09 June 2011

Tin đáng lưu ý: Hoa Kỳ đưa chiến hạm vào biển Ðông

Xác định ‘quyền tự do hải hành’

WASHINGTON (Google News) - Chiến hạm Mỹ USS Chung-Hoon có trang bị hỏa tiễn được gửi đi để thực hiện chuyến hải hành đơn độc vào vùng biển Ðông và biển Sulu.

Chiến hạm USS Chung-Hoon (bên phải) trong một chuyến hải trình trên Thái Bình Dương tháng 7 năm 2010. Ði bên cạnh là chiếc USS Lassen, khi đó do Hải Quân Trung Tá Lê Bá Hùng làm hạm trưởng. (Hình: John J. Mike/U.S. Navy via Getty Images)

Chiến hạm hiện đang ở giữa Thái Bình Dương, vừa đi ngang qua đảo Midway hôm Chủ Nhật.

Một trong những nhiệm vụ của chiến hạm này là xác định “quyền tự do hải hành.”

Chiếc Chung-Hoon sẽ là một nhắc nhở rõ ràng về quyền tự do hải hành là điều được quốc tế công nhận, cũng như cho thấy sự chú tâm của Mỹ về một giải pháp ôn hòa cho cuộc tranh chấp trong vùng biển Ðông hiện nay.

Chiến hạm USS Chung-Hoon sẽ đi qua các vùng biển mà Mỹ coi là hải phận quốc tế để xác định quyền tự do hải hành.

Mỹ cũng muốn chứng tỏ rằng cộng đồng quốc tế không chấp nhận các tuyên bố của bất cứ quốc gia nào coi đây là hải phận riêng của mình.

Chiếc USS Chung-Hoon (DDG-93), thuộc loại Arleigh-Burke, có trang bị dàn radar tối tân Aegis, được đặt theo tên của Phó Ðề Ðốc Gordon Pai'ea Chung-Hoon (1910-1979), từng được trao tặng Huân Chương Hải Quân (Navy Cross) và Huy Chương Bạc.

Chiến hạm có trọng tải khoảng 9,200 tấn, với thủy thủ đoàn gồm 320 người, trang bị hỏa tiễn chống phi cơ và chống chiến hạm cũng như loại hỏa tiễn bình phi Tomahawk.

Chiếc Chung-Hoon thuộc hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ và có bến nhà tại Hawaii.

Trên biển Ðông, quần đảo Trường Sa là nơi có nhiều tranh chấp nhất. Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Ðài Loan và Malaysia đã thiết lập các cơ sở quân sự và hành chánh trên các đảo nơi này.

Trung Quốc bị cáo buộc là nổ súng bắn vào tàu Việt Nam và Philippines ở Trường Sa. Phía Trung Quốc đưa ra các “chứng cớ lịch sử” để nói rằng họ có chủ quyền ở nơi đây từ bao đời. Các giới chức chính quyền Trung Quốc còn nói rằng cả những khu vực đang có tranh chấp với Philippines cũng là lãnh thổ của họ.

Các nhà vẽ bản đồ và luật quốc tế thường đưa ra những lằn ranh giới rõ ràng. Tuy nhiên, trong vùng biển Ðông, những lằn ranh này lại thường chồng chéo lên nhau như của Việt Nam, Trung Quốc và Philippines.

Việc thăm dò địa chất để tìm dầu hỏa và các tài nguyên thiên nhiên khác lại làm nguy cơ bộc phát chiến tranh giữa các quốc gia trong vùng này trở thành điều dễ xảy ra hơn.

Các bãi đá ngầm và các hòn đảo nhỏ bé ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hiện là nơi các quốc gia liên hệ sử dụng tàu và các công sự phòng thủ để đánh dấu chủ quyền của mình.

Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982 về Luật Biển định rõ việc ấn định lãnh thổ ngoài biển và quanh các hòn đảo, cũng như xác định vùng “đặc quyền kinh tế” (EEZ).

Tuy nhiên, công ước này không cho biết làm cách nào để giải quyết vấn đề EEZ bị chồng chéo lên nhau.

Khu vực EEZ có thể kéo dài ra tới 200 miles (khoảng 320 km) từ bờ biển một quốc gia, và trong khu vực biển Ðông tương đối nhỏ hẹp, điều này thường dẫn đến việc chồng chéo lằn ranh giới.

Khi đưa thêm vấn đề tranh chấp các hòn đảo đã có từ nhiều thế kỷ nay, biển Ðông lại càng là nơi dễ nổi sóng. 

Nguồn: V.Giang (Saigon Echo)
Thứ Tư, 08 Tháng 6 Năm 2011 19:17

08 June 2011

Thơ


Nhẹ lòng với ung thư

Hoa nở hoa tàn.
Nhịp nhàng sinh tử.
Ta ngất ngư tìm ta dấu mặt.
Sương trắng điểm nào hay.

Hoa tàn hoa nở.
Ngỡ ngàng tử sinh.
Ta lênh đênh giữa đất trời rộng.
Bềnh bồng sóng vỗ.
Bềnh bồng cuộc chơi.

Trong cơn đau em nằm.
Nhìn thân xác mong manh.
Đong đưa từng hơi thở.
Nghe đất trời tan hợp.
Lạnh sao lá mùa thu.
Nhẹ sao kiếp con người.

Trong điêu linh em nằm.
Nhìn bão tố vây quanh.
Trong điêu linh em nằm.
Vẫn cười nói vô tư.
Nhìn sinh tử quay vòng.
Nhìn mây trắng bay bay.
Theo con gió vô thường.

