21 March 2020

Nghìn Thu thương tiếc tiếng hát Thái Thanh

Thân Già Cảm Thán (Nhân mùa dịch Vũ Hán)

Dạo:
       Dịch đâu có dịch lạ đời,
Xăm xăm xúi xúi tìm xơi thân già ! 
      ** 
Thân Già Cảm Thán

Vi khuẩn Tàu phù lạ quá ta,
Chỉ lo xơi tái rặt dân già.
Bảy mươi vừa chạm đà rơi xuống,
Sáu chục mới gần bỗng ngã ra.

Chửa muốn đi qua miền Cực lạc,
Chưa mong vượt thoát cõi Ta bà.
Thấy Diêm Vương đến, vờ không thấy,
Nhắm mắt co giò chạy thật xa.

     Trần Văn Lương (CH8)
     Cali, 3/ 2020

20 March 2020

Nữ bác sĩ gốc Anh 60 tuổi mô tả cảm giác thực sự khi bị nhiễm Covid-19

Cổ họng như dao cứa, ho, sốt hoành hành… là những gì mà nữ bác sĩ 60 tuổi này đã chịu đựng trong 1 tuần đối phó với virus corona.

Các trường hợp nhiễm Covid-19 ở Anh đang tăng lên rất nhanh, thúc đẩy chính phủ nước này thực hiện bước đi quyết liệt trong việc chống lại sự lây lan của virus corona chủng mới.

Tiến sĩ Clare Gerada, 60 tuổi, là bác sĩ gia đình ở Lambeth, Nam Luân Đôn và cựu chủ tịch của Đại học GP Hoàng Gia đã xét nghiệm dương tính với virus corona vào tuần trước. Gần đây, bà đã mô tả chi tiết những gì đã trải qua khi nhiễm Covid-19, và cảm giác khi virus phát triển trong cơ thể.

Tiến sĩ Clare Gerada chia sẻ: "Ban đầu, tôi nghĩ đây chỉ là cảm lạnh do đi lại quá nhiều. 3 ngày trước tôi đã bay từ New York trở về, nơi tôi đang tham dự một hội nghị về bệnh tâm thần bên đó".

Khi bà Clare Gerada vừa rời khỏi, New York đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp đối với dịch Covid-19. 2 ngày sau, nữ bác sĩ bắt đầu có triệu chứng mệt mỏi, ho khan. Ban đầu những triệu chứng ho còn ít nên bà Clare Gerada chủ quan, không nghĩ mình đã bị nhiễm bệnh.

Nhưng ngay ngày hôm sau, họng của bà bắt đầu đau đớn khủng khiếp, cơn đau được nữ bác sĩ mô tả là như bị "dao cứa"...

"Tôi đã nghĩ đến việc mình bị nhiễm virus corona, họng tôi đau như bị dao cứa vào và thân nhiệt nhanh chóng tăng lên. Tôi biết đó là coronavirus, vì tôi thường không bao giờ bị bệnh và mùa cúm đã kết thúc", bà Clare cho biết.

alt
Tiến sĩ Clare Gerada, 60 tuổi, chia sẻ những gì mình đã trải qua khi xét nghiệm dương tính với virus corona

Các triệu chứng này rõ ràng và tiến triển nhanh hơn bệnh cảm cúm thông thường. Trong vài giờ sau khi có các triệu chứng đầu tiên, bà Clare Gerada mất cảm giác thèm ăn, trong miệng đắng ngắt khiến việc ăn uống trở nên khó chịu.

"Tôi ngã xuống giường và ngủ rất ngon vì bị sốt cao, nhưng tôi buộc mình phải uống nhiều nước và nước chanh. Tôi không thể uống trà vì miệng và cổ họng rất đau".

"Trong vài giờ, mũi tôi đầy vết loét và tôi tưởng tượng phía sau miệng mình cũng vậy. Tất cả những gì tôi muốn làm là ngủ; tôi đã xem xét việc ghi nhật ký video, nhưng ngay cả ý nghĩ về việc cầm điện thoại dường như cũng vô cùng cực nhọc".

Vào ngày 13/3, bệnh viện thông báo kết quả xét nghiệm của bà Clare Gerada bị dương tính với virus corona và cần phải tự cách ly tại nhà.

Trong quá trình tự cách ly, bà Clare Gerada đã uống paracetamol 8 giờ một lần. Chồng bà, ông Simon luôn chăm sóc vợ và cả 2 giữ khoảng cách an toàn với nhau. Trong nhiều ngày sau đó, tất cả những gì bà Clara có thể làm là ngủ.

"Anh ấy ngủ trong phòng dự phòng, tôi cho tất cả đồ sành sứ vào máy rửa chén và chúng tôi không dùng chung khăn tắm. Cho đến nay anh vẫn không bị ốm, mặc dù anh đã ở cùng tôi trong nhà. Một người hàng xóm đã giúp chăm sóc vật nuôi trong nhà", Clara tiết lộ.

alt
Bác sĩ Gerada nhanh chóng bị đau họng khủng khiếp, nhiệt độ cao, run rẩy khi nhiễm virus corona chủng loại mới

Khi biết mình nhiễm Covid-19, Clare Gerada không hề hoảng sợ, nhưng so sánh với triệu chứng cảm cúm thông thường, virus corona là điều tồi tệ nhất mà bà từng trải qua.

Sau vài ngày uống thuốc và nghỉ ngơi, sức khỏe bà Clare Gerada dần ổn định. Những cơn đau đầu qua đi, thân nhiệt giảm,... miệng bắt đầu có cảm giác và có thể ăn uống trở lại.

Bà bắt đầu từ các món ăn dễ tiêu như súp gà, món hầm,... để tăng cường sức đề kháng. Khi cơ thể có sức lực trở lại, bà ở nhà cách ly thêm và tiến hành xét nghiệm xác nhận bản thân hoàn toàn chiến thắng virus Covid-19.

