13 December 2015

Đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975 rất khoa học, có tính giáo dục cao

Cách đặt tên đường ở Sài Gòn trước 1975 rất hay, rất có dụng ý rất có ý nghĩa. Người đi từ cửa ngõ vào tới trung tâm Sài Gòn, nếu để ý bạn sẽ thấy cả một chiều dài lịch sử của nước Việt trên từng bước chân.

Panoramio - 
Photo of bến Hàm Tử
bên kênh Tàu Hủ

 * Khởi đầu từ Bến xe Miền Tây ta sẽ có Hồng Bàng, An Dương Vương, Triệu Đà… Bà Triệu… rồi thì có Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục… Tiếp đến là Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh…Lý Chiêu Hoàng. Nhà Trần thì Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo và các tướng quây quần Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư…

* Các bến sông gồm có Vạn Kiếp, Hàm Tử… Bến cảng lớn nhất thì đặt tên Bạch Đằng…

* Cứ thế vào càng gần trung tâm thì càng tiệm cận đến hiện tại như Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Trãi… rồi tới nhà Nguyễn lại càng gần trung tâm hơn nữa như Nguyễn Hoàng, Minh Mạng, Tự Đức cùng các tướng lãnh như Võ Tánh, Lê Văn Duyệt…

* Chệch qua phía bắc khu trung tâm (phía Quận 3) ta có triều Tây Sơn và các nhà văn, nhà thơ, học sĩ : Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… cùng với các võ tướng Tây Sơn : Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu…

Một người đi từ bến xe vào trung tâm nếu thuộc Sử Việt và để ý tên đường thì rất dễ hình dung mình đang ở khu vực nào trong Thành phố.

Hay nhất là sau dòng chảy lịch sử, thì tất cả đều tập trung vào một đại lộ mang tên Thống Nhất, đẹp và rộng với quảng trường bao la dẫn thẳng vào cơ quan quyền lực cao nhất thời đó (trước 1975) DINH ĐỘC LẬP.

Con đường nhỏ hơn một chiều, chạy ngang Tòa án và cổng chính Dinh mang tên Công Lý (Công Lý thì không thể nào 2 chiều được !). Hai con đường song song với Đại Lộ Thống Nhất được mang tên của hai danh nhân đã tạo ra chữ viết của Việt Nam là Hàn Thuyên và Alexandre de Rhodes với hàm ý biết ơn sâu sắc…

Nguồn : Facebook Vietnamnet

Thủ tướng Canada và phu nhân đúng là cặp bài trùng thuộc đợt sống mới!


Đệ nhất Phu nhân Canada để tạp chí Vogue (Thời Trang)
chụp hình mình với chống khiến thế giới chú ý 

11 December 2015

BÊN SÔNG, tùy bút

Tôi có một người bạn có anh trai du học ở Pháp đã hơn năm mươi năm, rồi định cư ở đây. Anh ta lập gia đình với một phụ nữ bản địa. Mới đây anh đưa vợ con về Việt Nam thăm gia đình ở trong một con đường nhỏ gần đường Tự Do, Sài-Gòn. Vợ anh muốn anh đưa đi thăm những nơi gắn với tuổi thơ của anh. Anh đưa ngay vợ mình ra bến Bạch Đằng, chỉ xuống dòng sông rồi nói: “Hồi bé anh thường ra đây tắm và bơi lội.” Bà vợ trố mắt kinh hãi: “Anh tắm dưới dòng nước bẩn và thối như thế này à?” – “Ừ, nhưng hồi đó nước trong và sạch, chứ không như bây giờ … Đó là dòng sông tuổi thơ của anh”. Nó đọng lại trong ký ức của anh một cách bền bỉ sau mấy mươi năm xa cách.

Tình cờ trở lại và đi dọc theo bờ hay băng qua chiếc cầu một con sông, chúng ta thường hồi tưởng hay liên tưởng đến một kỷ niệm nào đó. Nước và thời gian là hai hình ảnh đồng hành, cả hai di chuyển theo cùng một chiều bất khả vãn hồi: biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu!

Một lần đi thăm các lâu đài sông Loire (les châteaux de la Loire) ở miền trung nước Pháp, đứng bên phía lâu đài Amboise nhìn xuống dòng sông Loire, nước chảy dội vào chân cầu trắng xóa làm tôi chợt liên tưởng đến vần thơ mình yêu thích. Cảm giác thật bồi hồi!