Tôn Thất Huyến

Giới thiệu sách hay

CHIẾN TRANH và BẤT BẠO ĐỘNG
Nguyên tác : " Religion and Society " by S. Radhankrishnan
do nhà xuất bản George Allen and Unwin LTD ấn hành
Dịch giả : Hòa Thượng Thích Quảng Độ

LỜI DỊCH GIẢ

Không ai có thể phủ nhận được rằng chiến tranh là một tội ác, là một hình thức dã man. Nó là hiện thân của đau khổ, chết chóc, tàn phá và hủy diệt. Ngôn ngữ loài người không đủ để nói lên nhũng hậu quả thảm khốc và tàn nhẫn của nó. Trên thế giới hiện nay, hơn bất cứ dân tộc nào, chỉ có dân tộc Việt Nam mới cảm nhận được một cách sâu xa và thấm thía tất cả những hậu quả đó. 

Nhưng, trong cái thời đại mà con người rất tự hào về nền văn minh của mình, đã đặt được chân lên nguyệt cầu, tóm lại, là đã chinh phục được thiên nhiên, đã lột bỏ được lôi sống của “rừng rú”, người ta có còn nên dùng hình thức chém giết, chết chóc và tàn phá để giải quyết những sự bất đồng về quyền lợi kinh tế, chế độ xã hội và ảnh hưởng chính trị nữa không? Những cái đó có giá trị gì cao hơn chính sự sống của chính con người? Đã đến lúc các vấn đề này cần được đặt thẳng với các nhà lãnh đạo thế giới còn chút lương tri, tự gán cho mình cái trách nhiệm đối với vận mệnh nhân loại (dưới, chiêu bài dân chủ, tự do, thường được dùng như một đàn cừu làm công cụ cho những tham vọng cá nhân). 

Về vấn đề này, S. Radhankrishnan đã bày tỏ nhiều trong tác phẩm Tôn giáo và Xã hội của ông. Cuốn sách này gồm những bài diễn thuyết ông đọc tại các đại học Caltutta và Benares vào mùa đông năm 1942. Tập sách này chúng tôi trích dịch tập I và II trong tác phẩm nói trên và đặt chung vào một tiêu đề Chiến Tranh Và Bất Bạo Động. Chúng tôi đã không dịch trọn bộ vì những đề mục kia phần nhiều chỉ nói về Ấn Độ, không có tính cách phổ biến. Độc giả nào muốn biết về tư tưởng, nếp sống cũng như những phong tục, tập quán của người Ấn, có thể tìm đọc trong cuốn “Religion and Society” by S.Radhankrishnan do nhà xuất bản George Allen and Unwin LTD ấn hành. 

S. Radhankrishnan là một nhà triết học nỗi tiếng của Ấn Độ hiện đại; ông đã viết rất nhiều sách, trong đó bộ lớn nhất là bộ Triết Học Ấn Độ (Indian Philosophy). Ông cũng là một chính khách có tài. Sau khi Ấn Độ thu hồi thống nhất, ông được bầu làm phó Tổng thống và khi bác sĩ Rajendra Prasad từ trần, ông lên kế vị làm Tổng thống. Năm 1966, vì già yếu, ông đã rời bỏ chính trường để tịnh dưỡng.
Sàigon mùa xuân Canh Tuất
Thích Quảng Độ.


I. CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN TẠI

Chúng ta đang ở vào trong một giai đoạn quyết liệt nhất của đời sống nhân loại. Chưa bao giờ trong lịch sử loài người lại có quá nhiều người phải mang những gánh nặng đau đớn dày vò tâm can đến như thế. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà những thảm trạng đã trở thành phổ biến. Mọi truyền thống và tập tục đang bị lung lay tận gốc. Những tư tưởng cho đến hôm qua vẫn còn là “khuôn vàng thước ngọc”, đã có thể hướng dẫn và qui định hành vi con người hàng bao nhiêu thế kỷ, thì hôm nay đã bị quét sạch. Thế giới rách nát vì những hiểu lầm, nghi kỵ, tranh giành. Bầu không khí tràn đầy những bất trắc và lo âu cho tương lai. Những khổ thống và cực nhọc của con người ngày càng tăng, sự khó khăn về kinh tế, các cuộc chiến tranh trên một quy mô lớn, sự bất đồng ý kiến trong các cuộc hội nghị cấp cao và tính lì lợm của những kẻ cầm quyền đang muốn và kéo dài một trật tự đang sụp đổ, muốn cứu một nền văn minh khập khễnh bằng bất cứ giá nào, tất cả những thứ đó đang thức tỉnh một tinh thần, mà bản chất là cách mạng, trên khắp toàn cầu. Danh từ “cách mạng” không phải luôn luôn chỉ các cuộc bạo động của quần chúng và tàn sát giai cấp thống trị. Bất cứ sự đòi hỏi cấp bách nào về sự thay đổi triệt để nền tảng của đời sống văn minh đều là đòi hỏi cách mạng. Tiếng cách mạng dùng theo hai nghĩa: 1. Sự nổi dậy đột nhiên và bạo động kết quả đưa đến một cuộc chính biến, chẳng hạn như cuộc Cách Mạng Pháp cuộc Cách Mạng Nga; 2. Sự chuyển tiếp dần dần qua một thời kỳ từ một chế độ xã hội này qua một chế độ xã hội khác, chẳng hạn như cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ Anh. Cái làm cho một thời kỳ có tính chất cách mạng không phải là sự thật thay đổi thường thấy trong lịch sử, mà là do mức độ thay đổi. Sở dĩ thời đại hiện tại là thời đại cách mạng là vì cái mức độ thay đổi quá nhanh. Xung quanh ta, đâu đâu cũng nghe tiếng đổ vỡ, những đòi hỏi thay đổi trong cơ cấu xã hội, chính trị và kinh tế, trong những lĩnh vực tín ngưỡng, tư tưởng, trong những phạm trù căn bản của con người. Các nhà trí thức, sáng suốt và tỉnh táo, nhận thấy cái gì sai lầm ngay từ nền tảng của những cơ cấu chính trị, kinh tế và kỹ nghệ hiện tại, và người ta phải sửa đổi những khuyết điểm đó nếu muốn cứu vãn nhân loại. 

