16 July 2012

Dân trí, dân khí, nhân tài

ba yếu tố để nâng cao tư cách độc lập quốc gia

Quỳnh Chi, phóng viên RFA
Theo Đài RFA

Trong thông điệp đầu năm của Thủ tướng Việt Nam đăng trên website chính phủ, ông Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập tới việc bảo vệ độc lập chủ quyền như một trong các biện pháp của “Chiến lược phát triển nhanh và bền vững”.

Hình: Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt ngay cả trên vùng biển của Việt Nam (RFA file)

Cụ thể, ông khẳng định: “Kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường hoà bình và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước”. Tuy nhiên, có một nhà tư tưởng cận đại từng nói rằng bên cạnh việc giữ vững độc lập, nhiệm vụ nâng cao tư cách độc lập là một điều không kém trọng yếu. Điều này cũng từng được nhà cách mạng Phan Bội Châu nói đến. Quỳnh Chi tường trình về đề tài này như sau.

Giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập

Không một nhà tư tưởng nào lại có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Nhật Bản thời cận đại hơn nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi hay còn gọi là Phúc Trạch Dụ Cát. Fukuzawa Yukichi sinh năm 1835, mất năm 1901, là nhà cải cách chính trị, xã hội và giáo dục tiên phong từ cuối thời Edo và đầu thời Minh Trị của Nhật Bản. Những tư tưởng của ông đã tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Và ông đã cho rằng “giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác”.

Không ai phủ nhận công cuộc đấu tranh giành độc lập chủ quyền quốc gia là một sứ mệnh vô cùng quan trọng. Thế nhưng ngoài nhiệm vụ giữ vững độc lập, việc nâng cao tư cách độc lập là điều phải được thực hiện. Đây chính là cách để một dân tộc nói rằng họ xứng đáng hưởng nền độc lập và đủ mạnh đề bảo vệ nền độc lập đang có.

Độc lập dân tộc dựa trên nhiều yếu tố, thế nhưng một yếu tố luôn xuyên suốt trong lịch sử hàng ngàn năm dân tộc chính là yếu tố “Nhân” – yếu tố “Con Người”, vì đây chính là xuất phát điểm của ý thức và hành động. Yếu tố con người không thể thiếu sự kết hợp của chí khí toàn dân và người lãnh đạo.
“Thực lực của quý quốc là dân trí, dân khí và nhân tài”

Trong cuộc bút đàm nổi tiếng với cụ Phan Bội Châu tại Yokohama (Nhật Bản) năm 1905, nhà chính trị người Trung Quốc Lương Khải Siêu đã khuyên rằng Phan Bội Châu không nên tìm cách cầu ngoại viện để lấy lại độc lập; mà nên chú trọng việc giáo dục và thức tỉnh nhân dân trong nước trước, khi có thời cơ tốt thì ai nấy đều đã sẵn sàng để làm cuộc nổi dậy vì theo ông Lương Khải Siêu “Thực lực của quý quốc là dân trí, dân khí và nhân tài”.

GS Nguyễn Ngọc Bích, người có nhiều nghiên cứu về lịch sử và nền chính trị Việt Nam, cho rằng ba yếu tố này là một thể thống nhất không thể thiếu trong độc lập dân tộc. Ông nói:

“Phải có tất cả những cái đó thì mình mới đương đầu với những nước lớn mạnh hay những nước có nhiều phương tiện hơn mình như tài chính, học thuật, vũ khí. Nếu chúng ta thiếu những cái như can trường nằm trong “dân khí” hay là thiếu sự thông minh trong “dân trí” để đương đầu với mọi tình huống thì đương nhiên chúng ta sẽ thua thiệt và không thể nào có được sự độc lập cần thiết.”

Dân Trí

Dân trí chính là mối quan hệ không thể tách rời giữa giới lãnh đạo và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Nói về yếu tố đầu tiên của ba nhân tố quan trọng này, GS Hà Văn Thịnh, giảng viên ĐH Khoa học Huế cho biết:

“Dân trí là trình độ trí thức, giác ngộ hiểu biết của cả một dân tộc. Tất cả đều có một trình độ hiểu biết nhất định, có tinh thần độc lập cao, tinh thần tự chủ, ý thức dân chủ rộng mở và phổ biến trong toàn thể dân tộc”.

Một quốc gia mà toàn dân có đủ trình độ để hiểu biết và nhìn nhận vấn đề thì thực trạng quốc gia sẽ được phản ánh và nhận thức đúng đắn.

