15 April 2014

Kết cuộc đắng cay, hồi Ký ‎của Harry G. Summers, Jr. (1)

Harry G. Summers, Jr
Toàn Như dịch

Đó không phải là một ngày đáng để làm người Mỹ tự hào. Ngày đó là ngày 30 Tháng Tư năm 1975, vào lúc 5 giờ 30 sáng, khi chiếc trực thăng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) CH-46 rời khỏi mái nhà Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn mang theo những người Mỹ cuối cùng, không kể những người lính TQLC, để tới chiếc tầu USS Okinawa và nơi an toàn, toàn bộ sự phản bội của chúng ta đã chấn động tận quê nhà. 420 người dân di tản ở phía dưới, những người mà chúng tôi đã hứa hẹn nghiêm chỉnh rằng sẽ không bỏ rơi, đã bắt đầu dồn ép những người lính TQLC cũng đang rút vào bên trong tòa đại sứ.

Nhưng đã quá trễ. Nước Mỹ đã không chỉ bỏ rơi người bạn đồng minh cũ một cách vô trách nhệm vào lúc dầu sôi lửa bỏng này mà còn bỏ rơi một cách đáng hổ thẹn mấy trăm người di tản cuối cùng, những người đã tin cậy Hoa Kỳ vào giờ phút cuối cùng đó. Trong số đó có cả những người lính cứu hỏa địa phương, những người đã khước từ được di tản sớm vì e ngại một trong những chiếc trực thăng có thể bị rớt trong sân tòa đại sứ; một linh mục người Đức cùng với một số trẻ mồ côi Việt Nam; và những thành viên tòa đại sứ Đại Hàn, gồm cả các sĩ quan Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Đại Hàn, những người đã tự nguyện ở lại đến giờ chót nhường cho các người dân thường được di tản trước họ và để rồi sau đó họ đã bị thảm sát một cách vô cảm bởi những kẻ xâm lược đến từ miền Bắc Việt Nam.

Cái đáng tiếc nhất là chuyện ấy xảy ra hoàn toàn không do chủ ý, mà đó là do sự mất liên lạc giữa những người đang điều hành cuộc di tản ở tòa đại sứ, những người trên hàng không mẫu hạm đang kiểm soát các trực thăng ở ngoài khơi, và những người ở Honolulu và Washington đang có những quyết định sau cùng. Nói tóm lại, Chiến Tranh Việt Nam một lần nữa đã chấm dứt.

Việc trở lại Việt Nam của tôi vào tháng Bảy năm 1974 bắt đầu hoàn toàn khác với chuyến công tác của tôi trước đó vào năm 1966-1967. Khác với lần công tác thứ nhất lúc đó tôi là một sĩ quan hành quân của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 2, Sư Đoàn 1 Bộ Binh (Hoa Kỳ), rồi sau khi bị thương lần thứ hai, tôi phụ trách sĩ quan hành quân G-3 với lực lượng Dã Chiên II Việt Nam, lúc đó có thể đã không còn nhiều chết chóc. Vào năm 1975, Việt Nam coi như đã hòa bình.

Nó tưởng như đã hòa bình đến nỗi vợ tôi và đứa con trai 18 tuổi đã tháp tùng theo tôi tới Sài Gòn cùng với một số gia đình khác trong Phái Bộ Mỹ – như ban tham mưu tòa đại sứ Mỹ; 50 nhân viên quân sự của Phòng Tùy Viên Quốc Phòng (cơ quan DAO : Defense Attaché Office); và phái đoàn nhỏ bé của Toán Quân Sự Hỗn Hợp Bốn Bên của Hoa Kỳ mà tôi được chỉ định làm Trưởng Tiểu Ban về thương thuyết. Tòa đại sứ tọa lạc ở trung tâm Sài Gòn, nhưng cơ quan DAO và Toán Quân Sự Hỗn Hợp Bốn Bên lại tọa lạc tại trụ sở của cơ quan MACV (Military Assistance Command, Vietnam) cũ ở căn cứ Tân Sơn Nhứt nơi ngoại ô Sài Gòn cách đó vài dặm.

Thomas Polgar, là Trưởng Văn Phòng CIA lúc đó, trong một bài báo mang tựa đề “Managing the Company Store” trên tạp chí Vietnam (tạp chí của các cựu chiến binh tham chiến tại Việt Nam xuất bản mỗi hai tháng) trong Tháng Tám năm 1989 đã viết: “Vào năm 1973-1974, tôi thường xuyên lái xe từ Sài Gòn đi Mỹ Tho trong vùng đồng bằng sông Cửu Long … và để cho nhân viên của tôi lái xe đi Đà Lạt. Những trục lộ chính xuyên suốt trong nước về căn bản là an toàn cho những chuyến đi vào ban ngày.”

