16 August 2015
15 August 2015
Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang
Một bài viết chưa cũ nhưng ý rất mới:
“…Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết, Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn…”
Nguyễn Gia Kiểng
Khi nhận định về Trung Quốc các chuyên gia thường quên hai điều rất cơ bản. Một là Trung Quốc là một thế giới hay một đế quốc - hay một thiên hạ theo cách nói của người Trung Quốc- chứ không phải là một nước, do đó không thể lý luận và dự đoán về nó như người ta thường làm với một quốc gia. Hai là Trung Quốc vốn sẵn có một văn hóa nghi lễ lấy hình thức để tạo ấn tượng về nội dung, có khi để che giấu nội dung. Văn hóa này đã được tăng lên nhiều lần dưới chủ nghĩa cộng sản mà một đặc tính nền tảng là che đậy sự thực.
Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.
Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa
Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.
Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao?
Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.
Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp?
Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.
Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.
Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trên Wall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?
Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.
Nhưng kế hoạch nào? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.
Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.
Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.
Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ? Câu trả lời là: khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc có sụp cũng còn lâu" chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.
Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt
Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.
Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa
Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.
Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao?
Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.
Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp?
Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.
Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.
Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trên Wall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?
Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.
Nhưng kế hoạch nào? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.
Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.
Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.
Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ? Câu trả lời là: khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc có sụp cũng còn lâu" chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.
Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt
Chuyện Ông Henry Ford
thì hãy giúp chồng thành Hoàng Đế trước đã...
Hồi còn trẻ, ông Henry Ford chỉ là một cậu bé làm việc trong một trại trồng cây, mới học qua vài năm bậ...c tiểu học. Cậu ta thích máy móc, và năm 16 tuổi cậu ta đến Detroit làm thợ máy. Buổi tối cậu đi làm thêm nghề lau chùi máy đồng hồ. Hai việc làm đó giúp cậu được 3 mỹ kim mỗi tuần. Lúc đó, cậu thử tổ chức một nhà máy làm đồng hồ, nhưng kế hoạch của cậu không thành công và tương lai rất đen tối.
Năm 19 tuổi, cậu trở về sống trong trang trại với thân chủ, và ít lâu sau gặp cô Clara Bryant. Ford đã bỏ ý định làm giàu bằng cách chế ra một máy móc giúp ích cho đời. Nhưng Clara Bryant đã làm cho cậu thay đổi hẳn. Cô làm cho Ford cảm thấy có thể đạt được ý định khả quan. Hai người làm lễ thành hôn vào ngày 11-4-1888. Giấc mộng của ông Ford là muốn làm việc gì đó để được nổi tiếng, nên ông cố gắng tìm tòi chế ra một thứ xe không cần ngựa kéo. Ông lấy những bánh xe bò trong trại chế thành cái xe chạy thử bằng hơi nước, nhưng thất bại. Bà Ford đã không tỏ ý trách chồng làm chuyện tốn phí thì giờ và mang tiếng vì người lối xóm cười chê, mà còn khuyến khích chồng tiếp tục các cuộc thí nghiệm bằng cách khen chồng có óc tìm tòi sáng kiến.
Hồi còn trẻ, ông Henry Ford chỉ là một cậu bé làm việc trong một trại trồng cây, mới học qua vài năm bậ...c tiểu học. Cậu ta thích máy móc, và năm 16 tuổi cậu ta đến Detroit làm thợ máy. Buổi tối cậu đi làm thêm nghề lau chùi máy đồng hồ. Hai việc làm đó giúp cậu được 3 mỹ kim mỗi tuần. Lúc đó, cậu thử tổ chức một nhà máy làm đồng hồ, nhưng kế hoạch của cậu không thành công và tương lai rất đen tối.
