16 December 2025

TRUNG CỘNG BỊ CA SĨ TRẺ NHẬT BẢN AYUMI HAMASAKI ĐÁNH BẠI

Tác giả: NHAN THUẦN CÂU 

Trên mạng xã hội, nhiều thông tin nội bộ lan truyền cho biết Ayumi Hamasaki và ê-kíp lựa chọn cách tri ân người hâm mộ bằng việc trình diễn đủ tiết mục rồi ghi lại toàn bộ chương trình. Bản ghi này dự kiến sẽ được phát hành vào thời điểm thích hợp để bù đắp cho những khán giả đã chờ đợi.

Dưới đây là bài viết của nhà bình luận Nhan Thuần Câu về sự kiện trên:

Vài ngày trước, buổi biểu diễn của nữ ca sĩ Nhật Bản Hamasaki Ayumi tại Thượng Hải bị nhà chức trách Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) yêu cầu dừng lại. Đây là hành vi của nhà nước theo đúng nghĩa, đối với người trong cuộc thì đó là điều “bất khả kháng”.

Lẽ ra Hamasaki Ayumi chỉ có thể ngậm một bụng bực bội mà thu dọn đồ đạc trở về nước cho xong, nhưng nữ ca sĩ này lại khiến mọi người bất ngờ: Cô đứng trước một sân khấu hoàn toàn trống khán giả, và trình diễn toàn bộ chương trình từ đầu đến cuối.

Đây thực sự là một buổi biểu diễn “vô tiền khoáng hậu” xưa nay chưa từng có trong lịch sử. Hamasaki Ayumi sẽ vì buổi biểu diễn này mà được ghi danh vào sử sách.

Với tuổi tác của tôi, Hamasaki Ayumi đương nhiên không phải thần tượng của tôi. Lần đầu đọc tin, tôi chỉ thấy buồn cười, cảm thấy cô gái nhỏ này thật thú vị, coi một lệnh cấm như một trò đùa. Nhưng nghĩ sâu hơn, tôi lại khâm phục; trong chuyện này có hàm ý lớn, cô gái nhỏ ấy không hề đơn giản.

Trước hết, đây là sự thể hiện ý thức về quyền lợi. Địa điểm là do cô thuê, cô đã trả tiền. ĐCSTQ có quyền cấm khán giả vào, nhưng không có quyền cấm cô sử dụng địa điểm. Còn việc cô hát trước một sân khấu trống, chỉ cần cô thích, cô không ngại vất vả, thì cô có quyền làm như vậy. Điểm này ĐCSTQ hoàn toàn không có cách nào can thiệp.

Tiếp theo, đây là cách cô nhẹ nhàng bày tỏ lời xin lỗi với người hâm mộ Trung Quốc. Sự việc không bắt nguồn từ cô, nhưng cô cảm thấy có lỗi với khán giả Trung Quốc. Cô không nghĩ ra cách nào tốt hơn, nên cuối cùng đã chọn hát trọn vẹn một buổi trước sân khấu trống để bù đắp phần nào sự áy náy với người hâm mộ.

Thứ ba, đây là sự kiên trì với tinh thần hợp đồng. Nghe nói, những ca sĩ tầm cỡ như cô, sau khi ký hợp đồng thì thù lao đã được thanh toán đầy đủ. Sự cố không do cô gây ra, nhà tổ chức cũng không thể trách cô. Nhưng suy cho cùng, cô là một bên trong hợp đồng, cô có nghĩa vụ thực hiện. Việc hát trước sân khấu trống có thể xem là hai bên không ai nợ ai, và cô cũng có thể an tâm trở về.

Ngoài ra, hành động này cũng là một lời đáp trả mạnh mẽ đối với thủ đoạn chuyên chế của ĐCSTQ. Bạn có quyền lực, tôi không thể chống lại, nhưng tôi dùng cách thức này để thể hiện sự phản đối một cách khéo léo, cho bạn hiểu rằng tôi sẽ không nuốt trôi sự áp bức, mà còn muốn khiến cả thế giới ghi nhớ rằng ĐCSTQ chính là kẻ dùng những thủ đoạn man rợ như vậy để tước đoạt tự do của người dân Trung Quốc.

Cuối cùng, đây là một cú lật ngược đầy chiến lược, biến bị động thành chủ động, biến sự sỉ nhục và bị tổn hại thành một cú đấm mạnh mẽ thẳng vào mặt Tập Cận Bình. Tập Cận Bình không thể lên tiếng, chỉ có thể nuốt giận vào trong, còn Hamasaki Ayumi thì chỉ nhẹ nhàng phủi áo, khẽ vén tóc, mỉm cười tao nhã rồi quay lưng rời đi!

Người xưa Trung Quốc nói: “Lấy lớn đối nhỏ thì dùng nhân; lấy nhỏ đối lớn thì dùng trí.” Kẻ mạnh đối với kẻ yếu phải nói đến nhân nghĩa; người yếu đối với kẻ mạnh phải dùng mưu trí. ĐCSTQ không có thói quen nói nhân nghĩa, nhưng Hamasaki Ayumi lại dùng hành động của mình để giảng giải thế nào là mưu trí.

Người hâm mộ Trung Quốc thông qua hành động bất ngờ này của cô, đã nhận được trọn vẹn lời xin lỗi, cũng cảm nhận được lời trách móc hàm ý của cô. Người hâm mộ Trung Quốc sẽ ghi nhớ sự thiện lương và thông minh của cô, cũng sẽ ghi nhớ sự quan tâm và lời chúc phúc mà cô dành cho họ.

Còn ĐCSTQ, kẻ ra lệnh cấm, cũng sẽ cảm nhận được nỗi đau của “cái đinh mềm” mà cô đặt ra, nhận lấy sự khinh bỉ và trách móc không cần nói thành lời của cô. Đồng thời, sự khinh thường và bất mãn của dân chúng Trung Quốc đối với chính quyền sẽ đổ lên đầu ĐCSTQ từ mọi phía.

Tin tức chắc chắn lan khắp thế giới, từ các quốc gia dân chủ tiên tiến đến các nước đang phát triển chính trực, không một dân tộc bình thường nào tán đồng sự bá đạo của ĐCSTQ. Từ giờ trở đi, sự thô bạo và ngang ngược của ĐCSTQ sẽ là điều mà ai cũng đều biết.

Vì thế, nếu nói rằng sự việc này khiến “đường đường mộtchính quyền Trung Quốc” bị một người phụ nữ Nhật Bản đánh bại, thì cũng không hề quá lời. Chuyện xấu truyền đi ngàn dặm, Tập Cận Bình vì thế càng lộ rõ bản chất độc tài, từ đó giá trị quốc gia của ĐCSTQ cũng rách nát, họ sẽ bị kéo lên bục xét xử của lịch sử văn minh nhân loại.

Tại sao khi bị cường quyền áp bức, Hamasaki Ayumi lại nghĩ ra được chiêu thức đầy trí tuệ như vậy? Đương nhiên có liên quan đến việc cô là người Nhật, có liên quan đến đạo đức được người Nhật truyền từ đời này sang đời khác, cũng liên quan đến việc Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây tiến bộ.

Ngược lại, giả sử có ca sĩ Trung Quốc sang Nhật biểu diễn, và giả sử Chính phủ Nhật cũng cấm diễn (điều này hoàn toàn chỉ là giả thuyết, vì không bao giờ xảy ra), thì liệu ca sĩ Trung Quốc đó có dùng cách hát sân khấu trống để đáp trả hay không?

Tôi tin là rất khó. Ca sĩ Trung Quốc không có lòng can đảm và sự khôn khéo như vậy, phần lớn sẽ chọn trốn tránh cho xong, để khỏi phiền phức. Thái độ nghiêm túc của người Nhật đối với mọi việc, sự tinh tế và chu đáo trong cách họ xử lý quan hệ giữa người với người, sự kiên định trong niềm tin cá nhân và phẩm cách, tất cả những điều này khiến họ không bao giờ làm qua loa.

Nói cách khác, nếu sự việc xảy ra với một ca sĩ Nhật khác, họ cũng sẽ kiên trì giữ lập trường. Còn việc có hát sân khấu trống hay không thì chỉ tùy vào việc họ có nghĩ ra ý tưởng này hay không.

Ban đầu, ý đồ của ĐCSTQ là dùng thủ đoạn thô bạo để thể hiện sự bất mãn trước việc Chính phủ Nhật can dự vấn đề Đài Loan, qua đó trút giận. Nhưng Chính phủ Nhật là Chính phủ Nhật, còn Hamasaki Ayumi chỉ là một công dân Nhật, và một công dân không có nghĩa vụ phải “gánh trách nhiệm” cho chính phủ của mình.

ĐCSTQ hoàn toàn không có lý do dùng buổi biểu diễn của Hamasaki Ayumi làm công cụ để trả đũa. Nhưng vì sự hẹp hòi và tối tăm, ĐCSTQ vẫn dùng thủ đoạn hạ đẳng này để trút cơn tức vô cớ.

Tiếc rằng chiêu này của ĐCSTQ đang tự vả vào mặt mình. Kết quả ra sao? Hamasaki Ayumi chẳng hề hấn gì, đã nhận đủ thù lao, còn hát một buổi sân khấu trống để tri ân người hâm mộ, lễ phép chào tạm biệt Trung Quốc, để lại một chủ đề ngàn năm, lan truyền khắp thế giới.

Còn điều mà ĐCSTQ thu được lại hoàn toàn trái ngược với mục đích ban đầu: Muốn dương oai nhưng thành mất mặt, muốn làm ác nhưng lại phải nuốt hận.

Dù tôi không còn là người Trung Quốc dưới sự cai trị của ĐCSTQ, nhưng mang dòng máu Trung Hoa, tôi vẫn cảm thấy xấu hổ đến tận xương tủy. Tôi cảm thấy mất mặt vì có một cố quốc như vậy.

ĐCSTQ hành ác không biết điểm dừng, liên tục phơi bày sự vô giáo dục và bóng tối tách rời với văn minh nhân loại. Người Trung Quốc muốn gột rửa sự nhục nhã dân tộc, chỉ có cách duy nhất: đoàn kết lật đổ sự thống trị tàn bạo của ĐCSTQ, khôi phục danh tiếng trong sạch và chính trực cho đất nước mình.

Nhan Thuần Câu
(Bài viết , bản gốc tiếng Trung Hoa được đăng trên trang Facebook của tác giả) 
via "Diễn Đàn Nhân Bản"

14 December 2025

Thơ Mùa Đông

 

Chiều trên cánh đồng mùa đông

Chiều đông , trời đầy sương tuyết 
Tuyết đóng trên đường, tuyết quánh trên cây
Gía lạnh về khắp đó đây
Đồi thông nặng tiếng buồn vi vút vọng .

Ta trông trời hiu quạnh vắng
Chặng đường mòn tuyết trắng giải triền thương
Nước đóng khung, sương gía lạnh
Cây đứng trơ mình xe lọn vấn vương .

