nuớc với đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt.

Đến lớp hàng rào kẻm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẻm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ.

Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc.

Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xìn hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.

Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa.

Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.

Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu hẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới.

Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm. Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần.

Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đuờng chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó.

Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuỗi theo để bắt chúng tôi.

Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chổ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lỡ có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi đuợc bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì.

Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chổ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng.

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...