07 August 2013

Tranh Cãi về Hành Khách Trung Quốc trên Boeing 777

Thái độ phớt lờ, từ chối hợp tác hay mải xách theo hành lý của một số hành khách Trung Quốc trên chuyến bay 214 của hãng Asiana Airlines bị chính những đồng hương của họ mổ xẻ. 

Nữ tiếp viên quên mình cứu hành khách gặp nạn-Ba giây cuối cùng của chiếc Boeing 777

Hình ảnh một phụ nữ (áo xanh) xách theo chiếc vali nặng nề ra khỏi chiếc máy bay đang bốc cháy được các nhân chứng chụp được. Ảnh: CNN
Bức ảnh chụp lại cảnh những hành khách, trong đó có một phụ nữ đứng tuổi, đang tay xách nách mang đống hành lý lỉnh kỉnh và di tản khỏi đống đổ nát, sau khi chiếc Boeing 777 đập xuống đường băng của sân bay quốc tế San Francisco, Mỹ, hồi cuối tuần trước, đang được lan truyền rộng rãi trên Internet.

Những hình ảnh được ghi lại sau hiện trường vụ tai nạn cùng nhiều bài viết phê bình từ trước tới nay đã làm dấy lên một làn sóng tranh cãi trong cộng đồng mạng Trung Quốc, về chính những người đồng hương của họ trên các chuyến bay quốc tế. Theo thông tin được Asiana Airlines công bố, những người mang quốc tịch Trung Quốc chiếm phân nửa số hành khách trên chuyến bay mang số hiệu 214, xuất phát từ Thượng Hải và quá cảnh tại Seoul, trước khi cập bến ở nước Mỹ.

“Tôi đã rất thất vọng khi thấy những hành khách coi trọng đống hành lý cá nhân hơn là tính mạng của những người khác”, MeganZhong, một người dùng Weibo, mạng xã hội lớn nhất Trung Quốc, nói. “Họ thậm chí còn có thời gian để tweet về vụ tai nạn trước khi giúp những người bị thương khác”.

“Người nước ngoài (đặc biệt là dân Mỹ) không thể hiểu tại sao ở Trung Quốc, mạng người bị coi nhẹ hơn tiền bạc”, người dùng có tên Victory of Xiangzi viết trên trang cá nhân. “Và cái lối suy nghĩ này lại đang bám rễ trong tư tưởng của người dân Trung Quốc.”

Tuy nhiên, không phải người Trung Quốc nào cũng có quan điểm tiêu cực như MeganZhong và Victory of Xiangzi. Nhiều cư dân mạng cũng tỏ ra thông cảm với hành động của những người đồng hương trên chiếc Boeing 777.

“Chộp lấy túi là một hành động bản năng”, Jiqiongqiong nhận xét. “Nhưng điều đó không thay đổi tư duy của người Trung Quốc chúng tôi, rằng mạng người luôn quan trọng hơn vật ngoại thân”.

Rào cản ngôn ngữ

Bất đồng ngôn ngữ và phản ứng của các hành khách cũng là một vấn đề được giới chức tính tới trong quá trình điều tra nguyên nhân và diễn biến vụ tai nạn. Thái độ hoảng hốt và bối rối rõ ràng là điều không thể tránh khỏi trong một tình huống nguy hiểm như vậy.

Từ những thông tin do Asiana Airlines cung cấp, có thể khẳng định một sự thật rằng, các tiếp viên đã làm mọi thứ để giữ an toàn cho tất cả hành khách.

Một trong những nguyên tắc quan trọng được Cục Hàng không Liên bang Mỹ nhấn mạnh khi xảy ra tình huống khẩn cấp, đó là hành khách phải “bỏ lại hành lý” và “tuân thủ hướng dẫn của tiếp viên”.

Tuy nhiên, điều đó dường như không được áp dụng trong chuyến bay của Asiana Airlines. Một số hành khách còn bận quan tâm tới chỗ hành lý cá nhân trước khi sơ tán khỏi máy bay, với lý do rằng hộ chiếu là vật bất ly thân. Ngoài hơn 30 thiếu niên sẽ sang Mỹ tham dự trại hè quốc tế, chuyến bay 214 còn đem theo những hành khách đặc biệt khác, và một trong số đó là Xu Da, giám đốc phát triển sản phẩm của Taobao, nền tảng kinh doanh trực tuyến lớn nhất Trung Quốc.

“Với những người chỉ trích tôi vì đã quá quan tâm tới chỗ hành lý cá nhân và vì thế đe dọa tới sự an toàn của những người khác, tôi có vài điều cần nói rõ”, Xu viết trên trang Weibo cá nhân. “Đầu tiên, gia đình tôi (ba người chúng tôi) ngồi cùng một hàng ghế, và hành lý của chúng tôi được đặt trong các ngăn ngay trên ghế ngồi. Vì thế, lối đi của máy bay không hề bị ảnh hưởng từ việc thu dọn đồ đạc của chúng tôi.”

“Thứ hai, hộ chiếu, tiền bạc, cùng nhiều vật dụng khác của chúng tôi, tất cả đều ở trong đống hành lý. Sẽ rất khó khăn nếu tôi không đem chúng theo mình”, Xu viết. ”Thứ ba, tại thời điểm đó, tất cả đều hướng về phía buồng lái. Tình hình đâu quá hỗn loạn. Chẳng ai chạy về phía chúng tôi.”

Nhưng những lời giải thích của Xu dường như lại chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Một cư dân mạng có tên Olivia Yi phản bác: ”Anh là đồ ngốc à? Mang theo cả đống hành lý khi đang tháo chạy… Thật ích kỷ và thiếu hiểu biết!!! Anh có biết là cái hành động dường như chính đáng ấy của anh có thể đẩy người khác tới chỗ chết không? Làm ơn hãy đọc những hướng dẫn về an toàn hàng không thật cẩn thật trong lần bay tới! Tài sản của anh có thể rất quan trọng với cá nhân anh, nhưng không thể so sánh với mạng sống của những người khác.”

Thảm họa trên chiếc Boeing 777 có thể đã nghiêm trọng hơn nếu không có sự nhanh nhạy của những nữ tiếp viên. Ảnh: AFP
 Phi hành đoàn quả cảm

Một người dùng Weibo khác có tên Happy Beyond the Cloud cũng có bài phân tích của riêng mình.

“Một thành viên phi hành đoàn của hãng American Airlines từng phàn nàn với tôi rằng, rất nhiều người Trung Quốc hay từ chối thắt dây an toàn hoặc tự ý đổi chỗ ngồi trong lúc máy bay hạ cánh. Họ còn mang theo những chiếc túi quá nặng và để chúng lên trên ngăn đựng hành lý xách tay”, Happy Beyond the Cloud, người tự nhận mình là một phi công, viết.

“Một số hãng hàng không còn phải tính tới nước phạt thật nặng, có thể lến tới 1.500 USD, với những hành khách không chịu hợp tác. Chẳng lẽ mấy người đó không hiểu rằng hành xử thiếu suy nghĩ của họ có thể giết chết những người khác?”, phi công này nói thêm.

Những gì vừa xảy ra ở San Francisco có thể đã tồi tệ hơn, nếu không có sự ứng biến thông minh và nhanh nhạy của các nữ tiếp viên.

Nữ tiếp viên quên mình cứu hành khách

“Tôi nghĩ việc vơ vội đồ đạc cá nhân và chạy thục mạng chỉ là một phản ứng tự nhiên khi máy bay gặp tai nạn”, Tom Ballantyne, tổng biên tập Orient Aviation, một tạp chí hàng không nổi tiếng, cho biết. ”Nhưng rõ ràng là những hành động vô tình đó có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng”.

“Trong tình trạng khẩn cấp, các thành viên phi hành đoàn thậm chí phải ra lệnh với các hành khách. Để được hành nghề tiếp viên hàng không, các cô gái phải có khả năng sơ tán hành khách chỉ trong 95 giây. Vấn đề ở đây là nhiều người đã cố ý phớt lờ những lời cảnh báo về an toàn. Tuân thủ chúng giúp chúng ta và những người xung quanh không gặp rắc rối”, Ballantyne nói.

Quỳnh Hoa
(Theo CNN)  @ vietthuc

06 August 2013

CHÍNH PHỦ ÚC TIẾP TỤC GIÁM SÁT CHẶT CHẼ TRƯỜNG HỢP HAI SINH VIÊN YÊU NƯỚC NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN VÀ ĐINH NGUYÊN KH

Khối 8406 vừa nhận được thư của Ngoại trưởng Úc Bob Carr và của Dân Biểu Chris Hayes xin gởi đến qúy vị.

Trong thư hai ông cho biết Chính Phủ Úc chia sẻ quan tâm với Khối 8406 và qúy vị đã ký Thỉnh Nguyện Thư, trường hợp và tình trạng của hai sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.

Ngọai Trưởng Bob Carr cho biết trong lần Đối Thọai Nhân Quyền Úc Việt ngày 17-6-2013, Chính Phủ Úc đã chính thức lên tiếng về trường hợp của hai bạn trẻ. Ông cũng bảo đảm Chính Phủ Úc sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ trường hợp hai bạn.