14 April 2014

Tháng Tư, thơ


Song Vũ và bút ký "Sau Cơn Binh Lửa"

Phạm Tín An Ninh
Cuộc chiến đã chấm dứt gần bốn mươi năm. Thời gian đủ để chôn xóa tất cả mọi dấu tích bom đạn trên quê hương, nhưng vẫn chưa mờ nhạt trong ký ức và làm lành được vết thương trong lòng những ai từng tham dự hoặc chịu nhiều hệ lụy từ cuộc chiến ấy. Đặc biệt, những người lính miền Nam, một thời chiến đấu can trường, sẵn sàng hy sinh cho đất nước, để rồi bất ngờ phải nhận chịu thân phận kẻ bại trận trong đớn đau tức tưởi.

Từ nỗi oan khiên đó, trong suốt thời gian qua, đã có đông đảo những người lính trong mọi quân binh chủng viết về cuộc chiến, phân tích các nguyên nhân thắng bại hoặc kể lại những năm tháng hào hùng với biết bao chiến công hiển hách, ngỡ như không thể có ngày phải bàng hoàng buông súng. Đa số trong họ không phải là nhà văn, hoặc muốn trở thành nhà văn. Họ cầm bút chỉ để viết ra, giải tỏa những điều ẩn ức theo tháng năm đè nặng trong lòng. Viết để chia sẻ với những đồng đội cũ hầu cùng nhau tìm lại những kỷ niệm kiêu hùng của một thời trai trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Viết để phân tích tìm hiểu những nguyên nhân nào đã đưa cuộc chiến đến một kết thúc đau lòng. Và cũng để cho con cháu - thế hệ ít nhiều bị hệ lụy từ cuộc chiến ấy - hiểu được tinh thần và khả năng chiến đấu của cha ông, nhưng vì sao đã có một ngày 30 tháng 4 buồn thảm.

Trong số nhiều cây bút ấy, thỉnh thoảng chúng ta đọc được một số bài viết của tác giả Song Vũ. Một cái tên còn khá xa lạ, nhưng có lẽ ai cũng rất thích thú và nhận ra những giá trị đặc biệt ở các bài viết của ông. Không phải chỉ ở cách hành văn, mà còn ở sự trung thực, sống động cùng những nhận định sâu sắc, độc đáo mà chúng ta không tìm được ở nhiều tác giả khác. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công:  tác giả là người trong cuộc, luôn có mặt trong các trận chiến với những quyền hạn,  trách nhiệm trực tiếp. Vì vậy, ngoài tính trung thực được xác tín, tâm hồn tác giả cũng chan hòa theo từng dòng chữ, từng sự kiện, đã tạo cái hồn cho các bài viết.

Song Vũ là bút hiệu của cựu Trung Tá Ngô Văn Xuân, tốt nghiệp Khóa 17 Võ Bị QGVN. Trong suốt 13 năm  binh nghiệp, ông đều ở các đơn vị tác chiến, và liên tục trải qua hầu hết các chức vu chỉ huy từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, ngoại trừ những thời gian theo học các khóa tham mưu, dưỡng thương và gần một năm giữ chức vụ Trưởng Phòng 3 (Hành Quân) Sư Đoàn.  Trước tháng 4/1975, ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44/ SĐ23BB, đơn vị ưu tú đã tạo nhiều chiến tích lẫy lừng, góp phần  giữ vững được Kontum -Tây Nguyên trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngoài khả năng lãnh đạo chỉ huy, đảm lược, ông còn nổi tiếng là một vị chỉ huy trẻ đạo đức, thanh liêm, bình dị, luôn được tất cả mọi thuộc cấp thương yêu, kính phục.  Ông  sống chết cùng đơn vị cho tới giờ phút cuối cùng. Sau khi miền Nam thất thủ, bị giam cầm trong nhà tù CS trên 13 năm, ông sống còn qua nhiều cơn bệnh thập tử nhất sinh, nhờ vào tình thương yêu của bạn tù và ông tin có sự nhiệm mầu nào đó.

Qua tập bút ký dày 510 trang, người đọc sẽ nhìn thấy rõ hơn con người và cả tâm hồn, cũng như lòng trắc ẩn của tác giả.

Mở đầu cuốn sách, tác giả đã mượn lời của Erich Maria Remarque, lời tựa trong tác phẩm All Quiet On The Western Front ( Mặt Trận Miền Tây Yên Tĩnh) để nói lên suy nghĩ và mục đích khi khai sinh tác phẩm của minh:

“Cuốn sách này không phải là sự buộc tội, cũng không phải là sự thú tội, lại càng không phải là một cuộc phiêu lưu; bởi vì những ai đã từng đối mặt với cái chết thì chẳng ai phiêu lưu đi tìm nó cả. Cuốn sách chỉ đơn giản là nói về một thế hệ những con người, cho dù đã thoát ra khỏi lằn tên mũi đạn, cũng đã bị hủy diệt mất rồi.”

