11 August 2014

Putin Sẽ Hết Thời

Nguyễn Xuân Nghĩa


Chuyến bay MH17 bị bắn đã rơi trúng đầu Vladimir Putin.

Chuyến bay MH17 của Hàng không Malaysia bị bắn hạ tại Ukraine chiều ngày 17 Tháng Bảy là một thảm kịch vì khiến 298 thường dân tử nạn. Nhưng biến cố này cũng đánh dấu ngày tàn của một nhân vật tới nay vẫn được coi là có bản lãnh và mưu lược, Tổng thống Vlaimir Putin của Liên bang Nga....

Chúng ta hãy đi từ tin tức thời sự vào tận cốt lõi của vấn đề. Vấn đề ấy là hồ sơ Ukraine.

* * *

Cuối Tháng Bảy vừa qua, khi lãnh tụ phe ly khai tại Donetsk của Ukraine là Alexander Borodai qua thăm viếng Moscow, tin tức thời sự cho biết người tạm thời xử lý công vụ của "Cộng hòa Nhân dân Donetsk" là Vladimir Antyufeyev.

Nếu đào sâu hơn thời sự, chúng ta biết cái nước Cộng hoà giả hiệu này có một Phó Chủ tịch là Andrei Purgin, người Ukraine sống tại tỉnh Donetsk ở miền Đông. Còn Vladimir Antyufedev lại là người Siberia của Nga, từng là Bộ trưởng An ninh của khu vực ly khai Transdniestra của Cộng hoà Moldovia.

Vladimir Putin khuynh đảo các nước Đông Âu và Trung Âu qua việc hỗ trợ các nhóm ly khai rồi chỉ định tay chân gốc Nga vào vị trí trọng yếu tại các nước "Cộng hoà Ly khai". Antyufedev thuộc diện đó. Mà đây không là một trường hợp cá biệt.

10 August 2014

Desert Flowers




HOA SA MẠC
(Desert Flowers)

Oil on canvas
20 inches x 24 inches
(46cm x 61cn)
by
A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh


RFA: Những ảnh hưởng từ việc cấm vận Nga?

***
Bài đọc thêm:
 
Nga cáu tiết do bị phương Tây cô lập
Lê Vy

Các nhật báo ra ngày hôm nay tập trung phân tích thái độ trả đũa của Tổng thống Nga trước sự cô lập và các biện pháp trừng phạt của phương Tây. Hành động đáp trả của chủ nhân điện Kremlin được nhật báo Libération gọi là « ăn miếng trả miếng ». Tổng thống Putin ra lệnh cấm và hạn chế nhập những nông phẩm từ các quốc gia tham gia trừng phạt Nga trong vòng một năm.

Libération cho rằng, do lo ngại làm kinh tế Nga suy yếu trong khi nền kinh tế này vốn đã có dấu hiệu hụt hơi, điện Kremlin muốn tỏ ra là một nhân tố muốn giải quyết khủng hoảng Ukraina trong hòa bình nên hôm qua, Tổng thống Putin đã lên án « Châu Âu không có khả năng giữ vị trí độc lập trong các vụ việc quốc tế.

Tờ báo cũng nhận định, Nga có thể đi xa hơn và có khả năng, Tổng thống Putin sẽ cấm các hãng hàng không phương Tây bay qua vùng Siberi, một hiệp định đã được ký kết từ những năm 1970, thời chiến tranh lạnh. Biện pháp này sẽ làm tăng thời gian bay và chi phí các chuyến bay có liên quan.

Công luận Nga dường như ủng hộ chủ nhân điện Kremlin can thiệp vào Ukraina. Theo một kết quả thăm dò mới nhất, đại đa số dân Nga ủng hộ ý tưởng hỗ trợ nhân đạo, ngoại giao và thậm chí kinh tế cho Ukraina. Trái lại, 60% dân Nga lại phản đối việc Nga can thiệp quân sự trực tiếp vào Ukraina.Trong tình huống này, Nga làm sao phải tìm ra một giải pháp đồng thuận để giữ thể diện.

Bên cạnh đó, nhật báo Le Monde có bài viết : « Vladimir Putin ngày càng cáu tiết trước trừng phạt của phương Tây ». Theo bài viết, sự cô lập của phương Tây bắt đầu tác động lên nền kinh tế Nga. Đồng rúp của Nga truợt giá so với đồng đô la. Giới đầu tư hoài nghi nên cũng lần lượt rút vốn khỏi nước này.

Nhật báo kinh tế Les Echos đăng bài : « Nguy cơ leo thang kinh tế giữa Nga và phương Tây ». Theo tờ báo, Mátxcơva đã tuyên bố tăng giá khí đốt bán cho Châu Âu. Đồng thời, các biện pháp trả đũa có thể lan sang cả lĩnh vực nhập khẩu đồ điện tử, quần áo của các nhãn hiệu phương Tây, cấm visa nhập cảnh một số doanh nhân phương Tây…

Bài báo nhận định, vẫn còn sớm để đánh giá được tác động của các biện pháp trã đũa của Nga nhưng trước sự trừng phạt của phương Tây, Nga đang rơi vào thế bị cô lập. Hôm qua, chủ tịch phòng thương mại Pháp-Nga khẳng định, các công ty Pháp tại Nga sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

09 August 2014

Hành tung bí ẩn của một nhà sư

Đôi giòng:
Hoà thượng Thích Minh Châu là một nhà tu hành Phật Giáo nổi tiếng ở Việt Nam, trước và sau 1975. Xin giới thiệu đến quý thân hữu và quý bạn hai bài viết của hai người cũng nổi tiếng không kém – nhà báo Lữ Giang, và nguyên Tổng Ủy viên Văn hoá  Xã hội kiêm  Ủy viên Giáo dục Trần Ngọc Ninh, thời VNCH – mỗi người trong mỗi tâm cảnh khác nhau về nhà tu Thích Minh Châu, ngay sau khi ông qua đời vào ngày 1.9.2012 vừa qua ( ghi nhận thêm: ngày mất của Hồ Chí Minh là 2.9.1969).