Buồn trông xa cuối nẻo đường
Làn băng đong dấu chân người qua lại
Lối mù giăng chắn liếp thương
Ta ngồi đây trông vời đông nối mộng .

Bao năm qua, bao hy vọng
Đến bên đời như một chiếc que diêm
Để từng đêm, để từng đêm
Trong đôi mắt vời niềm đau khắc khoải .

Đông nay về trong trống trải
Cánh đồng chiều rải trắng lối yêu thương .

Võ Ngô
____Comment:

Bài thơ LẠ. LẠ ở cách gieo vần. LẠ theo nghĩa của Cách Tân. Lục bát nhưng không phải Lục bát (quen thuộc) của Nguyễn Du trong Kiều, của Bùi Giáng trong Mưa Nguồn, chẳng hạn.
Đọc, tuy có nhiều câu, chữ hoặc vần điệu hơi CỨNG, nhưng là một thứ cứng ... LẠ. Có thể xem là một nỗ lực làm mới thơ Việt.
Đáng trân trọng !
Như-Hoàng

12 December 2025

TRUMP MUỐN XÓA SỔ CHÂU ÂU và Sự Cáo Chung Của Thế Giới Đại Tây Dương

Bản di chúc của một lục địa đang bị bỏ rơi
– nhìn từ một người đã sống gần 40 năm ở châu Âu.

Tác giả: NGUYỄN QUỐC BẢO

Tôi sống gần bốn mươi năm ở châu Âu. Tôi đã chứng kiến một lục địa đi từ tự tin đến hồ nghi, từ thịnh vượng đến mệt mỏi, từ vai trò trung tâm của phương Tây đến vị trí bị chính đồng minh quan trọng nhất xem là gánh nặng. Khi Donald Trump công bố “Chiến lược An ninh Quốc gia” mới, loại châu Âu khỏi tâm điểm chiến lược của Mỹ, điều đó không chỉ là sự thay đổi chính sách. Nó là dấu ấn cho sự cáo chung của toàn bộ trật tự Đại Tây Dương — một trật tự đã định hình thế giới suốt bảy thập niên.

Trump không phá châu Âu; ông chỉ nói thẳng điều mà Washington đã nghĩ từ lâu: châu Âu đã tự đánh mất sức mạnh, ý chí và tương lai của chính mình. Nga không cần chiến thắng; chỉ cần Mỹ rời đi là đủ. Và khi Mỹ rút lại lịch sử, châu Âu buộc phải đối diện với câu hỏi mà gần 40 năm sống ở đây khiến tôi day dứt nhất:

Không có Mỹ, châu Âu là gì trong thế kỷ XXI?

1
KHI MỘT LỤC ĐỊA NGHE TIẾNG XOÁ SỔ TỪ BÊN KIA ĐẠI TÂY DƯƠNG

Đến những khoảnh khắc trong lịch sử mà một lục địa bỗng nghe thấy tiếng gọi của sự cáo chung, không phải từ kẻ thù ở biên giới, không phải từ những đoàn xe tăng trườn qua đồng cỏ, mà từ một đồng minh từng được xem là trụ cột cho sự tồn tại của mình. Châu Âu đã trải qua nhiều thế kỷ như thế, những năm đen tối thời Hitler, địa ngục Verdun, bóng ma Mussolini, sự sụp đổ của Áo-Hung, chiến tranh Balkan, nhưng trong tất cả những biến cố đó, họ chưa bao giờ phải nghe câu nói này từ Washington: “Châu Âu đang đi sai đường. Và chúng tôi không muốn lục địa ấy thay đổi nữa.”

Câu nói của Trump, lửng lơ, như một lời răn, như một bản cáo phó đọc sớm. Nhưng sâu hơn, nó không chỉ là một lời cảnh báo. Nó là dấu hiệu của một quyết tâm âm thầm đang định hình cả thế kỷ XXI, Hoa Kỳ muốn cắt dây với châu Âu. Không chỉ tạm thời, mà cấu trúc. Không chỉ chiến lược, mà bản thể.

Châu Âu từng là cái nôi văn minh của Mỹ; giờ đây Mỹ muốn rũ bỏ châu Âu như một kẻ nợ đời, như một gánh nặng văn hóa và đạo đức, như một lục địa đã quên cách tự vệ, đã quên cách sinh sản, đã quên chính mình. Từ khi nào lịch sử có thể quay đầu nhanh đến vậy? Từ khi nào những giá trị chung của Tây phương — dân chủ, tự do, lý tính — lại trở thành gánh nặng bị chính nước Mỹ coi là bệnh lý?

Khi Trump ký vào “New National Security Strategy” mới, đó không còn là một văn bản kỹ thuật. Nó là một bản tuyên ngôn triết học, đầy hằn học và chủ ý, một tuyên bố, kỷ nguyên Đại Tây Dương đã kết thúc. Châu Âu — cái nôi của Khai sáng — giờ chỉ còn là một vật trang trí cũ, được giữ lại trên kệ chỉ vì lịch sử chưa quyết định dọn dẹp.

Nếu nhìn lịch sử rộng hơn, người ta sẽ thấy Trump không phải một hiện tượng lẻ. Ông chỉ là tiếng nói dữ dội nhất của một chuyển dịch thầm lặng đã diễn ra hơn ba thập niên, sự mệt mỏi của Mỹ đối với vai trò “bảo mẫu toàn cầu”. Sau năm 1945, Mỹ xem mình là kiến trúc sư của trật tự thế giới, còn châu Âu là đứa con trưởng thành nhưng yếu đuối, cần được che chở. Nhưng từ Afghanistan đến Iraq, từ gánh nặng NATO đến khủng hoảng người tị nạn, Mỹ dần hiểu châu Âu không chỉ là một đối tác, mà là một gánh nặng chiến lược: già nua, chia rẽ, thiếu khả năng quân sự, thiếu ý chí phòng thủ, và ngày càng theo đuổi một thứ đạo đức siêu hình mà Washington coi là xa rời thực tế.

Trong mắt Trump, và cả một phần lớn tầng lớp chiến lược gia Mỹ, châu Âu không còn là trung tâm của thế giới, mà chỉ là một bán đảo địa chính trị nằm vắt vẻo giữa Nga và Đại Tây Dương. Người ta không còn nhìn Paris, Berlin hay Rome như những thủ phủ quyền lực, mà như những thành phố bảo tàng, đẹp nhưng suy tàn, giống một tấm postcard màu trầm phai, mang theo quá nhiều ký ức và quá ít nghị lực.

Khi Trump nói “châu Âu phải coi chừng”, ông không nói về kinh tế, cũng không nói về văn hóa. Ông đang nói về sự sống còn. Điều khiến các thủ đô châu Âu bàng hoàng không phải giọng điệu của ông, mà là sự thật nghiệt ngã, Hoa Kỳ không còn muốn bảo vệ châu Âu khỏi Nga. Thậm chí, trong tài liệu chiến lược mới, Nga không còn được xếp vào nhóm “đối thủ”.

Với Mỹ dưới thời Trump, Nga không phải mối đe dọa. Nga là một thực thể to lớn nhưng vô hại, một đế chế cũ đang cố níu lại bóng dáng của mình bằng những chiến thuật vụn vặt. Mối đe dọa — theo Trump — lại nằm ở châu Âu, một lục địa mà ông xem là tự hủy, tự hoại, và để nhập cư, dân số, ý thức hệ “tiến bộ” làm biến đổi nền tảng dân chủ.

Trong khung nhìn đó, Nga đột nhiên trở thành một người “hiền lành”, một nạn nhân của “sự kiêu ngạo châu Âu”. Và Trump đã làm điều mà Nga mơ suốt nhiều thập niên: xoá bỏ sự đồng thuận rằng Nga là mối đe dọa số 1 của phương Tây. Chỉ trong một văn bản ba mươi trang, ông đã làm thay đổi 70 năm chiến lược an ninh.

Không có phát súng nào nổ, nhưng cả một trật tự sụp đổ trong im lặng.

Châu Âu hiểu ngay lập tức đây không phải là sự thay đổi ngẫu hứng. Đây là bước đầu tiên của chiến lược “xoá sổ châu Âu” mà Washington muốn thực hiện, không phải bằng bom đạn, mà bằng cách cắt bỏ sự bảo trợ. Một châu Âu không có Mỹ là một châu Âu buộc phải đối diện với Nga mà không có ô dù, buộc phải tự phòng vệ mà không có công nghệ, buộc phải quyết định vận mệnh mà không có tấm khiên.

Và chính lúc ấy, Kremlin mỉm cười.

Không phải nụ cười kiêu ngạo, mà là nụ cười của kẻ đã đợi ngày này suốt nhiều thập niên. Nga hiểu rất rõ, một châu Âu không có Mỹ là một châu Âu không biết làm gì. Một con thú lớn nhưng đã già, mất răng, mất móng. Một lục địa của nguyên tắc, của luật pháp, của điều lệ, nhưng không còn sức mạnh thô. Và Putin hiểu sâu hơn nữa:, châu Âu — khi bị bỏ lại một mình — sẽ sụp đổ vào chính những đường nứt bên trong nó.

Những đường nứt ấy không phải mới xuất hiện. Chúng nằm trong cấu trúc của Liên minh châu Âu: Đức và Pháp không còn chung tầm nhìn; Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha mang những vết thương nợ nần và dân túy; các nước Baltic lo sợ Nga; Hungary và Slovakia nghiêng về Moscow; Ba Lan nghiêng về Washington; và toàn bộ lục địa thì bị chia đôi giữa “mở cửa” và “đóng cửa”, giữa “giá trị” và “bản sắc”.

Với chỉ một văn bản chiến lược, Trump không chỉ làm lung lay NATO; ông kích hoạt quá trình phân rã sâu hơn của châu Âu.

Có một sự thật mà không ai ở Brussels muốn thừa nhận, châu Âu chưa bao giờ tự đứng được. Từ năm 1945, châu Âu được nuôi trong bình yên do Mỹ chi trả, lớn lên trong trật tự Mỹ dựng, và trở thành cường quốc kinh tế dưới ô bảo hộ Mỹ. Châu Âu là đứa trẻ được nuôi lớn trong hòa bình, và vì điều đó, châu Âu không còn nhớ cách tự vệ.

Tệ hơn nữa, châu Âu ngây thơ tin hòa bình là trạng thái mặc định của thế giới. Thương mại sẽ cứu vãn tất cả. Lý trí sẽ vượt qua bạo lực. Một ngày nào đó, Nga sẽ trở thành “đối tác”. Trung Quốc sẽ “hội nhập”. Và Mỹ sẽ luôn ở đó, với tàu chiến, với căn cứ, với ngân sách quốc phòng, để bảo đảm họ ngủ yên.

Trump bóc ra sự ngây thơ đó bằng một câu nói đơn giản: “Không.”