"Cơ thể 60 tuổi của tôi đã chiến đấu bảo vệ chống lại một loại virus mới. Tôi hy vọng những kinh nghiệm mà mình chia sẻ sẽ khiến mọi người bớt sợ hãi trước dịch bệnh và có thể giúp các bệnh nhân nhanh chóng phát hiện bệnh và điều trị kịp thời", bà Clara vui mừng nói.

(Theo Dailymail, via VN Net)

19 March 2020

May Mà Cứu Được, chuyện xả xú-bắp

Vùng quê, vị bác sĩ già
Được mời đỡ đẻ xóm xa tít mờ.
Không có điện, trời tối mù
Trong nhà vắng ngắt chỉ trừ Tí con. 
Bà mẹ Tí đang lâm bồn.
Bác sĩ bảo Tí cầm đèn lồng soi
Tí đứng bên, bác sĩ coi,
Bà mẹ rặn mãi rồi lòi thằng cu. 
Nắm chân thằng bé giơ cao
Phát nhẹ vào đít, nó òa khóc lên.
Ông nhìn cu Tí hỏi liền:
“Cháu thấy em bé mới sinh thế nào?” 
Cu Tí đáp lại thật mau:
“Đánh nó cái nữa thật đau, bác à.
Nghịch chi mà nghịch quá đà,
Bò tít vào đó, may được cứu ra.” 
TNT
(Viết theo BaBa Mail)Mar, 4, 2020

Tại sao Trung Quốc bắt đầu vu vạ?

Mạnh Kim

Lối tráo trở của Trung Quốc chẳng ai còn lạ nhưng ở thời Trung Quốc được mặc định trưởng thành hơn cho xứng vị trí “nước lớn” mà Bắc Kinh vẫn không ngưng trò vu vạ “gắp lửa bỏ tay người” thì hội chứng “Đông Á bệnh phu” của họ đã hết thuốc chữa. Cách thức chính trị hóa trận đại dịch lần này nhằm mục đích gì?

Ngày 12-3-2020, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên (Zhao Lijian) tweet rằng dịch cúm Vũ Hán “có thể bắt nguồn từ quân đội Mỹ”. Trước đó vài tuần, chiến dịch đồn đại với thông tin tương tự đã được bật đèn xanh khắp mạng xã hội Trung Quốc. Bằng cớ cho sự “hoài nghi” là việc 300 vận động viên thuộc quân đội Mỹ tham dự Đại hội thể thao quân đội lần thứ bảy tại Vũ Hán vào tháng 10-2019 có thể đã bí mật mang virus vào phá hoại Trung Quốc – như được thuật từ bài viết của Jane Li trên tờ Quarzt (13-3-2020). Tweet của Triệu xuất hiện sau một video quay buổi tường trình tại Quốc hội Mỹ, trong đó, Giám đốc CDC (Cơ quan phòng chống dịch bệnh quốc gia Hoa Kỳ) Robert Redfield nói rằng một số bệnh nhân trước đây được chẩn đoán bị cúm nhưng cuối cùng tử vong bởi coronavirus.

Chụp ngay phát biểu này, Trung Quốc thực hiện ào ạt chiến dịch tấn công trên Weibo, nhấn mạnh rằng Mỹ che giấu nhiều sự thật liên quan trận dịch. Triệu tiếp tục “củng cố” “giả thuyết” bằng việc dẫn ra hai bài báo trên Global Research, cho biết một nghiên cứu độc lập và một tổ chức truyền thông ở Montreal có những bằng chứng cho thấy coronavirus bắt nguồn từ Mỹ. “Bài báo này rất rất quan trọng cho mỗi chúng ta. Đọc đi, phản hồi bằng tweet đi” – Triệu viết. 5 bản tweet của Triệu về việc “hồ nghi” coronavirus bắt nguồn từ Mỹ đã được xem với gần 4 triệu lượt. Trước đó vài ngày, hôm 27-2, nhà dịch tễ học Chung Nam Sơn (Zhong Nanshan) cũng phát biểu trong cuộc họp báo rằng coronavirus xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc nhưng chưa chắc có nguồn gốc ở Trung Quốc. Cần nói thêm, người sáng lập Global Research là nhà kinh tế Canada Michel Chossudovsky, giáo sư kinh tế Đại học Ottawa, một trong những “chuyên gia” “hàng đầu thế giới” về thuyết âm mưu.

Với cách thức ào ạt gần như cùng thời điểm, có thể thấy đây là một chiến dịch được chuẩn bị và tổ chức có chỉ đạo. “Truyền thông đám đông” là trò quen thuộc mà Trung Quốc thực hiện nhuần nhuyễn. “Tiếp sức” cho phát ngôn viên Triệu, Đại sứ Trung Quốc tại Nam Phi, Lâm Tùng Điền (Lin Songtian), cũng tweet rằng coronavirus không hẳn là “made in China”. Trước đó, Tân Hoa Xã đã “bắn mồi” một phát: trận dịch được ghi nhận đầu tiên ở Trung Quốc nhưng điều đó không có nghĩa nó bắt nguồn từ Trung Quốc, và “Tổ chức Y tế Thế giới từng nói nhiều lần rằng COVID-19 là một hiện tượng toàn cầu mà nguồn gốc của nó vẫn chưa xác định”.

Không phải người Trung Quốc nào cũng tin những giả thuyết được nhào nặn từ “phòng lab Bắc Kinh”. Trong cuộc phỏng vấn tờ China Daily, nhà nghiên cứu Trương Văn Hoành (Zhang Wenhong) nói rằng ông không tin coronavirus được mang từ nước ngoài vào Trung Quốc. “Nếu như thế thì chúng ta phải thấy có những bệnh nhân ở những vùng miền khác nhau cùng thời điểm chứ sao lại tập trung chỉ ở Vũ Hán?”. Phát biểu của ông Trương sau đó bị xóa khỏi bài phỏng vấn trên.