Về những bài Hành Tung Bí Ẩn của Một Nhà Sư ( 2, 3) trân trọng đề nghị bạn đọc vào đọc nơi trang http://www.motgoctroi.com ; ngoài ra để dư luận được rộng rãi, quý bạn cũng có thể đọc bài phản biện của một nhóm những người quyết liệt chống lại những bài viết của Lữ Giang nơi trang http://www.quangduc.com
(Blog Sầu Đông)

Hành Tung Bí Ẩn Của Một Nhà Sư

Lữ Giang

Hòa Thượng Thích Minh Châu, một nhà tu có hành tung bí ẩn và gây nhiều tranh luận, đã qua đời hôm 1.9.2012 tại Sài Gòn, hưởng thọ 94 tuổi.

Mặc dầu ông là người nổi tiếng, năm 1964 đã được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất can thiệp bằng mọi giá để buộc Tướng Nguyễn Khánh phải cho ông từ Ấn Độ về Sài Gòn làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và ông đã từng giữ chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục trong Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang cho đến sau năm 1975, các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại chỉ loan tin việc ông qua đời dựa theo các bản tin của báo nhà nước ở trong nước, còn các tổ chức thuộc Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang ở hải ngoại gần như im lặng. Trong khi đó, hầu hết các cơ quan truyền thông nhà nước, kể cả TTXVN, đã loan tin rộng rãi và viết khá nhiều về ông.

Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay ở Sài Gòn đã sưu tầm và viết về tiểu sử của ông khá đầy đủ,

nhưng không nói đến những bí ẩn đã gây nhiều tranh luận về chính bản thân cũng như những tổ chức đã xử dụng ông.

Dựatrên tài liệu của tình báo Pháp và VNCH mà chúng tôi đã đọc được trước năm 1975, khi xuất bản cuốn “Những bí ẩn đàng sau những cuộc thánh chiến tại Việt Nam” vào năm 1994,  chúng tôi đã tiết lộ nhiều chi tiết bí ẩn về cuộc đời và những hoạt động của ông khiến nhiều người ngạc nhiên.

Người ta thường nói “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng Thích Minh Châu vừa là một nhân vật tôn giáo vừa là một nhân vật chính trị, những gì ông đã làm hay để lại, đã và đang gây khá nhiều hậu quả tang thương cho Phật Giáo và cho đất nước, nên chúng tôi thấy cần phải đưa ra ánh sáng những sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm và tránh đi vào vết xe cũ.

VÀI NÉT VỀ QUÊ QUÁN

Ở Việt Nam, ít ai biết đến hành tung của Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam… vì ông giấu rất kỹ. Một người làng ông và rất thân với gia đình ông khi còn nhỏ, đã nhận ra ông khi ông về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đã tìm đến thăm ông và hỏi han về gia đình của ông ở miền Bắc, nhưng ông chối dài và nói anh ta đã nhận lầm.
Đến khi anh ta nhắc tới tên đứa con trai của ông và cho biết chính anh là người đã dạy đứa con đó, ông mới chịu xuống giọng.

Hòa Thượng Thích Minh Châu có tên thật là Đinh Văn Nam, sinh ngày 20.10.1918.

Tài liệu VNCH ghi ông sinh ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nhưng các cơ quan truyền thông trong nước nói ông sinh ở Quảng Nam. Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay nói rõ hơn ông sinh tại làng Kim Thành ở Quảng Nam, nguyên quán ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Chúng tôi biết ở Quảng Nam có làng Kim Thành thuộc huyện Điện Bàn. Như vậy có thể cụ Đinh Văn Chấp đã sinh ra Đinh Văn Nam khi đến làm quan ở Điện Bàn.

Gia đình Hòa Thượng Minh Châu thuộc dòng dõi khoa bảng. Thân phụ ông là cụ Đinh Văn Chấp, Tiến sĩ Hán học của nhà Nguyễn, thân mẫu là bà Lê Thị Đạt.

Ông là con thứ 3 của gia đình có 8 con, theo thứ tự như sau: Đinh Văn Kinh là con trưởng, đến Đinh Văn Quang, Đinh Văn Nam (tức Hòa Thượng Minh Châu), Đinh Văn Linh, Đinh Văn Phong, Đinh Thị Kim Hoài, Đinh Thị Kim Thai và Đinh Thị Khang.

Báo Đạo Phật Ngày Nay cho biết gia đình ông có đến 11 anh em và ông là con thứ 4. Như chúng ta đã biết, những người giàu có thời đó thường có nhiều vợ. Cụ Đinh Văn Chấp cũng có nhiều vợ thứ. Trước khi cưới vợ chánh là bà Lê Thị Đạt (mẹ Thích Minh Châu), ông đã cưới một người vợ thứ rồi, vì thế anh chị em nhà này rất đông. Nếu tính cả con vợ thứ, con số 11 có lẽ cũng đúng.

ĐẠI ĐĂNG KHOA VÀ TIỂU ĐĂNG KHOA

Anh chị em gia đình Thích Minh Châu rất thông minh, được học cả Hán học lẫn Tây học. Năm 1940, khi 22 tuổi, Đinh Văn Nam đậu bằng Tú tài Toàn phần tại trường Khải Định, Huế (nay là trường Quốc Học).