Năm 19 tuổi, cậu trở về sống trong trang trại với thân chủ, và ít lâu sau gặp cô Clara Bryant. Ford đã bỏ ý định làm giàu bằng cách chế ra một máy móc giúp ích cho đời. Nhưng Clara Bryant đã làm cho cậu thay đổi hẳn. Cô làm cho Ford cảm thấy có thể đạt được ý định khả quan. Hai người làm lễ thành hôn vào ngày 11-4-1888. Giấc mộng của ông Ford là muốn làm việc gì đó để được nổi tiếng, nên ông cố gắng tìm tòi chế ra một thứ xe không cần ngựa kéo. Ông lấy những bánh xe bò trong trại chế thành cái xe chạy thử bằng hơi nước, nhưng thất bại. Bà Ford đã không tỏ ý trách chồng làm chuyện tốn phí thì giờ và mang tiếng vì người lối xóm cười chê, mà còn khuyến khích chồng tiếp tục các cuộc thí nghiệm bằng cách khen chồng có óc tìm tòi sáng kiến.
14 August 2015
THỬ LÒNG CHỒNG, thơ vui TNT
Bà vợ được chồng cưng hết ý
Nhưng trong lòng còn chút hoài nghi
Bà muốn thử ông chồng tí ti
Nên lấy giấy bút ghi vài chữ:
- "Anh ơi anh, em buồn quá độ
Chẳng ai thèm ngó em ở đây
Ngồi một mình cô đơn suốt ngày
Chán nản quá, em không thiết sống."
Viết xong bà bỏ cây bút xuống
Đặt tờ giấy ngay ngắn trên bàn
Rồi chui tọt gầm gường dưới sàn
Chờ chồng về sau khi tan sở
Ông chồng về không thấy bà vợ
Thoáng đọc qua tờ giấy trên bàn
Cầm điện thoại, vui, giọng nói vang:
- "Alô cưng, em cưng đó hả?
Bả đi rồi, bả vừa từ giã
Cưng ngồi chờ, anh sẽ tới ngay
Tụi mình đi xi nê tối nay
Rồi phòng trà tiếp ngay sau đó."
Bà vợ dưới gầm giường nghe rõ
Khóc nấc lên, đau xót, bàng hoàng:
-"Không ngờ sự thật quá phũ phàng:
Thì ra chàng tệ hơn mình nghĩ."
Ông chồng liền: - "Em ra giùm tí
Lần sau nhớ dấu kỹ bàn chân
Đừng thò ra nhẵn bóng trắng ngần
Ra đi em, cần gì anh sắm.
TNT 8/14/2015
Hai Vụ Nổ Như Địa Chấn Tại Thiên Tân, Hoa Lục
Hai vụ nổ lớn tại Thiên Tân, mạn bắc Trung Quốc, đã làm hàng chục người chết và hàng trăm người bị thương, phá hủy một vùng rộng lớn của thành phố.
Nó có nguồn gốc từ một nhà kho tại cảng mà người ta được biết là nơi chứa các loại hóa chất nguy hiểm. Tòa nhà thuộc sở hữu của công ty Tianjin Dongjiang Port Ruihai International Logistics (Hậu cần Quốc tế Nhuệ Hải Thiên Tân Đông Cương Cảng). Nhưng vẫn chưa rõ liệu cái gì đã khiến chúng phát nổ.
Trước khi xảy ra vụ nổ, nhiều lính cứu hỏa đã có mặt tại hiện trường tìm cách dập tắt một đám cháy, theo hãng tin AFP đưa tin.
13 August 2015
Tượng “bác”, từ dáng đứng Raskolnikov đến miếu thờ Trần Thủ Độ
Nguyễn Hoàng Văn
Bao nhiêu lời phản đối rộ lên, viện lẽ cái nghèo và cái khẩn thiết có thể phần nào giải quyết bằng tiền, nhưng họ vẫn nằng nặc đòi thể hiện tình nghĩa với “bác” bằng tượng, thật to, thật hoành tráng bởi nghĩa tình không thể đong đếm bằng tiền.[1] Rồi họ nhựa giọng phân trần, lập lờ giữa một “bác đơn độc 200 tỷ” với một “bác” “trong quần thể 1400 tỷ”, rồi họ ỉ ôi so bì về sự thua thiệt đài tượng của mình, v.v...[2] Họ đã mót xây tượng đến thế thì, thôi, khoan làm khó, hãy để họ thể hiện thứ nghĩa tình đang són ấy, nhưng điều quan trọng là phải thể hiện như thế nào.