Không — chúng tôi không xem Nga là kẻ thù.

Không — chúng tôi không trả tiền để bảo vệ châu Âu nữa.

Không — chúng tôi không tin EU có thể là đối tác chiến lược.

Không — chúng tôi không muốn lục địa này thay đổi theo hướng mà các người đang đi.

Đây là điều chưa từng có trong lịch sử phương Tây, một tổng thống Mỹ tuyên bố châu Âu là vấn đề, không phải giải pháp.

Và điều đáng sợ nhất cho châu Âu không phải là Mỹ quay lưng, mà là Mỹ đã chọn Nga — không phải chọn làm đồng minh, mà chọn làm “đối trọng mềm”, một đối tác có thể giúp Washington tái thiết thế giới theo kiểu “hai cực mềm” thay vì “đa cực hỗn loạn”.

Nga nhỏ, Nga yếu, Nga già, nhưng Nga mang một lợi thế mà Washington cần: Nga không đe dọa Mỹ. Nga không cạnh tranh kinh tế. Nga không có ý định bá chủ toàn cầu. Nga có thể trở thành đại diện cầm chân châu Âu, để Mỹ rảnh tay hướng về Trung Quốc — đối thủ thật sự.

Trong một thế giới mà Mỹ coi Trung Quốc là kẻ phải đối đầu, châu Âu trở thành kẻ có thể bỏ lại giữa đường. Không phải vì ghét, mà vì vô dụng. Không phải vì thù hận, mà vì không còn giá trị chiến lược.

Từ đó, lời giải thích cho nụ cười của Kremlin trở nên rõ ràng, Nga không cần thắng ở Ukraine; Nga chỉ cần Mỹ bỏ rơi châu Âu. Một khi dòng máu nối Đại Tây Dương bị cắt, châu Âu sẽ tự phân rã, tự tranh cãi, tự trôi về những bản sắc cũ, và cuối cùng tự dẫn mình vào thế yếu nhất trong suốt 70 năm.

Khi đó, Nga không cần đánh; Nga chỉ cần chờ.

Châu Âu sẽ tự tan.

07 December 2025

Vũ Điệu Của Sếu

Từ rất sớm, Âu Châu đã dùng sơn dầu để tô vẽ tượng và chắc hẳn cũng dùng để vẽ. Nhưng phải đợi đến thế kỷ 15 khi Jan van Eyck, người được công nhận là họa sĩ số một của thế kỷ nơi trời Âu, đã sử dụng sơn dầu để vẽ rất chi tiết các bức họa của ông. Sau đó trong thời Phục Hưng tranh sơn dầu nở rộ.

Bên Á Đông chúng ta có lối vẽ màu nước có khi chỉ là đen trắng nhưng gọi chung là thủy mặc. Kỹ thuật này cũng sản sinh nhiều tác phẩm rất đẹp được nhiều người ưa chuộng.

Mỗi lối vẽ có một sắc thái riêng, nhưng sơn dầu thì đặc biệt rất bền. Bây giờ dùng sơn dầu (medium) và kỹ thuật sơn dầu (technique) để diễn tả theo lối thủy mặc xem sao. 

Mời quý anh chị coi cho vui ngày cuối tuần bức tranh "Vũ Điệu Của Sếu" vẽ na ná theo lối thuỷ mặc.

Kính chúc quý đồng môn và thân hữu một tuần lễ an vui.

A.C.La






Vũ Điệu Của Sếu 
(Cranes' Dance)

Oil on canvas
20x30 inch (51x76cm)
by A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh 



Luân Vũ

Vũ điệu ngập ngừng, vũ điệu yêu,
Uyên ương Sếu Trắng dáng thanh, kiêu,
Tung đôi cánh mỏng cùng luân vũ,
Dịu dàng, e ấp chuyện dấu yêu...

Giáng-Hương.

05 December 2025

Tình Yêu, truyện ngắn

Mặc Bích
            
Từ ngày hôm ấy, nhà Hương có thêm một khuôn mặt mới. Đối với tất cả mọi người trong nhà, trừ Hương và cậu con trai lớn, khuôn mặt mới này cũng chỉ như một món đồ vừa được mua về ở tiệm, bầy đó, lấp một khoảng trống nào đó mà thôi. Ai vậy? Một chú két có màu xanh lá cây với những đường viền đỏ cam, vàng rực rỡ với đôi mắt sáng quắc tròn xoe, cái mỏ dài ngoằng hơi khoằm khoằm và một bên bàn chân bị khuyết tật! 
            “Tại sao con lại mua một con két có tật như vậy hả Duy?”
            Đứa con trai lớn của Hương nhún vai cười:
            “Có sao đâu mẹ? Nó vẫn đứng, vẫn bay bình thường như mọi con két khác trong khi nó đẹp nhất trong lồng mà lại rẻ và biết nói sẵn nữa, con khỏi phải “train” nó!”
            Nàng vẫn cứ thắc mắc về một bên ngón chân bị cụt đến gần 2 đốt của con két tên Joshua mà Duy vừa mua về. Hương giao hẹn với con trai:
            “Con chơi, con phải “take care” nó đó!”
            “Mẹ đừng lo! Con lo cho nó mà!”
            “Tại sao con biết là nó biết nói sẵn? Nó nói tiếng gì?”
            “Chủ nó là một bà Mỹ, vậy chắc nó chỉ biết tiếng Mỹ!”
            Duy lại nhìn mẹ cười, nụ cười của cậu thanh niên mới lớn thật tươi và thật dễ mến.
            “Bà ta già phải vào nursing home nên mới gửi tiệm bán. Con mua rẻ lắm!”
            Hương không nói gì mà chỉ lo con két làm bẩn nhà. Duy nhốt Joshua trong phòng ngủ và căn dặn mẹ cùng mọi người trong nhà đừng mở cửa phòng sợ Joshua bay mất. Nhốt nó vào lồng thì nó không chịu, nó sẽ chết! Hương than thầm trong bụng:
            “Tại sao nó không chơi con gì khác cho sạch sẽ, dễ trông coi!” Nên ngay từ phút đầu Joshua có mang lại sự chú ý của Hương nhưng thiện cảm thì không! Nhưng chiều con, nàng cũng không cằn nhằn thêm.

            Bắt đầu từ ngày đó trở đi trong nhà nàng lại có một “tù nhân” là con két xanh tên Joshua. Cửa phòng Duy lúc nào cũng khép trừ lúc có ai trong phòng. Cả nhà cũng chẳng mấy khi thấy mặt con Joshua, nên nó có đó mà cũng như không có. Thỉnh thoảng Hương mới thấy nó kêu chứ chưa hề thấy Joshua nói! Nhiều lần nàng định hỏi con xem con két đã nói những gì rồi thương hại Duy lại thôi.
            Một hôm, Hương mở cửa vào phòng Duy. Con Joshua đang đứng trên thanh gỗ ngang. Đó là một loại chuồng chim nhưng trống cả bốn phía và chỉ đơn sơ có một thanh ngang làm chỗ đứng suốt ngày đêm cho Joshua, hai đầu một bên là thức ăn, một bên là nước uống. Bên dưới có một khay tròn lớn đựng cát để hứng mọi thứ chất dơ do Joshua thải ra. Thấy nàng bỗng nhiên Joshua xòe rộng hai cánh, vươn người lên nhún nhẩy và huýt gió.
            Duy la lên:
            “Mẹ thấy không, nó huýt gió đấy! Hễ thấy đàn bà, con gái là nó huýt gió! Nó thích mẹ đấy!”
            Hương phì cười, nghĩ bụng " Nói thì không nói mà chỉ huýt gió!" Nàng đến gần, ngắm nghía chú két. Một mối thiện cảm nào đó nẩy sinh. Nàng nghiêng đầu nhìn nó. Nó cũng ngoẹo đầu nhìn Hương như muốn nói một cái gì? Hương bắt đầu chú ý đến sự có mặt của Joshua trong nhà. Từ hôm ấy, mỗi tối, nàng đều vào phòng Duy, ngồi bệt xuống thảm, gần chỗ con Joshua, và thử dậy nó nói vài chữ tiếng .. Việt.
             
            Vài tháng trôi đi, một chữ tiếng Anh Joshua cũng không nói chứ đừng hòng gì đến nửa chữ tiếng Việt! Nhưng cứ mỗi lần thấy Hương là nó huýt sáo và vươn cánh làm đẹp. Nàng cũng thấy vui vui và dần dà quên mất đến chuyện là con két này không biết nói và đành chấp nhận nó như thế!
            Duy đi mua một lô sách về nghiên cứu và tuyên bố với mẹ:
            “Joshua chắc bị “shock” nặng nên nó không nói nữa!”
            Và rồi câu chuyện của chú két xanh Joshua tưởng chỉ có vậy!
            Cho đến một hôm, Hương đến tiệm Pet Shop, nơi mà Duy đã mua con két, để mua thức ăn cho Joshua. Bà chủ tiệm là người Việt, rất niềm nở khi thấy người đồng hương. Bà ta chỉ dẫn cặn kẽ loại thức ăn nào hợp cho két, nuôi dưỡng ra sao...
            Trong câu chuyện trao đổi, Hương chợt hỏi:
            “Thường những con bà bán ra mà có giấy tờ khai sinh, bà có lưu lại bản nào không?” “Có chứ ạ! Chúng tôi còn giữ lại tên và địa chỉ người bán, người mua, đủ hết”
            “Cháu trai của tôi mua một con két ở đây tên Joshua, chân nó hơi có tật..”
            Bà chủ tiệm nói ngay không đợi Hương nói thêm:
            “Joshua! Tôi nhớ chứ! Một bà già Mỹ đã nhờ tôi bán khi bà ta phải vào nursing home. À! Cậu đó là con bà đấy ư?”
            “Vâng, đúng đấy! Bà có trí nhớ tốt quá!”
            “Cậu con bà có thích con Joshua không?”
            “Chúng tôi quý nó lắm..có điều sao nó chẳng biết nói gì cả?”
            “Có trường hợp như vậy xảy ra khi con vật bị sống xa chủ nhân của nó. Nhưng nhiều khi chỉ một thời gian nó quen với môi trường mới lại nói như két ngay ấy mà!”
            Hương chép miệng:
            “Cả hơn một năm rồi, đâu thấy nó nói gì đâu! Nó chỉ biết huýt sáo và kêu thôi!”
            Bà chủ tiệm nhún vai, không biết phải trả lời thế nào trước sự than phiền của người khách.
            Hương trả tiền đi ra, nhưng nghĩ sao nàng lại quay trở lại tìm người chủ tiệm:
            “Bà có địa chỉ của bà cụ già trong nursing home, chủ trước của Joshua không?”
            “Có chứ, để tôi lấy! Trừ phi bà ấy chết hay đổi chỗ thì chịu thua!”
            Bà ta tìm một lúc rồi mặt tươi lên, hí hoáy viết vào tờ giấy đưa cho Hương:
            “Chúc bà may mắn!”
            Cầm tờ giấy trong tay Hương không biết mình sẽ làm gì? Vào gặp và thăm bà lão, nói chuyện về con két tên Joshua hay đưa Joshua vào thăm chủ cũ? Để làm gì? Nàng cũng chẳng hiểu tại sao những ý nghĩ đó lại đến trong đầu và rồi cứ lẩn quẩn ngày này sang ngày khác.
             
