21 September 2010

Thánh lễ phát tang Phạm Xuân Huy

KÍNH BÁO:

Gia đình anh PHẠM XUÂN HUY (qua anh Phạm Xuân Tráng) nhờ thông báo đến quý anh chị đồng môn Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh và Thân Hữu
về Lễ Phát Tang và Thánh Lễ của Giuse PHẠM XUÂN HUY như sau:

Lễ Phát Tang và Thánh Lễcủa 
Giuse PHẠM XUÂN HUY

sẽ được tổ chức:

lúc 6:30AM ngày 25 tháng 9 năm 2010
tại nhà thờ Tam Biên (St. Callistus)
12921 Lewis St. Garden Grove CA 92840
Điện thoại: (714) 971-2141
Sau đó, linh cữu sẽ được đưa về nhà quàn Melrose Abbey Memorial Park, Thành Phố Anaheim như đã Cáo Phó trước đây.
(Giờ thăm viếng bắt đầu từ 9:00 sáng đến 6:00 chiều cùng ngày tại nhà quàn Melrose. Sau đó Lễ Hỏa Táng sẽ được bắt đầu tại cùng địa điểm)

Xin kính báo và kính mời quý anh chị đồng môn đến tham dự Thánh Lễ; đặc biệt quý đồng môn là tín đồ Công Giáo,
có thể đi xem lễ sáng Thứ Bảy 25/9/2010 tại nhà thờ Tam Biên, đồng thời tham dự Thánh Lễ và cầu nguyện cho
linh hồn Giuse PHẠM XUÂN HUY sớm về với Chúa.

Trân trọng kính thông báo.
TM Ban Tổ Chức Tang Lễ Khóa ĐS13
Nguyễn Văn Sáu, TS4.

20 September 2010

Thơ Minh Giang

Cát Vân, Canada, trình bày

Tuổi già thích ôn chuyện xưa

DĨ VÃNG MỘT THỜI NƠI ÐẤT ÚC

Ðàm Trung Phán

25/06/20XX

Mấy hôm nay tôi rất muốn ghi chép lại những kỷ niệm hồi đi học bên Úc nhưng không có thì giờ nên bây giờ tôi mới ngồi bắt đầu viết trong khi chờ đợi họ sửa xe cho tôi tại một “garage”.

Ngày hôm qua (24/06/) đúng là ngày cháu nội thứ hai của tôi, ED, được một tháng. Ông nhớ cái ngáp của cháu chi lạ. Được bố cháu và chú SD cho biết là cháu vẫn hay ăn, chóng lớn, khóc to và ngáp dài! Thế là ông nội vui rồi.

Cách đây một tháng, NHM, bạn cùng khóa đi Úc với tôi báo tin qua email rằng hắn sẽ qua Queen’s University tại Kingston, Ontario, Canada để dự hội nghị về Đồ Ăn (Food Technology). Hắn đang dậy “Food Technology” tại một Ðại Học (ÐH) bên Úc Đại Lợi nên nhân dịp này anh chàng nói với trường rằng hắn sẽ sang để “present his paper” (diễn thuyết) và để gặp một số các Giáo Sư nhiều nơi trên thế giới trong kỳ hội nghị này. Ðó cũng là một cái cớ để ĐH bao thầu cho chuyến viễn du Bắc Mỹ này của bạn tôi. Thực tình là để hắn sang Canada thăm một số bạn bè đã du học bên Úc cùng với chúng tôi, sau đó hắn bay qua Hoa Kỳ và London để thăm gia đình trước khi bay về lại Úc.

Giữa tháng 5, 20XX, tôi hăm hở lái xe ra phi trường Pearson International tại Toronto để đón M. Tôi náo nức đứng đợi, chỉ sợ là mình sẽ “lạc” mất hắn. Thế rồi một dáng điệu quen thuộc lù dù hiện ra giữa đám đông, tôi gọi to tên hắn và vẫy tay tíu tít. M. nhận ra tôi và kéo hành lý chạy vội đến gặp tôi. Hắn trông vẫn vậy và dĩ nhiên là hắn cũng như tôi đều mập ra.

- Tôi nhớ là ngày xưa ông P. cao lắm mà?

Tôi cười trả lời hắn:

- Thì tôi vẫn “cao” như vậy nhưng vì “trổ mã bề ngang” nên ông bị “optical illusion” (“loạn thị”) đó mà!