Lâu đài Amboise
bên bờ sông Loire



Mai mốt em về đâu
Con sông nước chảy trắng chân cầu
Tiếng hát già nua người bạn cũ
Đêm dài muôn thuở buộc lòng nhau.
               (Cõi Nghìn Trùng, Hoàng Trúc Ly)
Một lần dừng chân bên cầu, nhìn xuống dưới kia hồi tưởng ngày xa xưa ấy sóng nước lung linh soi bóng người con gái thuở nào. Bóng kỷ niệm chỉ còn là ảo ảnh, nhưng vẫn hiện rõ mồn một

DE CE PONT
De ce pont où tu te penchas
J’ai jeté ce soir mes filets
Pour reprendre à l’eau ton image.
                (De Ce Pont, Pierre-René Favre _ 1901-1949)
Hôm nao đứng bên cầu
Nhìn sông em cúi đầu.
Chiều nay anh thả lưới
Vớt lại dáng yêu kiều
               (Bên Cầu, Lãng Nhân- Phùng Tất Đắc dịch)
Tiểu sử của Pierre-René Favre, theo một tài liệu trước 1975, là người Pháp sinh ra và lớn lên tại Việt Nam. Ông rất giỏi tiếng Việt. Bài thơ chỉ vỏn vẹn ba câu nhưng ý tứ cô đọng như một bức tranh đi vụt từ quá khứ xa xăm đến hiện tại: chiều nay. Lãng nhân dịch động từ reprendre thành vớt lại cũng đã là rất khéo rồi! Còn image dịch là dáng càng hay nữa! Ta thường nói bóng dáng, gồm bóng chỉ vật thể hình thành từ ánh sáng, còn dáng hình thành từ cử chỉ hay dáng điệu. Dáng đậm nét quá khứ hơn bóng.

Nước vẫn chảy, thời gian vẫn trôi nhưng ai đó vẫn ở lại _ tôi đứng bên này … và ta ngồi lại _  không phải theo ý niệm không gian mà là trạng thái dừng của thời gian. Bên kia bờ, vùng dĩ vãng vẫn mịt mờ khói sương. Còn bờ bên này dĩ vãng chỉ còn lại bến hoang sơ, cây cỏ mọc hoang vu, hay lau lách động và u uất buồn.
Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
Thương về con nước ngại ngùng xuôi.
                      (Gởi Người Em, Hoàng Trúc Ly)
Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ.
Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia vẫn cứ chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.
                      (Ngồi Lại Bên Cầu, Hoài Khanh)
Bến sông này, bến sông này
Trăng xưa lạnh xuống hàng cây gục đầu
Người xưa chừ biết là đâu
Này trăng gió cũ này câu giã từ
Lối đi vàng nhạt mùa thu
Nghe lau lách động niềm u uất buồn.
                      (Trông Theo, Hoài Khanh)
Hồn thi sỹ với bến bờ dĩ vãng, vốn vẫn luôn là bạn cố tri.
Con sông nào đã xa nguồn
Thì con sông ấy sẽ buồn với tôi.
                       (Hoài Khanh)
Vào thời tiền chiến, phương tiện đi lại tự động không nhiều. Đơn sơ chỉ là còn đò, chiếc thuyền gắn liền với bến sông, dòng nước. Cảnh chia tay có người đi, có người ngóng bên bờ.
Bến ấy ngày xưa người đi, vấn vương biệt ly
Gió cuốn muôn phương về đây, thấy bóng người về hay chăng.
…
Bến cũ chiều sương chờ mong, vấn vương lòng ta
Gió cuốn mây trôi về đâu, cố nén sầu lòng bao năm.
Lời mở đầu và kết thúc bản nhạc tiền chiến “Bến cũ” (1946) của nhạc sỹ Anh Việt đã rung lên một thời hoài niệm. (*)