            Một ngày Chủ Nhật cuối tuần, Hương và Joshua tìm đường vào nursing home mang tên là Pine Haven. Chưa bao giờ đặt chân vào một nursing home nào cả nên Hương cũng hơi tò mò. Nơi đây dù không xa nhà thương Memorial bao nhiêu nhưng nằm khuất trong một con đường cụt yên tĩnh rộng rãi, nhiều cây cối bao bọc chung quanh, có cả vườn cảnh cho người đi dạo tạo một cảm giác thật an bình.
            Hương nhìn xuống tờ giấy, lẩm nhẩm tên bà lão:
            “Alice Park! Alice ..Park!”
            Joshua đậu trên vai Hương có vẻ thích thú khi được ra ngoài. Nó kêu những tiếng trong cổ họng nhịp theo với bước chân Hương tiến dần vào khuôn viên nursing home. Một vài người già ngồi trên xe lăn, phía sau có y tá đẩy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Hương là những khuôn mặt già nua bệnh hoạn bạc thếch theo với thời gian. Những khuôn mặt trắng nhờ nhờ với làn da trắng xanh không còn sinh khí hay những gương mặt da màu đã sạm lại và teo tóp.
            Những đôi mắt u uẩn hay những cái nhìn mông lung vào một cõi nào xa xăm như thể tất cả đang sống trong một thế giơi riêng biệt mà những ngôn từ, động tác cử động cũng theo một cách thế khác. Nhịp sống nơi đây chắc chắn không giống như nhịp sống bên ngoài kia.
            Người nữ tiếp viên ngồi ngay cửa vào ngửng lên nhìn Hương  mỉm cười chào hỏi. Hương hỏi ngay:
            “Tôi muốn vào thăm bà Alice Park. Chẳng hay bà ấy ở phòng số bao nhiêu hả cô?”
            Cô gái cắm cúi giở sổ tìm rồi nhoẻn miệng cười thật xinh: “Dẫy A. Phòng số 210. Bà đi thẳng vào trong rồi quẹo trái, đến gần cuối hành lang là đúng chỗ đấy.”
            “Cám ơn cô nhé!”
            Cô gái nở nụ cười thay cho lời nói. Joshua bỗng huýt gió vang dội làm cả Hương lẫn cô gái phải bật cười.
            “Nó tên gì vậy bà?”
            “Joshua!”
            “Hi Hoshua! Hi!”
            Joshua chỉ nhìn cô gái và tiếp tục huýt sáo một cách thích thú. Cô ta còn giơ tay vẫy vẫy nó. Hương lại nhớ đến lời Duy bảo:”Nó thích đàn bà, con gái mẹ à!” Mà có lẽ thế thật!
            Nàng và Joshua theo lời chỉ dẫn của cô gái. Bên trong cũng đẹp đẽ, sạch sẽ nhưng thoang thoảng mùi hôi, mùi khai quyện lấy mùi thuốc sát trùng. Dọc hành lang, bóng những cô y tá lên xuống nườm nượp. Đi ngang những căn phòng mở rộng cửa, Hương nhìn thấy những khổ ải của thân phận con người mà bệnh hoạn là một trong những thứ làm biến đổi người ta nhanh nhất.
            Không giống nhà thương, mỗi phòng được trang trí một cách khác theo với ý thích của người bệnh hay người thân. Hương đi rất chậm để quan sát. Đầu giường những người bệnh hầu như đều có hình ảnh của một cuộc đời bên ngoài kia mà đã có một lần họ đã sống qua. Chút kỷ niệm hay chỉ là một nhắc nhở về mối liên hệ sao đó để người bệnh đỡ thấy lẻ loi, cô độc chăng?
            Rẽ sang mé trái, Hương thấy ít y tá hơn và mùi hôi cũng giảm đi nhiều, hầu như không thấy mấy. Hương lẩm nhẩm trong đầu tìm số 210. “À! Đây rồi!”, nàng nhủ thầm. Phòng số 210 cũng không khác những phòng kia bao nhiêu và theo bảng tên ở ngoài thì bà Alice Park nằm bên mé trong, sau tấm màn kéo màu xanh nhạt. Giường bên ngoài không thấy người dù rất nhiều đồ đạc. Hương vào bên trong.
            Đằng sau tấm màn, một bà lão tóc trắng phau, uốn quăn thưa thớt, đang ngồi dựa soải chân trên một xe lăn. Hai bàn tay bà trắng bệch và trong suốt với nhiều đường gân xanh tím chằng chịt. Cả hai bàn tay bám lấy hai thành xe lăn. Nghe tiếng động bà ta nhìn lên. Đôi mắt nhỏ xíu bỗng mở to lộ hai tròng con ngươi màu xanh đá nhạt lờ mờ như được dấu sau một bức phim mỏng. Cái miệng mỏng dính không còn thấy rõ mầu môi bỗng hơi há ra. Mắt bà ta như dán chặt vào con két trên vai Hương. Đôi bàn tay bà lão đang bám lấy thành xe lăn bỗng buông ra và run rẩy, giật liên hồi.
            Tất cả những biến chuyển đó chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi của thời gian đang cô đọng trong căn phòng chật hẹp mà Hương là người nhìn thấy rõ nhất. Nàng chưa kịp lên tiếng chào hay hỏi han xem bà lão có đúng là bà Alice Park hay không, nhưng Joshua đã nhanh hơn nàng. Nó bay sà đến đậu vào lòng bà ta và chợt kêu lên:
            “Love ya, Mama! Love ya, Mama!”
            Từ tiếng kêu đột ngột. Không! Phải nói là tiếng nói đột ngột thoát ra từ Joshua chợt như một tiếng ngân, mà sự vang dội cũng như cái tha thiết kéo dài run rẩy trong cái sẽ sàng làm cho sự tĩnh lặng đọng trong căn phòng chợt vỡ tan. Những đường nét cứng nhắc mỏi mệt trên khuôn mặt già nua của bà lão dường như hồi sinh theo với cái nhếch mép, há miệng mà những tiếng nói vẫn còn bị nhốt kín sâu thẳm trong tận cùng cổ họng, hay trong sâu thẳm của trái tim héo hon? Từng thớ thịt trên mặt bà lão giật nhẹ, đôi mắt cố mở to nhìn Joshua. Môi bà lão run run mà vẫn không tạo nên được một âm thanh nào. Chỉ có đôi mắt chớp khẽ. Riềm mi dưới đã ngả sang màu xám bạc chợt đậm màu hơn theo với giòng nước mắt đang tù từ lăn xuống.
            Joshua hai chân bấu vào áo bà lão, vươn cổ, dùng mỏ ngoạm vào áo bà ta để trèo lên cho gần với khuôn mặt bà lão. Nó lại kêu lên, vẫn cái giọng đó:
            “Love ya, Mama! Love ya, Mama! Joshua love ya!”
            Không hiểu trong tiếng kêu thống thiết kỳ lạ đó có gì mà Hương thấy lồng ngực mình thắt lại. Bởi vì nàng không chỉ nhìn thấy, chỉ nghe, mà còn cảm nhận được cái tình yêu giữa Joshua và chủ cũ của nó như phút chốc nàng biến thành bà lão ngồi trên xe lăn kia, cũng chẩy nước mắt đón nhận lời nói yêu thương và cũng thấy lòng rạt rào những cảm xúc kỳ dị. Làm như thế gian này chỉ có một tình yêu và cả hai thực sự thuộc về nhau, như một nửa mảnh đời này tìm lại đúng nửa mảnh đời kia và ráp lại khít khao thành một khối duy nhất, không có gì có thể chia lìa. Joshua ở trong bà lão và ngược lại. Bà lão nhìn trong Joshua và thấy tình yêu của mình. Bà ta lắp bắp đôi môi nhưng không thành tiếng. Khuôn mặt bà lão bỗng tươi nhuận hẳn lên. Tình yêu, sự hiện diện của Joshua đã mang lại mạch sống cho bà. Và tình yêu đó tràn ngập căn phòng nhỏ. Joshua và bà Alice không còn biết đến sự có mặt của Hương.
            Joshua vùi cái mỏ cứng nhắc của nó vào cổ bà lão, mắt nó lim dim như tận hưởng một sự trao gửi thiêng liêng nào đó mà chỉ có nó và người nhận hiểu được. Mãi, bà lão mới tìm lại được tiếng nói của mình. Giọng bà ta yếu ớt và thanh tao khi đưa hai tay vuốt ve Joshua:
            “I love you too. Joshua! Mama love you!”
            Con Joshua kêu lên những tiếng nho nhỏ trong cổ họng và cứ để yên cho bàn tay bà lão vuốt trên từng mảng lông của nó. Những ngón tay nhăn nheo, xương xẩu kia như một cây đũa thần làm Joshua biến đổi hẳn. Nó không còn là con két xanh đứng hai chân trên thanh ngang suốt ngày cú rũ trong căn phòng đóng kín cửa. Nó không còn là tên tù bị giam lỏng trong bốn bức tường kín ở nhà Hương. Joshua lại nói với bà lão:
            “He hurt me!”
            Bà ta sờ lần trên ngón chân khuyết tật của Joshua như thương cảm rồi ôm Joshua vào lòng:
            “My poor baby! He’s gone! He’ll not hurt you anymore. Not anymore baby! He’s gone, baby! Do you miss me, Joshua?”
            Joshua lập lại y hệt như vậy:
            “Do you miss me, Joshua?”
            Bà lão bật cười:
            “No! Do you miss me, Mama?”
            Nó lại lập lại vẫn với giọng lảnh lót:
            “No! Do you miss me, Mama?”
            Tự dưng Hương cũng cười theo. Lúc ấy bà lão mới để ý đến sự có mặt của nàng trong phòng. Tay vẫn ôm Joshua, bà ta nheo mắt nhìn Hương:
            “Cô mang Joshua đến đây?”
            Câu hỏi này thay cho câu hỏi: “Cô là chủ mới của Joshua?”. Có lẽ bà Alice vẫn xem như chỉ có bà là chủ của Joshua. Và bất cứ ai đó đến sau bà chỉ là người thay bà săn sóc nó mà thôi. Hương thấy ngay điều này nên nàng chỉ mỉm cười và đáp gọn:
            “Vâng!”
            Hương cũng chẳng tự giới thiệu mình là ai mà bà lão cũng chẳng hỏi tại sao nàng lại biết tìm đến đây. Tự dưng nàng cảm thấy như sự có mặt của mình ở đây là thừa thãi nên  Hương lẳng lặng bước ra ngoài khi thấy bà Alice lại quay sang Joshua thầm thì những gì nàng nghe không rõ.
            Nàng đi dọc theo hành lang ra ngoài đến sân sau. Chẳng ai hỏi gì mà cũng chẳng ai để ý đến ai. Hương tìm một băng ghế dưới gốc cây. Bây giờ đã là tháng Mười. Trời đã dịu hơn. Nắng vẫn rực rỡ như những ngày hè nhưng sao lại mát hơn? Có lẽ mùa Thu đã đến ở đâu đó và đang bứt dần những chiếc lá ra khỏi cành. Một đành đoạn chia ly tất nhiên! Nàng dựa lưng vào băng ghế nhìn những chiếc lá khô lao xao trên đỉnh đầu rồi lìa cành. Có những chiếc lá còn tiếc nuối, bay lượn vài vòng trước khi rơi chạm mặt đất, có chiếc rơi thật nhanh chúi đầu lao xuống, có chiếc vẫn run rẩy, không chịu lìa cây. Và những chiếc lá còn lại trên cây đang nhìn lên trời xanh trên kia hay nhìn xuống mặt đất để tiếc thương thay cho những chiếc lá đã bỏ đi trước? Nhưng có một điều chắc chắn những chiếc lá còn lại trên những tàng cây kia nhìn thấy được nỗi ngậm ngùi trong nàng ở ánh mắt không còn trong nữa. Cuộc đời, con người, và những tương quan trong đời sống, tình yêu, nỗi chết, rồi cũng chỉ như thế thôi!
            Và rồi, Hương lại nghĩ đến hình ảnh trong căn phòng nhỏ sau lưng nàng: Joshua và bà Alice. Bà lão còn bao nhiêu thời gian để nói câu:”I love you too! Joshua!”, còn bao nhiêu thời gian nữa để ngập chìm trong yêu thương ấy?
            Joshua? Thời gian của con két xanh với những riềm vàng, đỏ, cam rực rỡ, là bao xa? Nhưng có lẽ chắc chắn lúc này, cả bà lão và con Joshua đều chỉ biết đến cái hạnh phúc trân quý tìm lại được nhau, có nhau, cho dù thời gian đang trôi qua và ngày mai, ngày hôm sau nữa và những ngày kế tiếp có còn đến nữa hay không!
            Nàng ngồi giữa cảnh trời bao la trong vắt trên cao kia trong những suy tưởng miên man. Thời gian qua bao lâu rồi? Hương nhìn đồng hồ: "2:30 chiều!" Nàng đã ở chỗ này lâu đến thế kia à? Đã đến lúc phải đưa Joshua trở về. Joshua phải trở về căn phòng của Duy và trở lại làm tù nhân trong một nơi chốn với đầy đủ thức ăn, nước uống, chỉ thiếu bàn tay của bà Alice!
             