Hai đứa rộ ra cười với nhau, tiếng cười đầu tiên sau 36 năm mới lại gặp lại nhau.

Tôi đã ra phi trường đón bạn bè và bà con rất nhiều lần nhưng lần ra đón M. tại phi trường có lẽ là lần đầu tiên làm tôi xao động nhiều nhất vì giữa hai chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm với nhau từ khi hai đứa tụi tôi sang Úc vào cuối năm 1961. Rồi tôi rời đất Úc, lẳng lặng bỏ đi biền biệt sang lập nghiệp tại “xứ lạnh tình cóng” Canada vào Mùa Thu 1969. Chúng tôi mất liên lạc với nhau trong rất nhiều năm sau đó.

Gặp hắn làm tôi được trở về với dĩ vãng, trở về với giai đoạn sôi nổi nhất của cuộc đời chúng tôi. M. đã là chứng nhân của đời tôi từ cuối năm 1961 đến tháng 8, 1969. Tôi cũng là kẻ đi chung đường với hắn trong giai đoạn này và cũng đã là một chứng nhân của đời hắn.

Hai đứa tụi tôi cùng khoảng 20 sinh viên VN đã rời Saigon vào một buổi chiều cuối năm 1961 để lên máy bay Air France bay sang Sydney. Chúng tôi tuổi chừng 18,19 và mới học sơ sơ tại các đại học bên Việt Nam rồi được trúng tuyển học bổng Colombo Plan sau kỳ khảo sát Anh Ngữ và lựa chọn theo kết quả học lực trong hai kỳ thi Tú Tài 1 và Tú Tài 2. Chúng tôi được luyện Anh Văn trong một thời gian ngắn bởi giáo sư Brent, người Úc gốc Đức, tại Saigon.

30/06/20XX

Hôm nọ đang viết dở thì họ đã sửa xe xong nên tôi phải ngưng viết để lái xe về nhà và chạy việc.

Sáng hôm nay, “xếp bề trên” BN của tôi phải đi khám sức khỏe toàn diện từ 9 giờ sáng tới 3 giờ chiều. Sau khi lái xe đưa BN đi Bác Sĩ, bác tài bèn ghé vào hiệu cà phê Tim Horton uống một ly cà phê. Ngon tuyệt trần đời. Vừa nhâm nhi cà phê một mình, vừa suy nghĩ về vụ M. sang Canada thăm tôi, tôi nẩy ra ý định: “Lâu rồi mình chưa có dịp đi bộ và suy nghĩ một mình, sáng nay cơ duyên tốt đã đến với tôi!” Bèn đóng nắp ly cà phê đang uống dở và lái xe ra bờ hồ Ontario (Lake Ontario). Lôi ra trong thùng xe cái ghế gập mà tôi đã mua từ năm ngoái, luôn luôn được để trong thùng xe trong những tháng Mùa Hè và để được bác tài ngả ra mà ngồi tại những nơi nào nên thơ. Tôi chọn ngay một nơi có bóng mát, trước mặt là nước hồ, bên kia hồ là những căn nhả lấp ló sau lùm cây. Ngay trước mắt tôi là những tảng đá mà Nha Kiều Lộ đã đặt chồng chất lên nhau xung quanh hồ. Trời đang mùa hè, gió hiu hiu thổi buổi sáng nên tôi không bị ruồi muỗi bu quanh. Thật là thần tiên, bỗng đâu tôi nhớ lại chuyến thăm Panama vào muà hè năm trước.

Xin trở lại câu chuyện đất Úc ngày xưa.

Tuy tất cả dân Colombo Plan chúng tôi đã được luyện Anh Văn tại Saigon nhưng khi mới sang đến Úc mà nghe tiếng Anh người Úc nói thì thật đúng như là “vịt nghe sấm” vậy.

Một người bạn Mã Lai gốc Tầu đã nói với bọn tôi về tiếng Anh giọng Úc:

- When I first came to Australia, the land lady came out to greet me and she said: "So you came here "to die", at nine in the morning?"

I replied:

- Oh no, Madame, I came here today, to study but not to die!