Khối 8406 cũng đã thông báo cho Dân Biểu Chris Hayes phiên phúc thẩm Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên dự định sẽ được tiến hành vào ngày 16/8/2013 sắp tới và mong Chính Phủ Úc tiếp tục giám sát chặt chẽ trường hợp hai bạn.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
6/8/2013





Thơ xướng họa của đồng môn

Đồng môn Nguyễn Tấn Phát (ĐS11, Canada) họa bài thơ "Vế Nhà Mới" của đồng môn Trần Quốc Tiến (ĐS17)

Mùi Hoa Xoan, tranh mới A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh


MÙI HOA XOAN
Oil on canvas
24x24 inch (61x61cm)
by A.C.La  Nguyễn Thế Vĩnh 
**

Vào những tháng hạn đất đai nứt nẻ dường như hứng sáng tác cũng cạn kiệt. Buồn thật. Ba tháng trôi qua mà chẳng vẽ được gì. Khung vải trơ vơ trên giá. Sáng lấy cọ ra để rồi tối cất lại vào hộp. Xem phim ảnh, đi lang thang ngắm mây nước cây cỏ, nghe nhạc ... những cách thông thường để kích thích trí tưởng tượng nhưng lần này cũng vô ích. Trong lòng chỉ mênh mông một cõi hoang vắng. Chẳng lẽ đã đến lúc mệt mỏi rồi hay sao. 

Phải rồi. Hoa Xoan. Cây cao hoa tím thật nhạt. Chim sẻ ríu rít đong đưa trên cành. Gió nhẹ nhưng đủ đưa mùi hoa bay xa, xa mãi tận chân trời góc biển. Hoa xoan của vùng kỷ niệm.  Thử lồng mầu tím nhạt ấy với dôi mắt xưa, một vùng kỷ niệm khác. Biết đâu hứng tưởng đã mất sẽ trỗi dậy.

Mùi thơm của hoa hay mùi thơm của mái tóc dường như bắt đầu thoang thoảng quanh đây. Đâu đó trong văn chương huyền thoại, mùi trỗi dậy quyến rũ nhất ở những chốn riêng tư. Mùi cỏ dại đồng hoang, mùi của gió biển mặn, mùi của chăn gối. Càng ở những chốn riêng tư vắng lặng, mùi càng gợi cảm. Mùi hoa khi đã ảm vào tâm não người sẽ đem nó theo suốt cuộc đời dù trôi dạt nơi đâu. (A.C.La)

***

Thân hữu góp góp ý

Sao than thở quá vậy! Hứng là tự nó đến chớ nào có phải đâu như là việc đi chợ của các bà, mỗi ngày lập đi lập lại! Khi trong lòng cảm thấy ray rứt thì chắc là nó sẽ xuất hiện ngay thôi mà!!!

Xem bức tranh "MÙI HOA XOAN"chưa mãn nhãn (vì cái chân đau quá, không ngồi trước máy lâu được) thì lại bị ai đó "lôi tuột xuống" mất tiêu rồi! Tại vì thấy đề là"mùi" cho nên tôi cứ ngồi hít mãi cái màn hình mà chẳng nghe thấy được mùi gì ráo trọi! Kịp khi đọc bài viết thì mới vỡ lẽ ra "mùi" là cho bài viết chớ không phải là mùi thoát ra từ bức tranh!!! Nhà họa sĩ báo hại quá! Nhờ đọc bài viết mà tôi biết được em "xoan" có mùi "hăng hăng"! Nhờ bức họa mà tôi biết được em xoan có màu tim tím. Thú thật, tôi chưa hề biết, chưa hề sờ được hoa xoan dù chỉ một lần trong cuộc đời! Sao ai nỡ vội mang em đi khiến cho lòng ta cảm thấy bồi hồi khi nhớ lại hình bóng em với vành vương miện màu tím mượt mà của hoa xoan! Thời gian cuốn trôi tất cả . Thôi thì cứ nâng lấy cành hoa tim tím ngày xưa để nhớ lại thời hoa mộng cũ! Kính HTNH

****

Viết cho tháng Tư và những câu chuyện mãi là cổ tích của Nội

“Hoa xoan rơi rơi và tháng tư về….”

Tôi nhớ những tháng tư qua….

Tháng tư của rất nhiều mùa trước là một thằng nhóc khóc, nằng nặc đòi Nội đi trẩy hội mùa Xuân. Lòng bỗng cồn cào thèm nghe một tiếng nói của Nội, thèm được luyên thuyên đủ thứ chuyện trong lòng Nội. Thời gian mang Nội đi mất, biến những câu truyện mãi mãi là cổ tích.

Tháng tư của tuổi thơ, có một thằng bé nghịch ngợm hì hục xé vở gấp những con thuyền giấy, chất thật nặng những bông gạo rụng rồi xuống bến thi cùng đám bạn xem chiếc thuyền nào chở được thật nặng và trôi thật nhanh dọc bờ sông… Nắng làm những hạt mồ hôi lấm tấm trên những khuôn mặt nhỏ nhưng không làm giảm tiếng hò reo ngưỡng mộ chủ nhân của chiếc thuyền thắng cuộc… Bên sông vẫn là cây gạo của tháng ba, chỉ có tháng tư và kí ức của đám trẻ mùa ấy tựa như những con thuyền giấy chở đầy hoa gạo đỏ năm nào cứ mải miết trôi xa dần, xa dần rồi vụt biến mất.Hoa xoan

Tháng tư tuổi thơ yêu sắc tím hoa xoan hơn bao giờ hết. Nếu ai đó hỏi hoa tháng tư của những đứa trẻ lớn lên trên đồng quê là loài hoa nào, tôi sẽ không ngần ngại trả lời đó là hoa xoan tím. Không có nét thanh lịch của loài huệ tây nơi thành thị, không kiêu sa đài các như hoàng lan, hoa xoan lấm tấm nép mình bên vòm lá xanh. Những cánh xoan mỏng manh rơi li ti trên con đường quen, và chỉ cần một làn gió nhẹ thôi cũng làm xao động những cánh hoa vương đầy mặt đất ấy. Màu hoa của tuổi thơ nơi xóm nhỏ, là những khi chơi trò “đám cưới” rủ nhau hái những chùm xoan thật to cho lũ con gái bện những vòng hoa tím thành vương miện cho cô dâu trong tiếng cổ vũ hết mình của những khán giả nhí. Những vòng xoan tím ấy đẹp đến lạ để rồi biến những khuôn mặt lấm lem vụt thành những thiên thần, cánh xoan vương đầy trên làn tóc rối cho một miền cổ tích trở thành hiện thực.

Và cứ thế, tuổi thơ đi mãi cùng những mùa xoan nở, đi mãi cùng những cánh tím hăng mùi trong giấc ngủ trưa chập chờn những ngày tháng tư ngóng mẹ về chợ muộn. Đã xa lắm rồi những trưa tháng tư trốn mẹ rồi rủ lũ trẻ hàng xóm ra ngụp lặn trên dòng sông quê, bị mẹ bắt được, đánh đòn rồi lại khóc òa. Tháng tư là nhớ cái nắng không bỏng rát để những cậu nhóc trốn học rủ nhau đi câu cáy trên đồng đến tối muộn. Nhớ những tiếng cười vô tư lự vang lên trong những cơn gió nhẹ của tháng tư trên cánh đồng của một thời xa lắc..

Tháng tư của những tháng năm cuối cấp trong tôi là những đóa li ti mang tên kỉ niệm. Một thứ kỉ niệm nhỏ nhỏ không cháy bỏng như những cánh phượng vĩ mà lại mỏng manh, yếu ớt – những chùm tím xinh xinh dẫu đã dệt thành chùm nhưng vẫn bị những cơn gió đầu hạ cuốn bay.

Em có bao giờ yêu loài hoa tím này không? Có bao giờ bận lòng về những cánh nhỏ lặng im vương trên vai áo? Có chợt nhói lòng khi thấy sắc tím dần nhạt màu rồi biến mất trên những cành xanh?
Tháng tư, tôi hiểu được cái cảm giác nhớ nhung một dáng hình đã quá đỗi thân quen. Biết vui khi thấy ai đó nở một nụ cười, biết mong chờ khi chỗ ngồi kia để trống và tim muốn ngừng đập khi bắt gặp ánh mắt của người ấy. Em vẫn ở đấy, vẫn lặng im ngồi phía sau xe, cả nắng chiều tháng tư đổ đầy trên tà áo trắng sắc tím nhạt của loài hoa bé nhỏ… Và rồi… tháng tư ngày ấy lại cùng em đi xa mãi, mối tình đầu bỗng chốc trở thành những kí ức cất kĩ nơi con tim và mãi mãi là những kỉ niệm đặt chênh vênh giữa những chiều tháng tư vô định…

Tháng tư có cái gì cồn cào và nhớ. Ngồi một mình, nghe một giai điệu quen lại thấy có một chút da diết đâu đó trong tim. Lại một tháng tư sắp qua đi và cuộc đời chẳng rộng hơn là mấy. Ta cũng từng biết nhớ một ai đó, từng tin vào những câu truyện cố tích. Tháng tư này, nắng không bỏng rát mà thật nhẹ nhàng nhuộm sắc nhạt lên bầu trời nhưng sao nắng buồn đến thế, nắng làm ta nhận ra mình chỉ là một cái bóng lẻ không hơn kém. Nắng chơi vơi yếu ớt trong sắc tím nhạt rải đầy trên con đường quen, ta chẳng còn Em nữa, bao mùa cũ gọi nhau đi về nơi xa mãi…, vẫn cứ là nỗi buồn ấy, cứ là mùi hăng nồng của loài hoa mỏng trong buổi chiều muộn… Chẳng biết ta có nên mỉm cười không khi ngoài kia lại một mùa tháng tư nữa sắp đi qua.

