Thu tàn, đông lạnh, hạ cháy daChỉ có xuân thôi bướm vờn hoaCây cối đâm chồi, ong kiếm mậtRì rào sóng vỗ mình với taBuồn thay ngơ ngáo cái tuổi giàMôt bếp, một giường, một xô-phaĐâu biết mùa xuân, biển dậy sóngChờ hoài nào thấy bóng lão gia !(A.C.La)
07 March 2021
Sóng Xuân, tranh mới A.C.La
Điểm sách “Silent Invasion”
Đây là một cuốn sách cũng như câu chuyện đằng sau (3) đã và đang gây chấn động ở Úc. Đi đâu cũng nghe giới trí thức nói về nó. Hôm kia, trong một buổi giải lao, một giáo sư người Úc thuộc đại học UTS cũng nói với tôi về cuốn sách này, và những gì tác giả cảnh báo. Người Việt chúng ta, dù ở Úc hay ở Việt Nam, cũng nên đọc quyển sách này. Đọc để thấy sách lược của Tàu cộng nhằm gây ảnh hưởng và xâm nhập vào hệ thống chính trị từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất.
Mục tiêu và chiến lược
Mục tiêu của đảng cộng sản Tàu là kéo Úc vào quĩ đạo kinh tế và chính trị do Tàu kiểm soát. Nhưng vì Úc đang là đồng minh thân thiết của Mĩ, nên chiến lược để đạt mục tiêu đó là tạo ra chia rẽ giữa Úc và Mĩ, là gây ảnh hưởng kinh tế, là đe doạ chính trị, là gây bất ổn cho Úc.
Tàu cộng dùng nhiều biện pháp để thực hiện chiến lược trên. Họ có Mặt trận Tổ quốc để lôi kéo Hoa kiều phục vụ cho họ. Họ lập chi bộ đảng cộng sản ở các đại học Úc nhằm kiểm soát tư tưởng của du học sinh và biến họ thành những “chiến sĩ” tuyên truyền ngay trong lòng nước Úc. Họ tung tiền mua chính khách Úc, từ cấp cao đến cấp thấp. Họ vung tiền mua các tập đoàn kinh tế Úc và mua các cơ sở vật chất (như cảng, công ti năng lượng, đất đai và trang trại).
Cách mà đảng cộng sản Tàu (CCP) gây ảnh hưởng và xâm nhập là qua 3 kênh: người Tàu di cư, các tổ chức xã hội do đảng cộng sản Tàu điều hành, và qua tiền. CCP xem những người Tàu di dân trong thập niên 1980 và du học sinh là những phần tử có thể làm trung gian để thu thập thông tin và báo cáo về cho chính phủ Tàu. CCP thành lập hàng loạt các tổ chức mang danh kiều bào (như Ủy ban Hoa kiều ở nước ngoài, Hội đồng hương Hoa kiều, Hội sinh viên, v.v.) và qua đó chuyển tiền để gây ảnh hưởng đến chính trường Úc. CCP còn tung tiền ra cho các nhân vật trung gian để mua ảnh hưởng, mua ý kiến của giới chính trị Úc để họ có những phát biểu có lợi cho Tàu. Số tiền tung ra không phải hàng triệu, mà con số lên đến hàng trăm triệu đôla!
Những kẻ “apologist” cho Tàu cộng và thân Tàu cộng lí giải rằng việc gây ảnh hưởng mà Tàu áp dụng lên Úc là bình thường, vì Mĩ vẫn làm thế chứ có tử tế gì đâu! Nhưng tác giả Hamilton chỉ ra rằng những kẻ apologist này cố tình chối bỏ thực tế là Mĩ là một nền dân chủ, còn Tàu cộng là độc tài; Mĩ không có ý định chiếm Úc, Tàu cộng muốn; Mĩ bảo vệ Úc, Tàu cộng xâm lược hay ít ra là có ý đồ xâm lược. Những khác biệt giữa các tập đoàn kinh tế Mĩ và Tàu cộng cũng được Hamilton chỉ ra rõ ràng: các công ti Mĩ là tư nhân và độc lập với chính phủ, các công ti Tàu là của đảng cộng sản Tàu; Mĩ xem kinh tế là môi trường kinh doanh, Tàu xem kinh doanh là hình thức để đạt mục tiêu chính trị; các công ti của Mĩ không có chi bộ của đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ, các công ti Tàu là ổ của đảng cộng sản Tàu (trang 113).