Người Việt ngày xưa theo tục lệ của Tàu, Đại đăng khoa rồi Tiểu đăng khoa. Đại đăng khoa là tiệc mừng tân khoa thi đỗ về làng, còn Tiểu đăng khoa là tiệc cưới mừng tân khoa thành lập gia thất. Cũng trong năm 1940, Đinh Văm Nam đã lập gia đình với cô Lê Thị Bé, con một gia đình khoa bảng khác ở cùng làng là cụ Lê Văn Miến. Cụ Miến là một người vừa đậu Tây học vừa thông Hán học nên làm giáo sư Hán văn và Pháp văn, sau vào dạy Quốc Tử Giám (đại học của triều đình) ở Huế.

Đinh Văn Nam ở với vợ là Lê Thị Bé được 3 năm, sinh được hai người con, một trai và một gái. Người con trai đầu lòng tên là Đinh Văn Sương. Người con gái tên là Đinh thị Phương (chúng tôi không nhớ tên lót chính xác).

Năm 1943, Đinh Văn Nam trở lại Huế và xin làm thừa phái (thư ký) cho tòa Khâm Sứ của Pháp ở Huế. Từ đó ông rất ít khi về Nghệ An thăm vợ con. Vợ ông phải làm việc rất vất vả để nuôi con.

KHI THỜI THẾ ĐỔI THAY

Theo hồ sơ của mật thám Pháp để lại, Hoà Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc Trường An Nam Phật Học ở Huế gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1941, còn Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường năm 1943. Như vậy Đinh Văn Nam đã vào Đảng Cộng Sản sau khi bỏ Nghệ An trở lại Huế.

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945, cụ Đinh Văn Chấp, thân phụ của Đinh Văn Nam, đã tản cư từ Huế về Nghệ An và được Việt Minh mời làm Chủ Tịch Ban Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-Lê. Sau khi cụ Đặng Hướng, Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt tỉnh Nghệ An lên làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt Liên Khu IV, cụ Đinh Văn Chấp thay cụ Đặng Hướng làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt Nghệ An. Còn cụ Lê Văn Miến, nhạc phụ của Đinh Văn Nam là người liêm khiết nên rất nghèo. Khi cụ trở về quê ở Kim Khê thì không có nơi cư ngụ. Các học trò của cụ phải góp mỗi người 5 đồng làm cho cụ một căn nhà lá nhỏ ở tạm. Vốn là thầy giáo, không quen các nghề bằng tay chân và nhất là với sĩ diện của một nhà Nho, cụ không có kế gì để sinh nhai. Nghe nói về sau cụ bị chết đói.

Hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc là nơi Đảng Cộng Sản Đông Dương lập các cơ sở đầu tiên của họ. Gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc (bố Nguyễn Sinh Cung, tức Hồ Chí Minh) ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, nên Hồ Chí Minh quen biết rất nhiều trong vùng này. Ông cho người đi móc nối các sĩ phu, thuyết phục họ tham gia Cách Mạng. Trong hai huyện Nghi Lộc và Nam Đàn, không ai lạ gì gia đình của Hồ Chí Minh. Anh của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm, một người mắc bệnh tâm thần, không có nghề nghiệp, thường lui tới các gia đình của những người quen biết ở hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc để xin ăn. Chị của Hồ Chí Minh là Nguyễn Thị Thanh, trước có làm liên lạc cho cụ Phan Bội Châu, sau bị mật thám Pháp theo dõi, phải trở về làng sống trong một túp lều tranh nhỏ bé và xiêu vẹo, rất cơ cực. Sĩ phu trong hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương khá nhiều. Đinh Văn Nam cũng ở trong trường hợp đó.

Trần Điền, người cùng làng với Thích Minh Châu, một cán bộ cao cấp của Việt Cộng, đã xin cuới cô Đinh Thị Kim Hoài, em của Thích Minh Châu, nhưng bị từ chối. Tuy không được làm rể nhà họ Đinh, Trần Điền vẫn giữ liên lạc tốt đẹp với gia đình Thích Minh Châu. Trần Điền đã làm Đại Sứ của Hà Nội tại Nam Vang trong thời kỳ Sihanouk chấp chánh. Đây là một đường dây liên lạc tốt của Thích Minh Châu.

Sau này cô Đinh Thị Kim Hoài làm vợ bé của Thiếu Tướng Nguyễn Sơn khi tướng này về làm Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến Liên Khu IV, một Liên Khu vững vàng nhất của Việt Cộng thời đó.

Nguyễn Sơn là một tướng tài, đẹp trai và lịch thiệp, nên đi đến đâu đều được các cô các bà bám chặt. Ông ở nơi nào ít lâu là có vợ ở nơi đó. Cuộc đời của ông có khoảng 15 bà vợ. Khi ông vào Nghệ An, cô Đinh Thị Kim Hoài rất thích ông. Ít lâu sau, hai người lấy nhau, mặc dầu lúc đó ông đã có khoảng 13 hay 14 bà vợ rồi.

Đinh Văn Linh, em của Thích Minh Châu, là một Đại Tá trong bộ đội Việt Cộng, từng làm Đại Sứ của Hà Nội ở Bắc Kinh và sau về làm Chủ nhiệm nhật báo Quân Đội Nhân Dân của Việt Cộng. Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Đinh Văn Linh là người đầu tiên được Việt Cộng đưa vào Saigon để tiếp thu.

Một người ở làng Kim Khê cho biết Thích Minh Châu đã gia nhập Mặt Trận Việt Minh vào đầu thập niên 40, khi Mặt Trận này mới thành lập. Nhóm của ông thường họp tại chùa Cẩm Linh, Diệc Cổ Tự hay trụ sở của Hội Nghiên Cứu Phật Học Trung Kỳ ở trong nội thành của thành phố Vinh.