Chiến dịch truyền thông bẩn của Trung Quốc càng dễ “thành công” trong bối cảnh tin giả và tin đồn nhảm nhí phát triển như nấm sau mưa. Những tài khoản nổi tiếng trên Weibo, chẳng hạn “Beijing Things”, loan truyền một clip từ truyền hình Đài Loan, cho thấy một nhà nghiên cứu dược nói rằng Mỹ mới là nơi phát sinh coronavirus. Thứ bảy 7-3-2020, “College Daily” (ở New York) – một tài khoản nổi tiếng cho sinh viên Trung Quốc du học tại Mỹ – phát ra hiệu triệu: Nếu nguồn gốc coronavirus thật sự ở Mỹ thì Trung Quốc có nên xin lỗi thế giới không? Tiếp đó, blogger “Heiheig” tổ chức một cuộc “thăm dò ý kiến” (trong cùng ngày), với câu hỏi rằng, dữ liệu về các ca cúm của Chính phủ Mỹ công bố có đáng ngờ không? 91% trong số 116.000 phản hồi đã nói rằng “dĩ nhiên là có (đáng ngờ)”! “Họ (Mỹ) không thể chữa được COVID-19 cho nên họ cố đổ vấy cho Trung Quốc” – một ý kiến nói.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đang mở hết công suất để tái dựng hình ảnh tồi tệ Trung Quốc bởi trận dịch. Ngày 5-3-2020, thứ trưởng Ngoại giao Mã Triều Húc (Ma Zhaoxu) khoe rằng có 62 quốc gia đã gửi tặng Trung Quốc khẩu trang và quần áo bảo hộ. Myanmar tặng gạo. Sri Lanka gửi trà. Mông Cổ biếu 30.000 con cừu… Họ Mã không nhắc Việt Nam, nơi đã “tặng thiết bị, vật chất y tế tốt nhất giúp Trung Quốc chống coronavirus” (như tựa bài báo Thanh Niên ngày 9-2-2020). Họ Mã nói thêm, có đến 170 lãnh đạo thế giới đã bày tỏ ủng hộ nhân dân Trung Quốc. Mã đặc biệt trích lại những nhận xét tích cực của giới chức cấp cao WHO…

Có thể thấy rõ Trung Quốc đang thực hiện một chiến dịch quốc gia để “rửa mặt” bởi những ảnh hưởng từ dịch cúm Vũ Hán. Chiến dịch được phát động rầm rộ hơn khi tình hình dịch bệnh bớt căng thẳng, với sự xuất hiện của Tập Cận Bình tại Vũ Hán ngày 10-3-2020. Đây là đòn “nhất tiễn hạ nhị điểu”. Cách thức vu vạ Mỹ vừa “gỡ tội” cho chính quyền Trung Quốc vừa giúp dư luận trong nước “hạ hỏa” với những mối nguy sờ sờ về sự khủng hoảng niềm tin người dân dành cho chính quyền. Trên hết, nó cũng cùng lúc “rửa tội” cho Tập, giúp Tập lấy lại được hình ảnh tối cao và tối thượng, rằng người dân cần biết ơn cá nhân Tập lẫn Đảng và Nhà nước Trung Quốc, trong việc đối phó một trận đại dịch kinh khủng mà nguồn gốc của nó “không do Trung Quốc tạo ra”.

Mạnh Kim
(Nguồn: Sài Gòn Nhỏ)

12 March 2020

Trăng Đà Trốn Biệt,

Dạo:

     Trăng đà trốn biệt người ơi,
Lấy ai làm chứng cho lời thề xưa.

     Trăng Đà Trốn Biệt

  (Mọi sự trùng hợp với thực tế ngoài đời đều
   là ngẫu nhiên ngoài ý muốn của người viết)

     Em có biết trăng đà trốn biệt,
     Từ khi em quyết liệt bỏ đi.
         Lạnh lùng một tiếng từ ly,
Trên cao ánh mắt từ bi ngỡ ngàng.

     Đêm ngắc ngoải, bụi vàng lất phất,
     Lời kinh khuya tiếng mất tiếng còn.
         Bơ vơ năm ngón tay mòn,
Mượn dây đàn cũ vê tròn nỗi đau.

     Buồn nhớ thuở cùng nhau chung lối,
     Hai đứa quen sớm tối đi về,
         Nhịp nhàng quảy gánh si mê,
Nào hay kết cuộc tái tê đang chờ.

     Em cánh én lững lờ bay liệng,
     Anh dại khờ đáy giếng ngóng trông.
         Chim đà khuất nẻo bờ sông,
Anh còn mê muội đợi mong mỏi mòn.

     Ngày lủi thủi trải hồn trên lá,
     Đêm nghe từng cánh lả tả rơi.
         Lâm râm niệm mãi tên người,
Mơ hồ chỉ thấy mây trời vút qua.

     Bồi hồi ngắm xác hoa trên cát,
     Vẳng xa về tiếng hát trả treo.
         Nương dòng nhạc chảy cong queo,
Nỗi đau tình phụ eo sèo thở than.

     Từng nốt nhạc dần tan thành máu,
     Nuôi khối sầu ẩn náu trong tim.
         Mịt mù tăm cá bóng chim,
Ngọt bùi năm cũ biết tìm nơi đâu.

     Vườn khô khốc, dây trầu héo quắt
     Vẫn trung thành quấn chặt thân cau.
         Một thời ấm lạnh cùng nhau,
Sao em vội vã trước sau hai lòng.

     Anh là nấm mộ không hài cốt,
     Vẫn đêm đêm ủ dột nhìn trời,
         Tấm bia cẩm thạch nằm phơi,
Bao năm canh cánh đợi người khắc tên.

     Kể từ lúc đường tiên đứt đoạn,
     Từng tháng ngày buồn chán chậm rơi,
         Mây đen giăng bủa kín trời,
Con trăng mắc nợ tìm nơi ẩn mình.

     Anh vận số linh đinh nào sá,
     Chỉ lo em chốn lạ sa đà,
         Lọt vào cạm bẫy người ta,
Một lần lỡ bước, xót xa muộn màng.

