05 May 2014

ĐỜI VINH NHỤC, thơ

ĐỜI VINH NHỤC

Thuở nhỏ,nhà nghèo… dám sánh ai
Gầy ăn, sách vở trắng canh dài
Trau dồi kiến thức – mong không uổng
Đạt nguyện danh thành – hẹn chẳng sai
Đất nước chao nghiêng… hoài chí cả
Niềm mơ sụp đổ… phí văn tài
Lên voi, xuống chó… đời vinh nhục
Tráng khí xưa nào để nét phai.
Trần Quốc Tiến - ĐS 17 (2014)

Khánh Ly biểu diễn tại Việt Nam? Tình, tiền và những nghịch lý.

Lê Diễn Đức

Trước hết khoan vội vã nghĩ về nghĩa bóng với ý xấu nào đó trong tựa đề bài viết của tôi. Những từ ngữ trong tựa đề có vẻ giật gân nhưng tôi chỉ muốn nói tới ngữ nghĩa đen đích thực của nó.

Tình...

Lên đường về Việt Nam (VN), trong hành trang của mình, Khánh Ly mang nặng chữ tình theo nghĩa rộng. Tình yêu quê hương; tình cảm với một quá khứ sống động thời tuổi trẻ ở miền Nam; tình yêu âm nhạc, nghệ thuật; tình cảm dành cho quần chúng hâm mộ trong nước; tình bằng hữu, đồng nghiệp; và những băn khoăn trước thái độ không mấy hài lòng của một bộ phận trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản (CS), mà Kánh Ly là một thành viên không thể tách rời.

04 May 2014

Mong rằng sẽ có thêm chứng nhân trong vụ thảm sát này

18 HỌC SINH MIỀN NAM BI THẢM SÁTSAU NĂM 1975

Nhân tháng Tư đau buồn, Thùy Trang kể cho các bạn nghe một câu chuyện có thể nói là CHƯA ai biết đến. Câu chuyện được chú ruột Thùy Trang, nguyên là một sĩ quan thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (Việt Cộng) kể lại. Dĩ nhiên chú của Thùy Trang hiện nay là người tranh đấu, ông đã gia nhập lực lượng Kháng Chiến Phục Quốc từ năm 1998. Hiện nay ở đâu vẫn không liên lạc được. Câu chuyện thương tâm là 18 học sinh Miền Nam VN rải truyền đơn vào tháng 4 năm 1977, lên án chế độ Cộng Sản tại Ngã Tư Bảy Hiền, tức giao lộ Lê Văn Duyệt-Võ Tánh - Nguyễn Văn Thoại. 

Các em bị truy bắt và chạy vào khu chợ Nguyễn Văn Thoại (Chợ Tân Bình). Năm (5) em Nam đã bị bộ đội bắn chết tại chỗ và 13 em còn lại, bị bắt đưa vào đồn công an (lúc đó còn gọi là Phường Đội). Tổng cộng có 18 em học sinh, trong đó có 6 nữ và 12 Nam. Số em bị bắt là 7 Nam và 6 Nữ. 

Kẻ ra lệnh tàn sát 13 em học sinh chính là Lê Quang Đồng (Tư Đồng), bí danh Tư Cẩm, tác giả của cuốn sách GIA TÀI CỦA TÔI. Lê Quang Đồng (tự Tư Đồng), bí danh Tư Cẩm, sinh năm 1928, hiện cư ngụ tại ấp 3B, xã Đạo Thạnh, TP. Mỹ Tho, ông theo Cộng Sản từ những ngày đầu cuộc 'Cách mạng Tháng 8 năm 1945', vào Đảng CSVN tháng 10 năm 1947, nguyên Phó Văn phòng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa- Thông tin, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang.

Sau khi bị bắt giam và bị tra tấn dã man liên tiếp trong gần 2 tuần lễ, cuối cùng thì 13 em đã bị đưa về khu rừng Cao Su ở Chơn Thành để xử bắn. Viên Bộ Đội được lệnh xử tử 13 em là Trung Úy Nguyễn Văn Cừ. Trung Úy Nguyễn Văn Cừ kể lại câu chuyện cho chú Thùy Trang cùng 2 người bạn nữa, là vào giữa đêm ngày 11 tháng 5 năm 1977, tức gần 2 tuần sau khi các em bị bắt. Trung Úy Nguyễn Văn Cừ đi cùng Lê Quang Đồng và 10 bộ đội trên 2 chiếc xe bít bùng. Các em bị trói tay, bịt mắt và bị bắt quì gối trước khi hành quyết. Nhìn các em học sinh quá nhỏ, từ tuổi 16-17, Trung Úy Nguyễn Văn Cừ đã khóc, ông đã KHÔNG muốn hành quyết các em, năn nỉ Tư Đồng cho các em con đường sống, vì các em chưa đủ trí khôn như người lớn. Lê Quang Đồng đã chĩa súng vào đầu Trung Úy Cừ, ra lệnh là nếu không xử bắn thì người bị hành quyết trước tiên sẽ là Trung Úy Nguyễn Văn Cừ. 