Một tăng sĩ Phật Giáo đã công khai phản đối việc dùng chùa chiền để làm nơi hội họp bí mật của nhóm nói trên là Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu. Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu tên thật là Trương Thế Giám, trụ trì ở chùa Phước Hòa, Sầm Sơn, Thanh Hóa, là người thông thạo cả Hán học lẫn Tây học. Ông biết chuyện một số người đã dùng chùa và trụ sở của Phật Giáo hội họp làm chính trị nên lên tiếng phản đối. Năm 1954, khi Hiệp Định Genève ký kết, ông đã liên lạc với các làng công giáo chung quanh để tìm cách di cư vào Nam nhưng đi không lọt. Trong cuộc đấu tố năm 1957, ông bị chôn sống.

Chúng tôi ghi lại những chi tiết này để giúp độc giả hiểu được tại sao Đinh Văn Nam đã gia nhập Đảng Cộng Sản và trở thành một cán bộ trung kiên của đảng này.

Trong số tới, chúng tôi sẽ nói về những gay cấn trong việc đưa Thượng Tọa Thích Minh Châu về làm Viện Trưởng Viện Đại Học và chuyện gặp gỡ vợ con của Thích Minh Châu sau 30.4.1975

Lữ Giang
(Nguon: Blog Sau Dong)

08 August 2014

DÂN VIỆT CÓ HÈN KHÔNG?

TTR: Đọc qua bài viết dưới đây thoạt đầu thấy như cách lý luận không được chặt chẽ và nhận xét phiến diện. Nhưng khi đọc kỹ, bỗng nhận ra dưới lối viết đơn sơ lại ẩn tàng nhiều sự thật ngỡ ngàng. Bàng bạc đâu đó trong hoàn cảnh có hình ảnh chẳng có gì là can trường của chính mình. 

Thật không thú vị gì khi viết những giòng này. Nhưng tôi quyết định viết, dù có thể làm buồn lòng nhiều người, cả những người đã và đang hy sinh cho sự tồn vong của nước Việt.
Trước hết xin lan man về quá khứ.

Hồi nhỏ mỗi lần đến giờ Việt sử tôi thích lắm vì môn sử lý thú, tương đối dễ, chỉ cần thuộc bài mà chẳng phải suy nghĩ nhiều như các môn khoa học tự nhiên. Trong giờ sử, tôi say sưa nghe thầy cô kể về các tấm gương bất khuất, các chiến công oai hùng của tiền nhân. Thật là hãnh diện dân tộc mình là con Rồng cháu Tiên, là bộ tộc duy nhất trong Bách Việt còn tồn tại trước họa đồng hóa của người Hán. Dân Việt yêu nước, anh hùng, can đảm, bất khuất. cần cù, hy sinh... Tưởng như trên thế giới này không có giống dân nào sánh kịp dân ta.

Tuổi nhỏ háo thắng, học sử cũng như đi xem xi nê, chỉ thích thú, nhớ dai khi xem những pha hay, tấm gương anh hùng nghĩa hiệp; còn những chuyện buồn, kẻ xấu thì chỉ mong lướt qua. Có lẽ vì thế mà sử Việt rất ít nhắc đến các kẻ hèn hạ phản chủ và phản quốc. Ở bậc tiểu và trung học, sử ta chỉ tóm lược chung chung tình trạng dân ta bị nô lệ, dù những giai đoạn đó đầy đau khổ, dằng dặc, chiếm hầu hết chiều dài lịch sử.

Dẫu biết rằng chuyện quá khứ thì cũng tam sao thất bản, tôi hầu như chẳng bao giờ nêu câu hỏi về những gì đã được dạy. Tôi nghĩ tin ngang như vậy cũng có cái hay, vì nhờ tin vào những trang sử đó mà dân ta có được niềm tự hào dân tộc, một yếu tố rất cần thiết để giúp cho dân tộc tồn tại.

Tuy vậy, gần đây với nhiều nguồn tài liệu, hình ảnh phong phú của thời đại thông tin, tôi đọc lại lịch sử và lắm khi cảm thấy rất buồn. Buồn vì thấy dân ta tệ quá!

Đọc vài đoạn lịch sử, xem vài tấm hình về thời nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, tôi ấm ức lắm! Không biết vì sao một dân tộc được cho là thông minh, kiêu hùng, lại thừa hưởng khí tiết, mưu trí của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ mà bị bọn Pháp đè đầu cỡi cổ dễ dàng quá.

Người Pháp đến nước ta từ phía bên kia quả địa cầu, chỉ với mấy chiếc thuyền và vài trăm binh lính trang bị vũ khí thô sơ, thế mà họ chiếm hết thành này đến thành khác. Xin trích một đoạn từ Wiki tiếng Việt:
    "Thành Hà Nội thất thủ, quân triều đình đều bỏ trốn, giặc cướp nhân dịp nổi lên. Đại úy Francis Garnier cho những tùy tùng của mình đi làm quan các nơi để chống với quan triều đình Huế, rồi lại sai quân đi đánh lấy các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hải Dương. Quan triều đình ở các tỉnh đều ngơ ngác không biết thế nào, hễ thấy quân Pháp đến là bỏ chạy. Bởi vậy, chỉ có một sỹ quan là Hautefeuille và 7 người lính Pháp mà cũng hạ được thành Ninh Bình, và chỉ trong 20 ngày mà 4 tỉnh ở Trung-châu mất cả."
Đọc những đoạn tương tự như vậy tôi thầm nghĩ giá dân ta không hèn, chỉ cần một đội lính, dân một làng, dẫu tay không mà biết đoàn kết, can đảm xông lại bóp cổ thì bảy thằng Pháp đó làm sao chống nỗi! Cũng tương tự, tôi nghĩ nếu dân Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Gia Định....đồng lòng thì làm sao chỉ vài trăm lính trên các chiếc tàu từ phương xa mà người Pháp có thể đổ bộ lên đất của chúng ta được.