Tháng tư… tím màu xoan bên ngõ nhỏ, hoa li ti như mây giữa những đám lá xanh, hoa lưu luyến ai trên con đường quen của gió, như man mác buồn giữa màu nắng của thời gian đang nhạt và…

Tôi viết cho những Tháng tư đã và sẽ qua đi.

Gửi từ bily nhim – bilynhim@, nguồn : BlogRadio

Đất nước này là của ai?



Người Tầu đứng giữa Sài Gòn và công khai trương khẩu hiệu: “Kiên quyết duy trì tổ quốc thống (nhất)”. Nghĩa là sao? Trong khi người Việt không được phép nói hoặc trương biểu ngữ: “Hoàng Sa – Trường Sa của VN”.

Vậy đất nước này là của ai?

05 August 2013

Tìm hiểu nhạc sĩ Việt Nam "Tung cánh chim tìm về tổ ấm"

Trần Việt Trình (Danlambao)

Tung cánh chim tìm về tổ ấm

Chỉ nghe một câu ngắn ngủi này thôi là người dân miền Nam ngày trước ai cũng biết và nghĩ ngay tới chương trình Chiêu hồi của chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước 75.
Tung cánh chim tìm về tổ ấm
nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
luyến tiếc bao ngày xanh
Đó là 4 câu đầu của bài hát Ngày về của Hoàng Giác mà người miền Nam ngày trước ai cũng nằm lòng.

Ngày về là một bài hát nổi tiếng, tiêu biểu của loại nhạc tiền chiến do nhạc sĩ Hoàng Giác sáng tác năm 1947.

Hoàng Giác sinh năm 1924, gốc làng Chèm, xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội. Hoàng Giác được theo học ở Trường Bưởi, một ngôi trường rất nổi tiếng thời đó. Bạn học cùng lớp với ông nhiều người sau này trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng như Dzoãn Mẫn, Ngọc Bích và Đoàn Chuẩn. Họ đều thuộc dòng nhạc tình lãng mạn, sáng tác không nhiều, nhưng lại được nhiều người biết đến. Đó là những nghệ nhân tài hoa thực sự trong làng âm nhạc VN nửa đầu thế kỷ 20 và đã có công rất lớn tạo nên nền tân nhạc nước nhà. Họ đều để lại những ca khúc bất hủ, vượt thời gian mà bất cứ ai yêu nhạc cũng đều biết đến.

Đầu năm 1945, khi mới 21 tuổi, Hoàng Giác viết bài hát đầu tiên, bài Mơ hoa. Đây là bài hát được nhiều người biết đến và yêu thích nhất trong những sáng tác của ông. Nhưng bài mà ông tâm đắc nhất là bài Ngày về. Cũng năm 1945 đó, Cách mạng tháng Tám chống Pháp bùng nổ, cũng như những người yêu nước chống ngoại xâm lúc ấy, Hoàng Giác hăng hái tham gia. Đến khi toàn quốc kháng chiến, ông tham gia Đoàn Tuyên truyền xung phong và tuyệt phẩm Ngày Về được ra đời sau đó, vào những ngày cuối năm 1946. Hoàng Giác đã làm bài này trên đường trở về thăm gia đình sau những chuyến đi công tác xa nhà.

Lời 1:
Tung cánh chim tìm về tổ ấm
nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
luyến tiếc bao ngày xanh.
Tha thiết mong tìm về bạn cũ
nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió
vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây
mờ khuất xa xôi nghìn phương
Trên đường tha hương, vui gió sương
riêng lòng ta mang mối nhớ thương
âm thầm thương tiếc cho ngày về
tìm lại đường tơ nay đã dứt
Nghe tiếng chim chiều về gọi gió
như tiếng tơ lòng người bạc phước
nhắp chén men say còn vương bóng quê hương
dừng bước tha hương lòng đau.
Lời 2:
Trong bốn phương mờ hàng lệ thắm
mơ đến em một ngày đầm ấm
nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương
tìm đến em nay còn đâu.
Năm tháng phai mờ lời hẹn ước
trong gió sương hình người tình mến
oán trách ai quên lời thề lúc ra đi
thôi ước mơ chi ngày mai
Phong trần tha hương bao nhớ thương
tim buồn ta mơ đôi bóng uyên
lưng trời âu yếm bay tìm đàn
lòng nguyện giờ đây quên quên hết
Ta sống không một lời trìu mến
như bóng con đò lạc bến
lờ lững trôi qua cùng ngày tháng phôi pha
duyên kiếp sau ta chờ mong.
Mượn hình ảnh con chim lạc đàn, tác giả bộc lộ nỗi nhớ nhung gia đình, quê hương, bạn bè và người thương: “Tung cánh chim tìm về tổ ấm, nơi sống bao ngày giờ đằm thắm, nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi, luyến tiếc bao ngày xanh”. Nội dung bài hát xoáy vào nỗi đau của người tình bị thất hẹn và kết thúc bằng lời than thở, ví số phận cô đơn của mình “như bóng con đò lạc bến, lờ lững trôi qua cùng ngày tháng phôi pha”.

Tác phẩm của Hoàng Giác không chỉ có Mơ hoa và Ngày về mà còn có Lỡ cung đàn, Quê hương, Hương lúa đồng quê, Bóng ngày qua,... và ba ca khúc hợp soạn với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ là Tiếng hát biên thùy, Qua bến năm xưa và Trên đường về.

Cũng như một số nhạc sĩ cùng thời như Đoàn Chuẩn, Đặng Thế Phong, Doãn Mẫn,... gia tài âm nhạc của Hoàng Giác không vĩ đại nhưng ông đã chứng minh một điều là trong nghệ thuật, số lượng tác phẩm không hẳn là yếu tố quyết định. Hoàng Giác có khoảng 20 bài hát, mỗi bài hát gắn liền với những kỷ niệm, là những cảm xúc chân thật của con người ông về cuộc đời, điều mà ông cho là quan trọng nhất khi sáng tác. Mơ hoa là một cuộc tình nhỏ, trong sáng của người thanh niên vừa bước vào đời; Quê hương là cảm xúc khi đi qua những vùng quê trong kháng chiến chống Pháp;Ngày về là nỗi lòng của kẻ đi xa nhớ về tổ ấm gia đình. Tất cả đều là những nỗi niềm tâm sự của ông với cuộc đời. Mỗi bài hát có một số phận và nhạc sĩ Hoàng Giác vẫn luôn thấy say mê, hạnh phúc bởi những mảnh đời đó. Ông như một cánh chim bạt gió, luôn khao khát được trở về với trời xanh.

Định mệnh đã đưa đến cho nhạc sĩ Hoàng Giác một người vợ tuyệt vời để đồng cam cộng khổ, để làm điểm tựa tinh thần cho ông trong giai đoạn lao đao nhất của đời ông.

Năm 1951, song thân của Hoàng Giác cậy nhờ mai mối đi hỏi cô Kim Châu cho con trai họ. Cũng có người can ngăn bố mẹ nàng không nên gả con gái cho “thằng nghệ sĩ nghèo rớt mồng tơi”. Thế nhưng có ai biết được ước mơ của nàng, và nàng đã hân hoan chấp nhận lời cầu hôn. Thế là người đẹp Kim Châu trở thành bà Hoàng Giác năm 19 tuổi. Cả Hà Nội xôn xao. Bao nhiêu chàng trai thất vọng.

Nói về sắc đẹp, bà Kim Châu được tôn vào hàng giai nhân đất Hà thành. Biết bao chàng công tử phong lưu cầu cạnh được kề cận bên người đẹp, thế nhưng bà Kim Châu đã rũ bỏ tất cả để về nâng khăn sửa túi cho chàng nhạc sĩ tuy nghèo nhưng rất mực tài hoa, đúng như ước nguyện của mình.

Cuộc sống êm đềm của đôi vợ chồng Hoàng Giác kéo dài được khoảng hơn 15 năm thì tai họa ập xuống. Tuyệt phẩm Ngày về là niềm hạnh phúc và cũng là tai ương cho tác giả.

Lý do chỉ vì ngày ấy chính quyền miền Nam chọn bài Ngày về của ông làm nhạc hiệu cho chương trình “Tiếng chim gọi đàn”, chương trình Chiêu hồi của chính phủ VNCH. Nhà cầm quyền miền Bắc dị ứng với chuyện này nên đã không những chỉ gây cho tác giả nhiều khó khăn mà cả gia đình của ông cũng chịu nhiều hệ lụy.