Sau cuộc hành quyết dã man trên, viên bộ đội Trung Úy Nguyễn Văn Cừ đã xin giải ngũ với lý do bệnh đau bao tử. Trung Úy Nguyễn Văn Cừ sau đó đã nghiện rượu nặng, hằng đêm nằm khóc vì bị ám ảnh triền miên. Ông đã qua đời vì bệnh chai gan một năm sau đó. 

Câu chuyện thương đau cho tháng 4, Thùy Trang muốn kể lại cho các bạn nghe để đừng ai còn có tư tưởng là tin vào người Cộng Sản nữa. Đừng nghĩ là CS sẽ ăn năn, hối cải. Họ là những kẻ độc ác, và luôn độc ác. Trong số những kẻ độc ác đó, hy vọng còn nhiều chiến sĩ QĐND có tấm lòng như cố Trung Úy Nguyễn Văn Cừ.

Nguyễn Thùy Trang
(Nguồn: Nguyệt San VN)

Tô phở "đại gia" bò Kô-bê một triệu đồng

...và chiếc giường nhếch nhém, người bệnh không thuốc men.

Trang Mẫu Tâm đăng tin: "Phở 'đại gia' một triệu đồng vẫn hút khách!"

"Phở bò Kô-bê tại khách sạn Vườn Thủ Đô được xem là lựa chọn tuyệt vời ngày nghỉ cuối tuần"... của các đại gia. Số lượng khách đặt bàn luôn đông nghẹt. Giá mỗi tô phở bò Kô-bê hiện nay từ 40-50 đô Mỹ gấp 40 lần giá phở bình thường.

Nhưng những bức hình sau đây TTR nhận được cũng từ Việt Nam do người chụp không chuyên lại lộ cho thấy một chút góc đen của một xã hội đầy mâu thuẫn.






03 May 2014

Những Hạt Đậu Đen (2), truyện ngắn

"Cũng từ đó có cái nghề chạy cho ra
các loại thông tư, hướng dẫn, quyết định từ bộ, cục, địa phương
sao cho phù hợp với ý đồ và khẩu vị của người đặt hàng"

"Một đất nước yếu, mà lắm kẻ hèn và
tham ô nhũng nhiễu là mảnh đất màu mỡ cho họ bành trướng!
Huống hồ đất nước ta lại ở sát cạnh anh đại-hán đầy mưu đồ ấy."

 "Kẻ chi tiền cho tham nhũng và người nhận tiền đều có lương tâm thanh thản, chỉ có nhà nước và luật-pháp tan hoang! Cả hai đều thấy mình dẫu sao cũng còn tồn tại được trong xã hội này, chỉ có lòng tự-trọng và tự-tin vào bản thân thì bị hao mòn dần mà không có cơ-hội phục hồi.?"


- Chú à,   bây giờ ngừơi  mới  thay đổi quy chế thông-quan hàng gia-công xuất khẩu, thay vì  mời kiểm hóa hàng theo đơn hàng,  theo tờ khai thì phải rà sóat  định mức,  duyệt xét  lại các  danh mục đã khai …cái ông tướng hải-quan mới tới  làm trưởng-phòng   khó quá.   Ba  ngày rồi lên xuống trình báo,   đủ thứ giấy tờ lão cũng không xác nhận cho hàng xuất  kho cho kịp tàu.   Ba mươi công nhân bốc xếp nằm chờ chực tại kho công ty,   xe công-te-nơ  đã đăng kí,  công an giao thông đuờng vào cảng cũng mua đuờng rồi …chỉ chờ trưởng phòng  giám quản hải-quan kí duyệt.
 
- Ông ấy còn đòi gì nữa,  cứ theo lệ chung chi mỗi công-te-nơ  20 phít  bao nhiêu,  công 40  phit bao nhiêu thì cháu cứ tự động quyết đi.
 