            Khi Hương trở lại căn phòng số 210, cảnh tượng âu yếm lúc trước không còn nữa. Joshua đang đậu trên thành giường, còn bà Alice nằm trên giường với bao nhiêu dây nhợ gắn vào người: nào là dây truyền thuốc, dây truyền thức ăn. Trông bà ta có vẻ mệt mỏi. Cô y tá da mầu có nụ cười xinh tươi nhìn Hương rồi hỏi: “Cô quen thế nào với bà Alice?”
            Hương chỉ con Joshua:
            “Qua con két này!”
            “Thật à?”
            Câu hỏi tuy ngắn, gọn nhưng bao hàm nhiều câu hỏi khác nữa. Hương phải giải thích sơ sơ:
            “Bà ta là chủ trước của nó. Tôi đưa nó đến thăm chủ cũ. Vậy thôi!”
            “Cô tử tế quá!”
            Lần đầu tiên từ lúc gặp gỡ Hương thấy bà Alice nhìn nàng lâu hơn. Ánh mắt dịu xuống.
            Hương đến gần Joshua và gọi, nàng làm như nó hiểu: “Joshua! Đến lúc phải đi về..”
            Hình như nó biết nên cứ chần chờ. Mấy cái móng bấu chặt xuống thành giường, trừ ngón khuyết tật. Hương đến gần, nó càng nhích đi xa, mấy cái móng vẫn quặp chặt như một câu trả lời rõ ràng. Hương không biết phải làm sao! Joshua không huýt sáo như mỗi lần Hương gọi nó nữa! Như đọc được tất cả những ý nghĩ trong đầu của cả Hương và con Joshua, bà Alice gọi nó:
            “Joshua!”
            “Mama!”
            Cô y tá thích thú kêu lên:
            “Ồ nó nói được!”
            “Go home, Joshua! Go home!”
            Nó lập lại lời bà Alice:
            “Go home! Go home!”
            Nhưng vẫn không nhúc nhích, Joshua lại kêu lên:
            “Love ya, Mama! Go home!”
            Bà lão nhấc khẽ cánh tay đầy dây nhợ và xòe lòng bàn tay trắng bệch. Joshua bay lại, đậu trong lòng bàn tay bà lão. Nó dụi cái mỏ vào lòng bàn tay bà. Hương thấy bà ta nhắm mắt lại, không phải để đón nhận tình yêu như trước đây nhưng như một sự cam chịu hay một sự chống trả rất âm thầm nào đó. Bà lão lại nói với Joshua bằng một giọng thật nhỏ, như chỉ để cho mình nó nghe và hiểu:
            “Go home, baby! You can not stay here.. I have no home now! Go, baby!..Go..”
            Hương chợt thấy mi mắt nàng nặng trĩu. Quay sang người y tá, Hương hỏi một câu hỏi mà trong thâm tâm nàng cho rằng đây chỉ là một câu hỏi cầu may:
            “Nó ở lại với bà cụ được không cô?” Cô y tá lắc đầu: “Ở đây toàn là người bệnh, luật không cho phép người bệnh nuôi thú vật trong này.”
            Hương lặng im.
            Và Joshua. Hình như hiểu được tất cả những gì bà Alice nói gọn trong vài chữ đó, hay chỉ là những cảm nhận thiêng liêng giữa Joshua và bà Alice. Chỉ giữa con két xanh và bà lão. Nó bay lên và đậu vào vai Hương nhưng vẫn kêu lên: “Love ya Mama!”
            “I love you too, Joshua!”
            Mở mắt ra, nhìn Hương, bà lão ngập ngừng nói:
            “Cám ơn cô.. đã mang Joshua đến đây.. Thỉnh thoảng nếu được gặp nó thì.. vui lắm.”
            Hương đến gần, nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà Alice và nhẹ nhàng nói:
            “Mỗi tuần tôi sẽ mang Joshua vào thăm bà!”
            Bà Alice chợt nhắm mắt lại. Bà ta ngập ngừng:
            “Cám ơn cô.. cám ơn cô nhiều lắm!”
            Nàng đi ra và không nỡ quay lại nhìn căn phòng nhỏ có bà lão gầy gò với bao dây nhợ quanh người đang nằm đếm thời gian.
            Có tiếng thổn thức mơ hồ không biết là của ai? Của bà lão? Của Joshua? Hay của chính Hương?
             
Mặc Bích
(Nhìn Ra Bốn Phương)

20 November 2025

"Chuyện Cái Ví,'" để suy gẫm

CHUYỆN CÁI VÍ

Một người đàn ông nhặt được một chiếc ví có 7000 đô la.

Vài ngày sau, anh ta đọc được thông báo nói rằng một người đàn ông giàu có đã làm mất ví và treo giải thưởng 500 đô la cho bất kỳ ai trả lại nó.

Ông ta nhanh chóng tìm thấy chủ nhân và đưa chiếc ví cho ông ta. Người đàn ông giàu có đếm tiền rồi nói: 
- "Tôi thấy ông đã nhận tiền thưởng rồi." 

Người đàn ông nghèo đáp:
- "Ông nói gì vậy?" 

Người đàn ông giàu có tiếp tục: 
- "Chiếc ví này có 7500 đô la khi tôi làm mất."

Người đàn ông nghèo đáp: 
- "Tôi xin lỗi, thưa ông, nhưng khi tôi nhặt được nó thì chỉ có 7000 đô la."

Hai người đàn ông bắt đầu tranh cãi, và cuối cùng họ phải ra tòa để giải quyết bất đồng. Cả hai người đều trình bày vụ việc của mình, người đàn ông nghèo nói trước;  sau đó là người đàn ông giàu có; ông ta kết thúc bằng câu nói:

"Thưa Ngài, tôi tin là ngài tin tôi."

Thẩm phán nói: 
- "Tất nhiên rồi." 

Người đàn ông giàu mỉm cười, và người đàn ông nghèo rất đau khổ.

Sau đó, vị thẩm phán lấy chiếc ví từ tay người đàn ông giàu có và đưa cho người đàn ông nghèo đã tìm thấy nó.

"Ngài làm gì vậy?" người đàn ông giàu có hét lên giận dữ. Vị thẩm phán đáp:

"Tất nhiên, anh là một người lương thiện, và nếu anh nói rằng chiếc ví bị mất của anh có 7.500 đô la, tôi chắc chắn là đúng - nhưng nếu người tìm thấy chiếc ví này là một kẻ nói dối và là một tên trộm, anh ta đã không trả lại nó, điều đó có nghĩa là chiếc ví này phải thuộc về người khác. Nếu người đàn ông đó đứng ra, anh ta sẽ lấy được số tiền - nếu không, nó sẽ thuộc về người đã tìm thấy nó."

- "Còn tiền của tôi thì sao?" người đàn ông giàu có hỏi.

- "Chúng ta phải đợi cho đến khi có người tìm thấy chiếc ví của anh có 7.500 đô la vậy.