Những tư tưởng của ông Fukuzawa Yukichi về chính trị, kinh tế, xã hội đặc biệt là giáo dục đã góp phần rất lớn cho sự phát triển của nước Nhật thời cận đại. Trong cuốn “Gakumon no susume” (“Khuyến Học”), ông cũng đã đưa ra tư tưởng rằng “Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước”. Học để có trí. Và người có trí sẽ biết được nên làm gì trong bối cảnh quốc gia và không nghi ngại những hiểu biết của mình.

Dân Khí

Bàn về “Dân khí”, GS Hà Văn Thịnh cho biết thêm:

“Dân khí là ý chí và quyết tâm để thay đổi số phận chẳng hạn như vươn lên thay đổi để trở thành giàu có, trước mắt là đỡ nghèo khổ hơn sau là quyết tâm không phụ thuộc ngoại bang”.

Dân khí chính là sự can trường để đấu tranh cho những suy nghĩ và ước muốn của dân tộc. Người có trí thì muốn biến suy nghĩ của mình thành hành động. Biết được phải làm như thế đã là một điều quan trọng, nhưng có đủ dũng khí để thực sự biến suy nghĩ đó thành hành động lại là một hiểu biết sâu hơn.

Một đất nước mà dân tộc bạc nhược sẽ khó giữ được độc lập của mình. Chính vì thế mà các bô lão tay run giọng yếu trong Hội nghị Diên Hồng lại được các thế hệ sau nhắc đến như một biểu tượng của sự can trường. Chí khí ấy là biểu tượng sức mạnh và tinh thần “thép” của dân tộc.

Có lẽ vì quan niệm rằng tinh thần dân tộc là yếu tố căn bản nên khẩu hiệu của phong trào Duy Tân là “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Trong tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, ông cũng luôn đề cao chí khí dân tộc bởi vì theo ông “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm”.

Nhân tài

Yếu tố cuối cùng là “Nhân tài”. Đây chính là tinh hoa của quốc gia. Họ chính là những người có tài nhìn xa trông rộng, biết định hướng và đưa đất nước vượt qua những cảnh trầm kha.

Hình: Nhà báo cũng đi tù vì viết bài chống tham nhũng hối lộ. AFP

GS Hà Văn Thịnh còn cho rằng trong thời bình thì nhân tài càng cần thiết vì họ chính là người dẫn dắt đất nước đi lên. Ông nói:

“Nhân tài là yếu tố tất nhiên rồi. Tất cả các nước giàu có hiện nay đều bắt nguồn từ nhân tài hết. Phải có những người tài lãnh đạo họ. Phải có những người tài để làm đổi mới về giáo dục và văn hóa thì đất nước mới thay đổi được”.

Đảng trí không bằng Dân trí

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói rằng những nhân vật lãnh đạo Đảng phải tập hợp được những người ưu tú vì nếu “đảng trí” không cao bằng “dân trí”, thì rất dễ xảy ra tình trạng Đảng sẽ dùng quyền hành để lãnh đạo thay vì dùng khả năng thuyết phục và vai trò tiên phong của mình”.

Nhà chính trị Trung Quốc Lương Khải Siêu đã từng khuyên cụ Phan Bội Châu rằng “Qúy quốc chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ lo không có tư cách độc lập”. Đó cũng chính là một lời khuyên hữu lý ngay cả trong thời hiện tại bởi tư cách độc lập của một dân tộc cũng quan trọng không kém sự độc lập mà dân tộc đó có được.

Nước Việt đã dành được độc lập từ tay Trung Quốc và Pháp Quốc, vấn đề còn lại là làm sao nâng cao tư cách độc lập để những gì dành đựơc sẽ mang một ý nghĩa hoàn thiện hơn.

Lời xác định của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về bảo vệ độc lập chủ quyền chỉ là một nhiệm vụ. Trọng trách thứ hai của giới lãnh đạo là làm sao thực hiện được nhiệm vụ đó một cách sâu rộng trong quần chúng, thì quốc gia mới có cơ hội khẳng định nền độc lập dân tộc không qua lời nói mà bằng tư cách gìn giữ độc lập của mình. Và điều đó cũng có nghĩa là việc sánh vai với các nứơc lớn trong khu vực không chỉ còn là lời nói.