Chúng ta hãy chỉ cần căn cứ vào những lời sau đây của báo chí trong nước gần đây hé lộ ra chuyện này là cũng đoán được tai họa đã giáng xuống cho gia đình ông nặng nề cỡ nào: “Tai họa này đã biến bà Kim Châu từ một người vợ yếu đuối đã tự gắng gượng và trở thành lao động chính, một mình bà phải chạy vạy, lo toan chuyện cơm áo để nuôi sống chồng con. Đằng đẳng suốt bao nhiêu năm trời bà cặm cụi may vá, đan len thuê kể cả phết hồ dán bao bì. Bà không từ chối bất cứ việc gì, cho dù là nhỏ nhặt hoặc lao nhọc, miễn sao đem lại cho bà chút tiền để khả dĩ mua được thức ăn nuôi sống gia đình. Cực khổ như thế nhưng đó cũng là thời gian bà cảm thấy rất hạnh phúc, vì bà không chỉ được chia sẻ hoạn nạn với ông mà còn thấy... ông che mặt khóc khi chứng kiến vợ mình quá cơ cực”.

Đó là một phần đời chao đảo của người nghệ sĩ già khá trầm lặng này. Ông bà Hoàng Giác năm nay đã 88 tuổi, vẫn còn sống ở VN và vẫn sống thầm lặng từ đó đến giờ. Phải chăng ông mang nặng một tâm sự bấy lâu nay và đang nuối tiếc một điều gì đó?

Trong thời chiến, bài hát Ngày về thường được phát trên loa phóng thanh, trên trực thăng, trên thuyền bè nhằm kêu gọi những người lầm đường lạc lối hồi chánh, trở về với chính nghĩa, với dân tộc. Lời và nhạc của bài hát thật mượt mà và lai láng tình cảm, dễ xúc động lòng người.

Chiêu hồi là một chương trình do chính phủ VNCH đề ra để kêu gọi các thành phần của Mặt trận Giải phóng miền Nam và bộ đội miền Bắc buông súng quay về với chính phủ VNCH để hợp tác hoặc trở về với gia đình để làm ăn sinh sống trong chính thể Tự Do của miền Nam.

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra Bản tuyên cáo vào ngày 17 tháng 4 năm 1963 mở đầu chiến dịch Chiêu hồi.

Chương trình này thời gian đầu trực thuộc Bộ Công dân vụ và một thời mang tên “Phong trào Chiêu tập Kháng chiến Lầm Đường”. Sau năm 1963, phân ban Chiêu hồi đổi qua trực thuộc Phủ Thủ tướng. Năm 1965, chuyển sang Bộ Thông tin. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa thì chính phủ nâng Phủ Đặc ủy Dân vận Chiêu hồi thành Bộ Chiêu hồi riêng để điều hành hệ thống Chiêu hồi trên khắp 44 tỉnh thành của bốn vùng chiến thuật. Mỗi tỉnh thì có một Ty Chiêu hồi.

Phương tiện để thực hiện chương trình nầy bao gồm phát thanh, rải truyền đơn bằng phi cơ hoặc nhồi truyền đơn trong đạn pháo để bắn vào vị trí trú ẩn của VC, cũng như thành lập các đội võ trang tuyên truyền. Ngoài ra, chính phủ còn tìm cách thả dù xuống mật khu VC các radio nhỏ để bắt nghe chương trình phát thanh chiêu hồi, giúp người nghe hiểu rõ chính sách của chính phủ, khuyến khích họ mạnh dạn chọn con đường hồi chánh.

Năm 1967 chính phủ miền Nam đưa ra chính sách “Đại đoàn kết”. Theo đó, các thành phần hồi chánh không những được đoàn tụ cùng gia đình, được giúp đỡ để tái định cư mà còn được trưng dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên này chiến tuyến. Chính sách này còn mới mẻ, chưa mấy tác dụng thì miền Bắc tung ra cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Sự kiện này làm gián đoạn chương trình Chiêu hồi vì tình hình an ninh bất ổn, nhưng đến năm sau thì số lượng hồi chánh lại tăng, đạt đến con số 47,023 người cho năm 1969.

Người hồi chánh được đưa vào các trại để học tập chính trị trong thời gian từ bốn đến sáu tuần. Họ được phát quần áo và cung cấp thức ăn, đến khi xuất trại thì được trả về nguyên quán hoặc định cư ở những vùng ấn định. Một số tùy theo khả năng chuyên môn thì được kết nạp vào Cục Tâm lý chiến.

Theo tài liệu của Bộ Chiêu Hồi thì trong thời gian từ năm 1963 đến 1973 chương trình này đã thâu nhận hơn 194,000 người hồi chánh. Điều này cũng có nghĩa là loại được bấy nhiêu quân đối phương ra khỏi chiến trường.

Những bộ đội về với chính phủ VNCH, trở về với đường ngay lẽ phải, thì gọi là Hồi chánh. Vậy thì những người miền Nam lội ngược ra Bắc, nếu có, thì gọi bằng gì? Hồi tà ư? Đúng vậy! Thử hỏi trong chiến tranh VN, có bao nhiêu người từ bỏ miền Nam tự do để lội ngược ra Bắc?

Có ai dám quả quyết nước VN bây giờ vẫn còn là tổ ấm không? Nếu là tổ ấm thì tại sao đàn chim cả triệu con đã tất tả rời tổ cách đây 37 năm, hàng triệu con liều chết bỏ tổ tha phương khắp nơi những năm dài sau đó và cho đến ngày giờ này, bằng cách này hay cách khác, vô số vẫn lìa tổ để kiếm ăn và tìm kiếm bến lành để đậu? Ngày nay, không những những con chim non (du học sinh) túa ra khắp mọi nơi trên thế giới để học hỏi và để tìm nơi nương nấu, mà những con kênh-kênh, đà điểu và đại bàng (các quan lớn của chế độ) cũng đang âm mưu lập tổ cho riêng mình ở những phương trời xa hầu mong cao bay xa chạy một khi “tổ ấm” VN bị động, không còn bay nhảy múa may được nữa. Người chánh thì ca “Tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Người tà thì ca “Tung cánh chim rời xa tổ ấm”.

18 tháng 4 năm 2012
Trần Việt Trình
danlambaovn.blogspot.com

03 August 2013

MỘT BÀI PHÂN TÍCH từ một cây bút HÀ NỘI

Đối với Mỹ: "...một Việt Nam do Tập Cận Bình lãnh đạo cũng chẳng khác gì một Việt Nam do Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo. Mỹ chỉ quan tâm nếu Việt Nam lột xác thay đổi như kiểu Miến điện thôi."

Ôn cố: Cái hoang tưởng của chúng ta

Mỗi khi gặp chuyện gì khó khăn, chúng ta thường mang cái quá khứ oanh liệt ra để tự ru ngủ, mong cái men chiến thắng của cha ông thành liều thuốc an thần trấn áp đi cái bất định, cái nan giải hiện tại. Chúng ta từ khước một đặc điểm sinh tồn cốt yếu: học từ thất bại quá khứ để xác định bước đi hiện tại sao cho dẫn đến thành công tương lai. Chúng ta nhắc đến cái chiến thắng giặc Hán, Pháp, Mỹ mỗi ngày nhưng chúng ta tuyệt nhiên không hề nhắc đến cái nạn đói 1975-1990 do sai lầm của chúng ta, một nạn đói có thể tránh được nếu chúng ta đừng quá say mê với chiến thắng và vì say mê với chiến thắng, chúng ta coi thường cái nguy cơ tụt hậu, nghèo đói, bị cô lập.

Năm 1978 trước khi xua đại quân tiến chiếm Nam Vang, bộ ngoại giao nước ta tung ra một chiến dịch ngoại giao để lôi kéo các quốc gia lân cận để cùng nhau liên minh chống hiểm họa bành trướng Bắc Kinh, mặc dầu suốt cuộc chiến chống Mỹ, chúng ta không tiếc lời mạt sát khối liên Minh Đông Nam Á là sản phẩm của chính sách gây hấn và can thiệp của đế quốc Mỹ. Tháng 6 năm 1978, khi Việt Nam bắt đầu oanh tạc Cambodia, Phan Hiền sang Mã Lai tuyên bố ủng hộ một Đông Nam Á hòa bình và trung lập. Sau đó vào tháng 9 năm đó Thủ Tướng Phạm Văn Đồng sang Mã Lai đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Mã đã hy sinh vì chống …Mã Cộng. Thêm vào đó, ông còn xin lỗi các lãnh đạo Mã Lai vì trót lỡ viện trợ vũ khí cho phiến quân Mã Cộng vì “hiểu sai tình hình” (flawed understanding of the situation). Sang Băng Cốc, Thái Lan, thủ tướng Phạm Văn Đồng cam kết không yểm trợ bọn Thái Cộng CPT (Communist Party of Thailand) vốn bị hiến pháp Thái Lan đặt ngoài vòng pháp luật. Lãnh đạo Việt Nam chỉ muốn ký kết một hiệp ước hữu nghị và hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á để chuẩn bị cho một hàng cừ hay bờ đê ngăn chận cơn lũ bành trướng Bắc Kinh.