Các nhà khoa học cho ta biết, trái đất có thể tiêu diệt bằng nhiều cách. Nó có thể bị hủy diệt khi nguyệt cầu tiến lại gần trong một tương lai xa vời, hay bởi mặt trời nguội lạnh đi. Một vì sao chổi có thể va vào trái đất, hay một thứ hơi độc có thể thoát ra từ chính trái đất. Tuy nhiên tất cả những cái đó chỉ là những khả-năng-tính xa vời, trong khi ấy rất có thể con người sẽ tự diệt bởi chính những hành động có tính toán của chính con người, bởi tính xuẩn động và ích kỷ đã “thâm căn cố đế” trong bản tính của con người. Thật mỉa mai, chua chát, lẽ ra chúng ta đã được sống một cuộc sống sung sướng trên trái đất này và biến nó thành một lạc cảnh cho tất cả mọi người nếu chúng ta chỉ dành một phần rất nhỏ những năng lực hiện đang dùng vào việc kiện toàn bộ máy chiến tranh [1] thì, ngược lại chúng ta đã để mặt cho chết chóc và tàn phá hoành hành. Một khuynh hướng tàn phá mù quáng hình như đã ám ảnh con người, và nếu không chặn đứng kịp thời, chúng ta nhanh chóng đi đến tiêu diệt hoàn toàn và sửa soạn cho một thời đại trí thức tăm tối, đạo đức man rợ, trong đó tất cả những thành quả cao đẹp của con người ở quá khứ chỉ còn là một đống tro tàn. Cái thảm trạng ấy chắc chắn sẽ làm cho chúng ta đau đớn, vò xé cả thể chất lẫn tâm hồn. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ đầy lo âu. Cả thế giới đang chìm trong trạng thái hôn mê. 

Chúng ta đặt tất cả hy vọng tương lai vào những người có tâm hồn cao cả sẽ mang lại cho thế giới niềm hoan lạc và tươi sáng hơn. Trong mấy chục năm gần đây, không những chúng ta đã có sự phát triển về vật chất mà ngay cả ý thức đạo đức và tình cảm xã hội cũng đã tiến bộ một cách rõ rệt. Ước vọng đem áp dụng thành quả của công cuộc phát minh khoa học vào việc cải thiện đời sống càng ngày càng tăng. Ý thức trách nhệm và quan hệ giữa người với người cũng đã phát triển trông thấy. Những chiến dịch chống lại việc bắt trẻ con làm việc nặng nhọc, quy luật lao động, trợ cấp người già cả và bồi thường cho những tai nạn v.v… là một vài thí dụ cho thấy ý thức về nghĩa vụ đối với mọi người trong xã hội đang tăng gia. Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới người thấy ước vọng hòa bình lại tha thiết và lòng thù ghét chiến tranh lại mãnh liệt như hiện nay. Lòng dũng cảm bao dung và sự hy sinh không vụ lợi của hàng triệu con người trong cuộc chiến tranh này đã chứng minh sự tiến bộ về ý thức đạo đức và tình thương nhân loại. 

Sự đang xảy ra hiện nay không phải chỉ ảnh hưởng đến vận mệnh của một quốc gia, Anh, Đức, Nga hay Hoa Kỳ mà liên quan đến toàn thế giới. Nó không phải chỉ là một cuộc chiến tranh, nhưng là một cuộc cách mạng xã hội trong đó chiến tranh là một cục diện, một sự thay đổi toàn thể tư tưởng và những cơ cấu, một cuộc khủng hoảng đến tận nền tảng của nền văn minh của chúng ta. Lịch sử đã đặt thế hệ chúng ta vào một thời kỳ như thế và chúng ta phải cố gắng hướng dẫn cuộc cách mạng để phận sự lý tưởng chung. Chúng ta không thể xoay ngược cuộc cách mạng. Nền trật tự cũ, cha đẻ của những Hitlers, Mussolinis và Tojos, phải được đạp đổ. Những ai chiến đấu chống lại bọn họ phải nhận chân rằng, ngay bây giờ và tại đây, mình đang đặt cơ sở cho một nền trật tự tự do mới. Chúng ta phải can đảm nếu chúng ta muốn hòa bình và chặn đứng mọi mầm móng gây ra tai họa cho tương lai. Để có được hòa bình lâu dài, chúng ta phải diệt trừ những yếu tố gây ra chiến tranh, và phải thành thật trong cách sống mới, có nghĩa là chúng ta phải gạt bỏ những quan niệm cố chấp sai lầm. Chúng ta đừng vì lòng căm thù, vì những nỗi thống khổ bởi sự xâm lăng mà phán đoán kẻ thù một cách bất công. Ngay với kẻ tàn bạo chúng cũng phải tình nhân đạo; chúng ta hãy nhìn về tương lai và đừng để lòng thù hận nhỏ nhen vô ý thức làm lu mờ cái viễn tượng huy hoàng của nó. 