“Tiền là bầu sữa của chính trị”
Một Số Ngụy Biện Về Quan Hệ Với Trung Quốc
05 March 2021
Tìm thân nhân
Tôi tên McGan JoLie, 50 tuổi, quốc tịch Mỹ.
Tôi sinh ra ở Sài Gòn, Việt Nam năm1970.
Năm 1974 cả cha và mẹ ruột của tôi đều bị chết do bom nổ tại Chợ Lớn. Tôi có 3 anh em, tôi là út. Anh lớn tên Hải, anh kế tên Đông, tôi tên Xuyên. Tôi không biết tên đầy đủ của mình là gì, mọi chuyện tôi chỉ được kể lại bởi cha mẹ nuôi.
Đầu năm 1975 thì tôi được cha mẹ nuôi dẫn theo qua Mỹ, sống đến nay. Hồi 10 năm trước cha nuôi tôi mất, đến năm ngoái mẹ nuôi cũng mất do bệnh.
Nay tôi có ước nguyện muốn tìm lại người thân, là 2 anh ruột của tôi và cả những người họ hàng khác. Thứ duy nhất tôi còn giữ chỉ là tấm ảnh cũ này thôi. Ký ức có nhiều thứ mơ hồ, tôi chỉ nhớ mang máng là nhà tôi ở bên quận 5, gần chỗ bán thuốc bắc hay gì đó.
Nay tôi đăng lên đây, kính xin nhờ quý anh chị em trên FACEBOOK chia sẻ và chỉ dẫn giúp tôi, để tôi có thể tìm lại được máu mủ của mình.
Hiện tôi đang sống tại Austin,Texas, Mỹ
Tel.: 521 471 3435
XIN CÚI ĐẦU CẢM ƠN SỰ GIÚP ĐỠ !!!
Quản Gia Hành, thơ xả xú-bắp
QUẢN GIA HÀNHÂm dương , thiên địa, ngũ hànhThêm hành thứ sáu là HÀNH QUẢN GIAHành này chi phối đời taHãy học cho thuộc nếu là đàn ôngNghe cho kỹ , hiểu cho thôngThi hành bổn phận người chồng chớ quênQuản gia đầy đủ uy quyềnBảo sao làm vậy, không phiền không thanLương tháng không muộn, không màngĐúng ngày phải nộp cho nàng tồn khoLà chồng nên được tự doQuanh quẩn trong bếp, không cho ra ngoàiLệnh quản gia, chẳng đoái hoàiSẽ nghe tiếng BỐP cai chai lên đầuMắc công chuyện muốn đi đâuPhải trình cho rõ ở đâu từng giờNếu để quản gia nghi ngờSẽ phải ngủ bụi , nằm bờ đêm nayLuôn luôn ghi nhớ điều nàyQuản gia luôn đúng , chẳng sai bao giờQUẢN GIA HÀNH đã mệt phờThôi đành cam chịu để chờ kiếp sauHangiangthulang/TUYBUI/03/2021
***
,Quản Giáo Hành, Quản Giáo Hành,Thì ra Quản Giáo đành hanh hơn trời.Tớ giờ đạt ngưỡng tám mươi,Nghe lời Phế, chắc thêm mười mấy năm.Từ nay hầu hạ rất chăm,Cầu xin Người mãi cho...nằm kề bên!
LDĐÀM
O Lựu, truyện ngắn
Hương Thủy
Năm tôi lên chín tuổi, mẹ mất. Chị Cả đi lấy chồng xa, chị Hai còn dại lại đang cắp sách đến trường, Ba tôi nhờ người bác tìm hộ một người giúp việc. Và o Lựu xuất hiện trong gia đình.O Lựu người làng Bồ Bản, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Nhà nghèo lại đông con, mẹ o quyết định cho o lên tỉnh “đi ở ” kiếm chút vốn và cũng để bớt một miệng ăn. Năm ấy o vừa mười sáu tuổi.
Không giống những người làm ruộng vất vả khác, o Lựu có nước da trắng xanh, đuôi mắt dài, tóc chấm vai được cặp lại bằng một cái kẹp ba lá. Vào nhà được mươi lăm phút, o đã tất tả tìm cái chổi que quét dọn bếp núc.