Đồng thời cách nửa vòng Trái đất, ở Nữu Ước, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng thúc đẩy nỗ lực bình thường hóa ngoại giao với Mỹ. Lần này, chúng ta không đặt điều kiện bồi thường 3 tỉ mà Nixon đã hứa ở hiệp định Paris 1972. (Nguồn Brother Enemy của Nayan Chanda.) Như chúng ta đã biết, tất cả đều vô ích. Liên Minh Đông Nam Á từ lâu bị ám ảnh một Việt Nam hung hãn, quyết làm một mũi nhọn xung kích của thế lực Cộng Sản đều lịch sự từ chối “lòng tốt” của chúng ta và Mỹ sau khi tiếp Đặng Tiểu Bình, cũng lịch sự gác lại chuyện bình thường hóa ngoại giao với Việt Nam và không hứa ngày đàm phán lại vấn đề đó.

Kết quả là chúng ta sa lầy ở Cambodia suốt 10 năm và đói nghèo suốt 15 năm. Quan trọng hơn, chúng ta chựng lại trong khi các quốc gia láng giềng tiến bộ vượt bực về khoa học, kỹ thuật, giáo dục, xã hội, kinh tế…Chúng ta quay về thời xe hơi chạy than, xe bò, ăn bo bo, mặc quần áo vá, dùng phân xanh như thời trung cổ.

Chúng ta dường như cấm kỵ không hề nhắc đến cái thất bại có thể tránh được đó chỉ vì hội chứng say sưa với chiến thắng. Thắng đế quốc Mỹ ta có thể lướt thắng được mọi thứ khác. Chúng ta hoang tưởng rằng cả thế giới đều ngưỡng mộ chúng ta và cả thế giới cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ. Với Mỹ, họ là kẻ thua họ phải “bồi thường” mới hòng được chúng ta chìa tay cho mà bắt. Với Đông Nam Á, một Việt Nam với hơn 8 quân đoàn sát bên nách đáng gờm hơn là cái hiểm họa bành trướng từ Bắc Kinh xa vời vợi. Nếu chúng ta hồi tưởng lại, việc tiếp tế cho phiến quân Mã cộng, Thái cộng không thể khôi phục được lòng tin của các quốc gia Đông Nam Á bằng một vài cử chỉ ngoại giao thân thiện. Xét cho cùng, ta vẫn có thể chiến thắng Mỹ mà không cần phải thù nghịch với các quốc gia Đông Nam Á vì họ thủy chung không tiếp tay với Mỹ trong cuộc chiến ngoại trừ Thái Lan (cho mướn căn cứ Utapao) và Hàn Quốc (Hàn Quốc gửi quân tham chiến nhưng Hàn Quốc không thuộc Đông Nam Á).

Ta học được điều gì nếu chúng ta thực sự muốn học? Không nên có nhiều kẻ thù không cần thiết và tuyệt đối không hoang tưởng ta quan trọng tới mức họ cần ta hơn ta cần họ.

Tri tân: Lại hoang tưởng Mỹ cần Biển Đông hơn ta cần Biển Đông.

Đệ nhị thế chiến có một nguyên nhân kinh tế và sâu xa hơn, một nhu cầu thời đại. Đó là có vài cường quốc muốn xóa mọi trật tự thế giới để mong có phần của mình trong bối cảnh mới. Cách mạng khoa học kỹ thuật trên nền tảng Newton đã phát sinh động cơ nổ kéo các toa xe lửa, xe hơi, tàu bè và máy bay. Từ đấy các quốc gia tiên tiến tìm kiếm, bòn rút các thuộc địa nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên liệu, nguyên liệu cho kỹ thuật. Đức, Ý, Nhật là những cường quốc chậm chân không có thuộc địa để phát triển và tận dụng khoa học kỹ thuật mới. Lấy đâu ra cao su làm vỏ xe hơi? Xăng dầu? Sắt thép? So với các cường quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… thì Đức, Ý, Nhật mạnh hơn nhưng không có tương lai vì không có nguyên liệu lấy từ các thuộc địa. Họ muốn xóa bỏ mọi trật tự cũ hòng mong thế giới chia cho mình cái phần mình đáng được hưởng. Đức tiến chiếm Âu Châu. Không chịu kém, Nhật tiến chiếm Á châu và thế chiến bùng nổ để khởi đầu cho một trật tự mới mà trong đó, các cường quốc nào cảm thấy mình chịu thiệt, phải chiến đấu giành bằng được cái phần mà họ cho rằng mình đáng được hưởng.

Trung Quốc chẳng học được điều gì cả. Họ cần con đường chuyên chở nhiên liệu từ Trung Đông mà họ cho rằng với vị thế của họ hiện nay, họ đáng được hưởng. Tham vọng của họ xuyên suốt từ Bắc Kinh vòng qua eo Malacca, băng qua Ấn Độ vào Trung Đông chứ không chỉ ngừng lại sau khi chiếm trọn biển Việt Nam. Không may cho ta, Việt Nam là mục đích đầu tiên trong cuồng vọng chiếm lĩnh cái hải trình năng lượng đó. Trung Quốc sai ở chỗ nó không tự lượng sức. Thời đệ nhị thế chiến, hải quân hoàng gia Nhật có 20 hàng không mẫu hạm

(http://en.wikipedia.org/wiki/Imperial_Japanese_Navy_of_World_War_II)

và vẫn thảm bại trước hạm đội 7 Mỹ. Ngày nay Trung Quốc mua được một tàu phế thải, vá víu sửa chữa cho giống một mẫu hạm rồi tập tành chinh phục thế giới. Không cần là một chuyên gia quân sự, ai cũng có thể nhận thấy Trung Quốc phải cần ít nhất 20 mẩu hạm để có thể uy hiếp Nhật, 20 chiếc nữa để có thể uy hiếp Ấn và không biết bao nhiêu nữa mới có thể uy hiếp Nga hay Mỹ. Năm xưa Sô Viết sa lầy ở Afghanistan và Cambodia (tiếng rằng Việt Nam sa lầy nhưng chỉ tổn thất nhân mạng, thực ra Sô Viết sa lầy vì phải chi viện đạn, xăng, khí cụ cho Việt Nam) 10 năm sa lầy khiến Sô Viết không dẫy mà chết. Để làm chủ hành lang năng lượng, với bao nhiêu mẫu hạm và nguy cơ đối đầu với một siêu cường có thể sản suất ra một số lượng mẫu hạm không thể ước tính nổi là Mỹ, bao lâu thì Trung Quốc không dãy mà chết? Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột. Ở vị thế siêu cường số 2, Trung Quốc không muốn thi gan một mất một còn với ai, mà chỉ muốn áp đảo những kẻ không thể tự bảo vệ. Vâng. Nếu Meta là thằng nhà giàu số 2 còn hơn làm thằng nghèo sặc máu hạng bét nếu thua trận. Tốt nhất chỉ nên bắt nạt thằng không thể tự vệ.

Không may Việt Nam ta là thằng không thể tự vệ. Đúng hơn chúng ta là thằng tự xua đuổi đồng minh nên không thể tự vệ. Mới đây một đại tá Việt Nam ông Trần Đăng Thanh, Phó giáo sư tiến sĩ Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng đã nói: “Nước Mỹ chẳng bao giờ tốt với chúng ta, chỉ có Trung Quốc tốt với chúng ta.” Câu này thật là tai hại. Các tay yêu nước kiểu loa phường thường đòi “bằng chứng đâu?”, “sai chỗ nào?” mỗi khi chúng ta vấp phải những sai lầm chí tử. Thậm chí có bác còn chống chế: “Ứng khẩu nói không thể chính xác như đã soạn trước rồi đọc” khi thấy ông đại tá nói sai be bét. Như chúng ta biết, một giáo viên cấp cơ sở cũng ứng khẩu chứ có ai giảng bài mà đọc từ giấy đâu mà chẳng bao giờ sai. Cái này rõ ràng trình độ ông đại tá có vấn đề. Thì tiện đây, Meta xin phân tích cái tai hại của ông đại tá.