Và trong “Lời Thưa” thay cho lời tựa, tác giả cũng “thưa” thêm:
Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày càng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt chính mình. Điều tự nhiên đó, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ của chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải, thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết ?

Những băn khoăn đó là cảm hứng cho tôi viết tiếp một số bút ký tiếp theo có mặt trong cuốn sách này. Dĩ nhiên đây vẫn chỉ là những cảm nhận của riêng tôi và việc viết ra là mong muốn chia sẻ biết đâu chẳng là một việc hữu ích cho những thế hệ tiếp nối?
 Ngoài “Lời Thưa” và “Lời Cảm Tạ” ở các trang đầu và cuối sách, tập bút ký gồm 21 bài viết. Mỗi bài là những mảnh đời của tác giả ghép lại, lồng trong các đơn vị tác giả đã từng phục vụ, trong các trận chiến mà ông đã từng chỉ huy, tham dự. Tâm hồn của ông chan hòa trong tình đồng đội và số phận thăng trầm cùa quê hương đất nước. Ở đó, gần như trong bất cứ trang sách nào, người đọc cũng sẽ thấy phảng phát hình ảnh của những người lính chiến thực thụ, trách nhiệm hiểm nguy và số phận nghiệt ngã của họ cùng với tình huynh đệ mà họ đã dành cho nhau trong suốt cuộc chiến cũng như sau ngày buông súng.

Nếu là người đã từng phục vụ cùng đơn vị hoặc bị giam giữ cùng tù với tác giả, đọc những bài viết của ông, sẽ có cảm giác thời gian như đang quay ngược lại, để được nhìn thấy khuôn mặt, dáng dấp của hầu hết bạn bè, sẽ có cảm xúc từ hãnh diện đến đau đớn xót xa. Mỗi trang, mỗi chữ trong bài viết như thắm đẵm máu, nước mắt và cả nghĩa tình đồng đội, những người còn sống hay đã hy sinh.

Sau những kỷ niệm vui buồn của tác giả từ ngày bước chân vào “Con đường binh nghiệp” rồi ” Vào nơi gió cát” là các bài viết sống động về các trận chiến Kontum mùa hè 1972 và Mặt trận Cao Nguyên tháng 3/75.  Ở đây độc giả sẽ đọc được nhiều điều mới lạ, hiểu thêm về nguyên nhân mất Ban Mê Thuột dẫn đến “triệt thoái Cao Nguyên”  để cuối cùng mất cả miền Nam.

Song Vũ đã viết về cuộc chiến không chỉ bằng nhãn quan, tâm trạng mà còn bằng máu của một người lính chiến trường thực thụ trong hơn 13 năm binh nghiệp.  Sau đó ông còn có 13 năm tù, một lượng thời gian tương đương binh nghiệp. Mười ba năm ấy, là thời gian tác giả có thể gặp gỡ hầu hết bạn bè cùng cấp, những tướng lãnh có trách nhiệm trong nhiều mặt trận cũng như ở các bộ tham mưu đầu não, giúp ông có thêm nhiều dữ kiện chính xác. Thời gian 13 năm ấy cũng đủ để ông suy ngẫm và cho chúng ta những nhận định có giá trị. Vì vậy những phân tích thắng bại, ngoài tính chuyên nghiệp còn bằng những trải nghiệm, hiểu biết thực tiễn và sâu sắc .

Điều đặc biệt là ông không hề qui trách nhiệm cho các lực lượng đồng minh hay một bàn tay ngoại nhân nào, mà trước hết là ở chính chúng ta.

Trong cuối bài dịch thuật tiểu phẩm Raid at Entebbe (Cuộc đột kich tại Entebbe)  của tác giả Ira Peek, tường thuật lại cuộc đột kích thần kỳ của Lực lượng Do Thái vào phi trường Entebbe /Uganda, vào tối ngày 3 rạng ngày 4/7/1976,  giải cứu 103 con tin bị bọn khủng bố PFLP bắt cóc, Song Vũ đã viết :

Qua câu chuyện về chiến công kỳ diệu này, tôi nghĩ đã có thể nhìn thấy nguyên do đó.  Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, phe thắng trận ít nhất cũng phải có được một yếu tố nổi bật:  Một nhóm chỉ đạo chíến lược thật sự tài năng hơn kẻ thù.  Từ yếu tố này sẽ mang đến những hệ quả tất nhiên - sự tổng hợp sức mạnh cần thiết để đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi sau cùng.  Dân tộc Do Thái có yếu tố ấy còn chúng ta thì không.
Các tướng lãnh, sĩ quan Do Thái sống chết với lính, còn hơn thế nữa, các lãnh tụ chính trị của họ đồng kham cộng khổ với dân, sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng tư cho lợi ích chung của đất nước.