-Lo đâu đó hết rồi mà  lão vẫn không chịu,  nhất định đòi gặp  người thay mặt công ty kí vào tờ khai này. Con có nói Giám-đốc đi vắng nên chú là phó kí thay,   lão  hẹn gặp chú sáng mai mà tối mai  tàu chạy,   sáng mai mà chú gặp lão nếu  giải quyết xong thì lại tốn thêm một  lố tiền nữa phải chạy  nộp cho công an giao thông vì xe công-te-nơ  chạy  ngoài giờ quy định,   hơn nữa  tám công hàng bốn mươi phít  thì  công nhân sức đâu mà chất kịp,  tội nghiệp bọn họ ăn ngủ chờ chực mấy ngày rồi …

-Được rồi,  để sớm mai chú lên thử xem.

Tôi bước vào gặp Trưởng phòng Giám-quản hải-quan.  Hai dãy  ghế xếp trước phòng,  mỗi người cầm xấp  giấy tờ dày cộm thấp hỏm chờ.  Cậu nhân viên của công-ty tôi sốt ruột nhấp nhỏm  nhìn cánh cửa khép kín. Rồi cũng đến phiên gọi tên công- ty  tôi,  tôi và cậu nhân viên  bước vào.  Một người bệ vệ ngồi lút sâu trong ghế bành da,  cắm cúi gạch gạch,  sổ sổ trên xấp giấy trước mắt,   không ngước mặt lên nhìn,   nói như ra lệnh cho cậu nhân viên tôi:

-Anh đưa giấy tờ đây để tôi kí duyệt,   về lo kiểm hóa gấp mới kịp chuyến tàu tối nay.  Còn  phó-giám-đốc công-ty  ngồi đấy chờ tôi làm việc,  về sau.
 
Tôi ngồi xuống chờ,  mấy phút trôi qua.  Ông trưởng phòng ngưng công việc,  nhìn tôi qua đôi kính gọng vàng,   giọng  Bắc chắc nịch ấm và rền:

-Thật sự bác không nhận ra tôi sao?  Ông ta nhíu mày cười thân thiện.

Tôi ngớ người nhìn vào mái tóc dày đậm,  cặp kính gọng vàng sáng bóng trên khuôn mặt phệ.  Nhìn vào cặp mày sậm cắt ngang khuôn mặt và đôi mắt nhỏ hấp háy sau  đôi kính,  tôi mơ hồ nhận ra.

-Em là Lê-viễn-Thông đây mà bác không nhận ra em  sao?

-A,  chú Thông trại heo giống Dak-kô,  tôi mừng rỡ nhận ra gã,   cái anh chàng „‟ nòng nợn nuộc‟‟ ngày nào trên huyện  phố núi heo hút.

 Gã đứng dậy,  cười híp mắt vồ vập ôm lấy tôi,  vỗ đồm độp vào lưng:

 -Ồ , dễ ra đã gần  hai mươi năm rồi bác nhở .

 -Ah ,  a …đúng , gần hai mươi năm rồi chú Thông!

Gã  hể hả nói cười,  gã vui mừng kể lể huyên thuyên,  không đầu,  không đuôi. Nối liền những mảnh rời  khi  vui quá gã  kể  chẳng có  mạch lạc,  tôi được biết sau thời gian tôi  đổi  công tác xa,   thì gã cũng đã đưa gia đình về  tỉnh. Trại heo  ngáp ngáp đâu vài năm sau thì giải thể  vì thua lổ không gượng nổi. Con đường tiến thân  của gã lên vù vù nhờ cái dù ông anh bà chị,  nhờ tài thăm dò ý muốn thượng cấp  và ráp nối các chuổi ân huệ  bất tận.  Đôi bàn tay đen,   thô của gã nắm chặc tay tôi lúc lắc theo nhịp nói vồn vả:

02 May 2014

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn

Thân mẫu đồng môn Cao Minh Tâm
(Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Ban Đốc Sự Khóa 14)

là:

Cụ Bà quả phụ Cao Xuân Thuật
Khuê danh CAO THỊ NGA
Pháp danh Tuệ Thọ

đã từ trần ngày 26 tháng 4 năm 2014 tại Orlando - Florida.
Hưởng đại thọ 99 tuổi.

Xin thành kính chia buồn cùng chị Cao Minh Tâm và tang quyến.
Nguyện cầu Hương linh Cụ Bà Tuệ Thọ CAO THỊ NGA
 sớm được siêu thăng tịnh độ nơi cõi Niết Bàn.