Vẫn là hoang tưởng rằng Mỹ là bọn thèm Biển Đông hơn chúng ta thèm Biển Đông. Từ lâu chúng ta yên chí rằng chỉ cần búng tay một cái, Mỹ sẵn sàng lao vào lửa đạn bảo vệ chúng ta trong khi đó chúng ta vẫn sa sả chửi rủa Mỹ. Chúng ta yên chí rằng Mỹ là cỗ máy chiến tranh luôn sẵn sàng chờ lịnh ta để khai hỏa. Làm như cái “lịnh ta” là một ơn huệ hay một vinh dự chúng ta ban cho Mỹ vậy. Tệ hơn nữa, chúng ta chẳng bao giờ thèm tìm hiểu xem tại sao ta có được mỗi năm 100 tỉ tiền đầu tư FDI để phát triển kinh tế. Ta cũng không mảy may lo ngại từ nay cái FDI đó sẽ chuyển hướng sang Miến Điện, nơi thỉnh thoảng không có những trò bẽ mặt như công an quăng nhà ngoại giao Mỹ lên xe cây, làm ngơ khi tổng thống Mỹ xin ân xá cho một vài người phạm tội rất nhẹ và mới đây, qua miệng một đại tá thuộc bộ Quốc Phòng nói thẳng Mỹ luôn luôn có tâm địa xấu với Việt Nam. Vâng điều này vẫn có thể là chủ trương của chính phủ vì nỗi sợ canh cánh những cuộc cách mạng hoa hồng khắp nơi nhưng nói toạc ra điều này nó chặn đứng ngay tức khắc bao nhiệu nguồn trợ giúp đang xúc tiến và sẽ thực hiện giữa 2 nước. Hãy giả thử một mai Trung Quốc nuốt gọn Biển Đông, Mỹ phải làm sao khi “người ta” đã nói thẳng “mày không bao giờ tử tế”? Một kẻ có chút liêm sỉ sẽ không xăn tay áo giúp đỡ ta một khi ta từng mắng mỏ và từ chối mọi hảo tâm của nó.

Hãy đặt mình vào não trạng một người bị cự tuyệt để suy luận phản ứng của họ trong tình huống khẩn thiết nhất. Năm 1975 Mỹ bỏ Nam Việt Nam được thì Mỹ bỏ Biển Đông năm 2012 được. Đối với Mỹ, 1 nước Cộng Sản kéo dài từ Yên Kinh tới Côn Minh hay kéo dài tới Cà Mau (trường hợp Trung Quốc nuốt gọn Việt Nam) cũng vẫn là 1 nước cộng sản, chẳng qua là 1 nước Cộng sản dài hơn 1 chút xíu. Nói khác đi, một Việt Nam do Tập Cận Bình lãnh đạo cũng chẳng khác gì một Việt Nam do Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo. Mỹ chỉ quan tâm nếu Việt Nam lột xác thay đổi như kiểu Miến điện thôi. Ngoài ra Cộng Sản nào cũng rứa. Điều đáng lẽ chỉ nên giấu kín trong bụng nay đã lỡ nói toạc ra rồi thì Mỹ không còn lý do gì lưu luyến nữa cả. Từ nay khỏi phải nói về nhân quyền nữa để khỏi bị cái sượng sùng của tình cảnh nước đổ đầu vịt, về tham nhũng để khỏi phải kinh doanh ở một nơi vô luật lệ, về dân chủ để khỏi bị lên án là phá hoại, ác ý.

Việt Nam và Phi Luật Tân cách nhau một chuỗi đảo là Hoàng Sa và Trường Sa. Có 2 con đường hàng hải đi qua Biển Đông là Tây Trường Sa và Đông Trường Sa. Nếu Việt Nam tỏ ý không cần Biển Đông bằng Mỹ cần Biển Đông thì từ nay Mỹ sẽ bỏ Biển Đông như đã bỏ Nam Việt Nam năm 1975. Lịch sử cho thấy mất Sài Gòn không kéo theo mất Mã Lai, Thái Lan, Singapore như chủ thuyết Domino tiên đoán thì mất tây Biển Đông cũng không có nghĩa mất con đường hàng hải phía bên kia Trường Sa phía Phi Luật Tân. Mỹ chỉ cần bảo vệ Mã Lai, Phi Luật Tân, Nhật và các đồng minh khác, những đồng minh chưa bao giờ phát biểu: “Mỹ luôn là kẻ có tâm địa xấu”, dù trong thâm tâm cũng có các quốc gia Đông Nam Á nghĩ như vậy. Trong lịch sử cận đại và hiện đại, dân tộc chúng ta hứng chịu nhiều cái sai lầm của lãnh đạo nhưng mặc cảm tự ti hóa trang thành tự tôn làm chúng ta không lãnh hội được gì cả. Một chủng loài sẽ đi về đâu khi không thể sửa sai? Một thửa ruộng sẽ cho nhiều lúa hơn nếu chúng ta biết và muốn triệt cỏ năn. Củ năn cũng ngon ra phết. Phải ăn năn đã thì không sợ thiếu lúa.

Metamorph
Hà Nội.
(Nguồn: Ba Cây Trúc)

02 August 2013

Nghe nhạc cuối tuần :

Đã Qua Thời Mong Chờ của Trúc Hồ với tiếng hát Lâm Thúy Vân.

Trong những bản tình ca nổi tiếng của Trúc Hồ. Cơn Mưa Hạ được viết làm nền cho bộ phim Cơn Mưa Hạ đã được trình chiếu vào những năm đầu thập niên chín mươi nói về nỗi đau chia cắt. Sau đó, anh sáng tác tiếp “Đã Qua Thời Mong Chờ” như một nối tiếp còn dang dở của Cơn Mưa Hạ để vén lên  trọn vẹn những khát khao u uẩn, những đau nhức về thân phận bèo dạt hoa trôi của người con gái tuổi đá buồn đợi chờ tình yêu trong vô vọng,  bởi với nàng, tình yêu không còn là món quà đơn thuần của Thượng Đế, mà là hơi thở, là cuộc sống, là thế giới riêng nàng muốn ôm ấp làm của riêng mình. Nhưng khi nắng đã tàn theo cuối ngày, tuổi xuân đả qua đi, làn môi đã phai  sắc hương, tình nàng cũng nhạt theo mầu nắng và niềm đau của sự cô đơn ập đến, nàng chỉ còn biết nghẹn ngào như một than tiếc hay nức nở :

                                        Vì riêng em đã qua thời mong chờ
                                        Làn môi em phai nhạt sắc hương
                                        Từ mai đây lối xưa em chờ ai về
                                        Làm sao em có anh đêm nay !!!!!

Với  ca từ mênh mang nỗi sầu cô quạnh: “Làm sao em có anh đêm nay” ẩn dấu phía sau là  sự nuối tiếc đắng cay và đau xót như vết giao nhọn làm nhói con tim, được tác giả khéo léo giao thoa bằng  lối hòa âm  trong những giai điệu sâu lắng, vừa lạ nhưng lại rất quen, khi trầm, lúc  réo rắt, khiến cho  Đã Qua Thời Mong Chờ dễ chạm vào trái tim thương cảm của khách thưởng ngoạn cho một số phận khô cằn và tàn lụi trong quên lãng kiếp con người.

Xin mời các bạn yêu nhạc thưởng thức  nhạc phẩm trong mục giải trí cuối tuần như một thư giãn sau một tuần làm việc vất và. Cũng không quên kính chúc anh chị một cuối tuần vui vẻ hạnh phúc bên những người thân.

Mến
San Jose 2/8/13
TeHong
https://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=9V7P-kp5F_Y

01 August 2013

Ôm vuột chân, chỉ được mỗi vết giày

Hà nội đu dây. Vài người nhận định đó là một chính sách khôn ngoan. Có dịp là chửi Mỹ ra rả. Khi cần thì lại đi cầu cạnh với "Nước thù địch" này. Bắt bớ giam cầm các bloggers và những người vì lòng yêu nước dám nói lên sự thật: cảnh báo nguy cơ nô lệ nước Tầu, tệ nạn tham nhũng và cửa quyền lan tràn, chiếm đất đai và tài sản của dân mà không đền bù thỏa đáng, ấy thế mà vẫn nộp đơn xin vào Ủy ban Quốc tế Nhân quyền... Điều này chỉ cho thiên hạ thấy rõ cái não trạng mặt chai hơn đít khỉ của Hà Nội.

Chuyến đi cầu cứu Hoa Kỳ của Trương Tấn Sang đã thất bại.  Quá khứ cả xa lẫn gần chứng tỏ Hà Nội không tuân thủ những điều họ cam kết,  coi thường công luận và đó chính là thảm trạng đổ vỡ uy tín hiện nay của họ. 

Những ai theo dõi diễn tiến chuyến công du Hoa Kỳ của Trương Tấn Sang buộc phải kết luận: Chính sách đu dây của Hà Nội đã phá sản và việc kiên định Việt Nam là một yếu tố cần thiết trong chiến lược xoay trục của Mỹ rõ ràng là một ảo tưởng.

Qua giọng biếm họa, Ông Đinh Tấn Lực phân tích cặn kẽ cái kết quả ê chề của chuyến công du mà báo đài nhà nước Việt Nam CS đã kỳ vọng là một chuyến công du chiến lược. (TTR)

**

Chuyến này ngó như thử anh Tư chuẩn bị khá kỹ, do bởi chính mình thỉnh cầu hội kiến trước thời hạn hứa hẹn. Tức là, chịu khó thu nhận ý kiến của Mát-xcơva, thăm dò thái độ của Tân Đề Li và Gia-các-ta, quan trọng nhất là ý kiến chỉ đạo sát nút của Bắc Kinh, rồi mới đi Mỹ.