Có o Lựu, tôi khỏi phải ăn những bát cơm nửa sống nửa chín do chị Hai nấu, anh tôi không còn nhăn mặt trước dĩa chả trứng khét lẹt và ba tôi đã có ấm nước sôi pha trà buổi sáng. O dạy chị tôi “xuốc cươi (quét sân) thì phải khom người xuống”, dặn tôi “đừng leo cây ổi mà bổ (té) lọi tay (gãy tay).”
Mất mẹ lúc còn quá nhỏ, ba luôn nghiêm nghị, ít khi biểu hiện tình cảm ra bên ngoài, tôi chỉ còn o Lựu để nhỏng nhẽo. “ O Lựu rửa chân cho em…O Lựu cõng em đi chợ…O Lựu con mèo cào em”…Tai quái hơn, tôi còn bắt o làm bò cho mình cởi và khi muốn “bò ” ngừng lại, tôi đấm thình thịch vào lưng. O lẵng lặng chiều theo ý tôi, không một lời phàn nàn
Đêm đêm khi gãi lưng cho tôi ngủ, o hay kể chuyện làng mình. Chuyện đền thờ Thần Hoàng có cây đa cao vút với con tinh áo trắng chuyên dọa người đi qua; chuyện bà lão hiền lành nhặt được cục vàng khi mò cua ngoài ruộng…Thỉnh thoảng, o lại đọc những câu ca dao mang âm điệu buồn bã “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” hoặc “Chèo đò bẻ bắp bên sông. Bắp chưa có trái bẻ bông chèo về”…Tất cả ru tôi vào giấc ngủ êm đềm không mộng mị.
An phận thủ thường như những người giúp việc khác nhưng o Lựu lại có một sở thích kỳ lạ: thích chụp ảnh. Hè năm đó, cậu tôi ở Huế ra chơi đem theo cái máy ảnh Canon và chụp cho hầu hết các thành viên trong gia đình nhằm mục đích trau dồi tay nghề tài tử.Thấy sự hiền lành của o Lựu, cậu có nhã ý chụp cho o một tấm hình dưới gốc cây ổi. Ảnh sang ra, o trang trọng đón nhận bằng cả hai tay.
O mua cho tôi một đồng kẹo Gia Địa và năn nỉ tôi viết cho hai chữ “Kỷ niệm” ngòng ngoèo đằng sau ảnh. Những ngày tiếp , o thể hiện sự biết ơn của mình một cách thầm lặng: giặt sạch bộ đồ nhà binh dày cộp , cắm cúi đánh bóng đôi giày “ trấn thủ lưu đồn” của cậu. O xin tờ giấy bóng kính, bao tấm ảnh và cẩn thận xếp nó vào đáy rương. Những buổi trưa rổi rãnh, ngồi sau hiên nhà bếp, o lôi ra ngắm nghía say sưa .
Dưới đôi mắt một đứa con nít như tôi, tấm ảnh chẳng có chi xuất sắc nếu không nói là xấu bởi vì o Lựu trong hình bị xén mất một chân. O nói dưới làng chỉ có nhà giàu mới dám lên tỉnh chụp bóng để sau này có ảnh mà thờ. O ao ước phải chi có nhiều tiền sẽ ra chụp một cái hình màu ở tiệm LIDO ngoài chợ tỉnh.
Mỗi năm o Lựu được về thăm nhà một lần vào ngày hai bảy tháng Chạp. Khi đó o mặc chiếc áo dài xanh của chị Cả tôi cho, đi đôi guốc mộc, đầu đội nón lá. Tiền công xá ba tôi đưa, o gói trong chiếc khăn mùi xoa và lận vào lưng quần. O xin anh tôi mấy cuốn tạp chí Thế giới tự do về cho em dán trên vách nhà. Vắng o, tôi bần thần cả mấy ngày Tết. Năm nào o lên muộn, ngồi trong lớp tôi sốt ruột sốt gan. Và thật sung sướng khi đi học về đã thấy o Lựu trong nhà bếp. O đem lên làm quà những củ khoai từ đầy bột, mớ khoai lang tươm mật và những trái khế vàng ươm.Trước vẻ mặt phụng phịu của tôi, o hứa lần sau sẽ lên nhanh, sẽ xin cho tôi về Bồ Bản, một làng quê nghèo có lũy tre xanh, có động cát trắng với bao nhiêu là sim, móc và những bông hoa chạc chìu thơm ngát.