Phải nhấn mạnh đến yếu tố này bởi hiện nước ta có nhiều “bác” quá, “bác” bê tông, “bác” đá hay “bác” đồng và chẳng lẽ lại tiếp tục là thứ... “bác” công nghiệp, loại “bác Hồ” rập khuôn có đôi mắt vô hồn và thân hình thẳng băng cứng đơ với ba biến tấu xoay quanh cánh tay quơ lên hay vung ra, 45 độ “xin chào”, 90 độ “đồng bào hỡi” và 180 độ “từ nay cách xa ngàn trùng”?
Tôi nghĩ đến tư thế của Rodion Romanovich Raskolnikov, nhân vật chính trong Tội ác và Hình phạt của Fyodor Dostovevski: nếu nhất định phải thể hiện cho bằng được “nghĩa tình” giữa “nhân dân” với “bác” thì phải tìm hiểu tư thế của chàng sinh viên luật này, lúc cúi mình hôn lên bàn chân của cô gái điếm Sonya Semyonovna Marmeladova: “Anh không cúi mình trước riêng em, anh cúi mình trước những thống khổ của nhân loại.” [3]
Gõ vào LINK dưới đây để đọc tiếp
LINK
Gõ vào LINK dưới đây để đọc tiếp
LINK
KHI CÂY CỔ THỤ BỊ TRỐC RỄ
Bùi Tín
09.08.2015
Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.
Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh - lão - bệnh - tử của mỗi đời người; quy luật sinh - hưng - thịnh - suy - vong - phế - diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.
Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh Huei, Bo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo - nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.
CÂU CHUYỆN VĂN HỌC
Đôi giòng:
TS Đàm Trung Pháp là một nhà giáo dục ngôn ngữ, chuyên về ngữ học áp dụng, ngữ học so sánh, và phương pháp giảng dạy tiếng Anh như sinh ngữ thứ hai; những bài viết của ông, người ta thấy ngoài những kiến thức chuyên môn của bậc thầy còn hàm chứa cả cái nhạy cảm của một tâm hồn rất đa cảm. (SĐ)
***
TS Đàm Trung Pháp
Professor Emeritus
Texas Woman’s University
“… la moindre fleur de ta jupe…” (Victor Hugo)
Bút giả lấy hứng khởi cho câu chuyện văn học kỳ này từ cách sử dụng ngôn từ khuếch đại rất ngông của Victor Hugo (1802-1885) trong đoạn chót bài thơ Pour Jeanne seule (Viết riêng cho Jeanne) :
Et sais-tu ce qui m’occupe
Jeanne? C’est que j’aime mieux
la moindre fleur de ta jupe
que tous les astres des cieux
Jeanne ơi, em có biết điều chi
đang bận lòng anh không nhỉ ?
Đó là điều anh yêu đóa hoa nhỏ nhoi
trên váy em hơn tất cả tinh tú trên trời
Oh mon dieu! Có ai biết cô Jeanne mặc váy dài hay váy ngắn hoặc là có bao nhiêu “đóa hoa nhỏ nhoi” như vậy trên váy cô không? Bút giả chỉ biết rằng sau khi tâm sự với nàng một hồi — nào là “anh chẳng cần biết gì đến vua đến chúa”, nào là “từ chân trời xa có một sợi dây xích nó luôn luôn kéo cẳng anh về hướng nhà em”, nào là “anh đang mê em quá chừng, em biết chăng” — thi hào Victor Hugo kết thúc bài thơ bằng một thứ chữ nghĩa khuếch đại, như đã trích dẫn bên trên, ở mức quán quân hoàn cầu!
Subscribe to:
Posts (Atom)
Hiểu Xuân Túy Bút
Gửi Các Bạn tôi ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...
-
LÊ NGUYỄN Trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tác động của sách báo được thực dân Pháp phổ biến mà không ít sách giáo k...
-
nguyễn tường tuấn Hình: New York Post Can đảm thú nhận sai lầm nói thì dễ, nhưng làm rất khó, không phải ai cũng thực hiện được! Tự ái cá nh...