( Khi tôi mới đến Úc, bà chủ nhà ra đớn tiếp tôi, lời bà nói tôi nghe như là:” Anh tới Úc lúc 9 giờ sáng để anh ..."chết", có phải không?” Tôi trả lời là:” Dạ thưa bà, tôi tới Úc lúc 9 giờ sáng hôm nay để đi học, chứ không phải để … tôi chết đâu ạ!)

Cả bọn rộ ra mà cười vì cái giọng (accent) có một không hai của người Úc khi họ nói tiếng Anh.

Sợ nhất là khi mới tới Sydney mà phải nói chuyện qua điện thoại với người Úc, chả là vì họ không nhìn thấy nét mặt ngẩn tò te của mình, họ cứ thao thao bất tuyệt thì mình càng…”tuyệt vọng” vì mình có nghe nổi họ nói gì đâu cơ chứ!

Tại Sydney, trong ba tháng đầu năm 1962, khi đi học Anh Văn hay đi chơi đâu chúng tôi thường cùng đi với nhau cho chắc ăn. Này nhé: mới chân ướt, chân ráo tới Sydney, đi vớ vẩn lạc đường dễ như chơi. Nếu lạc đường mà hỏi dân Úc thì hỡi ơi, đúng là vịt nghe sấm vậy. Qua đường, suýt mấy lần chúng tôi bị xe tông vì chúng tôi nhìn lộn hướng (bên VN, chúng ta lái xe đi bên phải trong khi đó ở bên Úc, họ lái xe bên trái) làm các bác tài Úc sổ tràng dài chữ nho tiếng Úc, dân Nam ta chỉ biết nhe răng ra mà cười trừ: “Sorry!” Đi xe bus còn hãi hùng hơn nữa vì hệ thống đường đi của xe bus không được sắp đặt (designed) theo hệ thống Đông-Tây, Nam-Bắc như tại Bắc Mỹ nhà ta. Cứ “hứng chí” là đường xe bus (bus route) chạy vòng vèo loạn xà ngầu. Hồi chúng tôi mới qua Úc, họ còn dùng hệ thống tiền với Pounds, Shillings và Pennies. Vừa mới bước lên cái xe bus hai tầng “Double Decker”, bác “lơ xe đò” (bus conductor) đã đon đả chào hỏi:

- Fare please! (Mua vé dùm!)

Quân ta cố dặn ra câu hỏi đường xe bus đi ra sao, người thu vé xe bus trả lời rất đàng hoàng và nhanh như cái máy, quân ta càng thêm phần “ngẩn tò te” vì cái “accent” lạ tai của người Úc. Sau khi bác “lơ xe đò” mắt xanh lơ biết tôi muốn đi đâu, bác cho biết giá tiền:

- One shilling and three pennies, please!

(1s 3p = Một hào, ba xu Úc!)

Phe ta bèn đưa cho “bác lơ xe đò” tờ giấy 1 pound (1 bảng Úc, sau năm 1965 trị giá bằng 2 đô la Úc). Nhanh như chớp bác đưa “tiền thối”: một lô nào là shillings, nào là pennies. Quân ta quýnh lên chẳng biết “tiền thối” là bao nhiêu nữa. Chả là vì nó như thế này:

1 pound có 20 shillings (một Bảng Úc bằng 20 Hào Úc)

1 shilling có 12 pennies (một Hào Úc bằng 12 Xu Úc)

Như vậy tiền trả lại từ 1 pound cho giá vé 1s 3p là

= 20 shillings – 1 shilling 3 pennies

= 18 shillings 9 pennies

Quân ta cứ ngớ ra và bỏ vội một lô “tiền cắc” này vào cái túi áo veston cho đỡ quê! Thế rồi dần dà quân ta cũng quen đi. Khổ nỗi cái đồng penny nó “to con” và nặng ký lắm cơ: penny làm bằng đồng (bronze) và có đường kính cỡ 2.5cm. Quý vị thử tưởng tượng bỏ trong túi 1 pound toàn bằng shillings (1 pound = 240 shillings) thì túi áo nào mà chịu nổì.