Tình vẫn quyện theo gót chân tang bồng lãng du, cho dù đi xa nhưng vẫn nhớ đến và gìn giữ hình bóng ai đó suốt chặng đường đời: “Anh không giữ trong tay một kho tàng hay một danh vọng nào cả. Anh chỉ giữ có hình ảnh một buổi chiều, khi nắng vàng nhuộm mái tóc em” _ Dạ Chung-Hoàng Vĩnh Lộc. Đề tựa đẹp như thơ cho bài hát “Hình ảnh một buổi chiều” của Lâm Tuyền, hoài công phiêu bạt để cuối cùng dừng bước giang hồ tìm về chốn xưa, về con sông dĩ vãng để lại mong ngóng …
TIẾNG THỜI GIAN
Mùa đông xưa rét mướt, bên sông ngừng chân.
Chờ ai trong tê tái, lắng nghe chuông than.
                         (Nhạc Lâm Tuyền- Lời Dạ Chung)
Có những con sông gắn liền với một địa danh nào đó, như nói đến Paris là liên tưởng đến sông Seine. Paris hoa lệ, lộng lẫy, nhưng vẫn cổ kính, và đầy nét lãng mạn. Paris nổi tiếng không chỉ với những công trình kiến trúc làm du khách say mê mà còn cả dòng sông Seine với rất nhiều chiếc cầu, mỗi chiếc cầu có một vẻ đẹp riêng biệt cùng tuổi đời nhiều thế kỷ. Một trong những chiếc cầu đã trở nên vô cùng nổi tiếng, không phải vì tuổi đời hay vẻ đẹp của nó lấn lướt các chiếc cầu kia, mà chính bởi nó là chứng nhân của một mối tình tan vỡ được hồi tưởng lại bằng bài thơ bất hủ “Le pont Mirabeau”. Guillaume Apollinaire (1880-1918) sáng tác bài thơ này năm 1912, trích từ tập thơ Alcools xuất bản năm 1913 đã gây nhiều cảm xúc đối với nhiều người. Những ai yêu thơ Apollinaire, nếu có dịp đến Paris đều muốn một lần đến bên chiếc cầu này để cảm nhận nỗi vô vọng da diết của một cuộc tình ngắn ngủi, ly tan giữa ông và nữ họa sỹ Marie Laurencin (1885-1956). Âm hưởng bài thơ, qua dòng nước sông Seine chảy dưới cầu, liền mạch không chấm không phẩy, lững lờ và lạnh lùng trôi như dòng thời gian không trì hoãn, chẳng níu kéo, để mặc ai đó ngồi lại với vùng quá khứ lê thê qua dòng đời lặng lẽ, chậm chạp, đơn điệu, đêm xuống, giờ điểm.

Con sông đôi bờ. Dòng nước lững lờ trôi, mang theo dĩ vãng xa tít mù. Bờ bên này, ai đó ở lại với trạng thái tiếc nuối, ray rứt khôn nguôi: Les jours s’en vont, je demeure _ Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại.

LE PONT MIRABEAU

Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu’il m’en souvienne
La joie venait toujours après la peine

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l’onde si lasse

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

L’amour s’en va comme cette eau courante
L’amour s’en va
Comme la vie est lente
Et comme l’espérance est violente

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passé
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine

Vienne la nuit sonne l’heure
Les jours s’en vont je demeure

                       Guillaume Apollinaire
***

CẦU MIRABEAU

Dưới cầu Mirabeau dòng Seine khắc khoải
Còn mối tình đôi ta
Anh có nên nhớ lại
Niềm vui mãi đến sau nỗi thống khổ

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

Tay trong tay nhìn nhau ái ngại
Dưới kia
Nhịp cầu đôi vòng tay ta vòi vọi
Sóng nước mệt mỏi thoáng nhìn ánh mắt thiên thu

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

Tình biệt ly như dòng nước xuôi nhẹ
Tình biệt ly
Nhưng sao dòng đời quá lặng lẽ
Cùng hoài bão sao quá mãnh liệt

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

Dòng thời gian thời gian trôi mãi
Riêng quá khứ
Cùng tình yêu không ngoái lại
Dưới cầu Mirabeau dòng Seine khắc khoải

Đêm hãy đến giờ hãy đổ
Ngày tháng biệt ly riêng ta còn ngồi lại

                         Phùng Ngọc Cửu dịch, 1988.
_____________
(*) Bến Cũ, nhạc sĩ Anh Việt



_____________________

Bản bè góp ý:

Kính thưa Anh, Chị TTR,
Nhân đọc Tùy bút "Bên Sông" của Ông Phùng ngọc củu, trước đó (có) bài góp ý về bài Bonjour VN thật hay (Văn phạm thể phủ định). Ông PNC có thể cho biết thêm Về Pierre-René FAVRE, tác giả bài DE CE PONT vì tôi tìm hoài không thấy trên INTERNET.  Ngay cả các nhà thơ, văn đầu thể kỷ XX.
Với lòng quý mến tất cả các cựu QGHC.
Trân trong.
QT
 _____________

Hồi âm:

Thưa anh QT,

Cảm ơn nhận xét của anh về bài góp ý về lời bài hát Bonjour Vietnam của Marc Lavoine.