     Trăng trốn biệt, đêm càng buốt lạnh,
     Năm canh dài vặt vãnh cơn mơ.
         Tần mần giở lại tờ thơ,
Trên trang giấy cũ còn trơ vết sầu.

                  Trần Văn Lương (CH8)
                      Cali, 3/2020

Thưởng Thức Nhạc Cuối Tuần

Ca khúc Tóc Xưa
Nhạc: Ngô Thụy Miên Thơ Dương Văn Thiệt
Trình bầy: Ca sĩ Minh Châu.
                                                                                                                                                                  Riêng tặng bạn hiền HHSơn với nhiều cảm thông.

Ca khúc Tóc Xưa của Nhạc Sĩ  Ngô Thụy Miên  phổ nhạc bài thơ Tóc Xưa  của Dương Văn Thiệt. Bài thơ lấy cảm hứng  từ một chuyện tình tuyệt đẹp của một cặp đôi yêu nhau tử thủa đi học  cho tới khi bạc đầu và một tình bạn khắng khít thời còn học Trung học với nhau  ở Trường Nguyễn Trãi và Petrus Ký thập niên 70. Tất cả như một bức tranh đẹp về tình yêu, lòng chung thủy, nghĩa vợ chồng, sự chia cắt đầy nước mắt đan quyện cùng  tình bạn trong sáng tựa pha lê  làm nên ca khúc tuyệt vời như một dòng nước mát để lại  mãi mãi cho đời
                                                                                                                                      http://www.art2all.net/nhac/khekinhkha/tocthe.jpg

Nhưng có điều, khi thưởng thức ca khúc này, giới thưởng ngoạn rất ít người biết về tác giả bài thơ,  cũng như ngọn nguồn thai nghén ra tuyệt tác Tóc Xưa làm rung động lòng người. Lời thơ, mỗi câu, mỗi chữ như xé gan xé thịt lột tả tâm trạng đau đớn của người ở lại nhớ thương hiền thê ra đi vì bệnh ung thư.

Thật ra tác giả Dương Văn Thiệt không phải là thi sĩ, ông chỉ làm thơ tay ngang để tặng vợ là chị Thọ Chi. Trước năm 1975 ông là Bác sĩ còn chị  là Dược sĩ, làm việc ở Sà gòn.   Sau năm 1975, họ vượt biên và định cư tại Bolton Anh Quốc. Thời gian lâm bệnh,vợ ông bắt đầu rụng tóc và ông hằng ngày thu gom tóc để lại một ít làm kỷ niệm. Năm 2010,vợ ông mất, ông gom toàn bộ thơ tình ông làm tặng vợ và số tóc cất giữ cho vào áo quan  để người ra đi mang xuống tuyền đài. Sau đám tang ông giữ nguyên trạng căn phòng ngủ của hai người .để được sống tới cuối đời với những nỗi niềm như khi vợ ông còn sống bên ông.

Mãi ba năm sau trong khi dọn lại căn phòng ông bất chợt nhặt được sợi tóc của vợ còn kẹt trong gối. Đêm đó vì quá xót xa, không thể lột tả được nỗi buồn thương nhớ, ông đã sáng tác bài thơ Tóc Xưa mà trước đó ông mới chỉ sáng tác duy nhất bài thơ Nguyệt Lạnh trải lòng cùng người vợ quá cố.

Nhiều người cho rằng những bài thơ hay phải là những rung động đi thẳng từ tim ra mặt giấy mà không qua quá trình sàng lọc, chọn chữ, suy nghĩ. Bài thơ Tóc Xưa có lẽ vì vậy đạt tới nét tuyệt vời  nhất là hai câu kết

Tóc xưa giờ đã xa bay
Sợi buồn ở lại ngắn dài xót xa

Nghe bâng  khuâng như một tiếng thở dài xót xa hơn cả chuyện tình Romeo và Juliette vì chuyện tình này chỉ là sản phẩm tưởng tượng của Shakepear chứ không có thật.  Bài thơ hay và xúc động đến nỗi ngay năm đó, được sự đồng ý của tác giả, Bs N. M. Tiến  và  Bs L.V.Thu, đã cho đăng trên số báo xuân và gửi cho Nhạc Sĩ  Ngô Thụy Miên phổ nhạc vì họ cùng là bạn học của nhau ở Petrus Ký.

Tôi cũng  cảm nhận như nhiều người: quá khứ là một phần của cuộc sống vì quá khứ làm nền tảng cho hiện tại  và tương lai nên hình như ở tuổi 60-70, người ta thường hay nhắc đến, hoặc dùng chữ “Xưa” như mắt xưa, áo xưa, dáng xưa, người xưa,… để kể lại một câu chuyện, để nhắc lại một ngày tháng nào với nhiều hoài niệm? Có phải “Xưa” đó luôn là những kỷ niệm đẹp không hề phai tàn qua năm tháng, là những nỗi nhớ nhung chẳng hề quên lãng qua bao thăng trầm, đổi thay của cuộc sống? Có lẽ trong trái tim của tất cả chúng ta, “Xưa” cũng chính là nỗi mất mát, niềm tuyệt vọng nào đó đã thoáng qua nhưng mãi ở lại vĩnh viễn trong ký ức sâu thẳm nhất của đời mình”.

Ca khúc này đã được các ca sĩ Bằng Kiều, Thục Đoan, Bích Vân, Keith Đỗ v.v hát nhưng tôi vẫn thích giọng ca nhừa nhựa  phảng phất chút trầm buồn giọng ca Khánh Ly của ca sĩ Minh Châu thể hiện. Đó là lý do tôi chon Tóc Xưa  làm chủ đề cho chương trình Thường thức nhạc cuối tuần này để tặng cho chính mình, tặng cho em trai vì chúng tôi đều có hoan cảnh như Thi/Bác sĩ Dương Văn Thiệt.

San Jose 6-3-2020

TeHong



Chơi và đồ chơi

Phạm đức Thân

Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

Đầu năm dân VN ăn chơi cả tháng, thiết tưởng cũng là dịp để bàn về chuyện ăn chơi. Đề tài quá rộng lớn, bài này xin thu hẹp chỉ đề cập đến chuyện “chơi” trong ngôn ngữ.