Khi mới bắt đầu nhập học tại Đại Học New South Wales tại Sydney, M. và tôi cùng chung phòng (room mates) ở môt nhà trọ (boarding house) tại vùng Randwick của Sydney. Vì là nhà trọ cho nên nếu muốn giặt quần áo, tắm “shower” chúng tôi phải bỏ vài đồng “pennies” vào cái “gas meter” và sau khi bỏ tiền, chúng tôi phải đánh diêm để đốt gas hâm nước nóng. Những lúc tắm “shower” là những lúc tài nghệ hát hổng của tôi được bộc phát đến tuyệt đỉnh. Tôi đang mê mẩn hát:

“…(Cô) bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ giòng sông, cô đi … lấy chồng…”

Tự dưng thấy lạnh toát cả cái thân, thoạt đầu tưởng là mình đang “ê mô suờn” (emotional) vì vụ cô lái đò bỏ tôi mà đi lấy chồng trong lúc thân thể tôi còn đầy xà bông. Nhìn cái lò đốt ga thì không còn thấy ánh lửa, trong lúc đang run như cầy sấy (vì trời đang mùa đông nữa), tôi bèn thò tay vào bao plastic lấy thêm “pennies” bỏ vào “gas meter”. Chàng thanh niên lật đật đánh que diêm để đốt lò gas, ngờ đâu cả hộp diêm của chàng đã bị ướt sũng vì nước và xà bông từ tay chàng nhỏ xuống. Chàng chỉ còn muốn xổ nho vì cái tình đời lạnh lẽo, đen bạc đã làm chàng run lên bần bật. Chàng phải cắn răng mà dội nước lạnh cho hết bọt xà bông!

Tối hôm đó, trong cơn cảm lạnh, chàng thanh niên sống xa nhà vạn dặm mơ ngủ thấy cô lái đò bỏ thuyền, bỏ bến; riêng chàng, chàng đã bỏ mất bao diêm khô thế cho nên nó mới ra nỗi này! Lạnh ơi là lạnh, ới cô lái đò ơi!

Ở nhà trọ (boarding house) còn có nhiều cái cực nhọc của nó. Chả là vì tối chủ nhật họ không nấu cơm cho dân ở trọ, M. và tôi phải đi bộ ra phố để ăn cơm tối. Món ăn rẻ nhất và ngon nhất của tụi tôi là Hamburger. Mỗi đứa thường phải “làm” hai cái Hamburger to tổ chảng mới đỡ đói trong những đêm ngồi học. Tuy nhiên, khoảng giữa đêm là hai đứa đói nên phải mua thêm đồ ăn “snack” thì mới tiếp tục học được.

Chúng tôi là hai sinh viên trong phân khoa Kỹ Sư: M. học ngành Hóa Học, còn tôi học ngành Công Chánh. Chúng tôi may mắn học cùng Ðại Học nên đỡ cảm thấy lẻ loi và lạc lõng. Mùa đông đầu tiên tại Sydney của chúng tôi đã làm chúng tôi rất vất vả. Sau 4 giờ chiều, trời đã bắt đầu tối. Nhà trọ cách Đại Học chừng gần 2km. Hồi đó tại Sydney đang có vụ sát thủ Jack the Ripper (hay Jack the Knife) đang “thao túng thị trường”. Nghe báo chí mô tả: món sở trường của hắn là nhẩy từ trên cây xuống và dùng bao bố chùm kín nạn nhân rồi chém nạn nhân ra từng mảnh. Vì vậy mà hai chúng tôi phải hẹn nhau một nơi trong Đại Học để mà cùng về vì trên đường về nhà, đường phố có rất nhiều các cây không quá cao trong khi đó nhà nào nhà ấy tối thui như những căn nhà hoang vậy.

Một hôm về đến phòng, tụi tôi mới biết là cái radio của tôi và một số đồ dùng đã bị ăn cắp. M. và tôi quyết định dọn vào nội trú (college hay residence), tuy mắc mỏ hơn nhưng chúng tôi đỡ vất vả và đỡ mất thì giờ.