**
Hôi Cựu Sinh Viên QGHC Nam California, Hoa Kỳ
Toàn thể CSV Ban ĐS Khóa 14 ở VN và hải ngoại

Ngày 30 tháng 4: Nhớ Đến Những Hy Sinh Không Cần Thiết

Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Otttawa, Canada

Ngày Quốc Hận năm nay 2014, tôi dành thời giờ để tưởng nhớ đến những cuộc chiến xảy ra trên quê hương tôi kể từ năm 1945 đến năm 1975 để nhìn lại lịch sử mong ra rút ra được bài học hữu ích nào đó.

Sau khi chấm dứt thế giới chiến thứ hai, với sự tham dự của các nguyên thủ 3 cường quốc: Stalin (Liên Xô), Roosevelt (Hoa Kỳ) và Churchill (Anh), họp từ ngày 4-11 tháng 2 năm 1945 tại cung điện Livadia gần thành phố Yalta, miền nam Ukraine, để giải quyết những bất đồng giữa ba cường quốc.

Hội nghị Yalta sau Thế chiến thứ 2

Hội nghị Yalta giữa Anh, Nga, Mỹ để giải quyết ba vấn đề căn bản của thế giới:
1. Việc nhanh chóng đánh bại phát xít.
2. Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.
3. Việc phân chia thành quả chiến thắng.
Trong hội nghị lịch sử nầy ba lãnh đạo Anh, Mỹ, Nga đã đồng ý việc trao trả độc lập cho các thuộc địa do một số cường quốc Âu Châu chiếm đóng. Hầu hết các nước thuộc địa được trao trả độc lập một cách êm thấm như Mỹ trả lại Philippines năm 1947, Anh trả Ấn Độ và Pakistan năm 1948. Ở Đông Dương chỉ có Việt Nam là phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu của một thế hệ thanh niên mới có được độc lập. Hãy xem so sánh sau đây để có được đánh giá đúng mức những hy sinh nầy có cần thiết hay không.

Trước năm 1940: Việt Nam là thuộc địa của Pháp và Nam Dương là thuộc địa của Hoà Lan. Cùng là hai thuộc địa của hai nước Châu Âu, nhưng Nam Dương tốn rất ít xương máu mà vẫn có được độc lập, còn Việt Nam hy sinh bao nhiêu sinh mạng, tài nguyên quốc gia cũng để có độc lập. Xin nhìn vào bảng so sánh sau đây:
1- Cuối năm 1940: Nhật thắng Pháp tại Lạng Sơn và làm chủ Đông Dương, lúc nầy Pháp chỉ đóng vai trò bù nhìn. Cũng trong cuối năm 1940 Nhựt thắng Hoà Lan và cai trị Nam Dương. Vậy thì cho đến cuối năm 1940 Việt Nam và Nam Dương đều là thuộc địa của Nhật.

2- Ngày 15 tháng 8 năm 1945: sau khi bị hai trái bom nguyên tử, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.

3- Hai ngày sau tức là ngày 17 tháng 8 năm 1945 Nam Dương tuyên bố độc lập, và ông Sukarno làm Tổng Thống.

4- Hai ngày sau nữa, tức ngày 19 tháng 8 năm 1945 Việt Minh cướp chánh quyền tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch nước. (2/9/45).

5- Ngay sau đó Pháp trở lại chiếm Việt Nam và Hoà Lan trở lại tái chiếm Nam Dương.

6- Việt Nam và Nam Dương bắt đầu kháng chiến. Đến giai đoạn nầy thì Việt Nam và Nam Dương giống nhau như hai giọt nước, nhưng sau đó Việt Nam bắt đầu đi vào con đường hủy diệt cả một thế hệ thanh niên và làm điêu tàn đất nước. Xin theo dõi tiếp.
Nam Dương bắt đầu cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1949 thì Mỹ can thiệp và buộc Hoà Lan phải chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho Nam Dương, Hoà Lan yếu thế phải rút quân về nước. Nam Dương kháng chiến chỉ có bốn năm đã giành được độc lập và được Mỹ ủng hộ gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Ngược lại, Việt Nam kháng chiến gian khổ chín năm từ năm 1945 đến 1954 thì đất nước bị chia hai và người cộng sản chỉ chiếm được Miền Bắc và làm cho cả triệu người kinh hãi cộng sản di cư vào Miền Nam. Tại sao lại có sự khác biệt như vậy giữa Việt Nam và Nam Dương?