Dĩ nhiên muốn chơi, phải có “đồ chơi”, cho nên cũng có đề cập đến “đồ chơi” nữa.

Theo B.L. Whorf cơ cấu ngôn ngữ của một dân tộc quy định kiểu dân tộc đó nhìn thực tại như thế nào. Ngôn ngữ chỉ là âm thanh hay dấu hiệu quy ước tùy tiện với ý nghĩa biểu thị tương ứng, tự bản thân chúng không có sạch bẩn. Nhưng do tập quán văn hóa xã hội của cộng đồng sử dụng, đã tạo nên những liên tưởng nơi người nghe, chúng mặc nhiên mang ý nghĩa hàm chỉ thái độ, tình cảm của người nói. Bởi thế mới có phân biệt lối nói hoặc từ ngữ “sạch – bẩn, thanh – tục”.

Người viết dẫn vào bài bằng lối nói thanh vì nếu không, sợ sẽ gây phản ứng ban đầu bất lợi, chứ thật ra nội dung chủ yếu của bài bàn về cái tục của ngôn ngữ, vì đó mới là điều lý thú. Còn nếu bàn về dâm tình một cách khách quan chính xác như y khoa và hàn lâm, dùng toàn những từ Hán văn hoặc Latin, không có khoác lác hoặc than phiền về kinh nghiệm cá nhân, nhận xét về vẻ hấp dẫn của ai đó, cũng như tức giận chửi thề… thì thật là tẻ nhạt, chẳng đáng bàn. Ví dụ: nếu “mềm nhũn, bất lực” cho thấy cả bầu trời u ám, buồn rầu, lo lắng của chủ nhân, thì “rối loạn chức năng cương cứng” chả gây được một cảm nhận nào. Tương tự “l.” gây bao ao ước, thèm muốn, còn “âm hộ” nghe bình thản làm sao.

Mặt khác, thích nghĩ tục, nói tục, nghe tục là bản tính cố hữu của con người. Như George Moore (1888) đã chỉ ra: “A taste of dirty stories may be said to be inherent in the human animal.” Vậy thì “chơi” và “đồ chơi” ở đây có nghĩa là “chuyện ấy” và “cái ấy.”

Thật vậy, từ khi con người biết nói và viết thì liền đã có nói và viết tục rồi. Các chữ cổ và hình (cái giống nam nữ, và cả giao hoan nữa) khắc trên vách hang động cho thấy từ thuở xa xưa đã có dâm tục. Đây là một hiện thực xã hội. Kịch thơ Hy La không thiếu những đoạn công khai nói về dâm tình, với mục đích giải trí hoặc kích thích, trong các tác phẩm của Aristophanes, Horace, Ovid…. Tường nhà chứa ở Pompei khắc hoặc phù điêu đầy những cảnh giao hoan. Những tượng thần Priapus ở Hy Lạp tồng ngồng hết sức tục tĩu. Đông Phương cũng không thua kém với Kinh Thi, Nghìn Lẻ Một Đêm, Kamasutra (Dục Lạc Kinh), các tượng dương vật bằng gỗ đá tại các nước Đông Nam Á … Anh có thơ của Chaucer, Dunbar… Pháp có farce (hài kịch) thế kỷ XIV….Ý có mỹ thuật và thi ca Florence thời Phục Hưng…. VN có ca dao tục ngữ…Đâu đâu cũng thấy tình dục là một chủ đề rất phổ biến trong kịch, thơ, ca hát, mỹ thuật….Và cứ thế phát triển bành trướng tới hiện đại với các phương tiện truyền thông đa dạng (in ấn, audio, video, internet…)

Mặc dù từ đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện thuyết tiến hóa Darwin về nguồn gốc con người là khỉ, nhưng do ảnh hưởng của tôn giáo và văn hóa nhiều thế kỷ trước, thiên hạ vẫn bám víu vào quá khứ, sợ sự thật cuộc sống trước mắt, tránh nói trực tiếp đến các hoạt động sinh lý cơ bản (ỉa, đái, làm tình…) cũng như các cơ quan liên hệ, vì chúng nhắc nhở con người cũng chỉ là một loài động vật, không phải thần thánh. Thành thử con người đã tìm cách nói quanh co, không thành thật để diễn tả cáí giống, các hoạt động làm tình, bài tiết. Nói dối là điều không thể thiếu được để cho cuộc sống dễ chịu hơn.

Người ta đã tránh nói tục bằng nhiều cách:

– nói trại đi: đíu, đếch, ị, ể, kít, lìn, bòi, dế, tè…
– dùng ngoại ngữ: âm hộ, dương vật, giao hợp, sít-nớp, síc-nai, nô-he…
– viết tắt: C, L, con xê, cái lờ, ĐM ….
– nói trừu tượng hoặc phiếm định: nó, ấy, cái ấy, chuyện ấy…
– nói lái: nắng cực, đá bèo, lộn lèo…
– dùng uyển ngữ: vưu vật, mây mưa, trăng hoa…
– nói gián tiếp, bóng gió, xa gần: chỗ kín, của quý, chăn gối…
– nói giảm thiểu, tỉnh lược: lỗ, cọc, ngủ, biết, có gì, ăn nằm, làm bạn…
– nói dài dòng (tránh 1 âm tiết, đặc tình của từ tục): thám hiểm Ngọc Long Cung…
– dùng điển cố: cõi Bồng Lai, Cực Lạc, Thiên Thai, đỉnh Vu Sơn..

Thật ra mấy cách chót nói trên trộn lẫn với nhau rất khó phân biệt rạch ròi; và cũng còn rất nhiều cách tương tự không thể kể hết, vì trí tưởng tượng của dân gian thì phong phú vô cùng. Ví dụ: bướm, lá, hoa, nghêu, sò, trai, hến, chim, cò, kiếm, dựng cột buồm, may tay, may máy, vầy duyên loan phụng, vác cầy qua núi, kim kê áp noãn… Tùy theo muốn diễn tả thi vị, hài hước, hay thông tục người ta có thể ví von, so sánh, lửng lơ, úp mở… đủ cách, đủ kiểu… Việt ngữ chưa ai thống kê, nhưng English có trung bình vài trăm cách nói thay cho mỗi chữ cock, cunt, fuck.