Riêng phần tài liệu nói về thi sỹ Pierre-René Favre, như đã trình bày, những gì tôi còn nhớ khi đọc trước 1975 một tuyển tập ngắn thơ Pháp của Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc dịch chỉ vỏn vẹn có vài dòng. Những gì Lãng Nhân nói về Pierre-René Favre cũng chỉ là bài thơ ba dòng, chứ không đề cập gì thêm nữa về các tác phẩm khác của thi sỹ này. Như thế có khi lại hay! Thi sỹ để lại cho đời có bấy nhiêu dòng thơ để ngưỡng mộ cũng đã là đầy đủ lắm rồi!

Tôi ngạc nhiên khi anh nói rằng tìm không thấy tài liệu nào về các nhà thơ và nhà văn Việt Nam đầu thế kỷ XX. Anh thử vào Google rồi đánh tên người muốn tìm kiếm xem sao. Chỉ e rằng anh không … đủ sức mà đọc thôi!

Thân ái
Phùng Ngọc Cửu
___________________

Kính Anh Phùng ngọc Cửu,
Cám ơn trả lời của anh, tìm không thấY P-R-FAVRE chớ không phải thi nhân VN. Anh có gan dám nhận tui làm em Văn nghệ không? (tui sanh năm 49).Thấy hình anh chụp (có lẽ khoảng năm 65-70) thi nhân mái tóc bồng bềnh, phía sau là dòng sông lửng lờ trôi, tui thấy Ông QGHC nào cũng hay quá nên làm gan hỏi đại, nếu không được thì thôi, đành chịu vậy.

Thành thật cám ơn Ạnh
QT

10 December 2015

Chiến thắng trên mặt trận không bằng thu phục nhân tâm

"Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
**
Vào 2h5' chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”. Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.

Tướng quân MacArthur

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.

Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình.

Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang. Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”

Lịch sử Nhật bản ghi nhận, 12 vị khai quốc công thần quốc gia họ, thì trong đó có Mac Arthur, người mà theo ngôn ngữ CS sẽ dùng là kẻ đứng đầu quân chiếm đóng, xâm lược. Người Nhật đã hiểu mình là ai, đứng ở đâu và cần gì trong giai đoạn đó. Họ không còn nhân danh chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ thuyết này nọ, không đặt bom, không dùng mọi phương cách dù đê tiện nhất đề nhằm đuổi kẻ chiếm đóng- Người Mỹ- Họ biết cúi đầu, để đứng lên và trở nên hùng cường.
_______________________

Viết thêm:

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản. Còn người Nhật đã chứng minh cho thế giới, biết cúi mình mà không phải hổ thẹn.

Ngẫm cho cùng, so với Nhật, một quốc gia như Việt Nam từ tầng lớp lãnh đạo đến tiện dân lúc nào cũng vỗ ngực xưng anh hùng, chiến thắng này nọ thì cũng chỉ là sự mặc cảm vì chính mình đã đánh đuổi nền văn minh thế giới để rước về thứ nô vong mà thôi.

Theo Secretchina
Tinh Vệ biên dịch
Nguồn Daikynguyenvn
_______________________

Ðọc bài viết trên đây về tinh thần mã thượng của người Mỹ sau khi thắng Nhật. Biết những gì họ đã làm với kẻ chiến bại ta mới hiểu hết con người họ thế nào. Không ngạc nhiên, 70 năm sau, người Nhật vẫn nhận người Mỹ là Thầy, là người Bạn đáng quý nhất. Còn Việt Nam ta thì sao? Nhìn lại năm 75, giữa những người cùng là đồng bào với nhau, CS Hà Nội đã đối xử thế nào với người miền Nam? Tội lỗi ấy muôn đời là vết nhơ trong trang sử Việt.