Câu trả lời thật đơn giản, nhưng gây đau thương quá nhiều cho dân tộc. Vì Nam Dương tranh đấu theo đường lối quốc gia, dân tộc. Đường lối nầy phù hợp với quyền lợi Mỹ, nên Mỹ ủng hộ, do đó cuộc chiến của người Nam Dương ngắn và tiết kiệm biết bao nhiêu xương máu của đồng bào họ, đất nước họ.

Còn Việt Nam kháng chiến theo đường lối cộng sản, xung khắc với quyền lợi Hoa Kỳ, chẳng những Mỹ không giúp người cộng sản đánh Pháp mà còn giúp Pháp đánh họ, do đó cuộc chiến kéo dài chín năm tiêu hao biết bao xương máu của cả một thế hệ trẻ Việt Nam, làm kiệt quệ đất nước, dân chúng đau khổ, cùng cực chín năm trời. (theo ông Hoài Sơn Ung Ngọc Nghiã). Thật đau thương cho thế hệ cha anh chúng tôi hy sinh vô nghĩa cho chủ thuyết cộng sản ngoại lai nầy.

Đó là chưa kể đến cả trăm ngàn nông dân vô tội bị chết oan ức trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất theo lệnh của quan thầy Trung Cộng.

Theo tài liệu thì trong chín năm chống Pháp chỉ riêng với trận Điện Biên Phủ (ĐBP), người cộng sản đã bắt ép 260,000 dân đi làm dân công chiến trường và “động viên” được 20,911 người đi kéo xe thồ chở lương thực cho bộ đội. Họ bị thiệt hại 4,020 người theo hồ sơ quân y của Việt Nam, 9.691 người bị thương, và 792 mất tích. Và trong trận ĐBP họ cũng “sáng tạo” được bốn tên anh hùng Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện, Trần Can. Thảm thương nhất cho Đại Đội 360, sau khi hành quân xong chỉ còn vỏn vẹn 5 người. (theo Wikipedia). Đó là con số do Hà Nội đưa ra, thường khác xa với thực tế từ 5 đến 10 lần. Thí dụ Phạm Văn Đồng tuyên bố tại Paris năm 1982 rằng có khoảng 100 ngàn sĩ quan và viên chức VNCH được tập trung cải tạo, nhưng trên thực tế gần 1 triệu người bị giam cầm trong các trại lao động khổ sai.

Tóm lại, nếu người cộng sản kháng chiến theo đường lối quốc gia dân tộc thì Việt Nam có thể đã độc lập từ năm 1949 như Nam Dương, và sẽ không có cuộc phân chia Nam Bắc năm 1954 mà hậu quả dẫn đến cuộc chiến tàn khốc từ năm 1954 đến 1975. Và sau đây tôi xin trình bày thêm hậu quả của cuộc xâm lược phương Bắc và sự tự vệ của người lính Việt Nam Cộng Hoà miền Nam.

Sau chiến thắng “thần thánh” ĐBP họ lại ký hiệp định Geneve với Pháp để chia đôi Việt Nam. Đại diện phái đoàn VNDCCH do ông Nguyễn Trung Vinh đã vui mừng ký hiệp định và coi đó là một chiến thắng của Hà Nội. Trái lại, phái đoàn Miền Nam do bác sĩ Trần văn Đỗ đã khóc khi ký tên vào hiệp định. Bác sĩ Đỗ có lẽ nghĩ rằng ngày ký lại một lần nữa là ngày bắt đầu sự đau thương mới cho dân tộc, cho cả hai miền đất nước.

Hiệp định Geneve vừa ký, người cộng sản phải tập kết về Miền Bắc để chờ cuộc Tổng Tuyển Cử thống nhất đất nước theo hiệp định, nhưng ngay khi chiếc tàu chở người tập kết rời bến sông Ông Đốc, Cà Mau năm 1954, Lê Duẩn lén trốn ở lại cùng với quân trang, quân dụng họ chôn dấu để thực hiện cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam. Họ thực hiện cuộc chiến không phải vì tổ quốc, dân tộc Việt Nam, mà vì quốc tế vô sản, họ chiến đấu cho Liên Xô, Trung Cộng. Chính Hồ Chí Minh, Lê Duẩn tuyên bố như vậy. Vì vậy họ không hề thương xót máu xương dân tộc Việt, họ đánh cho tới người Việt Nam cuối cùng để tỏ lòng trung thành với quan thầy của họ.