(Theo Quora Diest)

06 October 2025

Thu Bâng Khuâng, tranh A.C.La


THU BÂNG KHUÂNG
(Bản mới) 
Acrylic on canvas, new version
18x24 inch (46x61 cm)
By A.C.La Nguyễn Thế Vĩnh

**
Khó nhỉ? Thu Bâng Khuâng. Thu Đìu Hiu. Thu Man Mác. Thu Mênh Mang... Nói chung là thu buồn. Nhưng có những nỗi buồn khác nhau. Cảm nhận được nhưng khó diễn tả, khó giải thích.  
Vậy là có vẻ như Thu gắn liền với nỗi buồn thật. Hè đi mang theo cái nhễ nhại nhộn nhịp để rồi Thu tới cái se lạnh lẻn về. Cả thể xác lẫn tinh thần tìm nơi nương náu. Thân thể ẩn trong quần áo ấm, trong chiếc chăn dầy. Trí óc chìm vào suy tư, nhung nhớ.  
Thu đến rồi Thu đi. Thu cũng chỉ là một trong bốn mùa. Chẳng có gì là vĩnh cửu, ai cũng nghĩ vậy. Cả đến tình cảm nữa hay sao, đến rồi đi, nhiều người đã nghi ngờ. 'Tình như lá bỗng vàng bỗng xanh'. Chắc không phải vậy. Lá xanh bỗng vàng nhưng mùa Thu sẽ trở về với ta với mình. Mùa Thu chỉ tạm lánh xa tạo ra một vùng trống vắng. Để làm gì à? Đúng rồi, có những khoảng trống vắng cần thiết. Cho niềm khao khát trỗi dậy. Cho nhớ nhung ngập tràn. Để cho lá lại mơn mởn khi chồi đâm, lộc nẩy. 
Nghĩ ngợi làm chi cho úng tâm não. Tim có thể ướt nhưng thần trí không nên. Hãy ngồi xuống đây ta cùng ngắm trăng Thu vằng vặc, nước Thu trong veo và cả đến mưa Thu dầm dề. Điều gì trời đất ban cho, mình với ta hãy đón nhận, đón nhận tận tình vì một khi mùa Thu tạm lánh sẽ mang theo cả những giọt mưa dai dẳng với bong bóng nổi trên khe mương.  
Giọt mưa tạo nên chiếc bong bóng vội vã nhởn nhơ trong chốc lát. Em biết không: đời sống bé nhỏ và mong manh nhưng bong bóng ôm ấp và phản ánh cả bầu trời bao la đấy. 
Ôi mùa Thu của óng ả, dầm dề, và nhung nhớ. 
A.C.La

23 September 2025

Nữ quân nhân Bắc Triều Tiên, cười tí tỉnh



Cần gì phải nhấc cao giò đến như thế mới phơi bày được quyền lực? (Hình 'lụm' trên internet)

16 September 2025

Cười tí tỉnh: Vợ trẻ

Một tỷ phú 60 tuổi cưới một cô gái 25 tuổi nóng bỏng...

Sau tuần trăng mật, họ tổ chức tiệc mừng đám cưới...

Sau vài ly rượu, bạn bè của tỷ phú muốn biết bí quyết làm thế nào ông ta lấy được một cô nàng 25 tuổi ngồn ngộn...

- "Đơn giản thôi" tỷ phú khoe khoang... "Tôi khai man tuổi thật"

"Ừa, nhưng ngay cả với một anh chàng 40/45 tuổi... cô ấy vẫn rất quyến rũ, mà anh đã nói anh bao nhiêu tuổi vậy?" Một người bạn hỏi.

Với nụ cười trên môi, tỷ phú đáp:
- "85 tuổi"

10 September 2025

PLANK, tập vùng bụng cho thon chắc, tránh nhiều thứ bệnh

 Với những người đã được huấn luyện tại các quân trường khi xưa thì đây chỉ là "hít đất vào thế" hay "thế bắc cầu" (qua hai thành giường), những hình phạt giúp tăng thể lực mà thôi. Vấn đề là bây giờ có còn kiên trì tập hay không?


Bây giờ người ta chế ra chữ "PLANK", nghe lạ hoắc nhưng chẳng có gì mới, nhưng hiệu quả việc luyện tập thì hẳn vẫn rất tốt. . . 


Plank là động tác tốt nhất làm giảm mỡ bụng giúp bạn tránh được rất nhiều nguy cơ cho sức khỏe. Đó cũng là lý do vì sao cả thế giới này cứ "long sòng sọc" lên với bài tập này.

Plank giúp giảm mỡ bụng - nguồn cơn của nhiều bệnh nguy hiểm
Một vòng eo quá khổ không giết chết bạn ngay lập tức, song lại mang đến 10 nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn mà chỉ đọc thôi cũng thấy giật mình.
Vòng eo quá khổ không chỉ chứa chất béo, mà còn là loại chất béo ở dạng xấu nhất. Nó được gọi là mỡ nội tạng và mang lại những nguy cơ mắc bệnh cao. Vòng eo phì nộn cảnh báo hội chứng chuyển hóa, tạo tiền đề cho các bệnh như tim mạch và nhồi máu cơ tim, tiền tiểu đường và bệnh tiểu đường mãn tính, thậm chí dẫn đến ung thư. Vòng eo quá khổ cũng là một dấu hiệu cho thấy bạn đang mắc hội chứng chuyển hóa. Ngoài ra sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú, tăng nguy cơ tổng thể tử vong. Đặc biệt, nam giới mắc bệnh bụng bia sẽ có thể dẫn đến rối loạn chức năng cương dương, ảnh hưởng đến sinh sản, làm tăng trục trặc nội tiết tố, tăng nguy cơ bị đột quỵ, bị chứng mất trí và Alzheimer. Plank chính là động tác tốt nhất làm giảm tình trạng mỡ bụng, khi vòng eo săn chắc sẽ giúp bạn nâng cao tuổi thọ. Đó cũng là lý do vì sao cả thế giới này cứ "long sòng sọc" lên với bài tập này. 
Một cơ thể săn chắc từ đầu đến chân, vòng eo thon gọn với phần cơ bụng "phẳng lì" không còn mỡ thừa có lẽ là niềm mơ ước không của riêng ai.

Để đạt được điều đó, nhất định bạn phải đến một phòng tập Gym hoặc tham gia tập luyện chăm chỉ một môn thể thao nào đó.

Đáng tiếc, đa số "dân công sở" lại khó có thể thực hiện được điều này, công việc phải ngồi một chỗ từ sáng tới chiều sẽ không còn thời gian để đến phòng Gym nữa.

Tuy nhiên gần đây, tập Plank trong phòng Gym đã được "xã hội hóa" một cách vô cùng nhanh chóng. Từ trường học đến công sở, công viên, đường phố, phòng ngủ, vỉa hè... đâu đâu cũng có người tập một cách rầm rộ và vui vẻ.

Thậm chí, Trường Cao đẳng Cộng đồng Greenfield (Mỹ) đã tổ chức định kỳ cuộc thi Plank từng khoa và trong toàn trường, người chiến thắng đã đạt kỷ lục làm ngạc nhiên 9 phút 24 giây.

Nhưng thành tích đó mới chỉ được xem là màn khởi động của cuộc thi lập kỷ lục về Plank được tổ chức tại Bắc Kinh (TQ) trong tháng năm vừa qua.

Người vô địch là anh Mao Vệ Đông, một lính đặc nhiệm đã có thể làm plank liên tục kéo dài trong hơn 8 tiếng, sau khi chiến thắng đối thủ, anh còn chống đẩy thêm để thể hiện sức mạnh vô song của mình.

Plank là động tác tốt nhất cho vùng cơ bụng.

Plank còn được gọi là động tác khúc gỗ, vì chỉ cần giữ cơ thể "thẳng đơ" là đủ.

Động tác Plank không quá khó để thực hiện. Nằm sấp, chống hai khuỷu tay vuông góc ngay dưới vai.
Nhón hai mũi chân lên, nâng thân người lên và giữ lưng, hông, cổ thành một đường thẳng.

Giữ tư thế này từ 20 giây đến hết khả năng của bạn (1 tháng có thể tập luyện và tăng lên mức 300 giây), siết chặt phần cơ bụng và duy trì nhịp thở đều.

Plank là bài tập được xem là tốt nhất cho bụng vì nó hoạt động trên các cơ cốt lõi như cơ bụng thẳng và cơ sườn ngang.

Bài tập này sẽ giúp làm săn và hình thành các cơ bắp quanh dạ dày bằng cách làm cho chúng dài ra và săn chắc nhanh chóng.

Bài tập plank giúp tăng tính linh hoạt trong các nhóm cơ khắp cơ thể. Cơ vai và cơ xương cổ cũng được trải dài hơn. 

Vùng cơ đùi và các gân kheo được xiết chặt để thành săn chắc. Bài tập plank làm căng bàn chân, ngón chân để hỗ trợ dàn đều trọng lượng cơ thể.

Với những nhân viên văn phòng phải ngồi nhiều trước máy tính, tư thế ngồi ít nhiều bị sai lệch và dễ mắc bệnh đau lưng, thoái hóa xương. 
Khi thực hiện động tác Plank, từ các bộ phận như lưng, chân, cổ đều đưa vào tư thế thẳng.

Người tập sẽ cải thiện các cơ bắp cốt lõi, tăng sự hỗ trợ cho cột sống và hông, duy trì tư thế đúng, giảm nguy cơ mắc các bệnh do sai tư thế, giảm đau lưng dưới.

Plank là động tác cơ bản, không cần dụng cụ và bạn có thể thực hiện ở bất kỳ đâu. Chỉ cần một không gian vừa phải, một mặt phẳng là bạn có thể tập.

Plank nở rộ trong các công sở vì tính đơn giản và hiệu quả mang lại thấy rõ chỉ sau 30 ngày tập. 
Hãy nhìn ngắm những hình ảnh hài hước vui nhộn khi tập plank trên toàn thế giới, để có động lực rằng bạn đã nên tập ngay tại công sở của mình bây giờ hay chưa.



Những lỗi thường gặp khi tập plank:

- Đẩy mông lên quá cao. Lưu ý rằng, cổ, lưng, và chân tạo thành đường thẳng, bạn hãy cố gắng giữ mông ở mức cho phép.
- Võng lưng khi plank, nên gồng chắc cơ bụng để lực tác động vào cơ bụng, không làm bạn bị đau lưng.
- Đặt hai tay quá gần nhau. Khi đó tác động lên cơ bả vai sẽ sai tác dụng.
- Nín thở. Nhiều người cố chú ý vào tư thế đúng và giữ lâu mà quên mất việc hít thở. Hãy hít thở đều và tập trung.
- Điều này không thấy bài nào đề cập nhưng thông thường không nên tập khi mới dùng bữa. 

(TTR tổng lược và viết lại) 

04 September 2025

Những Ngộ Nhận Phổ Biến Về Nhân Vật Lưu Vĩnh Phúc Trong Lịch Sử Thời Kháng Pháp Của Việt Nam

LÊ NGUYỄN

Trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tác động của sách báo được thực dân Pháp phổ biến mà không ít sách giáo khoa và phương tiện truyền thông của người Việt đã đưa ra nhiều sự kiện thiếu chính xác về nhân vật Lưu Vĩnh Phúc trong diễn biến lịch sử nước ta từ thập niên 1860 đến thập niên 1880, đồng thời cũng bỏ qua mối quan hệ của họ Lưu với nhiều chí sĩ Việt Nam hoạt động trên đất Tàu vào đầu thế kỷ XX. 

Viết về buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều người đã đồng hóa hoạt động của các đạo quân Cờ Đen, Cờ Trắng và Cờ Vàng và dành cho chúng các danh từ thảo khấu, thổ phỉ, giặc cướp … Nhận định này phù hợp với thực tế lịch sử những năm giữa thập niên 1860, nhưng đã không hoàn toàn chính xác kể từ năm 1868 trở đi, khi mà đạo quân Cờ Đen đã thần phục triều đình và hoạt động như một lực lượng cơ hữu của người Việt Nam.  Song, trước hết, xin nhắc qua nguyên nhân về sự hiện diện của các đạo quân này tại Việt Nam. 