Năm thứ nhất tại Đại Học, các sinh viên trong phân khoa Kỹ Sư thật là cực nhọc. Số giờ đi học trong giảng đường (lecture), và vào phòng thí nghiệm làm việc (laboratory work) của sinh viên rất nhiều giờ so với các phân khoa khác. Chương trình Trung Học miền Nam Việt Nam hồi bấy giờ (thập niên 50,60) đâu có huấn luyện học sinh về phần kỹ thuật trước khi vào Ðại Học trong khi đó sinh viên ban kỹ thuật tại ĐH bên Úc phải biết cách sử dụng một số máy móc phổ thông trong môn “Workshop and Technology” (sử dụng máy móc căn bản trong ngành Kỹ Sư). Hai đứa tụi tôi phải “cầy” muốn chết để theo kịp các sinh viên Úc. Ngoài ra tất cả bạn bè Việt Nam chúng tôi trong phân khoa Kỹ Sư còn phải “làm quen” với hệ thống đo lường của dân gốc Anh nữa (Imperial Units of Measurement); một hệ thống không sử dụng căn bản thập phân (decimal), rất là cầu kỳ và mất thì giờ!

Tôi còn nhớ vào tuần lễ thứ hai sau khi nhập học Năm Thứ Nhất, trong giờ “Tutorial” (làm bài tập), chúng tôi phải giải một bài toán Vật Lý có đơn vị đo lường như sau: một máy bay cao hơn 10 ngàn “feet” với vận tốc 500 “miles per hour”, thả một quả bom nặng 500 “pounds” … Tôi trố hai con mắt, miệng lầm bầm “Holy Cow!” vì chưa bao giờ hình dung được 10 ngàn feet nó cao như thế nào, 1 "mile" (một dặm Anh) dài bao nhiêu “feet” và 500 “pounds” thì nặng như thế nào… Thế là quân ta bèn phải tự làm quen với Hệ Thống Ðơn Vị Anh Cát Lợi (Imperial Units of Measurement). Ngoài ra, hồi đó còn chưa có máy tính “hand held calculator” mà chúng tôi phải bắt buộc sử dụng cái “slide rule”. Cái “thước trượt” này chỉ giúp chúng tôi trong phần "tính nhân” và "tính chia” mà thôi; phần "tính cộng” và “tính trừ”, chúng tôi phải tự làm lấy! Ôi chao là cái thời buổi đầy… nhiễu nhương!

Dọn vào ở trong nội trú, hai đứa chúng tôi vẫn còn là “room mates”. Trong tuần, mỗi bữa ăn buổi tối, sinh viên phải mặc áo thụng (gown) đen, mặc áo “veste” và thắt cà vạt. Vì “ngân sách eo hẹp” nên M. và tôi mua chung một cái “gown” của một sinh viên Úc trước khi hắn dọn ra khỏi nội trú. Chúng tôi chia phiên: đứa ăn sớm, đứa trễ. Khi nào khẩn cấp thì mượn “gown” của một sinh viên Úc để cùng đi ăn.

Chúng tôi cùng thi đậu năm thứ nhất và mùa hè năm đó, hai đứa chúng tôi thuê một cái flat (apartment) cùng với ÐHP, một anh bạn Việt Nam khác. Mùa hè được chơi thả ga cho bõ những ngày phải “cầy như trâu”. Ba đực rựa sống không có quy củ cho lắm. Một lần, chúng tôi “nấu canh chua”: lấy tôm khô nấu lên với cà chua. Mùa hè Sydney trời nóng, chúng tôi quên không bỏ nồi canh vào tủ lạnh. Hai hôm sau, bạn bè đến chơi, chúng tôi bèn hâm “canh chua” mời bạn hữu ăn. Bạn bè khen lấy khen để:

- Sao mà quý vị nấu canh chua “ngon” như vậy?

Chúng tôi thật thà trình bầy cho bạn bè nghe “cách nấu” và “cách giữ đồ ăn”. Bạn bè sợ quá, bỏ chạy vào “toilet thải ra cho hết” để tránh “hậu loạn”.

Một phái nữ, sau khi đến thăm cái “flat” của chúng tôi đã “phán” như sau:

- Đúng là một cái ổ lợn!

Giờ đây ba kẻ đi ở thuê (“3 flat mates”) tuy đang ở ba phương trời khác nhau nhưng tôi đoán chắc rằng cả ba chúng tôi đều không tài nào quên được “cái thuở ban đầu lưu luyến” ấy. Mà chắc là ông Trời cũng đã sắp đặt trước: cả ba chúng tôi đều đã trở thành ba nhà giáo, mỗi đứa đã dậy học trên 30 năm trong ba đại lục khác nhau.

Trời nắng to và chiếu vào nơi tôi đang ngồi. Tôi di chuyển sang nơi khác, tọa vì dưới một cây phong (maple leaf) không cao cho lắm. Gió hơi lành lạnh, tôi không ngờ rằng mình ghi chép những giòng này đã hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ rồi.