Tuy nhiên, những từ cấm kỵ có một hấp lực đặc biệt, đó là tính sơ khai. Chúng ít bị ảnh hưởng của tiến hóa, giữ được nhiều sức mạnh nguyên thủy. Chúng nhiều tính biểu thị cụ thể, rất ít tính trừu tượng của ngôn ngữ. Chúng tự hiện diện như là phỏng tạo của hành động hơn là lối nói của ngôn ngữ. Chúng rất sát với những thôi thúc, thèm khát là bản năng cội nguồn của con người. Thảo nào người ta thích nói tục, nghe tục, chửi tục, đố tục, đối tục…nhận thấy trong ca dao, tục ngữ, tiếu lâm tục, thơ văn của văn nhân.

Mảng nói tục lớn nhất là ca dao tục ngữ dân gian, vì không có tên tác giả, nên ai cũng có thể tùy hứng, tùy khả năng, phóng tâm đóng góp mà không sợ bị nhận diện.

Tha hồ khêu gợi, kích thích, tạo hình ảnh sống động để quyến rũ, gây cho người đối thoại có cùng một hứng thú như mình. Kiểu thơ Bút Tre (ngắt chữ câu thơ trên đem xuống câu dưới để bién đổi nghĩa) là một đóng góp hiện đại vào kho tàng văn học dân gian.
Mấy em mặc váy đánh cầuLông, bay phất phới trên đầu các anh.
Hình thức tổ chức xã hội mọi thời, mọi nơi thường được điều hành qua kiểm soát tình dục cho nên tính dục là đề tài nổi bật, và ngôn ngữ tục rất phổ biến, vì có thể dùng để phản kháng xã hội, giai cấp thống trị, chống lại các giá trị, và có khi còn để lăng nhục, nguyền rủa qua chửi thề tục tĩu (thường dùng bộ phận cơ thể hoặc súc vật để ví von). Vd. thằng c. luộc, thằng mặt l., thằng bú c., thằng ăn cứt, con mặt mo, con đĩ ngựa…mà English thường có tương đương; thằng chó đẻ (son of bitch) đồ con hoang (bastard) đồ chó cái (bitch), prick, cunt, asshole…

Có nhà tâm lý cho rằng nói tục là thủ dâm bằng lời. Những tưởng tượng phóng túng về dâm tình thuở thiếu thời bị dồn nén, nay trưởng thành , có thể được giải tỏa, bộc lộ qua nói tục. Người khác coi nói tục là mặt nạ của sợ hãi trong tiềm thức. Do phức tạp của tâm lý con người, nói tục mà không biết rằng chính là để che dấu một hãi sợ nào đấy, và cứ tưởng là được tự do ăn nói, trả thù xã hội thượng lưu. Nói tục cho phép giải tỏa tâm lý những giận dữ, thất vọng, dục vọng, phản kháng, lo âu….được dùng để tự vệ, phê bình, phản kháng, tấn công, trừng phạt cũng như kích thích, quyến rũ…

Nói tục là cấm kỵ, là đại tác phẩm của vô danh, cho nên trước đây không được ghi chép, mà thường là truyền khẩu. Ngày nay do nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu, nhất là với phương tiện internet phổ biến, đã có những sưu tầm nhất định. Đáng kể là Mạc Thực Thái Doãn Chất, trong bài online “Cái Ây và Chuyện Ấy trong Ca Dao Tục Ngữ” đã thu thập khá nhiều, đủ dùng làm ví dụ dẫn chứng cho phần về ca dao tục ngữ của bài này; cho nên người viết đã không đưa thêm những ví dụ mình sưu tầm được. Đã hẳn tựa bài cho thấy ông chú trọng đến ca dao tục ngữ, và hầu như không đề cập thơ văn tục của văn thi sĩ

Thật ra văn thi sĩ cũng có làm văn thơ tục, nhưng số này rất ít, vì chắc là ngại dị nghị của xã hội, không được tự do như tác giả vô danh của ca dao tục ngữ. Trừ Hồ Xuân Hương có một số bài thơ tục và câu đối, còn là chỉ thấy lưu lại rất ít thơ văn tục của các vị khác (ví dụ: Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Nghè Tân, Phan Bội Châu, Tú Mỡ, Bùi Giáng…). mà phần lớn là câu đối và nói lái. Với họ nhiều phần đây là một kiểu chơi chữ phục vụ một mục đích xã hội. Đây có thể là dịp bộc lộ những động lực bị dồn nén, những nhu cầu bản năng thầm kín. Đồng thời muốn thử xem phản ứng của xã hội hoặc người đối thoại; cũng như khẳng định mặt bản năng nguyên sơ của cuộc sống, chống lại sức mạnh cấm đoán của chung quanh. Có thể coi đây là một trò chơi của thượng lưu ưu tú sành điệu. Dưới đây là vài vd tiêu biểu ít người biết.

SƯ: Thông ba sáu bộ chân kinh, dẫu chẳng La Hán Kim Cương, cũng cao tăng đắc đạo.

HXH: Dù hay ba vạn chín nghìn, không biết méo tròn ngang dọc, thì cũng đếch ra người.