I) THÁI BÌNH THIÊN QUỐC VÀ SỰ XUẤT HIỆN CÁC ĐẠO QUÂN THỔ PHỈ


Vào những năm cuối thập niên 1840, đất nước Trung Hoa rơi vào loạn lạc, nhiều nơi dân lâm vào cảnh đói kém, một số người nhân cơ hội này đứng lên, vận động quần chúng, xây dựng thế lực, chống lại triều đình. Đáng kể nhất là cuộc nổi dậy của Hồng Tú Toàn cùng một số thuộc hạ ở Quảng Tây.

Trong những năm tháng đầu tiên, lực lượng nổi dậy thắng lợi tại nhiều tỉnh thành, họ chiếm lấy Nam Kinh, đổi tên thành Thiên Kinh, kinh đô của Thái Bình Thiên Quốc trong “triều đại” của họ. Tình trạng giằng co giữa triều đình nhà Mãn Thanh và Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn kéo dài đến những năm đầu thập niên 1860. Mãi đến năm 1864, lực lượng triều đình dưới quyền các danh tướng Tăng Quốc Phiên,  Lý Hồng Chương mới đánh bại được Thái Bình Thiên Quốc, Hồng Tú Toàn tự tử.

Tuy nhiên, với một lực lượng quần chúng lên đến hàng triệu người tồn tại gần 15 năm, hậu quả của chiến tranh không thể giải quyết trong một ngày, một bữa, nó còn kéo theo nhiều hậu quả lâu dài. Dù thất bại, song nhiều đạo quân dưới quyền Hồng Tú Toàn vẫn tiếp tục hoạt động chống phá triều đình nhà Thanh. Họ lui dần về phía Nam và một lực lượng khá lớn dưới quyền tướng Ngô Côn đã xâm nhập vào hẳn lãnh địa Việt Nam, đáng kể nhất là các đạo quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh, Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị, và Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc.


Họ đã sử dụng miền Bắc Việt Nam làm nơi ẩn tránh sự truy đuổi của triều đình nhà Mãn Thanh, đồng thời nuôi quân, củng cố lực lượng bằng hình thức cướp bóc tại các địa phương họ trú đóng hay đi qua. Để chống lại giặc cướp có hiệu quả, triều đình Huế kêu gọi nhà Thanh cử quân sang phối hợp. Đây là chi tiết khiến có sự nhầm lẫn rằng nhà Thanh cử quân sang xâm chiếm nước ta vào thập niên 1860, tranh giành quyền lợi với thực dân Pháp. Người được Bắc Kinh cử sang nước ta phối hợp lâu dài trong việc tiễu phỉ là Đề đốc tỉnh Quảng Tây Phùng Tử Tài.
      Vào khoảng cuối năm 1867, đầu năm 1868, quân triều đình đạt được một thắng lợi quan trọng khi chấp nhận sự hàng phục của đạo quân Cờ Đen dưới quyền Lưu Vĩnh Phúc, một thủ lãnh quân sự mới hơn 30 tuổi (sinh năm 1837). Trách nhiệm đầu tiên mà triều đình giao cho họ Lưu là tiêu diệt hai đạo quân Cờ Trắng và Cờ Vàng. Ngay vào tháng 1 âm lịch năm 1868, ông ta đã nhận được lệnh tấn công đạo quân Cờ trắng của Bàn Văn Nhị tại Tuyên Quang.

Đây là bước ngoặt quan trọng của thủ lãnh quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc trong quá trình sát cánh cùng quân đội Việt Nam chống lại các đạo quân thổ phỉ khác, đồng thời góp phần gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề. Nó tách hẳn đạo quân Cờ Đen ra khỏi hàng ngũ của hai đạo quân thổ phỉ kia, song trong một thời gian dài, nhiều tư liệu lịch sử vẫn đồng hóa cả ba lực lượng trên như một.

Điều này phát xuất chủ yếu từ nhận định thiếu chính xác của các cây bút phương Tây về một lực lượng đã gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề. Cho dù trước năm 1868, Lưu Vĩnh Phúc và đạo quân Cờ Đen của ông ta từng có những hoạt động tác tệ, song không thể vì thế mà phủ nhận những đóng góp của họ trong quá trình hàng phục và hợp tác với quân triều đình.

Tháng 3 AL năm 1869, với sự phối hợp của đạo quân nhà Thanh do Phùng Tử Tài chỉ huy, quân triều đình và quân Cờ Đen đã đại thắng quân Cờ Vàng trong một trận đánh lớn tại Lào Cai và đánh bật họ ra khỏi căn cứ địa Hà Giang.

Dù hết lòng phục vụ triều đình nhà Nguyễn, song trong bước đầu, không phải họ Lưu đã nhận được sự tín nhiệm của vua Tự Đức và quần thần. Phải chờ sau một thời gian dài, ông ta mới được tin tưởng và giao nhiều trọng trách, cũng như nhận lấy nhiều ân sũng.


II) LƯU VĨNH PHÚC – NGƯỜI CÓ CÔNG HAY KẺ TỘI ĐỒ?

Như đã đề cập ở phần trên, triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự qui hàng của đạo quân Cờ Đen và sử dụng họ như một lực lượng cơ hữu của mình, song nhiều quan lại vẫn tỏ ra e dè, hoài nghi thiện chí hợp tác của họ. Tháng 10.1869, đã có chủ trương đưa đạo quân của Lưu Vĩnh Phúc qua khỏi biên giới Việt-Trung, trở về lãnh thổ Trung Quốc.

Tháng 8.1870, Đề đốc Phùng Tử Tài đề nghị cho Lưu Vĩnh Phúc về nước, Phúc sợ bị nhà Thanh truy sát, xin ở lại châu Bảo Thắng (tỉnh Lào Cai) để khai thác tài nguyên và hợp tác đánh giặc. Vua Tự Đức cho rằng “dùng người Man đánh người Man là một việc cần, Vĩnh Phúc vốn thù nhau với Hoàng Anh, nên khéo khích để dùng …”.

Đúng như lời nhà vua phán, nửa năm sau khi quân Cờ Đen được tiếp tục sử dụng, vào tháng 2 AL 1871, có tin Lưu Vĩnh Phúc đã giết chết Hoàng Sùng Anh, thủ lãnh đạo quân Cờ Vàng. Tỉnh thần Hưng Hóa đề nghị thưởng phẩm hàm cho Phúc, song tin chính xác cho hay, họ Hoàng chỉ bị thương trong trận đánh. 

Vị quan lại cao cấp của triều đình tại khu vực phía Bắc lúc bấy giờ là Lạng Bằng Ninh Thái Thống đốc quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm. Họ Hoàng rất tín nhiệm Lưu Vĩnh Phúc, vào tháng 9 AL 1873, đã đề nghị triều đình cử họ Lưu làm Phòng ngự sứ (tòng ngũ phẩm), song vua Tự Đức không chấp thuận, chỉ đồng ý xuất bạc kho ra để ban thưởng.

Tháng 11.1873, một sĩ quan cao cấp Pháp là Đại úy Francis Garnier được cử ra Bắc với danh nghĩa bề ngoài là dàn xếp những rắc rối do tên lái buôn Jean Dupuis (Đồ Phồ Nghĩa) gây ra, kỳ thực nhằm thực hiện ý đồ tấn công thành Hà Nội, mở đường cho việc đánh chiếm các tỉnh miền Bắc.

Ngày 20.11.1873, Garnier ra lệnh tấn công thẳng vào thành, quân triều đình dưới sự chỉ huy của Khâm mạng đại thần NguyễnTri Phương chống trả quyết liệt, song trận chiến cũng sớm kết thúc trong ngày. Thiệt hại về phía Việt Nam khá nặng nề: cụ Nguyễn Tri Phương bị thương nặng và mất sau đó, con trai cụ là phò mã Nguyễn Lâm tử trận…Thiệt hại của phía Pháp không đáng kể, và điều này cho thấy thực lực về quân sự giữa hai bên có sự chênh lệch quá lớn. 

Tuy nhiên, có một điều mà thực dân Pháp đã không ngờ tới. Hơn một tháng sau khi đánh chiếm thành Hà Nội, ngày chủ nhật 21.12.1873, Francis Garnier dẫn một toán lính Pháp 12 người truy đuổi một nhóm quân Cờ Đen khiêu khích và chạy trốn tại khu vực Ô Cầu giấy thuộc phủ Hoài Đức. Không ngờ ông ta lọt vào ổ phục kích của địch. Garnier té vào một hố sâu đào sẵn, trong khi lính Cờ Đen ào tới. Ông ta rút cây súng lục bắn đến viên đạn cuối cùng, rồi chịu chết. Ngay lập tức, đầu của Garnier bị quân Cờ Đen cắt rời và mang đi 

Cái chết của viên sĩ quan từng lập nhiều công trạng này gây chấn động cả nước Pháp. Hàng chục năm sau, nhiều tượng đài, công trình tưởng niệm Francis Garnier được xây dựng trên khắp Đông Dương, và cả trên đất Pháp. Điều đó chứng tỏ sự tổn thất về nhân sự của Pháp là rất to lớn. Cùng tử trận với Garnier còn có một trung úy và một thiếu úy Pháp nữa 

Chiến công này của quân Cờ Đen dưới quyền Lưu Vĩnh Phúc đã giải tỏa phần lớn mối nghi ngờ của vua Tự Đức và triều thần đối với họ Lưu. Tháng 2 AL 1874,  nhà vua “chuẩn cho Lưu Vĩnh Phúc được nhắc bổ làm Phó Lãnh binh quân thứ ấy. Đoàn quân ấy từ quản đội trở xuống thưởng cho thăng 3 trật và thưởng tất cả binh dõng đi trận ấy bạc lạng và tiền (bạc 345 lạng, tiền 3.000 quan), là xét công đánh trận ở Cầu Giấy”. Với chức danh Phó lãnh binh, hàm tòng tam phẩm, từ thời điểm này, Lưu Vĩnh Phúc đã chính thức trở thành một quan lại trung cao cấp của triều đình Huế.

Điều trớ trêu là cái chết gây chấn động của Francis Garnier lại xảy ra trong lúc Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình, và Đại úy hải quân Philastre, đại diện phía Pháp đang trên đường ra Hà Nội để dàn xếp mọi việc. Nghe được tin này, Philastre giận dữ, vỗ bàn và đùng đùng đòi quay trở lại.