Một hôm, tôi nằm ở nhà trên, say sưa dán mắt vào cuốn “Lửa cháy thành Phiên Ngung” thì o Lựu đi chợ về. Đã hơi trưa, o gọi vọng lên nhờ tôi lấy giúp cái kéo cắt râu tôm kịp nấu canh cho ba tôi về ăn. Mê mải với chàng trai Hoàng Anh Kiệt hào hùng, o giục giã vài ba lượt tôi mới nhỏm dậy làu bàu rồi vơ cây kéo chạy vội xuống nhà bếp ném đại về phía o đang lúi húi. Cây kéo không rơi xuống đất mà lại phi thẳng một đường vào trán, dòng máu đỏ tuôn ra. O cúi xuống, gục mặt vào đầu gối để cầm máu.Tôi hoảng hồn đứng lặng. Anh tôi vội vã lấy bông và thuốc đỏ rịt vết thương.Trưa hôm ấy khi thấy trán o bị băng, ba tôi hỏi nguyên do, o nói trớ là bị va đầu vào cột nhà. O đã giúp tôi thoát khỏi trận đòn chắc chắn sẽ xảy ra. Sau đó trên trán o có một vết sẹo khoảng ba phân vắt ngang.
O Lựu ở với chúng tôi được 4 năm. Khi tôi vừa lên lớp đệ lục thì mạ o lên xin cho o về làng để “lấy dôông”. Ở nhà quê, hai mươi mà chưa có “dôông”là coi như ế. Tôi nằng nặc không cho o về. Mặc kệ cây roi mây và lời dậm dọa của ba, mặc kệ lời dụ dỗ và những trái khế ngọt của mạ o, tôi ôm o chặt cứng. Đêm ấy, trước khi đi ngủ tôi lấy cái khăn buộc chặt tay tôi vào tay o nhưng sáng mai thức dậy o đã đi từ lúc nào. O để lại cho tôi năm đồng bạc mới trên gối. Tôi khóc tỉ tê suốt cả buổi và nhất định sẽ nhờ ai đó chở về làng tìm o. Chị Hai cứ chế diễu tôi vô duyên, không để o Lựu đi lấy chồng.
Nhưng đứa bé 12 tuổi không dễ dàng thực hiện được dự tính. Làng Bồ Bản quá xa so với đôi chân bé nhỏ của tôi. Chiều chiều tôi ngẩn ngơ ra sân ngóng đợi. Có lần, chị tôi đi sinh hoạt Hội Hồng Thập Tự Thị xã đem về tập san Đan Tay, trong đó có một bài thơ của thầy Lê Văn Mãn dạy Sử Địa nói về Bồ Bản. Bài thơ có lẽ không có chi xuất sắc nhưng tôi thuộc nằm lòng vì nó nhắc đến làng o Lựu:
Đường về Bồ Bản không xaCách một trái núi với ba quãng đồngChưa đi những ngóng cùng trôngKhi về chỉ thấy đồng không tre già*Đường về Bồ Bản xa khôngMuốn về nơi ấy mà lòng phân vânQuê nhà vắng vẻ. Trong sânHàng cây không lá muôn phần nhớ thương
Phải chi có o Lựu ở đây, nghe tôi đọc chắc o thích lắm.
Rồi thời gian qua… Trường lớp, bạn bè và những cuộc vui cuốn hút tôi. Tôi đã lớn, đã biết đi xe đạp rồi Honda nhưng làng o Lựu trở thành vùng xôi đậu, mất an ninh. Đôi lần nhớ về o Lựu tôi ngậm ngùi. Chắc o đã có một gia đình êm ấm.
Năm 1972 mùa hè chinh chiến, gia đình tôi cũng bỏ Quảng Trị mà đi. Và từ đó tôi không còn dịp quay lại tỉnh lỵ nhỏ bé này.