Chỉ nhìn sơ lược cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 với những trận đánh điển hình, vang dội như:

1. Trận Tết Mậu Thân:

Theo Đại Tướng cộng sản Phạm Văn Trà nói; “Tiểu đoàn chúng tôi ngày xuất quân với 7 đại đội đủ quân, xấp xỉ một ngàn tay súng, sau khi kết thúc đợt 1, chỉ còn trên một trăm cán bộ, chiến sĩ. Có tiểu đoàn khi đánh vào Cần Thơ bộ đội ngồi chật cả trăm xuồng, khi ra chỉ còn vài chục chiếc, mỗi chiếc chở vài anh em” (bên Thắng Cuộc, Huy Đức). Ông Võ Văn Kiệt có mặt gần đình Bình Đông, quận Tám nói: “những người trực tiếp ở chiến trường như ông phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn, lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc. Hơn 11 vạn quân (110,000) giải phóng đã hy sinh trên toàn chiến trường, còn thương vong của dân chúng thì không thể nào tính được” (Bên Thắng Cuộc, Huy Đức).

2. Mùa Hè Đỏ Lửa

Chiến dịch Xuân hè 1972 xảy ra trên 3 mặt trận chính:

Mặt trận Trị Thiên Huế (Vùng 1 chiến thuật), ở hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế (từ 30/3 tới 31/1/1973) với 40.000 quân chính quy miền Bắc. Trong tháng 4 và 5/72, hai Sư đoàn 320 và 325 từ miền Bắc tiến xuống và Sư đoàn 312 từ Lào về tăng cường tấn công Cam Lộ, La Vang, Hải Lăng và thành phố Quảng Trị.

Mặt trận Bắc Tây Nguyên (từ 30/3 đến 5/6/1972) tại Đăk Tô, Tân Cảnh, Kon Tum có 20.000 quân.

Mặt trận Lộc Ninh, Bình Long và dọc đường 13, có 30.000-40.000 quân.

3 Sư đoàn 304, 308, 324, Mặt trận B5 (4 trung đoàn), 1 trung đoàn hỏa tiễn, 4 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn chiến xa và 2 trung đoàn biệt lập địa phương.

Cùng với 150.000 tay súng của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và Sư đoàn 324B của cộng sản.

Kết quả, sau khi đã sử dụng 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập (gần như toàn bộ quân đội của mình) cho cuộc tấn công, đã chịu thương vong khoảng 100.000 người (Hoa Kỳ ước tính), mất hầu hết số xe tăng (58 xe tăng T-54, 18 xe tăng T-59 do Trung Quốc chế tạo, 27 xe tăng lội nước hạng nhẹ PT-76 do Ba Lan chế tạo, cùng với hơn 700 xe tăng, xe thiết giáp các loại. (theo Wilipedia)

3. Trận Chiến 30/4/75:

Nhà báo Pháp Pierre Darcourt viết về những ngày giờ cuối của Việt Nam Cộng Hoà: Tận Mắt coi Trận Bom CBU 55 Lần Thứ 2: “Hai, rồi bốn, rồi sáu chiến đấu cơ A.37 đâm bổ xuống tác xạ từ phía sau của đoàn xe gây nhiều đám cháy, lửa khói mịt mù. Vài giây sau đó lại có hai chiếc vận tải cơ C.130 thả xuống từ trên cao hai thùng tròn đen, có dù, và khi gần chạm đất gây ra hai tiếng nổ thật kinh khủng và phi thường, tiếp theo sau đó là hai lằn ánh sáng ngắn màu xanh kỳ dị. Trọn một binh đoàn Bắc Việt với chiến xa đại pháo bị huỷ diệt chỉ trong một nháy mắt…”

Tổn thất chung:

1. Người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Nam Hàn bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.

2. Quân đội cộng sản Việt Nam và cái gọi là Quân Giải Phóng Miền Nam.
Số liệu chính thức về thương vong của phía cộng sản được chính thức công bố gần đây nhất là:

1,1 triệu quân nhân chết, trong số đó có 300.000 quân nhân vẫn mất tích (chưa tìm được xác)

600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh. (theo Wikipedia)

3 .Quân lực Việt Nam Cộng Hòa:

Khoảng 250.000-316.000 tử trận hoặc mất tích. Khoảng 1.170.000 bị thương.

Con số 220.357 tử trận được Lewy dẫn từ tài liệu lưu trữ của Bộ Quốc Phòng Mỹ, tính từ năm 1965 đến năm 1974. Cộng thêm con số tử trận trong giai đoạn 1974-1975 và trước đó cho ra ước tính khoảng hơn 250.000 tử trận. Nhà sử học R.J. Rummel đưa ra con số ước tính cao nhất có thể lên tới 316.000 tử trận.