FLORIDA: Họp Mặt Liên Khóa QGHC 2016

Gõ lên hình để phóng lớn (4 trang):


09 December 2015

Cạm bẫy tiềm tàng thứ 5 của Trung Quốc: Hoa Kỳ

Tùy Nghi Tiến (Danlambao) dịch - Sau khi phát triển nhanh chóng trong gần suốt 40 năm, Trung Quốc hiện ở một điểm ngoặt của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Trong loạt bài này, Tiến sĩ Xue Li sẽ xem xét năm thách đố then chốt và các cạm bẫy tiềm tàng nhất mà Trung Quốc đối đầu ngày hôm nay.

Cạm bẫy tiềm tàng cuối cùng của Trung Quốc là mối đe dọa tới từ nước ngoài, chủ yếu là từ Hoa Kỳ. Việc tây phương hóa Trung Quốc vẫn là một mục tiêu dài hạn của Mỹ, và mục tiêu trung hạn của việc lôi kéo Trung Quốc vào trật tự thế giới hiện nay cũng là một chiến thuật tây phương hóa.

Trong giai đoạn trước mắt, thì người Mỹ nỗ lực thiết lập một sự hợp tác đôi bên cùng hưởng lợi với người Hoa (win-win cooperation). Nhưng giả sử như Trung Quốc lâm vào một hoàn cảnh khó khăn, Mỹ sẽ điều chỉnh các mục tiêu chính sách. Nếu sự trì trệ kinh tế và các cuộc biểu tình khổng lồ xảy ra tại Hoa Lục, thì các thế lực muốn phân hóa Trung Quốc sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, và những người ở Hoa Kỳ muốn tây phương hóa Trung Quốc (và vô hình chung triệt tiêu năng lực thách đố của Trung Quốc với Mỹ) sẽ thấy rằng mục tiêu ấy trở thành thực tế hơn.

Kể từ khi Bắc Kinh khởi sự chính sách cải cách và mở cửa, thì sách lược chính yếu của Hoa Kỳ là cam kết trước và gắn bó sau. Tuy nhiên, kể từ năm ngoái, sách lược ấy đã có xu thế đảo ngược, gắn bó trước rồi cam kết sau. Vì sự gắn bó trở thành quan trọng hơn, nên vấn đề Biển Đông bây giờ là một mốc điểm để Hoa Kỳ theo dõi các xu thế trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Đồng thời, Hoa Thịnh Đốn ngày càng can dự trực tiếp hơn trong vấn đề Biển Đông. Mỹ bây giờ là một trong các tham dự viên then chốt.

Tuy nhiên, mục tiêu chính yếu của Mỹ hiện nay không phải là ngăn chặn Trung Quốc (như họ từng làm với Liên Sô trong cuộc Chiến tranh Lạnh), mà là duy trì tình trạng cân bằng quyền lực trong khu vực, duy trì tình trạng ổn định của khu vực, và bảo vệ lợi ích cốt lõi của họ. Ngõ hầu có thể đạt được những điều này, Hoa Kỳ cần phải có một sự thông hiểu tương đối rõ ràng về các mục tiêu chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Vì thế, Hoa Kỳ cảm thấy khó chấp nhận được các chính sách nhập nhằng của Bắc Kinh. Tuy nhiên, vì Biển Đông không phải là lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ nên sẽ khó xảy ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở đó.

Thật ra, cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ đều không có ý định gây chiến với nhau ở Biển Đông. Sự bất hòa về Biển Đông thật ra đều đã và đang được đôi bên kiểm soát khá hiệu quả. Bắc Kinh cũng đang điều chỉnh chính sách Biển Đông nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc hoàn thành sách lược thiết lập “Con đường Tơ lụa Hàng hải trong Thế kỷ 21”. Trung Quốc và Hoa Kỳ cần phải duy trì sự thông tin về vấn đề Biển Đông, như vậy họ có thể đạt thêm sự thông hiểu và tránh được các tính toán sai lầm.

Giả sử Trung Quốc có thể ứng phó thành công với năm thách đố mà tôi đã liệt kê trong loạt bài này, thì họ sẽ không bị vấp ngã ở ngưỡng cửa trở thành một quốc gia phát triển. Trung Quốc có thể tiếp tục phát triển cho tới khi trở thành quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, nếu như Bắc Kinh không ứng phó nổi năm thách đố này, thì chúng sẽ trở thành năm cạm bẫy trên con đường thăng tiến của Trung Quốc.