Câu chuyện đất Úc còn dài. Tôi đã có biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp, vui, buồn nơi đất Úc thân yêu! Xin ngưng ở đây để về nhà chờ "xếp bề trên" gọi điện thoại giao việc làm cho tôi.

Ôi Dĩ Vãng Một Thời!

Ðàm Trung Phán
Tháng Chín, 2010
Canada
____________
Giáo sư Đàm Trung Phán giảng dạy tại các trường Colleges ở Toronto. Anh thuộc lớp học sinh ưu tú đi du học nước ngoài theo kế hoạch Colombo (Plan Colombo). Anh đã nghỉ hưu và hiện sống cùng  gia đình ở Mississauga, giáp ranh phía nam Toronto.

19 September 2010

Hội Toronto gặp mặt bỏ túi tối Chủ Nhật, 19/9

Hàng đứng từ trái: Các anh Nguyễn Cao Kỳ Nam (ĐS21), Nguyễn Văn Tiết ĐS10, Trương Thới Lai ĐS1, Nguyễn Thế Vĩnh ĐS14, A/C Nguyễn Tấn Phát ĐS11, Bạch Công An ĐS8, A/C Nguyễn Văn Sáu ĐS17, Nguyễn Văn Đến (phu quân chị Nguyễn Thị Lan TS4), A/C Đỗ Văn Siêng (ĐS19)
Hàng ngồi: Quý phu nhân.

Khổ chủ là anh chị Bạch Công An. Anh Công An chẳng hống hách  giống công an một tí nào. Ngược lại anh luôn hòa nhã với nét cưới mom móm dễ thương.


Mười đóa hoa mùa Thu vẫn còn nở nụ cười ...hàm tiếu!
(Muốn sống còn đám mày râu Bắc Mỹ nên biết nịnh một chút. Aha!)

Hoa đẹp



(Nguồn: Trung Hoàng, Toronto)

18 September 2010

Nhớ Tâm Triều: Vài cảm nghĩ về tập truyện ngắn của ông

Đời Sống Hai Lần

Phạm Xuân Huy thường tạo nên những cảm nghĩ tốt đẹp cho những người đối diện dù là mới gặp ông lần đầu qua cách ăn nói nhẹ nhàng, mềm mỏng. Đặc biệt ông rất cẩn trọng trong việc dùng chữ để không gây phật lòng cho bất cứ một ai. Qua đó có lẽ mọi người đều nghĩ rằng nhân vật này hình như được sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh hoàn toàn đầy đủ, được đời đãi ngộ về mọi phương diện.

Sự thật thì hoàn toàn trái ngược, ông đã long đong về mọi phương diện kéo dài hầu như suốt cả cuộc đời ông. Ông mang trong lòng một vết thương ra^'t lớn, thật sâu đậm. Cuộc đổi đời bi thảm của cả miền Nam Việt Nam vào cuối tháng Tư năm 1975 đã đảo lộn mọi giá trị xã hội khiến thuyền tình mà ông đã khổ công dệt mộng cùng bồi đắp qua bao nhiêu năm tháng bằng tất cả ân tình đầy ắp đã lạnh lùng tách bến, bỏ ông bơ vơ với những đớn đau, khắc khoải, dằn vặt bên cạnh những đọa đầy, hành hạ trong các trại tù khổ sai của Cộng Sản dưới mỹ từ Trại Cải Tạo.

Dù vậy ông vẫn tạo ra cho riêng mình một cách sống thật thanh thoát, an nhàn ngay cả trong những tình trạng nghiệt ngã nhất. Tất cả mọi chuyện đối với ông đều như cơn gió thoảng, chẳng việc gì làm ông bận tâm, không điều gì ông cho là quan trọng. Có lẽ triết lý sống này đã giữ ông luôn luôn tươi mát cả nơi hình dáng bề ngoài lẫn trong tâm tưởng. Thái độ ung dung, tự tại này đã giúp ông vượt lên cao mọi khổ đau trong đời, dù là những cơn đau cào xé con tim hay những cơn đau thể xác qua sự hành hạ, trả thù tàn nhẫn của các cai tù Cộng Sản.