Rồi xem hình ảnh các nhà cách mạng cổ bị đóng gông, chân bị cùm, cảnh một thằng Tây ngồi chễm chệ, tay cầm gậy gõ lên đầu người phu gầy còm còng lưng kéo; tôi phẫn uất tự nhủ dân ta đâu, những thanh niên trai tráng đâu, sao không xông lại đập cho chết ba cái thằng ăn cướp lẻ tẻ đó đi. Xông lại đập cho chết chúng đi rồi tới đâu thì tới.

Uất thì nghĩ như thế! Khi bình tâm tôi hiểu rằng người Pháp không thể cai trị dân ta nếu không có những kẻ hèn hạ tự nguyện làm tay sai cho Pháp để đàn áp chính người dân của mình. Sự đàn áp, thậm chí rất ác độc, chủ yếu do các kẻ làm chó săn cho giặc. Ông chủ ngoại bang chỉ ban ơn vỗ béo cho bọn đầu sỏ rồi sai khiến. Rõ ràng, giặc Pháp không thể tự tay dập tắt các phong trào kháng chiến nếu không có bọn tay sai như Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải...

Đó là chuyện của các thế kỷ trước, tuy đau lòng nhưng tôi cũng đành đổ thừa đó là lỗi dân ta chưa văn minh, thiếu thông tin đúng đắn, không biết tổ chức nên hễ nghe đến tiếng súng giặc Tây là khiếp vía rồi, chứ thật ra dân ta vẫn đâu đến nỗi tệ.

Nhưng ở thế kỷ 21 này khi nhìn về đất nước, tôi lại băn khoăn, bởi dân ta hôm nay, một cách rất vô lý, lại cũng bị cai trị bởi một thiểu số, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam .Thử tưởng tượng một trăm năm sau, con cháu chúng ta đọc lịch sử đầu thế kỷ thứ 21 này và có lẽ chúng sẽ có cùng câu hỏi như tôi hôm nay. 

Dân ta đâu mà để cho một thiểu số người Trung Quốc ngang ngược hoành hành trên quê hương mình?

Dân ta đâu mà để cho một thiểu số người cầm quyền tự tung tự tác, vu khống bôi nhọ, đày đọa người dân yêu nước vô tội một cách ngang nhiên?  

Dân ta đâu mà để cho bọn cán bộ đảng viện cộng sản công khai tham nhũng, cướp nhà cướp đất, làm giàu trên xương máu của dân nghèo?

Qua những cuộc biểu tình chống giặc Tàu xâm lược của người dân Hà Nội trong những tháng vừa qua, bọn cộng sản đã đàn áp thô bạo, đánh đập, bắt nhốt và vu khống những người yêu nước là phản động. Điều đó cũng y hệt thực dân Pháp và tay sai đã gọi những nhà cach mạng chống Pháp là "bọn phản loạn." Bọn tay sai ngoại bang người Việt lúc nào cũng hung bạo với nhân dân. Ngày xưa là bọn lính lệ, ngày nay là bọn công an; ngày xưa là chính quyền Bảo hộ với Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, ngày nay là chính quyền của Đảng Cộng sản với Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng , Nguyễn Đức Nhanh, Nguyễn Chí Vịnh... Ngày xưa ông chủ ngoại bang là thực dân Pháp, ngày nay là giặc Tàu. 

Lich sử cứ tái diến và dân ta vẫn cam lòng chịu cảnh nô lệ, tủi nhục. 

Gần đây khi cuộc cách mạng Hoa Lài xảy ra ở Trung Đông và Bắc Phi, chỉ một thời gian ngắn, nhân dân các nước ấy đã ùn ùn đứng dậy quét sạch các chế độ độc tài đã bám rễ hàng nửa thế kỷ. Nhìn quang cảnh hàng trăm ngàn người xuống đường ở nước họ rồi so sánh mấy trăm người biểu tình ở Hà Nội, tôi thật sự xót xa! Vì sao như vậy? Do sự ru ngủ, khủng bố của bọn cộng sản hay do chính sự thờ ơ, cầu an của dân mình?

Hình như người Việt chúng ta có thói quen trông cậy vào người khác; trong trường hợp này là một thế cờ quốc tế. Có người cho rằng sự thay đổi ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra nếu có sự thay đổi ở Trung Quốc. Điều đó cũng tương tự như cuộc Cách mạng Mùa Thu năm 1945 chỉ xảy ra nhờ vào biến cố Nhật đầu hàng Đồng Minh trong Thế chiến Thứ Hai. Nếu không có Thế chiến Thứ Hai (và người Cộng sản có thể thêm là nếu không có Quốc tế Cộng sản), có lẽ không bao giờ chúng ta giành được độc lập?

Khi nói như vậy, vô hình chung chấp nhận rằng chúng ta không bao giờ đứng nổi trên đôi chân của chính mình? 

Vì sao một tập thể đông đảo đến gần 90 triệu người, có thông tin đầy đủ, mà vẫn cam phận, dửng dưng cho bạo quyền mặc sức tung hoành? Lý giải như thế nào về tinh thần can đảm, bất khuất của dân Việt? 

Khi nêu lên các câu hỏi trên, tôi thực lòng không muốn xúc phạm lòng tự ái dân tộc. Tôi chỉ muốn nói rằng, bên cạnh những người dấn thân hy sinh, đại đa số người Việt chúng ta còn quá thờ ơ với vận mệnh đất nước. Tôi tuyệt đối tin rằng hôm nay không còn ai thích cộng sản, ai cũng ngán ngẫm bọn cầm quyền tay sai giặc Tàu hiện tại, nhưng nhiều người vẫn cho rằng đạp đổ nó đi là chuyện của người khác. Đó là tâm lý nằm chờ sung rụng.