(Nguồn: Dân Luận)

Thơ

LỜI CHÚNG TA HÁT
ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI


Ta hãy hát những lời lửa nóng
Cất tiếng ca:theo sóng Bạch Đằng
GƯƠM THIÊNG chém. cổ Liễu  Thăng
Lời ca đuổi sạch những thằng vong nô

Ta hãy hát quật mồ bạo chúa
Hát  sao cho gãy búa rụng liềm
Hát cho chân cứng đá mềm
Hát cho khí thế càng thêm nức lòng

Những lời hát nối vòng tay lớn
Những lời kêu bè bạn năm châu
VIỆT KHANG  lên tiếng dạo đầu
Chúng ta tiếp bước theo sau anh hung

Đường (chúng) ta đi muôn trùng gian khổ
Sóng thần kia hung hổ dương oai
Ta tung những cánh hoa lài
Quỷ vương khiếp nhược chạy dài tháo thân!

Liên kết lại công nhân chiến sỹ
Chung tấm lòng bền bỉ đấu tranh
Khó khăn sánh bước đồng hành
Quyết cho bĩ cực biến thành thới lai

Xin chớ ngại đường dài gai góc
Trước thương đau không khóc, hãy cười
Dù hôm nay  mất một người
Ngày mai sẽ có thêm mười chiến công!

Chúng ta hát lời sông ra biển
Chúng ta đi rung chuyển địa cầu
VIỆT NAM NGỜI ÁNH MINH CHÂU
CỜ VÀNG không thể nhuốm màu tanh hôi

Lời ta hát sục sôi căm hận
Quyết phen này một trận tử sinh
Tiếc chi hèn mọn thân mình
Trường tồn dân tộc quyết sinh quyết liều

Thương đất nước chịu nhiều hiểm họa
Côn đồ kia đày đọa dân nam
Cáo chồn chưa thỏa lòng tham
Hại  dân bán nước phài làm cho ra

Tiền đồ ấy thiết tha bảo vệ
Kẻ thất phu không thể khoanh tay
Nỗi đau canh cánh từng ngày
Đáp lời sông núi bước ngay lên đàng

Phò đại nghĩa hàng hàng lớp lớp
Giăc bây giờ nơm nớp lo toan
Gặp thời hớn hở hân hoan
Hết thời, vua quỷ kết đoàn với ma !

Vì đại nghĩa chúng ta sẽ thắng
Không quanh co, cứ thẳng một đường
Việt nam đã lắm đau thương
Chúng ta cũng lắm can trường đấu tranh

Trăm con suối hợp thành sông rộng
tiếng  hát ta lồng lộng  trời cao
trên trời có bấy nhiêu sao
là bao nhiêu lưỡi bảo đao diệt thù

Đèo Văn Trấn

13 July 2012

Khi Em Về, thơ


Hoạ sĩ và nhà thơ Lan Đàm của tôi ơi! Đọc thơ Lan Đàm, rồi ngắm bức tranh nền của hoạ sĩ, mê quá, bấn loạn cả người! Kèm đây gởi tặng hoạ sĩ và thi sĩ một bức hình cũng phê lắm. Mong hoạ sĩ không ngại mà đưa lên ( kèm ngay dưới bài thơ của của nhà thơ Lan Đàm). Bạn đọc, đọc thơ của Lan Đàm, xem tranh nền của hoạ sĩ, và ngắm thêm một bức minh hoạ chắc chắn sẽ...mê mẩn tâm thần (tối ngủ ngon hơn, chớ hổng có thao thức chi mô). Thân mến (ChPleiku)


Dạ Cổ Hoài Lang - Bài Ca Đất Phương Nam

với Cẩm Ly & Quốc Đại

 

Việt Nam Cộng Hòa Ngày Xưa

và Nước Việt Nam Dân chủ Tự Do Trong Tương Lai

Trọng Đạt

Từ bao lâu nay, Cộng Sản Việt Nam tuyên truyền xuyên tạc chế độ dân chủ tự do của miền nam Việt Nam trước 1975 là một chính quyền ác ôn, tay sai Đế quốc, hà hiếp áp bức nhân dân. Những người chưa sống dưới chế độ dân chủ tự do của miền nam VN mắc tuyên truyền CS đã có thành kiến xâu, cho rằng Ngụy quyền Sài Gòn chỉ là một chính thể áp bức bóc lột, bán nước, mất lòng dân bị mọi người oán ghét nên đã sụp đổ vào ngày 30/4/1975.