Thế giới đang đứng giữa ngã ba đường và chỉ có hai lối để lựa chọn: đó là tổ chức nó thành một khối hoặc là những cuộc chiến tranh định kỳ. Chúng ta tạo ra xã hội trong đó chúng ta sống. Ta là chủ nhân ông của các chế độ mà vốn đã đi theo một đường hướng sai lầm và ta phải tìm ra một phương thuốc để cứu chữa cái xã hội bệnh hoạn này. Nếu, cho tới giờ đây, nền văn minh đã tiến bộ mà nhân loại hiện đang quằn quại trong đau khổ, điều đó không có nghĩa là nó đang bị một tiến trình lịch sử tàn bạo đưa đến sự tự diệt. Những thời kỳ sáng tạo lại là những thời kỳ nhiều thống khổ [2]. Thế giới sẽ phải trải qua một giai đoạn nhiều khủng hoảng trước khi tiến tới sự quân bình mới. Mặc dầu chậm chạp, đôi khi còn tụt lùi nữa, nhưng nhất định nhân loại sẽ phải đi đến một thế giới tốt đẹp hơn. Nhưng tiến trình ấy còn tùy thuộc vào lòng dũng cảm và trí khôn ngoan của con người. Những mục đích xây dựng có thể cứu vãn nhân loại thường đã bị bỏ quên, không phải vì thiếu thiện chí, nhưng vì đầu óc hỗn loạn và tính rụt rè của con người. 

(còn tiếp)
_______
Chú thích:
[1] Cp. Samuel Butler: “Chỉ trừ loài người, còn tất cả động vật đều biết rằng mục đích của cuộc sống là hưởng thụ nó”.
[2] Cp. “Con người hiện đại đã đến điểm cao nhất, nhưng ngày mai họ sẽ bị vượt qua; thật vậy họ là sản phẩm cuối cùng của một thời kỳ triển khai lâu dài, nhưng, đồng thời, cũng là mối tuyệt vọng đau đớn nhất của niềm hy vọng của loài người. Chính họ cũng nhận thấy điều đó. Họ đã thấy khoa học, kỹ thuật và tổ chức đã mang lại lợi ích như thế nào nhưng chúng cũng gây ra tai biến như thế nào rồi. Họ cũng đã thấy những chính phủ “mạnh” dọn đường đến hòa bình theo nguyên tắc “trong hòa bình, chuẩn bị chiến tranh”. Giáo Hội Thiên Chúa, Tình Huynh Đệ nhân loại, nền Dân Chủ xã hội quốc tế, và sự “liên đới” những quyền lợi kinh tế, tất cả đều đã thất bại trong cuộc thử lửa – đối diện với cái thực tế… Rốt cục, đằng sau biện pháp hòa dịu ấy vẫn có một mối hoài nghi đang nhấm gặm. Tóm lại, tôi tin rằng tôi không phóng đại khi tôi nói rằng, về mặt tâm lý, con người hiện đại hầu như đã hứng chịu một đòn chí mạng, và kết quả, đã rơi xuống vực thẳm hoài nghi” – C.G. jung, Modern Man in Search of a Soul, E.T. (1993), pp. 230-31.

05 June 2011

Khẩu khí dí dỏm hay dậy một bài học cho những kẻ nửa ngợm . . .

CHUYỆN ĐỨC GIÁM MỤC KONTUM

.....Một lần ngài đi nước ngoài, khi đến cơ quan nhà nước nhận hộ chiếu, người ta dặn dò ngài: “Ông đi nước ngoài nhớ đừng chụp hình với lá cờ vàng ba sọc đỏ, nếu không là toi đời ông!”.

Ngài đáp ngay: “Vậy tôi trả hộ chiếu lại cho các ông, tôi không đi nữa”.

Họ ngạc nhiên hỏi ngài: “Sao vậy?”

Ngài cười: “Chứ nếu đi nước ngoài mà toi đời thì đi làm gì?”.

Rồi ngài nói với các ông ấy: “Này nhé, tôi vào nhà ông, thấy ông để tượng ông Hồ chí Minh với lá cờ đỏ, tôi có bảo ông đem đặt chỗ khác không? Đến nhà người ta ai làm thế. Ở nước ngoài, nơi tôi đến có lá cờ vàng, chẳng lẽ tôi bảo họ đem đi chỗ khác cho tôi ngồi và chụp hình à?”

Ngài nói tiếp, lý luận sắc bén: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, vậy các ông có ghét Tàu và Tây lắm không? Tôi thấy mấy ông lãnh đạo vẫn đứng chào cờ Trung quốc, chào cờ Pháp, Mỹ đó thôi. Vậy tại sao lá cờ vàng của anh em người Việt mình mà các ông căm ghét đến thế?”

“Còn nữa, hàng năm chúng ta đón bao nhiêu Việt kiều, nhận bao nhiêu tiền họ gửi về, sao lại phải lúc nào cũng căm ghét cờ của họ?”

Ngài nói thêm, như lời tâm sự, nghe rất xúc động:

“Năm 1954 gia đình tôi di cư vào Nam. Gia đình tôi sống được và tôi lớn lên, ăn học là dưới lá cờ vàng. Nếu các ông di cư năm ấy thì các ông cũng thế thôi.”