HXH: Khi khép tối om om, quân tử tò mò nhìn chẳng thấy.
           Lúc mở ra toang hoác, anh hùng tấp tểnh đứng coi

Nguyễn Đôn Dư vịnh Cái Bật Lửa:
Lẹt đẹt hồi lâu lửa chẳng raNgán thay cái quẹt của ông giàCon cò chắc đã mòn khu ốcViên đá e khi hỏng ruột gàĐè xuống kéo lên thêm hỏng trụcBấm qua bóp lại muốn trầy daDầu đà xì bậy tim đà ướtToan vất nhưng mà có kẻ la
Bài thơ dưới người viết được nghe đọc nhưng không rõ tác giả:
Không tai không mắt lại có đầu
Chui vào hang thẳm lún rất sâu
Bịt một cái khăn không mặc áo
Mang hai cái đãi, có chòm râu
Khi vui ngúc ngoắc làm ra vẻ
Lúc mệt ủ ê giống đứa sầu
Uống rượu ở đâu mà chẳng biết
Vừa ra khỏi cửa mửa như trâu.
Phan Minh Phụng vịnh Tờ Báo… Hại” (có nhiều nói lái)
Chỉ đáng vò đi để độn lòCâu đây móc đó đọc buồn soPhao đi đồn lại nhiều tin quấyVùi lộn chôn lầm lắm hạm toBịa cảnh canh khuya cô tú đợiBầy trò đêm tối lính đồn loHãy xem đạo Dụ ghi điều luậtĐồn lại tin sai phạt mấy bò
Người viết cũng có bài nói lái “Tìm Đạo Tu”
Lại đồn cụ Bắc có cốt tuChán cảnh mây mù ảm đạm thuThiên hạ chẳng thương nhau mà sốngChiến tranh chi để đạn bay mùẦm ầm đánh thức con công ngủNgã lộn phèo dưới ánh điện luKhắp chốn cảnh ruồi bu kiến đậuKhông còn chỗ đứng, tìm đạo tu.
Nhân đây xin bàn rộng sang liên hệ giữa tính dục và ngôn ngữ, vì giữa chúng thường có liên tưởng. Người ta thích nói tục, nghe tục có lẽ do cái lưỡi cái tai hình như cho nhiều khoái cảm, nhiều liên tưởng đến cái ấy, chuyện ấy.

Cái tai tượng trưng cho giống cái. Ngoáy tai cho nhiều khoái cảm, và phụ nữ dễ bị quyến rũ bởi lời đường mật. Xưa ở Ai cập, phụ nữ ngoại tình bị hình phạt cắt tai và ở VN cô dâu bị phát hiện mất trinh trước khi về nhà chồng sẽ bị bêu xấu bằng con lợn quay bị cắt tai. Tục lệ khác là đến tuổi lấy chồng con gái được xỏ dái tai để đeo bông tai, là chỉ dấu sẵn sàng làm vợ. Huyền thoại các nước đều có chuyện những đấng tôn giáo, dị nhân thường sinh ra từ lỗ tai (Phật, Gargantua…). Cổ văn Latin ghi rõ “Virgo Maria, Mater Christi, quae per aurum concepisti”, Maria, mẹ Ky-tô thụ thai qua tai, cho nên được gọi là Đức Mẹ Đồng Trinh. Một truyện dân gian Jugoslav có tựa là “Usi meggu nogama” (Tai Giữa Cẳng Chân) cũng là ám chỉ cái ấy.

Cái tai cũng liên hệ với nói lái, vì nói lái, nghe lái thú hơn viết lái, đọc lái. Nói lái chủ yếu về tai nghe, viết lái nhiều khi làm lái mất tác dụng vì đọc lái bằng mắt có khi không nhìn ra lái. Nhiều người không nhận ra điều này, thành thử giải thích câu thơ HXH “Trái gió cho nên phải lộn lèo” chỉ nói lái “lộn lèo” mà bỏ qua “trái gió”. Chữ này nói lái lên nghe thành “d[gi]ái chó” rất hợp với “lẹo l.”. Tương tự, đọc bằng mắt bài thơ sau, lái giảm tác dụng; nhưng nếu nghe bằng tai, “tr” dễ trở thành “ch”, tác dụng khác hẳn.
Cô kia sao cứ trông Trời (-chơi chồng)Để tôi xin nguyện làm Trời cô trông (-làm chồng cô chơi)Trông Trời sướng lắm phải khôngTrời mà trông lại còn mong nỗi gì (-chồng mà chơi lại)
Cho nên người ta bảo “nói lái, nghe lái”, chứ không bảo “viết lái, đọc lái.” Trường hợp sau dùng cho việc ghi lại, sưu tầm, nghiên cứu. Nói lái là một đặc điểm ưu việt của Việt ngữ, được dùng nhiều, nhất là trường hợp muốn che dấu cái tục. Anh Pháp cũng có nói lái nhưng chỉ có thể sử dụng hạn chế.

Ví dụ nói lái Pháp (contrepèterie):

– très chaud (nóng quá) - trop cher (đắt quá)
– ne pas connaitre d’orgie sous un tel marasme (trầm cảm như vậy, không thiết truy hoan)
ne pas connaitre d’orgasme sous un tel mari (chồng như vậy, không thấy cực khoái)

Ví dụ nói lái Anh (spoonerism):

– Go and take a shower (đi tắm vòi sen)
Go and shake a tower (đi rung cái tháp)
– I must send the mail (tôi phải gửi thư)
I must mend the sail (tôi phải vá buồm)

Thơ Bút Tre cũng đòi hỏi phải nghe. Nếu nhìn đọc đúng chính tả, với dấu phẩy đúng chỗ, thì không còn thấy nghĩa đã biến thái thế nào. Độc giả nhìn bài thơ sau, đọc bằng mắt đúng chính tả sẽ thấy không còn là thơ BT nữa.
Anh đi công tác Pờ-Lây-Cu, dài dằng dặc biết ngày nào raCòn em em vẫn ở nhàCửa, mình em mở kẻ ra người vào.
Cái lưỡi còn cho nhiều khoái cảm hơn tai, có nhiệm vụ nói và cung cấp khoái khẩu khi ăn. Lưỡi tượng trưng cái giống đực, ngoáy vào tai biểu thị động thái giao hoan hết sức gợi cảm, hoặc là rót váo tai lời ngon ngọt để quyến rũ, hoặc là thuyết khách như Tô Tần Trương Nghi ngày xưa làm tới Tể Tướng. Thật đúng với câu “Có lưỡi là có tất cả”, nhất là đôi với các lão niên yamaham vẫn còn thích nguyệt hoa cho dù thằng con đã yếu.