Nguồn: thediplomat.com/2015/11/chinas-potential-pitfalls-5-the-united-states/

08 December 2015

Thanh Quỳnh Trổ Thơ


Đôi điều cần nói rõ hơn về lời bài ca Bonjour Vietnam của Marc Lavoine

Nhân đọc bài mới đăng GIỚI THIỆU SÁCH “VIETNAM HISTORY: STORIES RETOLD FOR A NEW GENERATION”  trên TTR, tôi nhớ lại rằng hầu hết các bản dịch từ bản nhạc Pháp “Bonjour Vietnam” của Marc Lavoine tôi gặp từ trước đến giờ đều dịch câu “… ce que tu n’oses dire.” theo nghĩa phủ định như đoạn dịch trong sách dưới đây.
…
Raconte-moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés
Qui disent mieux que moi ce que tu n'oses dire

Dịch là:
Hãy kể cho con nghe về đế quốc ngày xưa và đôi mắt xếch của con
Những gì người không dám nói, mà con không tài nào diễn tả,

Chính chữ không dám nói này gây nên thắc mắc khó chịu, nếu như ta chịu khó suy gẫm một chút, bởi nó hàm ý rằng có uẩn khúc nào đó đáng xấu hổ trong lịch sử Việt Nam để đến nỗi “người” không dám nói ra mà để nét đôi mắt xếch của con tự nói ra thì hay hơn …

Nếu không trả lại sự chính xác ý nghĩa lời viết của Marc Lavoine sẽ dễ kết án rằng ông không hiểu lịch sử Việt Nam, cho rằng Việt Nam là một phần của Trung Hoa thì thật “oan” cho ông!

Ở đây cần bàn đến hai điều:

Thứ nhất, hình như, nếu người Châu Á thấy khó khăn hoặc không phân biệt được nét bề ngoài giống nhau giữa những người Châu Âu thì ngược lại, những người này nhìn người Châu Á nào cũng thấy mắt xếch. Vậy, liệu có nên võ đoán cho rằng Marc Lavoine nói rằng nét đôi mắt xếch của con trong bài ca xác định rằng con là người Trung Hoa?

Thứ hai, trạng từ (adverbe) NE trong tiếng Pháp không đi một mình để có nghĩa phủ định mà phải kèm theo, hoặc ne … pas, ne … point, ne … plus, ne … jamais, nul … ne, aucun … ne, rien  ne, personne ne, etc...

Trong một vài mệnh đề phụ, với số lượng hạn hữu, NE không có giá trị phủ định. Trong văn nói, thường thường người ta loại nó (NE) đi, hư từ NE được dành cho văn phong trang trọng hay trong văn chương. (Dans certaines propositions subordonnées, en nombre limité, ne n’a pas de valeur négative. Le plus souvent, la langue parlée le suprime, le ne se conservant dans la langue soutenue ou littéraire.)

Một trong những trường hợp hạn hữu nêu trên là, trong những mệnh đề so sánh, sau plus, moins, mieux, autre, meilleur, pire, plutôt, moindre, … người ta dùng ne nếu như mệnh đề chính ở thể xác định. (Dans les propositions comparatives, après plus, moins, mieux, autre, meilleur, pire, plutôt, moindre, on utilise ne si la principale est affirmative.)
Ví dụ:
-    Il est plus fin qu’on ne croit: điều đó tế nhị/tinh tế hơn người ta tưởng.
hoặc:
-    Il veut faire mieux qu’il n’est pratiquement possible: Anh ta muốn làm tốt hơn thực tế có thể có được.
và nhất là:
-    … qui disent mieux que moi ce que tu n'oses dire.

Do văn phạm “hiểm hóc” của ngôn ngữ Pháp thì đoạn:

 “Raconte-moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés
qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.”

Nên dịch lại như sau:

“Hãy kể cho con về đế chế xưa cũ cùng nét đôi mắt xếch của con
vốn nói rõ hơn là con nói những gì mẹ dám nói.”

Nôm na thì dịch là “Những gì mẹ dám nói ra _ kể cả con nữa _ cũng không rõ hơn là chính triều đại xa xưa cùng nét đôi mắt xếch của con nói ra …”

Một đôi điều suy nghĩ mạo muội. Không dám múa rìu qua mắt thợ.

Phùng Ngọc Cửu

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...