(Trung Hoàng chuyển)

Nghe nhạc Tuấn Khanh

Nỗi Niềm

Có những tình khúc rất hay, khi nghe một giọng ca thích hợp, lòng bỗng chùng xuống, buông lơi tất cả, để mặc thế sự xoay vần, chỉ còn "riêng mình ta một cõi". Ấy thế mà không mấy người khi thưởng ngoạn nhớ đến để thầm cám ơn người đã tạo ra nó, thậm chí không biết người nhạc sĩ là ai. Quả là một thói quen đáng trách!

Ở lứa tuổi thời nội chiến, chúng ta không may mắn sống trong tao loạn, nhưng người Miền Nam vẫn còn may mắn được hưởng những nghệ phẩm trong đôi ba giây phút mơ mộng phiêu bỗng do những nghệ sĩ tài ba cống hiến. Trong số những nhạc sĩ tài ba phải kể đến Tuấn Khanh với những tình khúc nhẹ nhàng, bay bổng. Đặc biệt nhạc của ông rất phổ biến, nhiều thành phần trong xã hội ưa thích, nhiều ca sĩ thuộc mọi khuynh hướng muốn ca.

Mời quý anh chị thưởng thức "Nỗi Niềm" của Tuấn Khanh do Thái Hiền trình bày sau đây.

(Điền Thảo)

04 June 2011

Thơ Dương Quân


Ông Tôi

Thuở ấy nhà vua ban chiếu chỉ
Lệnh truyền mở đất tiến về nam
Ông tôi cùng đám người trai tráng
Đốt đuốc đi tìm vỡ đất hoang

Thuở ấy trẻ già đầy nhiệt huyết
Noi gương dựng nước của tiền nhân
Hai châu Ô, Lý - đời công chúa
Nào sá chi muôn kẻ hạ thần

Đoàn người xông xáo không ngừng nghỉ
Vượt núi, băng đèo, qua suối sâu
Nước độc, rừng thiêng, hang dã thú
Muối vừng, cơm vắt, vẫn đi mau.

Tiếng chiêng, tiếng trống dồn, thôi thúc
Ánh lửa bập bùng reo, giấc khuya
Khúc hát, câu hò vang vách núi
Thần linh dường cũng rủ theo về.

Ông tôi bền bĩ, lòng hăm hở
Ra sức trai điền khẩn phát quang
San ruộng, bắc cầu, xây đập nước
Phên thưa, chòi lá, dựng thôn làng

Vài chục căn chòi nên ấp mới
Muôn tâu bệ hạ, chuẩn phê giùm
Xin cho tên gọi, vào danh bạ
Xin cử hội tề chăn dắt dân

Từng ấp, từng làng mau rộng mở
Dân hiền bình điệu khúc hoan ca
Nhờ ơn Trời Đất, thần Vương Trạch
Nhựt nguyệt cho mưa thuận gió hòa.

Như những cây tràm, cây mấm, đước
Ông sơ, ông cố...đã qua đời
Trăm năm con cháu về sau tiếp
Bờ cõi phì nhiêu thêm thắm tươi.

Bao giọt mồ hôi tuôn đổ xuống
Phù sa lớp lớp lại thêm bồi
Trĩu vàng bông lúa, đơm cây trái
Rộn rã thôn trang tiếng nói cười

Công tổ tiên mình xưa mở nước
Từ Nam Quan đến mũi Cà Mau
Đất liền, biển, đảo đang nguyên vẹn
Hà cớ đem dâng cống giặc Tàu?

Hồn thiêng sông núi sầu thê thiết
Tiên đế ngàn xưa uất nghẹn buồn
Quốc nhục kinh hoàng tròng bắc thuộc
Ai người hào kiệt cứu quê hương.

Dương Quân


03 June 2011

Trẻ em cần được chỉ dẫn cách tự vệ ngay khi còn nhỏ

Nhờ phổ biến: Mất tích

(Lê Khắc Ngọc Quỳnh)