Tôi không chia sẻ quan điểm của một số người khác cho rằng, một ngày nào đó khi Do Thái không còn cần thiết cho lợi ích của Hoa Kỳ, họ sẽ bị bỏ rơi, nhưng tôi tin chắc rằng, chính phủ Hoa Kỳ không thể bắt một dân tộc đồng minh diệt vong khi dân tộc ấy có đủ tài trí và khả năng để tự sinh tồn.

Thực tâm tôi không muốn khơi dậy một vết thương chưa lành trong nỗi đau chung của những thế hệ trong trang lứa chúng tôi, một thế hệ đã lãnh đủ mọi tai ách, hy sinh mà không hoàn thành được sứ mạng bảo vệ đất nước, dân tộc mình.  Nhưng nếu cứ mãi đổ vấy cho sự thất bại ấy là do sự tráo trở của đồng minh, tự coi mình là một thứ lính đánh thuê thì theo tôi, sự hy sinh của thế hệ chúng tôi trong cuộc chiến vừa qua là một điều rất đáng buồn!”

Tác giả Song Vũ
(khi còn là SVSQ)

Là một sĩ quan tốt nghiệp từ quân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, được đào tạo để “không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm” như lời dạy của vị Chỉ Huy Trưởng năm nào, tác giả Song Vũ đã làm hết khả năng và tâm huyết, kể cả việc sẵn sàng hy sinh tính mệnh,  nhưng cuối cùng đã phải đớn đau xót xa trước số phận của mình và vận nước.

Người viết ngưỡng mộ tác giả và rất tâm đắc khi đọc qua tập bút ký Sau Cơn Binh Lửa, nhưng không có đủ khả năng trình bày hết các đặc điểm cùng những phân tích sâu sắc của tác giả và cả cảm xúc của chính mình.  Cách tốt nhất, xin mời quí vị tìm đọc để có thể hiểu rõ giá trị của tác phẩm. Đây cũng là một cách chia sẻ và khích lệ dành cho tác giả.

Tháng ba 2014,
Phạm Tín An Ninh
====================================

RA MẮT BÚT KÝ “SAU CƠN BINH LỬA”

Bạn bè và đồng đội của tác giả Song Vũ sẽ tổ chức
ra mắt tác phẩm Sau Cơn Binh Lửa vào ngày:

Thứ Bảy 19 tháng 4 năm 2014 (lúc 12 giờ trưa)
tại Trụ Sở Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc Cali
(địa chỉ; 111 E Gish Road, San Jose CA 96112).

Với các diễn giả:
Nhà văn Phan Nhật Nam
Nhà thơ Võ Ý
Nhà văn Đoàn Phương Hải

Điện thoại liên lạc BTC:
Bs Phạm Đức Vượng: (408) 226-8844
Nguyễn Quang Trung: (408) 334-6931

Liên lạc tác giả:
Email : songvungo@gmail.com
Điện thoại; (408) 378-5458

13 April 2014

Có chính quyền xứ nào sợ Tầu Cộng như Việt Nam CS?


Đài Loan: Người biểu tình sử dụng điện thoại rọi đèn bên ngoài Viện Lập pháp tại Đài Bắc, Đài Loan, sau khi chấm dứt cuộc biểu tình chiếm đóng nhằm phản đối thỏa thuận thương mại của đảo quốc này với Hoa Luc gây nhiều tranh cãi.

Hà Nội muốn cộng đồng Việt Nam hải ngoại “đốt cháy” Cù Huy Hà Vũ?

- Nguyễn Văn Lập
Sư kiện Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ được cộng sản Bắc Việt thả đi Hoa Kỳ “chửa bệnh” đang là câu chuyện thời sự nhiều tập liên quan đến âm mưu mượn tay người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới đánh phá các nhân vật bất đồng chính kiến với Hà Nội, để cho những người này trước sau gì cũng bị “cháy”, và tiếng nói của họ sẽ từ từ lịm tắt trong lúc cộng sản được tiếng là khoan hồng nhân đạo đối với thế giới, nhất là đối với người khổng lồ Hoa Kỳ có đôi chân đất.

Tại sao cộng sản lại giỡ thủ đoạn như vậy, gần 300 tù nhân lương tâm, chính trị, và dân oan tại Việt Nam, “tội” còn nhẹ hơn Cù Huy Hà Vũ rất nhiều, tại sao Cù Huy Hà Vũ lại được tha đi Mỹ, có phải Hà nội muốn tỏ thiện chí để Hoa Kỳ cho vào đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP hay không? Không phải như vậy, vì Hoa Kỳ đang hàn cái mắc xích dính nhau của con cờ domino mà trong đó Việt Nam như một mắc xích ở tuyến đầu cãn Trung cộng tiến về phương nam giống như Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Cộng sản không thả tù nhân nào, Hoa Kỳ cũng sẽ chấp nhận cho Việt Nam vào TPP. Các dân biểu nghị sĩ, và chính phủ Hoa Kỳ đòi trả tự do hoặc là tất cả, hoặc là một số tù nhân nổi tiếng như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, như Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức …, nhưng chỉ có Cù Huy Hà Vũ là duy nhất có đủ điều kiện trục xuất đi Mỹ đáp ứng dễ dàng cái âm mưu lộ liểu này của Hà Nội. Còn hai nhà tranh đấu Nguyễn Tiến Trung và Vi Đức Hồi cũng vừa mới được trả tự do thì ở lại Việt Nam. Mời quý vị đọc tiếp đoạn dưới đây.