Coi truyền hình nội địa về vở diễn, lắm người đâm ra ngộ nhận tầm xa rằng đây là chuyến công du “chiến lược”, ít ra là ở tầm xây dựng lòng tin chiến lược cụ thể và tận nơi (cho kẻ chủ xướng “tư tưởng thời đại” này), hoặc tệ hơn nữa, là ký thương ước nhập khẩu vũ khí chiến lược, cho sôi nổi/xôm tụ trong cuộc chạy đua …nội bộ. Mà, trên thực tế, không kể hai thông dịch viên nuốt chữ tới phát ách, cũng chẳng ai khác biết chắc là trong buổi họp kín đó, anh Tư có chuyển tải được điều gì cụ thể về “lòng tin chiến lược” đó không, hay là chẳng có cơ hội đề cập, một khi chủ nhà xoành xoạch chuyển sang những chủ đề có sẵn trong nghị trình của họ?

Tới chừng coi truyền hình tư bản, người ta mới té sấp té ngửa ra là chẳng có “chiến lược” gì ráo. Rốt cục chẳng có vụ mua bán khí tài gì cả. Mà cái này đoán được. Ngoại trừ lúc lâm vào những khúc ngoặt lịch sử (cần vẽ lại bản đồ thế giới chẳng hạn), còn thì đời nào Mỹ chịu bán vũ khí chiến lược cho những đối tác tầm sàn lại đang là đối tác chiến lược tầm đỉnh của …vua hàng nhái là nước Tàu?

Rốt cục chẳng có việc ký kết một văn kiện nào về quốc phòng hay an ninh khu vực. Tất cả chỉ là loại nước bọt khá dễ bốc hơi. Rốt cục chẳng có cái chứng chỉ đối tác chiến lược nào với Mỹ. Chỉ là thứ “đối tác toàn diện”. Ôi, sao cái từ “toàn diện” nó mang tính ngoại giao nước bọt đậm đặc là vậy?

Rốt cục cái “phái đoàn tôn giáo” và “phái đoàn công an” tùy tùng của anh Tư, giữ trọng trách giải độc nhân quyền, đành phải chịu khó đi mua sắm trong thời gian thất nghiệp ở Mỹ.

Rốt cục cũng chẳng có cái bắt tay TPP. Ngài Obama kính mến kia chỉ nhẹ nhàng buông thỏng một câu “sẽ xem xét”, như một thứ án treo. Lại còn ỡm ờ về lời nhờ cậy của anh Tư về việc công nhận cái nền “kinh tế thị trường” của VN. Kể cũng khó, bởi nếu công nhận điều đó tức là tự động cắt bỏ cái đuôi định hướng thổ tả đang ở tầm kim chỉ nam này nọ, trong khi nó chính là sân chơi (và két sắt) của lãnh đạo Hà nội. Cho nên chủ nhà đánh vòng, mà buộc lòng anh Tư vẫn phải cười tươi, còn là tươi nhất trong bộ tứ Khải/Triết/Dũng/Sang từng qua Mỹ, chiếu theo lời nhận xét không cần dấu diếm tính “chỉ tang mạ hòe” của bạn Nguyễn Khanh RFA.

Cái ấn tượng còn lại ở những người theo dõi sự kiện “chiến lược” này là gì?
Có lẽ tạm thời …phải đếm số!

oOo

Một

Là thái độ coi thường (nói cho có tí vẻ ngoại giao là thái độ đánh giá thấp) của Oa-Sinh-Tơn, đối với phái đoàn nguyên thủ của Hà Nội. Điều này thì …cả Văn Vĩ hay Gary Davis cũng đều thấy, và nhiều người bực lắm rồi.

Bởi, một chính khách mang danh nguyên thủ như anh Tư mà chỉ được cấp đại sứ “welcome”, không trống kèn quân nhạc, không lính bồng súng chào, không thảm đỏ, không vòng hoa… Đến lúc khui sâm-banh thì chỉ được cụng ly với cấp ngoại trưởng, trong một bữa ăn trưa đơn giản tại phòng tiếp tân của Bộ Ngoại giao, ngày 24-7-2013. Đã không có dạ tiệc ở Nhà Trắng thì chớ, đàng này, phần dạ tiệc ngay buổi tối hội kiến “thượng đỉnh” 25-7-2013 , do ngài Obama chủ xị ở Nhà Trắng, là buổi tiệc Iftar để dành riêng cho nghi thức chay tịnh mùa Ramadan của những người theo đạo Hồi!

Vậy thì còn ra cái thể thống gì nữa? Thể thống ở đây chẳng phải chỉ là tư thế của anh Tư không thôi. Bởi vì, ngoài một mớ đảng viên thiểu trí thừa tham của CSVN, thì có ai coi anh Tư ra gì đâu, nói chi tới tư cách cá nhân hay tư thế đại diện quốc gia? Mà ngay cả đảng viên cũng vậy, từ trước cả đận anh Tư không dám nêu thẳng tên đối thủ, mà phải mập mờ X kia X nọ, thì họ đã coi anh Tư ra cái cóc gì đâu?

Thể thống ở đây chính là sự niềm nỡ tối thiểu nào đó phải có của một nguyên thủ đối với một nguyên thủ, kể cả khi kẻ đó tự xưng là nguyên thủ. Mà không có chút nghi thức ngoại giao niềm nỡ tối thiểu nào kỳ này, tức là, hoặc, tự Mỹ nó đểu; hoặc, Mỹ cả nể ý kiến của những đại diện Việt kiều đã họp với Nhà Trắng trước đó mấy ngày, rồi hành xử đúng mực/đúng tầm/đúng người/đúng việc như vậy; hoặc, “mình phải thế nào thì người ta mới mời mình (kiểu đó) chứ!”.

So với các chuyến trước thì có vẻ người tiền nhiệm của anh Tư được đón tiếp có phần nào tử tế hơn, cho dù không ai muốn nhắc chuyện Hà Nội phóng thích LS Lê Quốc Quân vài ngày trước khi phái đoàn Nguyễn Minh Triết qua Mỹ.

Gì thì gì, những người từng ưu tư về quốc thể cũng …bớt áy náy. Bởi, một khi Mỹ không đối xử với anh Tư như một nguyên thủ, tức đại diện quốc gia, thì kể ra, có muốn cũng khó để quy kết là họ coi thường quốc thể VN. Rõ ràng là họ chỉ coi thường tư thế tự phong của “đối tác”.

oOo

Hai

Có nhiều dòng nghĩ khác nhau về món quà anh Tư chuyển đến ngài Obama kính mến nọ.

Có người cho rằng đó là một thông điệp muộn màng từ cái đầu nô lệ đang vái tứ phương của thời 1946. Thời đó, trong lúc bị bế tắc đàm phán, và quyền lực cai trị bị đe dọa bởi một cuộc đảo chánh quân sự, tác giả bức thư đã nhiệt liệt khẩn cầu tổng thống Mỹ: “…Hãy can thiệp khẩn cấp và hỗ trợ cho nền độc lập của chúng tôi”. Qua đó, rõ là cái quyền lực cai trị non trẻ vừa cướp được đang nhâng nhâng nhân danh độc lập. Cũng có nghĩa là đàn anh Liên Xô bấy giờ đang bận hay bấn chuyện nội bộ gì đó của họ (vào giai đoạn chiến tranh lạnh tượng hình), nên không chìa tay ra được. Đành quay sang Mỹ, cho dù điều đó không chứng tỏ rằng tác giả bức thư am tường quan hệ Pháp-Mỹ ngay sau thế chiến thứ hai.

Sáu mươi bảy năm sau, việc cầu cạnh lặp lại lần nữa, cũng chỉ vì những chiếc ngai vua tập thể đã long ngàm rã mộng. Và tác giả thông điệp này cũng không chứng tỏ được mức am tường về xu hướng dân chủ hóa toàn cầu của một chính quyền vẫn còn đứng hàng đầu thế giới, cho dù vẫn chỉ đạo hàng ngày cách viết những bài xã luận cơ bắp trên báo ND và QĐND. Đã không biết cách ngã giá, lại khư khư không muốn ngã giá.

Lại gặp phải một tay hùng biện vào hàng nhất nhì nước Mỹ. Lắm người diễu cợt rằng chính anh Tư giỏi hơn người tiền nhiệm, ở chỗ làm được cái việc phân hóa chính trường nước Mỹ, cái mà tay tiền nhiệm kia chỉ chém gió. Song, những người hiểu rõ các mối quan hệ bên trong chính trường Mỹ lại bảo rằng ngài Obama kính mến kia là một cao thủ lăng ba vi bộ ở câu trả lời: “Hồ Chí Minh thực sự có cảm hứng nhờ Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ, và (nhờ) những lời nói của Thomas Jefferson”.

Tức là, vừa đánh vòng việc từ chối lời cầu cạnh (tất nhiên có điều kiện mà chưa thỏa); vừa “tát yêu” rằng bác của mấy chú ăn cắp quen tay (mà chúng tôi cũng chẳng cần khép tội 258 lợi dụng quyền dân chủ); lại vừa để cho phe hữu bên đó ồn ào lên tiếng giúp, dù chói tai, nhưng cuối cùng vẫn là hỗ trợ cho cái lắc đầu.