Truyện ngắn Đỗ Tiến Đức

Khi tôi vào tới khu khách đến của hãng máy bay Korea Airlines thì giữa đám đông nhiều sắc dân, khác nhau từ  màu da, từ kiểu y phục, từ bên trong đi ra, tôi đã nhìn thấy một dáng điệu Việt Nam, mà tôi đã nghĩ ngay người đó là Hoàng. Điều khiến tôi ngạc nhiên là bên Hoàng có tới ba thiếu nữ người Việt. Bởi vì khi nói chuyện với nhau, Hoàng không nói sẽ có ai đi cùng nên tôi cứ tưởng Hoàng đi một mình. Ba thiếu nữ này đều trẻ, cũng thuộc loại xinh xắn và dường như đây là lần đầu tiên họ đặt chân lên nước Mỹ. Có lẽ họ là nhân viên của Hoàng chứ không lẽ một người trong họ là vợ Hoàng còn hai cô kia là bạn ? Nhưng nếu là nhân viên thì Hoàng mang theo làm gì ? Anh ấy đã nói với tôi là anh đi Mỹ chỉ có một mục đích duy nhất là thăm tôi chứ không có “business” gì cả.
Đã nhiều năm không gặp nhau nên tôi muốn quan sát kỹ thêm xem có phải đích thực là Hoàng không thì đúng là Hoàng rồi. Anh ta đã nhìn thấy tôi. Anh ta đã vung tay lên khua khua trên đầu cho tôi chú ý và trên môi anh nở một nụ cười mừng rỡ.
Hoàng bước nhanh về phía tôi và tôi cũng bước nhanh về phía Hoàng. Anh ta ôm chầm lấy tôi, đập đập trên lưng tôi, rồi hơi ưỡn người ra phía sau, nhìn tôi chăm chú :
- Trông cậu gìa hơn trước nhiều qúa.
Tôi đùa :
- Thì cậu cũng vậy. Thằng nào cũng trên bẩy bó rồi chứ trẻ trung gì nữa. Biết đâu lần gặp nhau này là lần gặp nhau cuối cùng...
Hoàng nhăn mặt :
- Cậu nói gì chán bỏ mẹ. Mới gặp nhau mà đã gở mồm gở miệng thế. Sống thì cứ biết là mình đang sống, nghĩ vớ vẩn làm chi cho mất sướng. Thôi bây giờ mình tính chuyện của mình đi.
- OK. Bây giờ thì mình ra xe. Cậu muốn ở thành phố nào để tớ đưa tới.
- Tớ muốn về nhà cậu xem cậu sống thế nào.
Tôi kêu lên :
- Ồ, nhà tớ chật lắm.
- Không sao. Ba đứa này ngủ chung phòng với tớ cũng được. Nhưng tớ muốn về nhà cậu, hai đứa nằm với nhau để sống lại những ngày trong tù cải tạo. Đó là những kỷ niệm chẳng những không thể quên mà nó còn cứ ám ảnh mình cả trong giấc ngủ.
Tôi nói lại :
- Nhưng nhà tớ nghèo lắm....
Hoàng đập lên vai tôi :
- Mẹ kiếp ! Bầy vẽ. Nghèo cách mấy thì chắc chắn cũng còn hơn thời mình sống trong trại tù cải tạo An Thới chứ, phải không ?
- Nhưng còn ba cô gái kia ? Họ ngủ đâu.
Hoàng gạt ngang :
- Chúng nó không thành vấn đề để cậu quan tâm.
- Nhân viên của cậu hả ?
- Sao cứ hỏi hoài vụ này vậy ?
- Thì cậu cũng phải cho tớ biết đôi ba chi tiết để tiện xưng hô chứ.
- Chi tiết gì ? Mà có gì quan trọng mà cậu cần phải biết ? Sợ chúng nó là Việt cộng hả ? Này, không phải cứ hễ người nào ở trong nước thì người đó là Việt cộng đâu đấy nhé. Chúng nó đều là con của người Sài gòn trước 75 cả. Có thể nó còn chống cộng hơn các cậu ở hải ngoại đấy. Lý do là người ở hải ngoại, chống cộng hay không chống cộng thì cuộc sống vẫn sung túc, vẫn tươi đẹp, với người trong nước hễ còn cộng sản thì họ sẽ chết dần chết mòn trong nghèo khổ và bị áp bức của cuộc đời những tên công dân hạng hai.. Biết chưa.
Tôi kêu lên :
- Ơ kia ! Tớ có nói gì đâu mà cậu nổi nóng vô lối thế ?
- Ờ ờ... xin lỗi cậu. Thôi, mình còn thì giờ để tâm sự. Bây giờ ra xe chứ.
Hoàng vẫy ba cô gái. Khi họ tới bên chúng tôi, Hoàng nói :
- Đây là Nhạc sĩ Phù Du, người mà lâu nay anh đã nói với các em. Đại khái là anh ấy từng đi tù cải tạo chung với anh ở ngoài đảo Phú Quốc. Rồi cùng trốn trại với anh, vượt biển sang Thái Lan. Rồi cùng sang Mỹ định cư.  Nhưng ở Mỹ anh thấy... khổ qúa bèn bỏ  về Việt Nam, còn anh Phù Du ở lại đây...
Ba cô gái cúi đầu chào tôi, miệng cười thật tươi. Tôi nhận thấy các cô này mặc quần áo rất thời trang, nếu không được giới thiệu sẽ tưởng các cô đang sống ở nước Mỹ. Chợt ánh  mắt của tôi dừng lại ở khuôn mặt của một cô trong bọn. Tôi sửng sốt khi nhận ra đôi mắt này, đôi môi này, nhất là đôi lông mày thanh tú kia sao giống như một người con gái mà tôi yêu vào thời điểm miền Nam sụp đổ và lòng người dân Miền Nam cũng sụp đổ trong hoảng loạn. Hồi đó có người ví von dân Sài gòn như đàn kiến đang thưởng thức chút mỡ chút đường trong một cái chảo còn để trên bếp sau khi đồ ăn đã múc mang đi hết, thì bỗng nhiên ai đó bật lửa lò làm đít chảo nóng lên khiến đàn kiến bỏ chạy tứ tung tìm lối thoát trong vô vọng trong lúc cái chảo mỗi giây mỗi phút cái nóng cứ tăng thêm.