Quân đội và nhân dân hai miền Nam Bắc là dân tộc Việt. Máu xương của quân đội hai miền là máu xương của con dân Việt. Người cộng sản chỉ vì tuân lệnh Liên Xô, Trung Cộng để làm nghĩa vụ quốc tế vô sản mà dân tộc mất cả núi xương, sông máu, hủy diệt tài nguyên đất nước, làm tan nát quê hương, đất nước nghèo nàn, tụt hậu.

Nếu Việt Nam không có đại hoạ cộng sản thì ta chắc chắn không kém gì Thái Lan, Nam Hàn. Thêm một thế hệ Việt Nam hy sinh cho chủ thuyết cộng sản ngoại lai một cách đau thương và không cần thiết.

Đó là những tổn thất vô cùng lớn lao cho cả hai thế hệ thanh niên, làm mất đi không biết bao nhiêu tài nguyên của đất nước.  Nhưng điều quan trọng nhất là nếu đảng cộng sản Việt nam vẫn tiếp tục tồn tại, nó sẽ còn góp phần cản trở sự phát triển của quốc gia và đất nước sẽ lâm nguy trước hiểm hoạ bành trướng của Trung cộng.

Vì vậy, với tư cách là một Thượng Nghị Sĩ Canada gốc Việt Nam, tôi yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội thực hiện những điểm cốt yếu sau đây:
1-   Thả ngay lập tức, vô điều kiện những tù nhân lương tâm, những tù nhân chánh trị, và giải tỏa tất cả mọi sự quản thúc tại gia đối với những nhân vật bất đồng chánh kiến và tôn giáo.

2-    Thành tâm thực hiện Hoà Giải Hoà Hợp dân tộc, không dùng chiêu bài HHHG, hay chỉ có Hoà Hợp mà thôi, để hoá giải những lỗi lầm mà họ đã gây ra trong quá khứ.  HGHH với người dân trong nước trước vì họ là nạn nhân hiện tại của chế độ.  Nếu đồng bào trong nước chấp nhận, sẽ thực hiện với kiều bào hải ngoại.  Những tội phạm chiến tranh phải đem ra xét xử trước công lý và những nạn nhân phải được bồi thường thỏa đáng là những bước đầu để hòa giải.

3-    Phải minh định bằng luật và thực hiện đầy đủ rằng mọi người được hưởng quyền làm người đã ghi trong bản Tuyên  Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

4-    Phải chấp nhận, tôn trọng đa đảng trong sinh hoạt chánh trị.

5-    Phải bảo đảm bằng pháp luật là mọi người dân có quyền tư hữu, được sở hữu ngôi nhà, mảnh đất, miếng ruộng, tài sản của họ, kể cả tài sản trí tuệ.

6-    Phi đảng hóa trong bộ máy công quyền kể cả quân đội, cảnh sát và công an.
Tôi tin tưởng mãnh liệt rằng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với nhân lực dồi dào và trẻ, với bản tính cần cù, nhẫn nại, cộng thêm nguồn năng lực trí tuệ trẻ ở hải ngoại, chừng 20 năm con rồng Việt Nam sẽ cất cánh bay lên ngang hàng cùng Thái Lan, Đài Loan, có thể gần bằng Nam Hàn, Singapore, và sẽ không hề thua kém họ.

Và bản thân tôi cũng có trách nhiệm với đất nước, dân tộc tôi.  Chừng nào tôi còn là Thượng Nghị Sĩ, tôi sẽ vận động chánh quyền Canada giúp đỡ phát triển, đầu tư vào Việt Nam, tôi sẽ xin những nước chủ nợ xoá, giảm nợ và hỗ trợ Việt Nam trong những kế hoạch kinh tế lớn của họ.  Điều nầy chỉ xảy ra khi người dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do, dân chủ và nhân quyền.

Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Otttawa, Canada

Cựu sinh viên Học Viện QGHC tham dự Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận

Nhân mùa quốc hận năm nay, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California (Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa chủ tịch) đã phối hợp với các đoàn thể, hội đoàn, tôn giáo, sinh viên thực hiện một chuỗi sinh hoạt rất thành công, trong đó  có Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận Lần Thứ 39 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ,  Westminster, California.

 Các bô lão đang dâng hương trước bàn thờ Tổ  Quốc và các anh hùng vị quốc vong thân.