Ông không bị vùi dập trong khổ đau, ông không tuyệt vọng trước nghịch cảnh. Ông đã thăng hoa. Ông đã biến nghịch cảnh cùng khổ đau thành những ý nghĩ tuyệt vời trong trí óc. Thay vì than thân, trách phận hay than thở với những bất hạnh, ông đã dùng hết mo.i cố gắng để ghi nhớ trong tâm những việc đã xẩy ra. Và giờ đây tại miền đất tạm dung này, trong những giây phút rảnh rỗi, ông lục lại trong tâm khảm để ghi ra tất cả những gì đã xẩy ra vào những lúc cùng cực của cuộc đời ông. Kết quả của cố gắng đó là tác phẩm Đời Sống Hai Lần của Tâm Triều Phạm Xuân Huy.

Qua tác phẩm này chúng ta không hề thấy ông than vãn, oán trách số mệnh mà ông chỉ nhẹ nhàng kể ra những câu chuyện để giải thích lý do cho đến bây giồ đã ngoài lục tuần mà ông vẫn còn độc thân. ".. Cái hạnh phúc nhất trong đời người là ngày đám cưới mình, sau đó là ngày làm đám cuới cho con cái. Thế nhưng cái hạnh phúc tuần tự trên cho tới ngày hôm nay với cuộc sống độc thân trọn kiếp, tôi chưa bao giờ được hưởng..."

Đó là lời phát biểu của ông trước cử tọa đông đảo trong buổi ra mắt tác phẩm Đời Sống Hai Lần tại Hội Quán Little Saigon Radio ở Quận Cam vào buổi trưa ngày 24 tháng 3 năm 2002.

Thay vì dùng những dòng chữ cay nghiệt để oán trách cố nhân bội bạc, số phận bèo bọt, thì người đọc lại chỉ thấy toàn là những chất thơ mộng, lãng mạn và tình tứ để mô tả những cảnh đời ông đã trải qua, một cuộc đời gồm toàn những sự tàn bạo, nhẫn tâm, phản bội, đắng cay, xấu xa vây quanh. ".. Thế rồi em lại ra biển, đi trên bãi cát mênh mông kỷ niệm, đếm dấu chân lẻ loi không còn nằm bên dấu chân anh..." (Bài Hoa Trên Rừng, trang 49) .

Ngay cả trong những lúc ở tận cùng nỗi khổ đau của một tình yêu tan vỡ ông cũng vẫn nhẹ nhàng, tế nhị, thơ mộng và đầy xúc cảm. "... Đêm nay, thêm một mùa trăng ly hương trào thương nhớ, Duy tìm lại Hương cố nhân qua những tình khúc của Cung Tiến khi xưa cả hai cùng yêu thích. Từ một "Hương Xưa" nức nở thổn thức, đến "Nguyệt Cầm" ai oán quặn đau ... " ( Bài Bản Thông Điệp Mưa, trang117). Văn là người. Thật vậy, những người đã tiếp xúc với ông chưa bao giờ nghe ông nói không tốt về ai, ngay cả người đã từng không được tử tế lắm đối với ông, đã từng đưa ông đến hoàn cảnh không mấy sáng sủa thì ông cũng chỉ nhẹ nhàng bảo có lẽ đó là số phần của ông.

Ông đã vẽ ra một mẫu người thật là chung thủy. Ở vậy không lập gia đình, chờ người xưa, có lẽ đây là cuộc đời của chính ông. Hơn ba mươi năm sau nghe tin người yêu trở lại cuộc sống đơn chiếc ông đã găp lại người đó . Hãy nghe ông ngỏ lời cầu hôn người xưa : ".. Triều ơi, Hãy nghe anh đây này: Anh trở lại định cư ở Cali cũng chỉ vì đợi mong cố nhân. Gặp lại người mình muốn gặp và chờ mong từ lâu. Hôm nay em và anh chính là cơ duyên định mệnh, em không được chạy trốn nữa. Anh và em không thể cô đơn hơn được nữa. Triều ơi! Hãy lắng nghe đây, giữa trời mây lồng lộng trong tiếng biển giao hòa chứng giám, anh xin chính thức ngỏ lời cầu hôn em, từ giờ phút này .." (Bài Nụ Mai Vàng, trang 72)