Đang lục lọi trong óc xem hình bóng cũ đó là ai thì bỗng thấy ánh đèn flash từ đâu đó nháng lên. Tôi quay đầu nhìn, thì lại thêm một lần phải nhắm mắt vì ánh đèn flash ở qúa gần. Lập tức người cầm máy ảnh cười lớn :
- Xin cảm ơn nhạc sĩ Phù Du đã cho một tấm hình đẹp để lên báo tuần này...
Tôi chưa biết phản ứng thế nào thì anh ta, tên là Jack Bui, làm nghề báo trong cộng đồng, đã bước tới gấn hơn, cười :
- Xin quý vị làm ơn cho biết danh tánh để tôi đăng báo cho chính xác, kẻo rồi tôi có lỗi vì đăng sai tên tuổi quý vị.
Tôi gạt ngang :
- Thôi, anh Jack ơi, anh khỏi cần biết tên các vị này, vì tôi cũng chưa biết mà...
- Ủa. Nhạc sĩ ra đón những vị này mà nhạc sĩ không biết tên ? Sao lạ vậy nhỉ ?
- Có gì lạ đâu... cũng giống như tôi gặp anh ở đây, đều là tình cờ gặp nhau thôi... Anh ra phi trường làm gì đấy ?
Jack Bui không trả lời tôi mà hỏi tiếp :
- Tình cờ ? Vâng, tôi cứ đăng cái hình này vói cước chú là “Những người tình cờ gặp nhau”, được chứ ạ ? Vậy, xin hỏi thêm, qúy vị từ Việt Nam sang ? Quý vị đi du lịch hay có công việc kinh doanh gì không ạ ?
Tôi phải cố hòa nhã :
- Họ đi du lịch thôi, anh Jack ơi. Tôi ra đón ông bạn này của tôi thì mới gặp ba cô này... Mà sao anh quan tâm thế nhỉ ?
Jack Bùi cười hì hì :
- Thì cũng vì nhạc sĩ nổi tiếng qúa nên viết tin về nhạc sĩ là hấp dẫn độc giả... Xin hỏi thêm, các chị ở Sài gòn hay ở Hà Nội, và có làm ca sĩ hay tài tử điện ảnh không ?
Tức thì ba cô líu ríu trả lời :
- Dạ không... chúng em chỉ là người dân thành phố Hồ à à... Sài gòn  thôi ạ.
Từ nãy đến giờ không nghe tiếng Hoàng tôi đảo mắt tìm, thấy anh đang dùng điện thoại thu hình Jack Bui. Anh nhà báo này nhìn theo tôi, vừa đúng lúc Hoàng chĩa máy vào thẳng mặt anh ta, khiến anh ta xua tay lia lịa :
- Thu hình tôi làm chi vậy, cha nội ?
Hoàng bình tĩnh trả lời :
- Kỷ niệm thôi. Tên anh là cái gì Jack ?
Jack Bùi nhún vai, cười cười rồi bỏ đi. Hoàng  nói :
- Tớ nghĩ thằng cha này  thuộc loại ít tử tế...
- Ừ. Có lẽ từ chuyện một số người ở đây vẫn chửi tớ là Việt cộng nằm vùng, là ăng ten...
- Sao vậy ?
- Thì dạo ở trong tù với cậu đó, lúc đầu bọn quản giáo bắt mình làm quản ca, “cầm càng” tức là bắt nhịp cho anh em hát những bài “cách  mạng” kiểu “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”... Rồi sau đó nó bảo những bài hát của “cách mạng” không thể cho ngụy quân nguỵ quyền hát. Một cấp chỉ huy của họ nói với tớ  “chúng nó chưa được phép gọi Bác của chúng tôi bằng Bác”. Rồi ông ta chỉ thị tôi phải sáng tác những bài ca thích hợp cho tù cải tạo hát, chủ đề là hối hận đã làm tay sai Mỹ ngụy, hối hận là đã giết dân, đã làm chậm sự thành công của cách mạng....
Hoàng thấy tôi kể lể như muốn xả bầu tâm sự thì gạt ngang :
- Thôi, mấy vụ đó tớ biết rồi. Bây giờ về nhà cậu chơi, hai thằng mình nằm ngủ với nhau một đêm cái đã, mọi chuyện tính sau. OK ?
Khi ngồi lái xe, nhìn vào tấm gương chiếu hậu, tôi lại bắt gặp khuôn mặt của cô gái mang nhiều nét quen thuộc với tôi. Nhất khi khi cô ta cười, cái miệng hơi mở rộng và đầu ngửa ra phía sau một chút, tưởng làm sao mà quên được vẻ say đắm ngây thơ đó, thế mà, tôi thở dài, tuổi tác đã làm chết đi một phần bộ nhớ trong óc mình rồi... Tôi lẳm cảm nghĩ, khi mới chào đời, con người có thể chưa có bộ nhớ, cũng như chưa có răng, sau đó ông Trời cho “lease”, và khi về già tức là lúc hết hạn thuê thì lấy lại... Tôi cứ nhìn trộm cô gái trong chiếc gương nhỏ mà cảm thấy một sự rạo rực trong con tim vì hình bóng những ngày tháng xa xưa lởn vởn hiện về. Trong khi đó thì chẳng một ai chú ý tới tôi. Họ mải mê nhìn qua khung kính, xem nhà cửa bên đường, xem dòng xe cộ ngược xuôi, mọi thứ hấp dẫn đến độ làm mặt họ khi thì đờ dẫn khi thì sảng khoái...
Hoàng chợt hỏi :
- Cậu cũng nên về Việt Nam chơi một chuyến đi...
- Tớ chẳng có nhu cầu gì ..
- Chơi.
- Thiếu gì chỗ chơi hấp dẫn hơn.
- Chắc cậu vẫn còn dị ứng với nón cối dép râu ?
- Làm sao mà quên được cho dù mấy thứ đó giờ chúng nó xuất cảng hết rồi. Cậu có đoán được khi nào thì chúng nó  làm lễ đốt xác “Bác” để lấy đất bán cho tư bản Singapore xây khách sạn năm sao ở Ba Đình Hà Nội không ?