Trong số 33 vòng hoa được ghi danh để Tri Ân và Tưởng Niệm Quân Dân Cán Chính đã vị quốc vong thân cho lý tưởng Tự Do,  có vòng hoa của Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Nam California do đồng môn đương kim chủ tịch Trần Ngọc Thiệu và phái đoàn dâng lên lễ đài.





Hai đồng môn Dương Văn Dung và Cao Xuân Thức, chụp bên cạnh vòng hoa Dân Vận-Chiêu Hồi.


Các em bé đã bắt đầu mục văn nghê đấu tranh với nhạc bản “Anh Là Ai ?” của nhạc sĩ  Viêt  Khang, được vỗ tay vang dôi và  ngươi tham dư không dấu đươc xúc  đông.

Rất nhiều đoàn văn nghệ tình nguyện hát những nhạc bản đấu tranh, như Đoàn Tình Nghệ Sĩ, Đoàn Tù Ca Xuân Điềm, Đoàn Nữ Trung Học Trưng Vương…

(Tin từ đồng môn CXT)

01 May 2014

30/4: 'Quốc gia thua để thắng, CS thắng để thua'

Thực tế đã ngày một khẳng định ngày 30-4-1975 chỉ là khởi điểm một quá trình đưa CSVN đến sự tiêu vong về bản thể, để hình thành một chế độ dân chủ mai hậu tại Việt Nam theo chiều hướng mới KHÔNG THỂ ÐẢO NGƯỢC: Dân chủ tất thắng độc tài.
Nhận định có tính tiên liệu của hai ngoại nhân: Một là Tướng độc nhãn Moshe Dayan, Bộ Trưởng Do Thái lúc bấy giờ khi đến thăm Miền Nam; hai là Sir Wilson. một chuyên viên Anh quốc làm cố vấn về du kích chiến cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam; Cả hai ngoại nhân này đều có chung nhận định đại ý  “Muốn chiến thắng cộng sản tại Việt Nam, chỉ còn cách cộng sản hoá Nam Việt Nam”
Thiện Ý

Ðúng 39 năm trước đây (1975-2014), ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng giai đoạn 2 tại Việt Nam đã chấm dứt sau 21 năm diễn biến khốc liệt (1954-1975).
   
Sau cuộc chiến, đã có nhiều cách lý giải và đánh giá về sự kết thúc chiến tranh Việt Nam một cách không bình thường. Riêng chúng tôi, nhân ngày 30 tháng 4  lần thứ 39 hôm nay, chỉ xin nhắc lại một cách đánh giá tổng quát đã được đưa ra chỉ vài năm sau cuộc chiến chấm dứt (1), để quý độc giả cảm nghiệm xem có đúng với những gì đã và đang xây ra trên thực tế hay không. Ðó là ý nghĩa lịch sử về Ngày 30-4-1975: “Quốc gia thua để thắng, Cộng sản thắng để thua”. Vì sao?
       
Vì CSVN vốn là công cụ bành trướng chủ nghĩa thực dân mới của Ðế quốc Ðỏ Liên Xô trong thời kỳ “Chiến tranh Ý thức hệ” diễn ra dưới hai hình thái “Chiến tranh Lạnh” giữa các nước giầu và “Chiến tranh Nóng” nơi một số các nước nghèo, trong đó có Việt Nam được chọn làm tiền đồn của hai phe tư bản và cộng sản. Do đó ý đồ và mục tiêu của đảng CSVN không thể khác ý đồ và mục tiêu của đảng Cộng Sản Liên Xô (CSLX). Như vậy, thực tế sau ngày 30-4-1975, nếu là một “Chiến thắng thật”, tình hình Việt Nam phải khác, nghĩa là CSVN phải được Liên Xô và các nước “Xã Hội Chủ Nghĩa anh em” hổ trợ tích cực, toàn diện và vô điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại thuộc địa kiểu mới Việt Nam, phát huy thắng lợi để tiếp tục đẩy mạnh “Chiến tranh Cách mạng”, “Chiến tranh Giải phóng” đến các nước trong vùng như Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Ðiện, Malaysia, Philippines, v.v...Thế nhưng thực tế hoàn toàn khác: Tất cả những điều đáng lẽ phải xẩy ra đó đã không xẩy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.

Hiểu Xuân Túy Bút

Gửi Các Bạn tôi  ở đây hay ngoài dặm xa... Ta còn đây, rượu nửa chai, Thì thôi say hộ người ngoài chân mây. Xuân Cali, lạnh mưa bay, Uống, s...