Trước đây đã có ba tù nhân thuộc loại này đi trước Cù Huy Hà Vũ, và đều đã bị dư luận cho là “cháy”, đó là Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, người từng ở tù 20 năm dưới cả hai chế độ Việt Nam Cộng Hòa và cộng sản. Luật sư dân oan Bùi Kim Thành, tánh tình nóng nảy, nói năng một kiểu rất ồn ào dễ gây mất cãm tình người khác. Còn nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì lại liên quan đến Việt Tân. Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản mặc dù chống nhau nhiều hơn là chống cộng, nhưng đều đồng một chí hướng giống nhau là tinh thần quốc gia yêu nước luôn là một thể thống nhất không có gì lay chuyển được, nên khó có thể chấp nhận một người đã từng có quan điểm chống chính phủ quốc gia trong lúc cả nước đang chống cộng, nên ông Đoàn Viết Hoạt không được cãm tình của quần chúng hải ngoại, mặc dù ông ở tù cộng sản nhiều năm hơn. Bà Bùi Kim Thành nội cá tính không cũng không thể hiện được tính cách của một luật sư là phải bình tĩnh, biện luận xâu sắc, nhưng bà rất hay nổi nóng và từ đó phát ngôn không kềm hãm được, nên cộng đồng Việt Nam đã xa lánh. Còn bà Trần Khải Thanh Thủy thì thời gian đầu dính dáng đến Việt Tân là một đảng phái mà quần chúng có ít nhiều mặc cãm. Cộng sản Việt Nam là con cáo già chính trị, đã thả ba người này ra, vừa để để cộng đồng Việt Nam hải ngoại e dè họ vì nghi là cò mồi của cộng sản, vừa được mang tiếng tốt là khoan hồng nhân đạo. Cho nên ba vị nầy từ đó đến nay coi như vô hại đối với Hà nội. Người Việt quốc gia từng bị cộng sản lừa nhiều vố lớn trong lịch sử, nên khi ra đến hải ngoại thì hầu như thống nhất một điều là hể ai tranh đấu thì phải “pure” tức là nguyên si, không từng dính dáng gì đến cộng sản, và tư cách phải đứng đắn đàng hoàng, để cho dễ tượng hình thì có thể nói, thịt ra thịt, mỡ ra mỡ, thịt không thể dính chút xíu mỡ nào, nói tóm lại là có cái nhìn rất khắt khe, và đề phòng đối với các nhà tranh đấu từ trong nước ra. Một thí dụ cụ thể, cách đây vài năm, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt trong chuyến du thuyết tại Dallas đã kêu gọi đoàn kết tranh đấu cho tự do dân chủ trong giai đoạn mới, và đề nghị xem những người phản tỉnh ( chẳng hạn như Bùi Tín, Trần Độ, Hoàng Minh Chính,vv) là bạn để kết hợp đấu tranh, liền bị một phóng viên phản bác nói “nếu những người này không bị thất sủng và được nắm các chức vụ cao, liệu họ có phản đảng của họ hay không? Chúng ta không nên xem họ như một người bạn chí cốt, mà chỉ nên hợp tác giai đoạn với họ trong những công tác đấu tranh có lợi cho chúng ta, và chúng ta phải là là người chủ động “.

Xem như thế, mới thấy rõ việc Cù Huy Hà Vũ được chính tay cộng sản Hà Nội thả sang Mỹ để đưa lên “lò nướng” cho cộng đồng Việt Nam châm ngòi, vì thân phụ ông là Nhà thơ Cù Huy Cận, tác giả bài thơ lục bát nổi tiếng “Ngậm Ngùi” được Phạm Duy phổ nhạc, lại là Bộ Trưởng Văn Hóa Thông tin của chính phủ chú phĩnh Hồ Chí Minh, và bản thân Tiến sĩ Hà Vũ cũng không ít lần dùng ngôn từ ca ngợi hung thần ác sát này, nội tấm ảnh của Tiến sĩ Hà Vũ chụp chung với tội đồ Võ Nguyên Giáp là người đem quân tàn sát dân chúng miền nam, nhuộm đỏ cả nước, gây ra cảnh người Việt lưu vong khắp thế giới cũng đủ làm cho cộng đồng tỵ nạn tức ói máu. Cho nên Tiến sĩ Hà Vũ thực lòng có đòi Nguyễn Tấn Dũng ra tòa, bỏ bauxite Tây Nguyên, đòi đa đảng, đòi tự do dân chủ, đòi phóng thích tù chính trị vv…cũng khó lòng vượt qua cửa ải quốc gia, từ lúc cánh cửa phi cơ đi chửa bệnh đóng lại, hay nói thực ra là bị trục xuất.