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân! Có câu trả lời nào khác để lý giải cho tình hình đất nước bấy lâu nay?

Caubay
@facebook/cbt
(Co hoc Viet nam)

07 August 2014

Kinh tế Trung Quốc vào khúc quanh và có thể lật

Hùng Tâm

Muốn hiểu rõ rủi ro của Trung Quốc trong giai đoạn tới, chúng ta cần biết 1) vài định lý kinh tế của mọi quốc gia hay thời đại, rồi 2) đối chiếu với thực tế chính trị của xứ này và rà soát lại 3) xem lãnh đạo Bắc Kinh có thể làm những gì để giải quyết các bài toán kinh tế xã hội tích lũy từ mấy chục năm nay. Kết luận hợp lý của tiến trình này là Bắc Kinh không có nhiều giải pháp, và có làm gì thì cũng đi vào một khúc quanh dễ lật. Trong giới hạn của một bài viết, “Hồ Sơ Người Việt” sẽ cố trình bày một cách đơn giản một thực tế vô cùng phức tạp - đề tài của một cuốn sách!

Bài toán phát triển

Bài toán kinh tế của nhân loại, ở mọi nơi vào mọi thời, là sự khan hiếm. Chúng ta có nhu cầu vượt quá khả năng sản xuất cho nên lúc nào cũng thấy thiếu thốn.

Từ thuở khai thiên lập địa, giải quyết sự thiếu thốn ấy là một tiến trình tự nhiên và được chúng ta mặc nhiên thực hiện hàng ngày hàng giờ mà không biết. Chỉ mới vài trăm năm trở lại, người ta mới tổng hợp những kiến thức về việc giải quyết sự khan hiếm và tìm ra một số nguyên tắc giải thích. Kiến thức đó được gọi là “kinh tế học,” hay đúng hơn, do một phát minh của nhà tư tưởng Adam Smith, “kinh tế chính trị học.”

Thí dụ cụ thể cho tiến trình trừu tượng này là tôi chỉ có 100 đồng, nhưng nếu lập gia đình rồi sinh con đẻ cái thì cần tiêu thụ nhiều hơn khoản lợi tức đó. Hoặc với lợi tức có hạn, tôi không muốn chỉ ăn cơm ăn cháo mà cần thêm thịt cá cho bữa cơm, và thay vì một tháng chỉ có 15 ký gạo tôi ước mơ có thêm ký thịt nên thấy rằng mình bị thiếu thốn.

Cách giải quyết sự thiếu thốn ấy là... không xài hết trăm bạc mà cố dành dụm ba chục của khoản lợi tức đó đem đầu tư để tháng sau hay năm tới thì có thêm lợi tức khả dĩ thỏa mãn nhu cầu. Tôi gọi khoản lợi tức ba chục bạc được tiết kiệm ấy là tư bản. Nếu sử dụng tư bản để giải quyết bài toán khan hiếm ấy mà thành công thì tôi có thể nghĩ đến chữ phát đạt.

Hoàn cảnh của một quốc gia cũng không khác. Tạo ra sự phát đạt ấy là tiến trình phát triển.

Giới nghiên cứu kinh tế có nghiệm thấy rằng nhiều quốc gia đã thành công trong phát triển để thành nước giàu mạnh, “đã phát triển” - developed. Nhưng đa số còn lại thì chưa, vẫn thuộc loại “đang phát triển,” developing. Bí quyết thành công không chỉ là có thể tiết kiệm được 30 đồng, hay 50 đồng, trong số lợi tức trăm bạc để làm tư bản đem đi đầu tư. Bí quyết thành công không chỉ là gia tăng lợi tức, nghĩa là tăng trưởng, mà là sử dụng lợi tức đó để phát triển.

Bí quyết thành công không là số lượng, 30 hay 50% của lợi tức nguyên thủy, mà là cách sử dụng. Ðây là bài toán thuộc về phẩm chất hơn là số lượng. Chữ “chất lượng” nhiều người trong nước đang dùng và ngoài này lười biếng dùng theo phản ảnh sự thiếu hiểu biết về kinh tế hay ngôn ngữ học vì không phân biệt phẩm với lượng!

Một giáo sư kinh tế của Ðại Học MIT, giải Nobel năm 1987, là Robert Solow đã nghiên cứu kinh tế Hoa Kỳ và tìm ra một đặc tính: là trong đà tăng trưởng lợi tức của dân Mỹ thì “sự sáng tạo” đóng góp tới hơn 80%. Phần còn lại, dưới 20%, là do số tư bản đem vào đầu tư.

Xin thêm vài chữ giải thích. Tư bản đưa vào tiến trình đầu tư có thể là hữu hình, như đất đai, máy móc, nguyên liệu hay sức lao động. Nhưng hoàn cảnh sử dụng nguồn tài nguyên đó mới quan trọng. Khái niệm innovation của Solow thuộc về phẩm hơn lượng và dẫn ta đến khái niệm khác, là “tư bản xã hội,” hoặc tư bản vô hình: hệ thống luật lệ, quyền sở hữu, chế độ thuế khóa, quy ước sinh hoạt, tinh thần tín nhiệm trong kinh doanh, nền tảng chính trị, v.v....

Các yếu tố vô hình ấy mới giúp quốc gia sử dụng tư bản hữu hình một cách tốt đẹp, có hiệu năng, hiệu suất, v.v...