Sự thực thì khác hẳn, Việt Nam Cộng Hòa bên dưới vĩ tuyến 17 trước đây rất hiền lành, tự do, hiếu khách. Vì quá dễ dãi, tự do không kiểm soát chặt chẽ nên CS mới có cơ hội trà trộn khắp nơi như tại nhà thờ, chùa chiền, trường học và ngay cả trong quân đội và các cơ quan công quyền. Chính vì quá tự do dễ dãi mà Cộng Sản đã đem được nhiều súng đạn và cán binh trà trộn vào Sài Gòn trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Thần đồng âm nhạc 4 tuổi

xuất hiện tại Mỹ 

 

12 July 2012

Tin nội bộ, đặc biệt trong nhóm ĐS10

Kính chuyển tiếp:
Thư của ông Trần Việt Anh, Hội trưởng Hội Đồng Hương Châu Đốc, nói về trường hợp đồng môn Phạm Văn Tám (ĐS10),
(Xin xem thư đính kèm do anh Lê Phước Ba, ĐS17, chuyển đến. Cám ơn anh LPBa).
Kính chào.
Nguyễn Văn Sáu
_____________________________
Xin nhấn vào bức thư để phóng lớn.


10 July 2012

Kỳ Phùng Lịch Sử - Marvellous Comradeship, tranh Nguyễn Thế Vĩnh


Lam Sơn Kỳ Ngộ
(Marvellous Comradeship)

36 x 48 inch (91.5 x 122 cm)
Oil on canvas 
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh
__
Lịch sử Nước Việt là lịch sử của một dân tộc kiên cường chống ngoại xâm để bảo toàn bờ cõi, để giữ vững nền độc lập cho quê hương. Cuộc chiến đấu can trường ấy gần như liên tục vì  kẻ thù phương bắc hiếu chiến luôn luôn mang dã tâm thu phục, chiếm đoạt và đồng hóa lân bang bất cứ khi nào có dịp.

Nhân lấy cớ Phù Trần diệt Hồ, năm 1406 kẻ thù ngàn đời phương bắc lại tiến xuống xâm chiếm nước ta. Trương Phụ, tên tướng cầm đầu quân viễn chinh Nhà Minh, tàn sát những người lính theo quân khởi nghĩa và cả dân thường rất tàn bạo (chặt đầu, đốt xác, cuốn ruột vào cây...)* để khủng bố tinh thần người Việt. Mặt khác, các tướng viễn chinh nhà Minh đã thiết lập bộ máy cai trị và huy động được một lực lượng người Việt giúp việc khá đắc lực như Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt, Trần Phong... Tinh thần chống đối của người Việt lúc đó đã lắng xuống khá nhiều so với thời nhà Hồ mới mất. Lớp nhân tài nổi lên chống đối trước đây đã bị tiêu diệt hoặc vô hiệu hoá. Một số cuộc khởi nghĩa chống Minh vẫn hoạt động nhưng lẻ tẻ và không có khả năng mở rộng.

Trong bối cảnh đó, Lê Lợi đã đứng lên khởi nghĩa ở Lam Sơn. Ông vốn là một người có chí lớn và khảng khái, đến mức bọn đô hộ nhà Minh từng kêu gọi ông ra làm quan với chúng. Tuy nhiên, ông quyết từ chối, và luôn cho rằng: "Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người!". Ông bèn tập hợp hào kiệt mãi mã luyện binh nơi vùng rừng núi Lam Sơn, Thanh Hóa. Cuộc khởi nghĩa mở đầu đúng như Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Đại Cáo:
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh ... 
Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu
Trong số những nhân tài hiếm hoi ấy có Nguyễn Trãi. Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Nước Việt bị  nhà Minh chiếm đóng, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn, bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư giao dịch với quân Minh.

Không biết cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã ra sao nếu như không có Nguyễn Trãi. Cuộc gặp gỡ Lê Lợi - Nguyễn Trãi, vào lúc nào đó trong khoảng từ 1416 đến 1423, đã là một cuộc gặp gỡ lịch sử mang ý nghĩa to lớn trong công cuộc chống ngoại xâm từ phương bắc của dân tộc ta. 

Bức "Lam Sơn Kỳ Ngộ" trên đây hình dung cảnh Nguyễn Trãi tìm đến với Lê Lợi. Giữa hẻm núi hiểm trở, sương lam còn phủ trên núi rừng cây cỏ, vó ngựa quân thần sánh bước vang vọng báo hiệu một cuộc chiến đấu gian khổ nhưng sẽ phá tan tành quân Tàu xâm lăng...