Chưa thấy có bài viết nào ca ngợi ông kể từ ngày qua Mỹ, nhưng có nhiều bài thơ bài viết mĩa mai trong lúc cộng đồng Việt Nam hải ngoại đang chờ đợi tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ xuất hiện trước công chúng, chắc chắn sẽ có những câu hỏi hắc búa được đặt ra cùng với những lời ngưỡng mộ, là một người uy vũ bất năng khuất, từng đòi bỏ tù thủ tướng, đòi đa đảng, chắc chắn Cù Huy Hà Vũ đã chuẩn bị tinh thần và hiểu biết qua hoàn cảnh hoạt động của những người tù đi trước, việc cộng đồng Việt Nam hải ngoại hành sử như thế nào trong hoàn cảnh tế nhị này của Cù Huy Hà Vũ vẫn còn là một dấu hỏi, không chỉ ngày một ngày hai mà là tất cả thời gian còn lại của người tù nổi tiếng Cù Huy Hà Vũ, nếu ông quyết định tiếp tục đấu tranh tại hải ngoại này.

Cây Sầu Riêng Vườn Cũ

Võ Kỳ Điền

Tôi rề lại cái băng cây, ngồi xuống ở đằng đầu. Cái băng được làm bằng tấm ván dầy, các chưn được đóng dính luôn xuống đất. Tấm ván được cưa cắt rất thô nhưng vì nhiều người ngồi tới ngồi lui nên nó trở thành trơn láng. Ở trại chuyển tiếp để đi định cư, ai cũng thích đến đây, vì ít ra tại vị trí nầy, người ta có thể nhìn ra ngoài thấy được một khoảng trời nhỏ và ở dưới kia, cái sườn đồi thoai thoải có vài mảnh vườn, cây cối xanh mát.

Ngồi kế bên tôi là chú Hai thợ bạc, quê ở Sóc Trăng. Mỗi lần ra đây, tôi đều gặp chú. Khí hậu Mã Lai thiệt là kỳ cục. Ban đêm, trời lạnh teo ruột teo gan, ngủ phải đắp mền. Ban ngày trời nóng như đổ lửa, hơi nóng hừng hực từ sáng tới chiều, mồ hôi tươm ra đầy người. Ở tại lều không cách gì chịu nổi nên ai cũng tìm nơi để trốn nóng. Còn chỗ nào lý tưởng hơn chỗ nầy. Cái băng núp dưới bóng mát một bụi tre um tùm, ngoài kia dưới sườn đồi là phong cảnh kỳ thú. Thiệt ra ở vùng nầy còn nhiều nơi cảnh vật đẹp hơn nhiều nhưng dân tỵ nạn bị giới hạn trong vòng rào kẽm gai nên đâu có được ra ngoài mà đi đó đi đây. Có mấy người đi chữa bịnh về kể lại rằng ở ngoài kia, thành phố đẹp đẽ, sang trọng, sạch sẽ, tiện nghi. Riêng tôi và chú hai thợ bạc thì chỉ biết xứ Mã Lai qua cái khung trời nhỏ xíu nầy.

Tôi ngồi ở đây mà đầu óc ở đâu đâu. Cái vùng đất mới mà tôi sẽ đến thì xa lạ quá, nơi đó có vẻ hấp dẫn lắm. Có nhà lầu chọc trời, có xa lộ thênh thang, có tuyết rơi trắng xoá, có đủ mọi thứ vui. Tôi tưởng tượng ra bao cảnh kỳ lạ mà tôi sẽ được mắt thấy, tai nghe trong một ngày rất gần. Nhưng có anh bạn đi trước, gởi thơ về trại, trong có đoạn viết ' ...vừa bước ra khỏi máy bay như đi vào cái tủ lạnh, mũi thở ra khói, tay chưn tê cóng..', tôi chợt thấy ghê quá, quay qua chú hai thợ bạc:

          -Mai mốt qua bển, chú sợ lạnh hông chú Hai?

        -Sợ chớ thầy tư, Ở nhà tôi lúc nào cũng tắm bằng nước nóng như mấy ông ghiền thuốc phiện. Tại không nước nào nhận nên tôi đành phải chịu đi Canada . Tuổi già xương cốt chịu lạnh dở lắm.

Người ta nói ở bển, xin lỗi thầy tư nghen, đi tiểu ngoài đường, nó đóng lại thành cây nước đá. Nghe nói sợ quá. Mấy đứa nhỏ thì khoái chí. Tối tối tụi nó rủ nhau đi đến hội trường coi chiếu phim. Thấy tây tà trượt tuyết với nhảy đầm, coi bộ tụi nhỏ chịu dữ.