Nôm na là nhờ môi trường sáng tạo, dân Mỹ sử dụng 10 đồng tư bản cho đầu tư mà có hiệu năng cao hơn nhiều người huy động đến 30 đồng. Trung Quốc huy động đến 50 đồng mà thiếu môi trường sáng tạo, có loại tư bản xã hội lạc hậu nên sau hơn 30 năm tăng trưởng vẫn là một xứ “đang phát triển.”

Nghiêm trọng hơn thế, còn trôi vào khúc quanh và có thể bị khủng hoảng.

Từ Tần Thủy Hoàng Ðế, Stalin đến Tập Cận Bình

Cưới Vợ Trẻ, truyện ngắn

    Vợ ông Thuận sau cơn bạo bệnh đã mất cách nay hơn 10 năm. Các con trai và gái của ông bà đều lớn cả và có gia đình nên ông ở chỉ có một mình. Từ ngày vợ mất, ông đã ngoài 65 nhưng vẫn còn tráng kiện và khoẻ mạnh.
    
    Cái tin ông về VN mấy lần, khá tốn kém để cưới vợ qua Mỹ làm chấn động cả một thị trấn nhỏ,  hơi có tin lành dữ gì là ai cũng biết. Dĩ nhiên đâu có ai có thiện cảm với một ông lão 75 tuổi về VN cưới 1 cô gái trẻ đẹp mới ngoài 20 chỉ đáng tuổi con cháu chắt. Đúng là trâu già thích gặm cỏ non!
    
    Ra phi trường đón cô gái trẻ ấy chỉ có một mình ông. Tất cả con cháu, họ hàng không có một người nào. Thái độ đó ông thừa hiểu là họ phản đối!
    Giấy tờ hợp lệ, hôn thú hẳn hoi, ông đưa cô về nhà.
    
    Đêm đầu tiên cô gái cơm nước xong, tắm rửa sạch sẽ, ngồi coi tivi, cô chưa biết tiếng Anh nên ông mở mấy băng Paris By Night, Asia.. cho cô coi. Khuya, ông chỉ tay vào một căn phòng và nói:
    - Đó là phòng riêng của Hằng, tất cả đồ đạc có đầy đủ, Hằng cứ tự nhiên.
    Nói xong, ông đứng lên đi vào phòng của ông.
    
    Cô gái hơi ngạc nhiên nhưng chỉ nghĩ là bên Mỹ vợ chồng ngủ riêng mỗi người một phòng, khi nào cần làm "chuyện ấy" thì mới...mò sang! Hix!
    Nhưng cả tháng sau cô chờ hoài mà vẫn không nghe tiếng ông gõ cửa hay có thái độ nào khác!
    
    Sau khi hoàn tất mọi thủ tục bổ sung để làm giấy tờ như thẻ SS (Social Security), thẻ ID, permanent resident card (thẻ xanh thường trú nhân)... Ông nói nhẹ nhàng nhưng nghiêm trang với cô:
    - Từ mai tôi sẽ chở Hằng đi học ESL, sau một thời gian, sẽ đăng ký học tiếp ở college, Hằng phải cố mà học, tôi không sống mãi mà bảo bọc cho cô được đâu.
    
    Ở cái xứ sở này, đâu ai để ý ai, đâu ai biết, đó là vợ chồng hay cha con, chỉ thấy ngày ngày ông chở cô đi và đón cô về, ân cần thăm hỏi động viên học hành.
    Cô chỉ biết vâng dạ.
    
    Những đêm xa nhà, xa quê hương một mình nơi đất khách quê người, người ta mới hiểu thế nào là cô đơn cực kỳ, là cần hơi ấm người đồng hương, là thèm một tiếng nói dù là tiếng nói của một ông già. Nhiều lần cô lưỡng lự, muốn qua gõ cửa phòng vào nói chuyện với ông nhưng rồi lại thôi.
    
    
    Một năm thấm thoát trôi qua. Cô còn trẻ lại khá thông minh nên tiến bộ trông thấy, cô apply vào trường college và vượt qua các test để vào ngành y tá.
    Ngày cô đi thi quốc tịch cũng là ngày ông mừng ra mặt khi cô báo tin đã pass (đậu).
    Rồi ông đốc thúc cô nhanh chóng bảo lãnh cha mẹ qua Mỹ! Cô còn đi học nên tất cả mọi chi phí ông đều đài thọ.
    
    Ba năm sau cô và ông ra đón cha mẹ cô và đứa em nhỏ dưới 21 tuổi. Từ xa, bố vợ của ông tách khỏi gia đình, chạy lại ôm chầm lấy ông, mắt đã nhoè lệ và kêu lên sung sướng:
    - Ông Thầy!
    
    Thì ra ông Thuận nguyên là sĩ quan tiểu đoàn trưởng, thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 bộ binh VNCH. Còn "ông bố vợ", bố của Hằng nguyên là một trung sĩ,  thuộc cấp của ông.
    
    Hai thầy trò ôm nhau mừng mừng tủi tủi.
    Chỉ đến khi ông và Hằng ra toà ly dị các con ông mới vỡ lẽ. Họ biết là họ đã sai lầm.
    
    
    Ngày xưa sau 1975, lúc ông phải đi tù cải tạo, người lính thuộc cấp ấy đã phải đạp xích lô nuôi gia đình bữa no bữa đói mà vẫn chia sẻ giúp đỡ gia đình ông dù chỉ là những đồng tiền khiêm tốn. Những lần vợ ông đi thăm nuôi gần như là toàn bộ đồ dùng người thuộc cấp mua cho ông.