Tôi tính vẽ về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã lâu, nhưng mãi tới nay mới thực hiện được vì nội dung liên quan đến những nhân vật lịch sử mà trưóc đây tôi đã mường tượng sai. Chẳng hạn trước đây tôi cứ tưởng Lê Lợi lớn tuổi hơn Ngyễn Trãi. Thật ra thì Lê Lợi sinh năm 1385 còn Nguyễn Trãi sinh năm 1380 lớn hơn Lê Lợi 5 tuổi.

Khó khăn lớn nhất khi vẽ bức tranh là phải chọn lựa giữa thực tế và nghệ thuật, cần hòa hợp được hai hướng nhiều khi đối chọi. 

Chẳng hạn bờm một con chiến mã thường cắt ngắn để không bị vướng víu khi xông trận,. Nhưng cái duyên dáng của ngựa mất đi có thể là phân nửa nếu vẽ như vậy.

Rồi giữa hẻm núi thường là một lối mòn gập ghềnh. Nhưng ngựa là biểu tượng của quyền lực. Mà nếu vẽ ngựa đi nước kiệu, cái uy dũng và độ khẩn trương có thể sẽ giảm đi. Thế nên một khúc đường tương đối phẳng phiu rồi có thể một dòng nước cũng lững lờ chảy, tuy là hiếm trong thực tế, nhưng là những chi tiết cần thiết.

Từ trước đến nay tôi chưa hề dám vẽ bức nào lớn hơn. Một điều tối quan trọng của một bức tranh là sự nhất quán. Mà tranh càng lớn sự nhất quán càng khó giữ.

Mời quý anh chị coi  cho vui

A.C.La
__
(*) Wikipedia

09 July 2012

Kha Tiệm Ly-Thái Quốc Tế: Hoàng Sa Nộ Khí Phú

Hoàng Sa Nộ Khí Phú
Ngựa cũ quen đường,
Đĩ già lậm nết.
Việc phế hưng mỗi thuở khác nhau,
Mộng bá chủ bao đời y hệt!
 
Ta thấy ngươi,
Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập chùng,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!
 
Đã biết,
Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.
Vậy mà sao,
Chẳng lo điều yên nước no dân,
Lại quen thói xua quân chiếm đất?
 Như nước ta,
 Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long , là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
Máu xương đâu lẽ tách rời,
Thịt da dễ gì chia cắt?
Mà là liền tổ quốc phồn vinh,
Mà là khối giang sơn gấm vóc.
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Thùng! Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Đánh! Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma,(1)
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa, Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt. (1)
Hùng khí dù dậy trời Nam,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc:
Thương ngươi binh bại, tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang (2) Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút.(3) Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người, Hoa kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ thóc. Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa, Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập. Giúp các ngươi như kẻ một nhà, Thương các ngươi như người chung bọc!
Thế mà nay,
 Ngươi lại lấy oán trả ơn,
Ngươi lại lấy thù báo đức!
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già mồm.
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp bạc.
Kéo neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa, Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá Bắc. Chẳng chấp hải qui, Chẳng theo công ước. Quen nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn, Lậm thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.
Nói cho ngươi biết; dân tộc ta:
Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài, Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc. Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông, Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!
Vì khát tự do mà uống nước đìa, Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt. Sá chi tóc gội sa trường, Đâu quản thây phơi trận mạc.
 Hãy liệu bảo nhau,
 Nhìn thây Gò Đống mà liệu thắng liệu thua,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!
Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?
Thư hãy xem tường, Hoàng Sa hạ bút.                                                                                         
 Kha Tiệm Ly-Thái Quốc Tế (*)

Chú Thích:
(1) Sử ghi: Khi Lý Thường Kiệt đem quân qua Khâm Châu, Liêm Châu, cũng như khi quân Thanh bại trận Đống Đa chạy về, thì dân Tàu vùng biên giới kinh hoàng chạy theo. “Từ Nam Quan về bắc hàng trăm dặm vắng tanh, không thấy bóng con gà, con vịt”
(2) Sự kiện Lê Lợi cấp ngựa và lương thực cho tù binh quân Minh về nước
(3) Sự kiện dân ta lập miếu thờ Sầm Nghi Đống hạ tướng của Tôn Sĩ Nghị

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...