*
Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng với cái lý lịch không mấy “sạch sẽ”: Ba “ngụy quyền”; anh trai, anh rể đi “cải tạo”; với cái nhìn không mấy thiện cảm của loại Sinh viên “Cách mạng 30”về một cô gái trước 75 hay mặc váy lên giảng đường; đi “lao động Xã hội chủ nghĩa ”vẫn áo Pull quần Jean “tàn dư Mỹ Ngụy ”, tôi không được bổ nhiệm. Buồn tình tôi bỏ về Đà Lạt.
Thành phố cao nguyên. Những ngày nằm dài ủ ê nghe thông reo. Chị Cả tôi, từ một mệnh phụ đã bước xuống cuộc đời. Đồ đạc trong nhà bán dần hết. Một nách ba con với gánh hàng trên vai, chị tôi vào bán trong Hồ Than Thở. Đây là một thắng cảnh của Đà Lạt. Cạnh đó là Trường Võ Bị Quốc Gia nay đã đổi tên thành Học Viện Lục Quân. Hàng ngày tôi nhìn sang mà lòng ngậm ngùi. Anh rể và anh trai tôi đều xuất thân từ ngôi trường quân sự danh giá này và bây giờ cả hai đều bị lưu đày ở nơi thâm sơn cùng cốc. Cả hai anh đều bị xếp vào loại “ác ôn” khi chọn lựa binh chủng Biệt Động quân với chiếc mũ nâu, cháu tôi khi chơi đánh nhau vẫn quen mồm “Ranger ranger, kill…kill ”…Khách hàng phần đông là những bộ đội “ cách mạng” các miền; thỉnh thoảng có những chuyến xe Saigon của các du khách lãng mạn đi tìm dấu tích của Đồi thông hai mộ một thuở . Sang hơn hết là xe của những cán bộ cao cấp, những đoàn chuyên gia nước ngoài đi ngoạn cảnh mà họ dùng bằng hai từ tối nghĩa “ Thăm quan”. Hàng họ ngoài thuốc lá, bánh kẹo thông thường, chị tôi bày thêm tranh khắc bút lửa, những con cù lần bằng gốc cây… Mặt hàng này du khách hay mua làm kỷ niệm.Tôi thường giúp chị trong khâu bán hàng.
Buổi trưa, úp mặt vào cuốn “Người xa lạ” của A.Camus, tôi lơ mơ buồn bã. Đang miên man nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương “Đời tàn trong ngõ hẹp”, tôi giật mình với tiếng reo hớn hở của người bán hàng bên cạnh: “A, khách Tây, khách Tây”. Hầu như các quán hàng đều tỉnh ngủ. Mối “sộp” đây rồi!
Tính sĩ diện vẫn còn khiến tôi không thể chạy theo chèo kéo khách như những người khác.Thôi thì ngồi yên ngâm nga thơ Nguyễn Công Trứ: “ Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất. Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằn”. Các cháu ơi! Dì chịu thôi. Chiều nay chúng ta ăn khoai tây vừa mót được dưới Trại Hầm hôm qua chấm với muối vậy.
Gạt những người xúm quanh, một ông Tây bước về gian hàng bé nhỏ của tôi, chăm chú nhìn những bức tranh rồi cúi xuống chọn lựa…
Lạy Chúa, lạy Phật phù hộ! Chị tôi đang đi thăm nuôi anh rể ở trại cải tạo Sông Mao. Gạo trong nhà đã hết. Trống ngực tôi đập nhanh. Bất ngờ, ông Tây hướng về phía nhóm du khách và reo vang như vừa phát hiện một điều gì kỳ thú:
-Honey, come here. I saw your village in the picture… ( Em yêu, lại đây . Anh đã nhìn thấy ngôi làng của em trong bức tranh )
Người phụ nữ tóc vàng váy đỏ, dáng dấp Á Đông bước tới. Bà ta có vẻ bồi hồi khi ngắm bức tranh có mái tranh với đụn rơm, cánh đồng, con trâu đang gặm cỏ. Bà ngước lên nhìn tôi chăm chú rồi thảng thốt kêu lên…bằng tiếng Việt:
-Bé Ti, bé Ti phải không? O Lựu nì!