Có nhà ngữ học còn cảm giác như lưỡi là cơ quan thích hợp để nói chuyện dâm tình, vì âm vòm lưỡi “l” mềm trơn dễ uốn nắn, có mặt trong hầu hết những từ (liên hệ xa gần đến dâm tình) của nhiều nước trên thế giới. Xin chỉ liệt kê từ của vài nước quen thuộc; lewd, lustful, lascivious, lecherous, lickerish, libidinous, voluptuous, fellatio, cunnilinctus (Anh), leicho (Hy Lạp), lecken (Đức), lingere (Latin), lécher (Pháp), leccare (Ý), lamer (Tây Ban Nha), lizat (Nga)…VN đóng góp không nhỏ về điểm này: l., (lấp) liếm (láp), luồn lách, lẹo (tẹo), lép nhép, lả lơi, lạch, lai láng, lạc thú, lụi, lọi, lèn, lang chạ, lênh láng, lông lá, lông l., lau lách, lắc lư, lặn ngụp, lăng loàn, lăng nhăng, lăn lộn, lấp, lắp (ghép), lấp ló, lặn lội, lầy nhầy, len lỏi, lèo lái, lên, lông lốc, lụi khoan….toàn từ dễ liên tưởng tới cái ấy, chuyện ấy.

Lê văn Siêu từ lâu đã chỉ ra rằng Trung Hoa có chữ tượng hình dùng hình ảnh để minh họa ý, nhưng VN có tiếng tượng hình dùng âm thanh để diễn tả ý. Ông liệt kê những ý tương ứng với các âm Í, U, Ơ, Ị, Ọ, ẤP, ẬP, ÓT, ÚT, ONG, OĂN, OAY, OM, ÓP, UỐT, UA. Vd âm Í chỉ cái gì nhỏ nhít, như ti hí, bé tí, chuột chí… Không thấy ông nói gì đến âm ÍT, ỊT. Theo người viết hai âm này chỉ cái gì tắc tị, bịt kín. Ví dụ: khin khít, tắc tịt, bịt, đen kịt, khìn khịt. Các phụ âm Đ, C, K, T toàn là những phụ âm tắc, sắc gọn, đanh, chắc nặng, đòi hỏi một sự bung ra, tạo nên các từ CẶC, COCK, CUNT nghe thật mạnh mẽ. Đ kết hợp với âm ỊT tạo nên từ Đ.T diễn tả sống động động tác làm tình, với liên tưởng chỗ bịt bị xịt để bung ra giải tỏa căng thặng. Các từ fuck (Anh) foutre (Pháp) không thể nào tạo được một âm hình tuyệt vời như thế. Mặt khác, có lẽ người miền Nam hiền hòa hơn, nên ĐỤ, ĐÙ thiếu hẳn sức mạnh của Đ.T ở miền Bắc.

Ngôn ngữ cũng có mầu sắc phái tính, thường được đặt ra bởi phái nam áp đảo phái nữ suốt chiều dài lịch sử . Cho nên các từ về tình dục phản ánh cái áp đảo này. Với âm đ đanh sắc, các từ đ., đéo, đụ, đánh, để, đục, đẽo, đâm, đút, đè, đụng, đồ, đì… cộng thêm các từ (hãm) hiếp, phá trinh, xỏ, xiên, thọc, thụt, bề, chơi, làm, xơi tái… cho thấy vai trò chủ động của phái nam trong chuyện ấy. Nữ luôn luôn bị thiệt thòi, trong thế thụ động: mất trinh, thất thân, tiêu đời, bị này bị nọ…

Nói tục đôi khi không cưỡng lại được. Đó là do bệnh hội chứng (Gilles de la) Tourette. Bệnh nhân bị co giật, nói tục, chửi thề. Nguyên nhân hiện chưa xác định. Có thể do gien di truyền. Có thể do một hóa chất nào trong não tác đông. Có thể một hệ thống thần kinh kiềm hãm các nói tục bị xáo trôn khiến các tục tĩu này bung ra, không thể kiềm chế. Hiện chưa có trị liệu nào bảo đảm hiệu quả. Nhưng cũng may là bệnh phát từng cơn không phải liên tục suốt ngày.

Trên đây là những nhận xét chủ yếu về nói tục, mặc dù cũng có điểm qua vài bài thơ tục. VN chưa được giải phòng về tình dục như các nước Âu Mỹ, cho nên viết tục còn rất hạn chế, chỉ có lác đác một số ít thơ và câu đối, không có lấy một mảng dâm thư đúng nghĩa dù nhỏ nhoi, mặc dù trên net nhan nhản các đoản văn tục tĩu của các netter tài tử. Tình trạng này khiến chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ về ngôn ngữ tục VN, cũng như từ điển chuyên ngành ngôn ngữ tục. Người viết phải tham khảo ngoại văn để tìm hiểu kết quả nghiên cứu của họ.

Theo các nhà nhân chủng và tâm lý, hiện tượng nói tục, viết tục là phổ biến trên thế giới. Luôn luôn có người muốn văng tục để giải tỏa tâm lý, viết tục để kích thích, khêu gợi tình dục, vì tình dục không thể thiếu trong đời sống. Tuy nhiên cần hạn chế, không thể đi quá trớn, sẽ gây phản cảm, cọ xát, thiếu lịch sự trong xã hội. Mặc dù tình dục được giải phóng nhưng các từ tục tĩu vẫn có những mức độ chấp nhận khác nhau. Những từ cấm kỵ như cock, cunt, fuck, shit, ass… vẫn chưa được dùng thoải mái.

Thiết tưởng chỉ cần thay những English trên bằng c., l., đ., cứt… ta có thể áp dụng kinh nghiệm của họ vào xã hội VN thì cũng chẳng sai!

Phạm đức Thân
Nguồn: Tác giả gửi

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...