- Chắc không đâu. Vì lăng đó chính là bùa hộ mạng của bọn họ.
- Tớ thì tớ tin số phận của cái lăng đó cũng như như Bức Tường Bá Linh thôi. Khi nào “Lăng Bác” bị đập bỏ thì tớ bay về ngay, đến Ba Đình lấy cảm hứng sáng tác ngay một bản nhạc “Cơn ác mộng đã qua”.
- Cậu là nghệ sĩ gốc Hà Nội mà không nhớ  Hà Nội sao ?
- Làm sao được Hà Nội những ngày xa xưa... Bây giờ thì còn gì đâu để nhớ, nhỉ ? Mỗi lần nghe họ hát ca ngợi Hà Nội với hình ảnh bông hoa sữa nở, bông hoa sữa rơi, thú thực mình chăng biết hoa sữa nó màu sắc thế nào vì Hà Nội ngày xưa của mình không có thứ này... Mấy thằng bạn trở về du lịch, nó nói bây giờ đi giữa Hà Nội mà không gặp người Hà Nội thanh lịch, không nghe giọng nói êm ái của người Hà Nội dù đó là chị bán hàng, không nghe tiếng cười đài các của người Hà Nội vốn đã quen cung cách giấy rách vẫn giữ lấy lề... Thành ra muốn tìm nghe giọng Hà Nội nguyên thủy, ta phải tới khu Little Saigon.
Hoàng nói :
- Vì thế mà cậu sáng tác bản nhạc “Nhớ về Hà Nội xưa” ?
Tôi gật đầu rồi vừa lái vừa lục chiếc ngăn ở cánh cửa, kiếm chiếc CD có bản nhạc này, bỏ vào máy. Khi tiếng đàn violon bắt đầu vang lên réo rất thì Hoàng vỗ tay cho mọi người chú ý rồi nói :
- Tất cả im lặng để nghe bản “Nhớ về Hà Nội xưa” của nhạc sĩ Phù Du.
Đêm đó, Hoàng sắp đặt ba cô gái ngủ chung trong căn phòng của vợ tôi, mà từ ngày bà ấy mất, bỏ trống cho tới nay. Tôi cũng ít khi vào căn phòng này nên đồ đạc, quần áo của bà ấy vẫn còn nguyên như lúc bà ấy còn sống. Kể cả những lọ thuốc cao máu nằm quay lơ trên chiếc bàn ngủ ở đầu giường mà bà ấy phải uống mỗi ngày một viên nhưng cứ quên hoài. Tự nhiên mỗi lần bước vào phòng này tôi đều cảm thấy ớn lạnh rùng mình, vì theo tôi, đó không phải là cái lạnh rét của thời tiết mà nó là cái lạnh lẽo của nơi vương vấn âm khí u uất. Ba năm qua, trong tôi thường nẩy sinh đầy rẫy những ý nghĩ mâu thuẫn  vừa mong bà ấy về với tôi trong giấc ngủ, nhưng đồng thời lại sợ bà ấy hiện về lúc tôi đang thức.
Ba cô gái nằm chung một giường nhưng yêu cầu tôi cho mỗi người một cái mền để đắp riêng. Tôi cứ thắc mắc không hiểu họ liên hệ với Hoàng như thế nào. Không lẽ cả ba cô đều là “người yêu” của Hoàng ? Nghe nói ở trong nước bây giờ, dân có tiền thì mặc sức mà bao gái, bao nhiêu cô cũng được. Bởi vì quan niệm của các cô là dù làm gái bao của “ông chủ” còn sung sướng trăm lần hơn là phải dự các cuộc thi tuyển lấy chồng Nam Hàn, có nhiều ông già bằng tuổi cha mình, và nhiều ông dị tật, bệnh hoạn, xấu xí.
Tôi nhìn cô gái có nét mặt quen quen rồi bạo dạn nói :
- Tôi là nhạc sĩ Phù Du, xin các cô cho biết quý danh.
Cô gái đó nhìn tôi cười khiến tôi lúng túng vì, ôi sao, tưởng như một buổi nào đó trong dĩ vãng xa xôi, người thiếu nữ có miệng cười mở rộng và gương mặt hơi ngửa ra đằng sau như cô gái này, tôi đã được ôm trong vòng tay . Tôi chợt nhớ ra là tôi chưa thể quên được, khi hôn nhau, miệng nàng vẫn há to như muốn ngoạm cắn, như muốn nuốt chửng một miếng gồm cả lưỡi , môi và miệng tôi. Cô gái xưng tên là Quỳnh Tiên.  Còn hai cô kia là Hoa và Ngọc An. Cả ba cô đều xinh đẹp khiến tôi nghĩ anh chàng Hoàng này giống  nhân vật Vi Tiểu Bảo trong chuyện Kim Dung. Đang lúc hứng chí tôi tự hỏi nếu anh chàng Hoàng cho mình được quyền chọn một trong ba em này thì mình chọn em nào đây ?
Tôi vừa tính hỏi chuyện thêm thì nghe tiếng Hoàng gọi nên bước ra khỏi phòng sau khi giơ tay lên chào và chúc các cô ngủ ngon.

Trở về phòng, tôi hỏi Hoàng :

01 June 2011

Vấn đề thừa kế các văn kiện pháp lý

Hà Nội hãy công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia tiền nhiệm để có thể thừa kế những văn kiện pháp lý làm căn cứ cho những phản kháng của mình và đòi lại các hải đảo đã bị Hoa Lục cưỡng chiếm. Dưới đây là một trong nhiều văn kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa.

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyên văn:

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974.

(Nguồn: Tập san Sử Địa, tập 29.)

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...