Tôi nhìn chú Hai thợ bạc. Chú ốm người, da xanh mét, mặt xương xương, dáng khắc khổ. Muốn gợi chuyện cho vui, tôi nói:

          -Thì lần hồi rồi cũng quen. Người ta chịu được thì mình chịu được, có gì mà lo. Tôi với chú qua bển, mình học một khoá nhảy đầm với tập trượt tuyết là xong hết. Người ta tới đâu mình tới đó. Vượt biên nguy hiểm, chết sống vầy mà mình còn làm được, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó!

          -Ý thôi thầy Tư, thầy tuổi trẻ thì còn được, tôi trên năm mươi rồi, tiếng Tây tiếng Mỹ một chữ cũng không biết, nói chi tới việc ôm đầm mà nhảy nhót.

          -Vậy chú chịu cực, chịu khổ lặn lội qua đây để làm chỉ

Chú Hai nhìn ra xa trả lời ngập ngừng:

          -Tại bên mình khó sống quá, vừa nhức đầu, vừa nghẹt thở, nên phải đi. Chớ vui vẻ gì. Tôi đâu có muốn nhưng hoàn cảnh bắt buộc. Thầy Tư nghĩ coi, cái tiệm thợ bạc nhỏ xíu cũng bị tịch thâu.

Thôi đành dẹp kềm, dẹp búa. Tôi làm đơn xin về quê làm ruộng. Nhà nước cũng không cho, bắt phải đi xây dựng kinh tế mới. Cái chế độ gì có mắt không được nhìn, có tai không được nghe, có miệng không được nói, thì ở lại làm gì. Nói thiệt với thầy tư, tôi ngồi đây mà đầu óc vẫn nhớ Bãi Xàu. Trước nhà tôi có cái rạch nhỏ, chiều chiều ra đằng trước câu cá, cũng đủ vui. Lớn tuổi rồi, đâu còn ham muốn gì nữa!

Nói xong, chú ngó mênh ngó mông. Chợt chú đưa tay chỉ xuống phía dưới sườn đồi, hỏi:

          -Cái vườn ở dưới đó trồng cây gì mà cành lá xanh um?

Tôi nhìn theo, trả lời ngay:

          -Cây sầu riêng đó. Mấy cây nầy mới trồng chừng ba bốn năm, còn nhỏ chưa có trái. Nếu lớn hơn một chút thì mùa nầy đã có bông rồi.

Tôi nhìn cây sầu riêng Mã Lai lá nhỏ nhưng tàn rậm hơn sầu riêng ở Việt  Nam . Thấy khu vườn nầy lòng tôi đâm ngẩn ngơ. Quê tôi là xứ của sầu riêng, măng cụt, bây giờ nó ra sao? Tôi quay qua hỏi chú hai:

          -Ủa, chú chưa bao giờ thấy cây sầu riêng sao? Chú có ăn được sầu riêng không? Có nhiều người hễ nghe tới mùi là chạy mất, họ nói hôi không chịu nổi.

          -Tôi khoái lắm chớ. Cứ tới mùa trái cây là mua mỗi lần cả chục kí, ăn tới mờ con mắt... Nhưng tiếc quá, tôi chưa có dịp đi vườn để thấy cây của nó...

Tôi bèn mô tả cây sầu riêng cho chú Hai biết:

          -Thông thường thì ở bên mình, cây trung bình có thân lớn cỡ cột nhà, cao hơn cột đèn đường chút xíu, tàn thưa mà rộng, mùa có trái nhìn thấy mê lắm. Trái nó treo lủng lẳng đầy cành, gai đâm tua tủa. Những trái còn non nhỏ cở trái cau, trái quít, thường bị rụng rải rác quanh gốc. Hồi nhỏ tụi tôi lượm lấy, bẻ mấy cái gai nhọn, cắm lên càm... để làm ông già râu!

          -Trái nó to quá mà đầy gai, rủi nó rụng trúng đầu thì chắc chết!

         -Vậy mà hình như chưa có ai bị rớt bể đầu vì sầu riêng. Chỉ có mấy anh đi ăn trộm mới sợ thôi vì trái nó chỉ rụng vào nửa đêm về sáng. Trái sầu riêng chín rụng ăn mới ngon. Nếu cắt cuống sớm, còn non ăn lạt nhách, nhiều khi bị sượng. Người sành điệu họ lựa chọn kỹ càng khi mua. Phải là thứ vỏ mỏng, nhỏ hột, cơm dầy màu mỡ gà, ăn cái vị nó beo béo, đăng đắng mới đã. Chớ ăn sầu riêng mà lựa thứ cơm ngọt ngay, thì ăn chừng vài múi là ngán ngược. Ăn buổi sáng, buổi chiều còn nghe mùi thơm.