Tôi há hốc miệng. O Lựu, người giúp việc năm xưa? Như sợ tôi không tin, người phụ nữ vén tóc trán:
-Vết sẹo nì. O đây, o đây…
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Sự nhớ thương pha chút tủi hổ làm tôi nghẹn ngào.Tôi gục đầu vào mái tóc o như muốn tìm lại mùi hương thời thơ ấu…
Phút xúc động lắng xuống, o giới thiệu: “Đây là Tim John, chồng o.”
Để mặc ông chồng đứng cười hiền ngơ ngác, o kéo tôi ngồi xuống kể chuyện tháng ngày qua…
Từ giã nhà tôi, o Lựu về làng lấy chồng theo sự sắp xếp của cha mẹ. Chồng o là một anh nông dân hiền lành và chăm chỉ làm ăn. Được hai năm, chưa kịp có con, anh đã chết do một phát đạn ngu ngơ không biết của phe nào khi đang cày bừa trên mảnh ruộng nhà. Rồi làng Bồ Bản chìm ngập trong lửa đạn. Ban ngày lính cộng hòa hành quân bố ráp, ban đêm du kích bò ra hoạt động, dân chúng toàn phải chui hầm.
Trong một trận pháo kích của Cộng quân, nhà o bị sập. Gia đình chết hết, o bị thương nặng được máy bay trực thăng của tổ chức Hồng thập tự đưa ra Hạm đội cứu chữa. Không còn gia đình, làng mạc tan hoang sau trận chiến mùa hè 1972, o Lựu không còn nơi để trở về. Số phận đưa đẩy, Tim John là người phụ tá bác sỹ điều trị cho o đưa o qua Mỹ và họ trở thành vợ chồng...Năm nay,Tim đại diện cho một tổ chức nhân đạo sang giúp đỡ trẻ em khuyết tật Việt Nam do chiến tranh, o theo chồng về thăm quê hương và tình cờ gặp tôi.
Vẫn là sự thương yêu chân tình đối với “ cô chủ nhỏ” của mười năm trước, o Lựu vuốt ve mái tóc tôi, xuýt xoa khi nắn bóp cơ thể gầy guộc thiếu ăn của “bé Ti ” , chảy nước mắt khi nghe anh tôi đi “cải tạo” tận miền núi Hoàng Liên Sơn rừng sâu nước độc và thở dài khi biết chị tôi đang lặn lội đi thăm chồng tù tội. Ôi! Vẫn là một o Lựu chơn chất, hiền lành của ngôi làng Bồ Bản xa xưa.
Lúc chia tay, o tế nhị dúi vào túi áo tôi một cuộn tiền rồi tất tả lên xe. Vẫy tay chào theo tôi không biết là mình đang mơ hay tỉnh. Lần đầu tiên, tôi nhìn thấy những tờ 100 đô la Mỹ.
Nhờ số tiền của o Lựu , chị tôi từ giã nghề buôn gánh bán bưng. Chị sang một sạp hàng tạp hóa ở chợ Đa lạt, nuôi 3 đứa con ăn học chờ chồng trở về từ trại giam.
Sáu năm sau anh chị cũng ra nước ngoài theo diện HO.Trên đất khách quê người những ngày đầu tiên, anh chị được vợ chồng o Lựu tận tình giúp đỡ.Tiếc rằng do vết thương chiến tranh, o Lựu không thể có con. Vợ chồng o nhận đứa con trai của anh chị tôi làm con đỡ đầu.
Năm ngoái tôi lặng người khi nghe chị tôi gọi điện thoại báo tin o Lựu đã qua đời sau một cơn đột quỵ. Ôi ! O Lựu, bóng mát trên thiên đường ký ức của tôi, ân nhân của gia đình tôi trong cơn khốn cùng…Tôi khóc o như khóc một người thân yêu nhất.
Hương Thủy
03 March 2021
Ngày mai ta không còn thấy nhau, tùy bút.
Việc đầu tiên như thường lệ là mở laptop, xem email, xem FB, xem những liên hệ với thân nhân bạn hữu bên ngoài đất nước nhỏ bé này. Vào lúc lớn tuổi, gặp thời dịch bệnh, thỉnh thoảng cũng lo mỗi khi thấy những ông bà bạn bỗng dưng im tiếng.