Lại còn “vặn họng” đối tác là mấy chú cứ ra rã chửi Mỹ, từ thời “chống Mỹ cứu nước”, qua trận động đất Đông Âu-Liên Xô, tới cả thời 9-11 và chiến tranh Iraq/A Phú Hãn/Palestine, kéo dài tới những cuộc cách mạng hoa/màu gần đây… Thế nhưng 67 năm qua, phải thừa nhận là các chú mặt dày vô địch, khi hết nước thì cũng sẵn sàng quay đầu về cầu cạnh cái “thế lực thù địch” số một thế giới: “Hồ Chí Minh đã nói ông muốn hợp tác với Hoa Kỳ. Và Chủ tịch Sang bày tỏ rằng: ngay cả nếu 67 năm đã trôi qua, thì cũng là điều tốt khi chúng ta còn đang có tiến bộ (tới cái đích hợp tác ấy)”. Tiếc thay, ông còn cắt nghĩa thêm: “Chúng ta vẫn còn những bất đồng…”.

Thế là trắng tay, mà còn phải cố sức cười tươi cúi nhìn đôi bàn tay trắng, bận về.

oOo

Ba

Cũng phải thừa nhận thêm, rằng, tay nào cố vấn cho anh Tư phát ngôn lời cảm ơn TT Obama và nước Mỹ đã cưu mang và hỗ trợ những người Việt Nam tỵ nạn này để họ (thành công vẻ vang và) trở thành công dân Mỹ, quả là một thế lực thù địch đáng gờm từ bên trong.

Hắn phải biết rất rõ nguồn gốc của những đợt di tản/thuyền nhân… đó là từ đâu mà ra. Hắn phải biết là những đoàn người tỵ nạn CS đó đã bỏ phiếu bằng chân và bằng cả sinh mạng để thoát khỏi cái nhà tù nghiệt ngã CHXHCNVN. Hắn phải biết chính nhà nước khuyến khích cho đảng viên bán bãi lấy vàng rồi bắn ghe / giết người để cướp thêm vàng ( Nguyễn Minh Triết là một trong những hung thần đó ở khu vực Sông Bé ). Hắn biết rõ là chính quyền Mỹ nắm vững cái ngỏ ngách tham tàn đó của lãnh đạo Hà Nội. Quan trọng nhất là hắn cũng biết rất rõ anh Tư thiếu thông minh đủ để phát ngôn những lời phản cảm và phi nhân đó.

Chẳng lẽ ngài Obama kính mến kia buột miệng hỏi ngược: Thế thì đối với hàng triệu thuyền nhân không đến được một bến bờ nào thì ngài chủ tịch Tư sẽ cảm ơn ai ?

Khổ thân anh Tư lọt bẫy đám đàn em chuyên ngành khủng bố mềm.

Càng khổ thân anh Tư hơn nữa là ngay vào lúc hăng say với một phát ngôn những tưởng sẽ trở thành danh ngôn đó, thì một đàn em khủng bố mềm khác lại hùng hổ ném chất thải vào mặt lãnh đạo đang công du, bằng câu tuyên bố rằng những Việt kiều ở Mỹ (hội nhập thành công và đóng góp vào nền kinh tế đứng đầu thế giới của Mỹ, trong đó có nhiều triệu phú) đi biểu tình đòi hỏi lãnh đạo Hà Nội tôn trọng nhân quyền, là họ: “chỉ vì đồng tiền, chỉ vì mưu cầu cuộc sống, chỉ vì muốn có 1 chút thu nhập thêm…”. Hắn ở cấp thứ trưởng ngoại giao và thuộc hàng tổng lãnh sự VN ở nước lớn chứ không phải hàng cắc ké/cò mồi.

Rõ là giới quan tâm không tránh khỏi hoang mang: “Âm binh vật Phù thủy” ngay ở bên ngoài lãnh thổ VN và trước mặt những ân nhân đang khẩn cầu cứu độ kia đó chăng?

Bởi vậy, khi đọc Bản Tuyên Bố Chung ở đoạn: “Hai vị chủ tịch nhất trí là cần tăng cường quan hệ giáo dục, văn hóa, và người với người giữa Hoa Kỳ và Việt Nam”, người đọc không kềm được cảm giác tức thì/tại chỗ là: Nỗ lực tăng cường giáo dục, văn hóa, giữa người với người này, trước tiên phải được áp dụng tức khắc cho dàn lãnh đạo ở Hà Nội.

oOo

Bốn

Dàn lãnh đạo ở Hà Nội có chung một đồng điểm rất đặc thù là cực khoái tiết mục lip-dance, tạm dịch là …múa mỏ.

Anh Tư đã để lại Mỹ ít ra là hai bài múa:

Bài thứ nhất là câu tuyên bố đứng bục của anh Tư: “Là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Philippines có toàn quyền theo đuổi vụ kiện như họ muốn”. Nhưng từ chối bình luận khi được hỏi về khả năng liên kết giữa Việt Nam với Philippines trong nỗ lực đưa ra trọng tài quốc tế để xét xử các tranh chấp biển đảovới TQ, dựa trên Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, như chính quyền Phi đã khởi động từ đầu năm nay.

Tức là chỉ phán những điều cả thế giới biết rõ, và tắt đài để dấu kín cái hèn tự thân.

Bài thứ nhì là lúc sắp rời Mỹ, vào sáng ngày 26-7-2013, anh Tư ghé qua trụ sở Liên Hợp Quốc, đã lên lớp ngài Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon, rằng: “VN mong muốn LHQ phát huy tốt vai trò to lớn trong việc duy trì hòa bình, ổn định trên thế giới cũng như trong khu vực, thúc đẩy đối thoại, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển”.

Lẽ nào ông Ban, trong trách vụ Tổng thư ký LHQ, lại không biết điều đó? Chẳng phải đó là nội dung khoản 1/điều 1/chương 1, được ghi rõ ngay những dòng đầu trong bản Hiến chương Liên Hợp Quốc hay sao?

Vậy thì, nguyên thủ của một đảng cầm quyền cả nước, đâu phải có chức năng chính là để ba hoa những điều ai cũng biết hầu đừng ai bảo mình mắc …chứng câm? Hoặc giả, đây chỉ là trò mèo chơi gác kèo: Tổng Lú đã múa nhuyễn và múa dai ở Cuba chuyến trước, thì Chủ tịch Tư phải múa bảnh hơn ở Niu-Oóc chuyến này?

Cũng ngay tối 26-7-2013 đó, ở VN, đài VTV1 trân trọng đi tin “Bế giảng lớp Cán Bộ Nguồn” trước khi loan báo tin tức về sự kiện nổi cộm là anh Tư hội kiến với ngài Obama quyền lực ăn trùm thế giới. Đâu lý nào VTV1 đánh giá chuyến đi Mỹ sát cạnh và trung thực đến mức đau đớn ấy?

oOo

Tạm Gút

Cuộc hội kiến của anh Tư với chủ nhân Nhà Trắng đương nhiệm chỉ vỏn vẹn 45 phút, được linh động phụ trội thêm 30 phút, chỉ đi đến những điều não lòng cho người cầu cạnh. Túm lại thì đó là hình ảnh của một anh chàng ôm vuột chân đối tác, chỉ còn lại trên người trọn vẹn một vết giày.

Nguyên nhân?

Mỹ chủ trương thúc đẩy dân chủ hóa mọi nơi chứ không hề muốn bán bảo hiểm cho một nhà nước độc tài độc đảng chuyên dựa hơi thiên hạ để tiếp tục đày dân hay giết dân mình.

Trong lúc đó, Ngoại trưởng tân nhiệm của Mỹ, John Kerry, trong buổi tiếp tân tại Bộ Ngoại giao, lại dí dỏm so sánh đối chiếu tiểu sử bản thân với “quốc khách”, từ 1966, 1969, 1984… cho tới nay, thông qua những nét tương đồng, tuy thân mật nhưng không kém phần trịch thượng, như thử hắn mới là  đồng vai đối tác (Preview)  (Preview) (Preview) với anh Tư.

Điều đó càng được minh họa rõ nét tại sao Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Sheer, trực thuộc quyền điều động của Ngoại trưởng John Kerry, phải lãnh “trọng trách” đón anh Tư tại phi trường và cũng là người giới thiệu hai chủ tịch tại Nhà trắng.

Còn về lời mời chân thành của anh Tư, về một chuyến viếng thăm VN của ngài Obama kính mến nọ, thì nhận lại được một câu trả lời bất định. Ông ấy nhận lời và bảo rằng sẽ cố thực hiện chuyến viếng thăm vếng đó trước khi rời Nhà Trắng vào năm 2016.

Ông ấy còn nhấn mạnh thêm đâu đó: “Hoa Kỳ tiếp tục tin tưởng tất cả chúng ta đều phải tôn trọng những vấn đề như tự do phát biểu, tự do tôn giáo, tự do hội họp”.

Phải chăng đó là những điều kiện giản đơn được gói ghém thành một thông điệp có thắt nơ ?
28-07-2013 – Kỷ niệm 18 năm CHXHCNVN gia nhập và trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN

Blogger Đinh Tấn Lực

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...