Ông lại còn có lòng nhân để nhắn nhủ những người đang có một mái ấm gia đình, một nơi trú ẩn êm ả mà ông đã suốt đời tìm kiếm vẫn chưa hề có, chớ vì một vài va chạm nhỏ trong cuộc sống lứa đôi mà phụ rẫy người bạn đời : " ...Thật là hú viá, lẽ ra suýt nữa Thủy Ly cũng đã lạc lối vào một con đường nguy hiểm, chẳng biết đi về đâu, và mất hút đường về .." ( Bài "Lạc Lối" trang 133)

Sau khi thưởng thức xong mười bẩy truyện ngắn trong tập truyện Đời Sống Hai Lần của Tâm Triều Phạm Xuân Huy, người đọc bỗng cảm thấy hình như tác giả đã phải chịu cảnh bất công. Một con người đức độ, thủy chung, sống hết lòng cho tình yêu lại phải trải qua nhiều cảnh đời cay đắng, oan trái trong tình trường để rồi giờ đây bước vào lứa tuổi cuối đời vẫn còn tơ vương đến tình đầu, vẫn còn mong mỏi gặp lại người xưa, vẫn còn ao ước được đi nốt con đường trần đầy tục lụy với người thương ngày trước. Nhưng có trắc trở và thổn thức như vậy thì chúng ta mới được cơ duyên để cầm trên tay tập truyện thơ mộng, lãng mạn và đầy xúc cảm này.
Chúng ta đã có nhiều lý do để hãnh diện là một Cựu Sinh Viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, thì giờ đây lại có thêm một lý do nữa để tăng thêm lòng hãnh diện đó: Đồng Môn của Nhà Văn Tâm Triều Phạm Xuân Huy với tác phẩm Đời Sống Hai Lần.

Nguyễn Ngọc Cường, ĐS14
New York
________________

Út Như Thương chưa có cơ duyên đọc được tác phẩm ĐỜI SỐNG HAI LẦN của cố nhà văn TÂM TRIỀU PHẠM XUÂN HUY, nhưng qua lời viết trân trọng giới thiệu và thương tiếc một người bạn vừa qua đời của anh Nguyễn Ngọc Cường, dường như ... Đỉnh cao của Đau Khổ là Nghệ Thuật hay cuối con đường Đau Khổ là bắt đầu của con đường Nghệ Thuật chăng ?

Xin nghiêng mình trước một nhà văn đã hiến dâng cho Đời và cho Người chút trầm hương của tấm lòng thuỷ chung nhân hậu

Thân kính,
Út NT

Để suy gẫm

Phản hồi về bài "Nhớ Bạn" của Cao Kiều Phong posted Sept. 13

Cảm quan nhạy bén khi viết

Một bài phê phán khá dài ký tên "Con Kiến Vàng - Texas" đã được phổ biến rộng rãi trên mạng đề cập đến 2 chi tiết nêu ra trong post dẫn thượng.

1. Không nên nhắc lại chuyện bạn mình "sa vào vòng lao lý", nhất là nhắc đến rồi bỏ lửng khiến người đọc ở xa hoang mang không biết là chuyện gì.

2. Cũng thế không nên nhắc lại chuyện quyên góp tiền để kéo bạn mình ra khỏi chốn tạm giam, nhất là người quá vãng đã được tự do sau đó mà không cần tiền thế chân.

Cả hai chi tiết nêu ra trong post "Nhớ Bạn" thực ra không cần và cũng không nên nhắc đến trong bài có tựa đề "Nhớ Bạn".

Các bạn của người quá vãng sống gần gũi với anh ở California đều biết rằng đây là một oan trái mà bất cứ ai kém may mắn cũng có thể sa vào.

Lẽ ra TTR không đề cập đến phản hồi này khi anh em đồng môn bên California còn đang bận rộn việc ma chay, nhưng nghĩ rằng khúc mắc này nên được giải tỏa để Người Bạn của chúng ta được an nghỉ. TTR nghĩ rằng những lời viết ra trong post nguyên thủy đã phát xuất từ một lòng thành và như vậy những sai sẩy nếu có nên được bỏ qua.

Trân trọng.
TTR

17 September 2010

Buồn Tàn Thu

Nhạc sĩ Văn Cao
qua giọng Ánh Tuyết



(ĐVS, Toronto, giới thiệu)

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...