Nhưng email sáng nay tôi đọc không phải là của các bạn già. Mà là của những bạn trẻ không quen biết, tuổi chỉ ngoài ba, bốn chục. Họ nhắn tin. Họ viết những câu bình phẩm sau khi xem một trong hai cái video tôi làm về hòn đảo Pulau Bidong ở Mã Lai với hình ảnh những con tầu vượt biên và hình ảnh sinh hoạt trong ngôi trại tỵ nạn. Đây là nơi tôi đã đến làm công tác xã hội lúc 45 tuổi, 34 năm về trước.
Dĩ vãng lại ùa về.
Tôi mở ra cái video cũ trên YouTube, để ý ngay phía dưới có một bạn ký tên "Johnny Tran" viết từ 6 năm trước, sau khi xem video "Vietnamese Boat People & Pulau Bidong Refugees Camp” tôi làm vào năm 2012)
Anh Johnny viết bằng Anh ngữ. Chuyển dịch qua Google, nguyên văn như sau:
"Chà. Tôi không thể tin rằng tôi chưa bao giờ bận tâm tìm kiếm bất cứ điều gì như thế này cho đến bây giờ. Tôi 36 tuổi và đã ở Bidong cách đây đúng 35 năm. Tôi không có ký ức gì về hòn đảo này nhưng nhìn những bức ảnh này thực sự khiến tôi rung động và rung động về mặt cảm xúc. Tôi không thể tin rằng cha mẹ già 25 tuổi của tôi đã thực hiện cuộc hành trình này với một đứa trẻ 1 tuổi trong vòng tay của họ. Giờ tôi sẽ ôm mẹ thật chặt."
Dĩ vãng lại ùa về
với những con tầu vỡ vụn,
nhiều chiếc nằm trơ xương trên đảo.
Những nấm mồ chôn vội ở khu F, trên núi.
Những thảm kích bão tố, đắm tầu, cưóp biển giết chóc, hãm hiếp.
Hàng ngàn cô nhi lang thang trên đảo vào thời gian tôi có mặt tại đây.
Hàng trăm ngàn người bỏ xác dưới đại dương.
Trong hoàn cảnh đau thương, con người gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Nhiều tình bạn, tình yêu nở ra. Nhiều đứa trẻ chào đời trên đảo. Rồi có người được nhận đi định cư. Hàng chục ngàn người khác ở lại.
Cảnh tượng chia tay cứ nghĩ đến là có thể ứa nước mắt:
"Giờ này còn nhìn nhau"Nhìn đắm đuối như suối bền"Nhìn suốt kiếp như chết mòn"Nhìn hấp hối thương đau"Ngày mai ta không còn thấy nhau...
Theo truyền thống, cái loa trên đảo luôn luôn phóng thanh bài hát "Cho Lần Cuối" mỗi khi có tầu đến chở những người được các nước nhận đi định cư.
Bấy giờ trên bãi biển khu C, gần chiếc cầu "jetty" nơi tầu đậu, hàng ngàn người tràn ngập. Vài chục người đi vai ôm tay nải, tay xách va li. Người ở lại, tay cầm gói kẹo, hay bao thuốc lá, những món xa xỉ trên đảo, để tiễn người đi.
Dẫu không biết hút thuốc, nhưng khi người ở lại hai tay nâng gói thuốc, một điếu chìa ra, thì người ra đi trân trọng mà rút lấy một điếu.
Vì ngày mai ta không còn thấy nhau.
*
Sáng nay ở Phần Lan trời đã vào xuân, nhưng mấy lần tôi ứa nước mắt khi ngồi xem lại cái video cũ trên YouTube.
Mà lẩn thẩn tự nghĩ: Con hãy ôm mẹ thật chặt - Hãy nhận cái kẹo bạn mời. Hãy trân trọng rút lấy một điếu dù không biết hút thuốc lá.
Hãy sống mỗi ngày
như ngày mai ta không còn thấy nhau.
02 March 2021
"Xưng Tội ", phim ngắn
Liên Dòng Tên Việt Nam chuyển qua Youtube
Hiểu Xuân Túy Bút
Gửi Các Bạn tôi ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...
-
LÊ NGUYỄN Trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tác động của sách báo được thực dân Pháp phổ biến mà không ít sách giáo k...
-
Trần Gia Phụng I. Hoàn Cảnh Chính Trị Vào đầu Thế Kỷ 20 Từ khi Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 tại nước ta, dân chúng Việt Nam liên tiếp n...