          -Mà chú Hai ơi, ăn sầu riêng mà ăn một mình cũng chưa đủ ngon. Phải đi vào vườn với một cô bạn gái dễ thương, lựa một nơi im mát, gom cỏ khô lại làm đệm, khui trái sầu riêng chín thơm nực nồng, cầm từng múi bằng năm ngón tay, ăn hết rồi còn liếm cơm còn dính trên các ngón tay, mút chùn chụt, nhìn nhau mà cười... mới đã thèm.

          -Sao tả cảnh nghe mê quá vậy. Chắc thầy Tư ăn sầu riêng kiểu đó hoài?

          -Phải được như chú nói, cũng đỡ. Nhiều khi tôi nghĩ tới còn tức mình. Hồi đó tới giờ, ngồi dưới gốc cây sầu riêng thì nhiều, còn ăn như vậy thì chưa bao nhiêu. Bây giờ ngồi đây, nhớ tới kỷ niệm mà trong lòng nao nao. Lúc đó tôi vừa được hai mươi tuổi...

*

Tôi gặp lại Phương do một sự tình cờ. buổi chiều hôm đó, trời vừa sẩm tối. tôi ở lớp học ra, đi ngay đến ngã tư đầu đường, để đón xe về tỉnh nhà. Chiếc xe lô ngừng lại. Tôi nhìn vào xe, thất vọng, trong khoang không còn một chỗ trống. Người ta ngồi đen nghẹt, chen chúc nhau. Anh lơ xe mở cửa, nhảy xuống kéo tay tôi, đẩy vào. Tôi cố chen vào trong. Có vài tiếng cằn nhằn nho nhỏ:

Tìm thấy nước trên một mặt trăng của Sao Thổ

Ảnh của cơ quan NASA chụp cho thấy các tia hơi nước bốc lên từ cực nam của mặt trăng Enceladus của Sao Thổ 
 
Linh cảm của các nhà khoa học về việc có nước ở thể lỏng trên một trong những mặt trăng của Sao Thổ đã được chứng tỏ là đúng.

Nước là một yếu tố quan trọng của đời sống, như vậy, các nhà khảo cứu tại Viện Khoa Học Kỹ Thuật California nói rằng mặt trăng Enceladus của Sao Thổ có thể là một nơi tốt để tìm kiếm các hình thức đời sống không phải trên Trái Đất. Mặt trăng này có bề ngang chỉ vào khoảng 500 kilomet.

Các nhà khoa học đã nghĩ rằng Enceladus đã có nước kể từ năm 2005, khi phi thuyền không gian Cassini của cơ quan NASA chụp hình về những vụ nổ các tinh thể nước đá từ Nam Cực của mặt trăng này.

Với những đo lường phức tạp về trọng lực của mặt trăng nhỏ này, các nhà khoa học đã có thể xác định rằng có một hồ nước có lẽ cũng lớn bằng Lake Superior của Bắc Mỹ ở phía dưới một lớp băng dày và bên trên một lõi đá của mặt trăng này.

Các nhà khảo cứu nói rằng hồ nước này có thể sâu khoảng 10 kilomet.

Khám phá vừa kể được đăng trong tạp chí Science, khiến Enceladus trở thành hấp dẫn hơn cho các phi vụ trong tương lai nhằm thâu thập các mẫu từ những mạch nước băng giá. (VOA)

12 April 2014

Hoa xưa, Bướm cũ!

Hoa xưa chưa tàn trên đất khách...
                                 ...(thì) 
Bướm cũ vẫn lượn dưới trời xuân!





Góp ý:

Hoa Xưa Chưa Tàn Trên Đất Khách?

Nếu như có ai đó nói như vậy thì thôi, cũng cho là có phần đúng đi. Nhưng còn nói "Bướm cũ vẫn lượn dưới trời xuân" thì coi chừng có ai đó sẽ nhớ tới câu thơ của Nguyễn Bính là "Bướm nói điêu" nghe.

Tai vì kẻ hèn nầy mang vào hai cặp kính viễn rồi, còn dán mắt vô sát màn hình mà tìm hoài sao hỏng thấy có con bướm nào "lượn" hết trơn!

Bướm nói điêu! Bướm nói điêu! Bướm bây giờ có thể chống gậy rồi thì làm sao mà còn lượn lờ được nữa chớ!

Bướm ơi, nếu như còn "lượn" được thì hãy "lượn" cho xem! Còn nếu như không "lượn" được thì cũng phải "show" ra cho bàn dân thiên hạ thấy là có phải bướm chống gậy rồi không? Bướm chống gậy hay là bướm (ngồi xe) "lăn" cũng vậy thôi, bướm ơi!

Hu hu, hu hu
Một độc giả (chắc là nữ và hơi...  chằng!)

Hà Nội hãy chấm dứt dùng tù nhân lương tâm để đổi chác với quốc tế

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...