**
    
    Ông bùi ngùi nói với tôi:
    - Chú Hòa biết không, những ngày trong trại cải tạo, là những ngày đói triền miên, đói vô tận, đói mờ mắt, đói run chân thì 1 cân đường, 1 kg chà bông, 1 bịch đậu phọng, vài viên thuốc qúy... hơn vàng nhưng những thứ đấy vẫn không qúy bằng cái tình nghiã mà người lính dành cho mình. Chính cái tình nghiã ấy cho tôi niềm tin và hy vọng.
    Khi qua Mỹ, tôi được tin gia đình chú ấy kiệt quệ, đau bệnh liên miên, tiếp tế vài ba trăm cũng chỉ nuôi được mấy tuần, nên tôi đành phải bàn ... làm rể "giả" của chú ấy. (Ông hóm hỉnh khi nói câu này)

**
    
    Tôi hiểu câu chuyện, thì ra ông về VN "giả" cưới cô Hằng là để đền ơn người thuộc cấp đã cưu mang giúp đỡ ông và gia đình sau 1975.
    Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc:
    - Thế sao cô Hằng không biết chú là cấp chỉ huy của ba cô ấy?
    Ông mỉm cười:
    - Đám cưới giả mà, phải giữ bí mật chứ, chỉ có 2 người biết là tôi và người lính ấy.
    
    Tôi nhắp ngụm bia, bỗng nảy ra ý tưởng, tôi nói:
    -Chuyện của chú cháu đưa lên... facebook được chứ?
    - Tôi chỉ làm một việc rất bình thường. Sống có tình có nghiã là vui lắm rồi, cần gì òm ĩ...
    
    Hằng và các con ông đang ngồi ăn uống vui vẻ, Hằng đứng dậy đi về phiá tôi và nói:
    - Anh Hòa, anh cứ đưa lên facebook cho em, coi như là lời cảm tạ người Bố thứ 2 của em vậy !
    
    Tôi thấy mắt Hằng long lanh !
    
    ĐNH

06 August 2014

Nam California: Triển Lãm Hội Họa "Cảm Tác Thu"


Cuộc triển lãm gồm 14 Họa Sĩ trong đó có tôi và bà xã HS Lam Thủy. 
Hy vọng sẽ gặp được quý anh chị Cựu SV/QGHC trong ngày Khai Mạc 
Thứ Bảy September 7th, 2014 vào lúc 11:00AM.

Trân trọng kính mời,
Chính Mung (ĐS17) và Lam Thủy

Chưa hẳn mất nước, đã mất dòng họ

Câu chuyện thật như thế này::

Trong một chuyến về Sài Gòn vào đầu tháng 4 năm nay (2014) vợ tôi có đến thăm hai người cháu, một trai và một gái, con của một bà chị trong họ. Cậu trai 32 tuổi và cô gái 27 tuổi, cả hai đều được nuôi ăn học đàng hoàng (tốt nghiệp đại học 4 năm), có công ăn việc làm tốt ở Sài Gòn. Họ đều đã lập gia đình cách đây vài năm và đã có con. Dì cháu lâu ngày gặp nhau mừng mừng tủi tủi, trong câu chuyện hàn huyên vợ tôi ôm đứa con trai của người cháu trai và hỏi nó rằng:

- Con tên chi?

Đứa bé trả lời:

- Dạ, con tên Miêu Văn Dũng ạ.

Vợ tôi tưởng mình nghe lộn nên hỏi lại:

- Ủa, con họ chi?

Đứa bé trả lời:

- Dạ, con họ Miêu ạ.

Vợ tôi ngạc nhiên, ngước mặt lên hỏi cha của nó:

- Sao lạ vậy, con họ Nguyễn mà tại sao con của con họ Miêu? Người Việt mình làm gì có họ Miêu hả con?

Biết vợ tôi ngạc nhiên, cậu cháu vội giải thích một tràng như sau:

-Dì à, đó là con cho nó lấy họ mẹ, vợ của con gốc người Hoa họ Miêu. Con không được may mắn bằng em của con, nó lấy thằng em của vợ con nên con nó sinh ra không cần phải lấy họ mẹ vẫn có được họ Tàu.

Vợ tôi bực mình hỏi lại:

- Sao lạ vậy, mình là người Việt Nam tại sao phải lấy họ Tàu?

Cậu cháu trả lời:

- Dì ở nước ngoài lâu quá nên không biết đó thôi, chứ ở đây (Việt Nam) thanh niên nam nữ khi lớn lên lập gia đình đều muốn con của mình mang họ Tàu để sau này có tương lai hơn! Dì không thấy sao? bây giờ ở nước mình đi đến đâu cũng thấy Tàu, công ty, hãng xưởng đa số là của người Tàu. Mang họ Tàu đi xin việc, làm giấy tờ gì cũng dễ dàng và được nể, vì tụi con cũng vì tương lai của mấy cháu đấy thôi.

Nghe người cháu phân bua như vậy vợ tôi gằn giọng:

- Thì ra là vậy, như vậy thì hết đời tụi bây, giữa tao và con của tụi bây coi như không bà con, dòng họ gì nữa rồi phải không?

Biết vợ tôi tức giận, cậu cháu vội giả lả:

- Dì nói vậy thôi, chứ họ gì thì họ, bà con vẫn cứ bà con mà dì. Dì thấy không, cô Đại sứ Du lịch Việt Nam Trần Thị Thanh Nhàn cũng lấy tên Tàu là Lý Nhã Kỳ mà được trọng vọng, nên danh nên phận và giàu có đó, có sao đâu.

Vợ tôi buột miệng nói:

- Vậy sao.

Nhận thấy không khí có vẻ nặng nề và ngượng nghịu, vợ tôi vội vàng kiếm cớ bận rộn công việc để từ giã hai đứa cháu. Trên đường về bâng khuâng tự hỏi:

- Không biết mình có còn chúng nó hay không!

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...