Trước thái độ của viên quan Pháp, Nguyễn Văn Tường đã trổ tài biện luận sắc bén của ông để thuyết phục ông ta. Ông thong thả nói rằng “…trả lại thành (Hà Nội) để sớm định điều ước, là lệnh của quý tướng; lấy lại thành rồi sau mới nghị hòa là mệnh lệnh của vua nước tôi; bọn chúng ta chỉ biết theo mệnh lệnh ấy. Còn như Hà Nội giết An Nghiệp, cũng như An Nghiệp giết Nguyễn Tri Phương, đó đều là do sự không ngờ, cũng không phải là bọn chúng ta làm ra … sao bằng đưa thư ngay cho Hà Nội … hoặc được hỏi rõ duyên do An Nghiệp bị chết, rồi sau sẽ báo, há chẳng càng ổn ư”. 

Lý lẽ của ông Tường khiến Philastre dịu lại và đồng ý tiếp tục hành trình…

III) QUÂN CỜ ĐEN VÀ SỐ PHẬN CÁI ĐẦU CỦA ĐẠI TÁ HENRI RIVIÈRE

Nhờ tài biện giải khéo của Nguyễn Văn Tường, sự đổ vỡ đã không xảy ra, ông và Philastre tiếp tục hành trình ra Bắc để theo dõi tình hình tại chỗ. Cuối cùng hòa ước Nhâm Tuất 1874 ra đời, chủ yếu nhằm chính thức hóa một thực tế đã diễn ra từ năm 1867, đó là công nhận quyền kiểm soát của Pháp trên toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh. Mặt khác, Pháp trả lại các thành trì đã chiếm đóng tại miền Bắc và được tự do thông thương trên thủy lộ sông Hồng.     

Vào lúc này, đạo quân Cờ Đen dưới quyền Phó lãnh binh Lưu Vĩnh Phúc tiếp tục truy kích đạo quân Cờ vàng của Hoàng Sùng Anh. Tháng 8 AL 1874,  họ Lưu được nhà vua thăng Lãnh binh, hàm chánh tam phẩm. Hai tháng sau, vua y lời tâu của Thống đốc đại thần Hoàng Tá Viêm, thăng Lưu Vĩnh Phúc lên chức Đề đốc, hàm tòng nhị phẩm, ngang với Tham tri (Thứ trưởng), Tuần phủ (Tỉnh trưởng tỉnh nhỏ). 

Có thể nói vào thời điểm này, Lưu Vĩnh Phúc là cánh tay phục vụ đắc lực bậc nhất của Hoàng Tá Viêm tại nhiều tỉnh miền Bắc. Song song với việc tìm diệt đạo quân Cờ vàng, quân Cờ đen còn có những hoạt động khiến thực dân Pháp lo lắng. Họ kiểm soát dọc theo sông Hồng, dùng vũ khí ngăn chặn hay uy hiếp tinh thần nhiều người Pháp thông thương trên thủy lộ này khiến cho Soái phủ Nam kỳ rất bức xúc.

Trong tình thế đó, Thống đốc dân sự đầu tiên của Nam Kỳ là Le Myre de Vilers quyết định dùng áp lực quân sự để phá thế bế tắc giữa hai bên. Ông ta cử Đại tá Henri Rivière  dẫn vài trăm quân đi tàu ra Bắc vào đầu tháng 4.1882. Việc tiếp xúc giữa Rivière và các quan chức Việt Nam đứng đầu là Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu không dẫn đến kết quả mong muốn, viên Đại tá Pháp cho rằng phía Việt Nam không có thiện chí giải quyết vấn đề và quyết định tấn công thành Hà Nội vào ngày 25.4.1882. Thêm một lần nữa, chỉ sau mấy tiếng đồng hồ chiến đấu, thành lại rơi vào tay giặc. 

Gần một tháng sau, lịch sử lại tái diễn. Ngày 19.5.1883, Đại tá Pháp Henri Rivière cũng bị quân Cờ Đen khiêu chiến và phục kích sát hại tại Ô Cầu giấy, nơi Đại úy Francis Garnier đã gục ngã cách đó 10 năm. 

**

Cũng như Garnier, sau khi bị tử thương tại Ô Cầu giấy, Đại tá Henri Rivière bị quân Cờ Đen cắt mất cái đầu cùng với 29 sỹ quan, binh lính Pháp, bỏ vào giỏ treo nơi công cộng cho mọi người chứng kiến và sau đó đem vùi lấp ở đâu không thấy các tài liệu lịch sử Việt Nam nói đến . 

Mãi về sau, người ta mới phát hiện trong hồi ký của Bonnal, nguyên công sứ Pháp tại Hà Nội, một đoạn mô tả chi tiết quá trình khai quật đầu và thi thể của Henri Rivière. Đoạn hồi ký này là phần phụ lục của tác phẩm Correspondance politique  du commandant Rivière au Tonkin (Avril 1882 – Mai 1883) (Thư từ chính trị của viên tư lệnh Rivière tại miền Bắc, từ tháng 4.1882 đến tháng 5.1883) do André Masson tập hợp, chú thích và xuất bản cùng lúc tại Hà Nội và Paris năm 1933.

Ngày 17.9.1883, tức gần 4 tháng sau ngày Rivière tử trận, Bonnal được lệnh chứng kiến cuộc khai quật tử thi đầu tiên với tư cách viên chức hộ tịch. Theo sự chỉ dẫn của một số giáo dân Thiên chúa giáo khu vực phủ Hoài Đức, họ đã đến làng Ké Mai thực hiện cuộc đào tìm. Chỉ sau vài nhát cuốc, họ phát hiện một chiếc hộp bằng cây sơn đen tình trạng còn tốt. Viên bác sĩ Masse trong đoàn khai quật đã tự tay bật nắp chiếc hộp và những người chứng kiến nhìn thấy giữa lớp đất sét đỏ là một chiếc đầu người đã thối rữa một phần thịt. 

Căn cứ vào những lọn tóc dài đã ngã màu hoa râm, họ nhận ra đúng là chiếc đầu của Rivière. Trong hộp cây, còn có những đốt xương bàn tay, chứng tỏ 2 bàn tay của Rivière cũng bị chặt đứt, bỏ chung với đầu lâu. Sau đó, đoàn khai quật moi tìm từ lớp sình của một khu ruộng, tìm được 28 chiếc đầu lâu khác đã bị quân Cờ Đen vứt đi sau thời gian trưng bày.     

20 ngày sau, Bonnal tiếp tục cho tìm phần thi thể còn lại của H. Rivière. Trong biên bản ngày 8.10.1883, ông ta mô tả khá tỉ mỉ kết quả khai quật và một dấu hiệu cho phép khẳng định đã tìm được thi thể của Rivière, đó là 2 chữ H.R. thêu trên tấm vải che ngực và những cánh tay đã bị cắt mất bàn tay. Tất cả được cho vào một chiếc quan tài bằng cây rất dày, phủ vôi bột và chở về Hà Nội 

Sau một buổi lễ  được tổ chức tại nhà thờ tạm của đoàn truyền giáo Pháp tại Hà Nội, đầu cùng thi thể của H. Rivière và của các sĩ quan, binh sĩ dưới quyền được cải táng ở nghĩa trang dành cho người Pháp ở thành phố này.

 
IV) TỪ ĐỈNH VINH QUANG ĐẾN BI KỊCH, CON ĐƯỜNG KHÔNG XA

Phải khách quan thừa nhận rằng trong hai trận đánh ở Ô Cầu giấy năm 1873 và năm 1883 có công lao rất lớn của quân Cờ Đen. Tổ chức này đã chuyển mình từ những thổ phỉ trong thời gian đầu mới trốn sang Việt Nam thành một đội quân tinh nhuệ dưới quyền điều động của quan binh Việt Nam và đã làm quân Pháp lắm phen mất ăn mất ngủ.

Từ thời điểm này, mọi nghi ngờ của vua Tự Đức và triều thần đối với Lưu Vĩnh Phúc đã tan biến hẳn. Sau khi đạo quân Cờ Đen  của họ Lưu loại trừ được viên đại tá Pháp, “ Tin thắng trận tâu lên. Vua mừng lắm, thưởng Vĩnh Phúc thăng thụ Đề đốc, cho mũ áo Chánh nhị phẩm, gia thưởng một cái kim có chữ ‘trung dũng’…”. Hai tháng sau, nhà vua lại ban cho họ Lưu tước Nghĩa Lương nam.

Tuy nhiên, đúng 2 tháng sau sự kiện tiêu diệt H. Rivière, ngày 19.7.1883, vua Tự Đức qua đời, việc triều chính bắt đầu rối nát do sự phân hóa trong hàng ngũ triều thần và sự lộng quyền của hai Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Người được vua Tự Đức chỉ định kế vị là ông hoàng Dục Đức chỉ ở ngôi mấy ngày, chưa kịp làm lễ tấn tôn; người kế vị tiếp theo là vua Hiệp Hòa cũng bị bức tử sau 4 tháng làm vua.

Trong thời gian vua Hiệp Hòa còn tại vị, ngày 25.8.1883, hai phía Việt-Pháp đã ký Hòa ước Quý Mùi (còn gọi là Hòa ước Harmand, theo tên viên chức đại diện phía Pháp). Hòa ước có 27  khoản,  đặc biệt khoản 23 ghi rõ “…Nước Pháp sẽ một mình mang lấy trách nhiệm  đuổi quân Cờ đen ra khỏi Bắc Kỳ và dùng các biện pháp để bảo đảm an ninh và tự do trên sông Hồng Hà”. Điều này cho thấy thực dân Pháp kiêng dè quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đến mức nào!

Song, việc triều đình Huế đặt bút ký hòa ước có điều khoản trên có nghĩa là họ mặc nhiên chấp nhận từ bỏ việc sử dụng quân Cờ Đen như một lực lượng cơ hữu của mình. Họ không thể công khai điều động lực lượng này, song cũng giống như trường hợp hòa ước Nhâm Tuất 1862 và sự tồn tại của tổ chức kháng chiến Trương Định, triều đình tiếp tục nuôi dưỡng và hỗ trợ đoàn quân của Lưu Vĩnh Phúc.

Một năm sau, ngày 6.6.1884, hai phía Việt-Pháp lại ký Hòa ước Giáp Thân, mở đường cho việc thuộc địa hóa toàn diện đất nước Việt Nam. Hòa ước này không nhắc đích danh quân Cờ Đen, song điều thứ 15 cũng ghi rõ là quân Pháp được đóng binh ở bất cứ nơi nào xét thấy cần (Nguyễn Phương – sđd – trang 220). 

Trong thời gian này, những cuộc đụng độ trực tiếp giữa quân Pháp và các lực lượng chính quy do nhà Thanh phái đến nhằm phối hợp với triều đình Việt Nam trong việc tiễu phỉ trở nên ngày một nghiêm trọng. Cuộc xung đột được giải quyết bước đầu bằng Hòa ước Fournier ngày 11.5.1884 chỉ bao gồm 5 điều khoản ngắn ngủi, không đủ để đảm bảo một sự hòa giải đích thực. Các trận đánh lớn tiếp tục nổ ra, dẫn đến việc Pháp đánh chiếm Phúc Châu, thủ phủ của tỉnh Phúc Kiến, và bao vây đảo Đài Loan của Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là chiến tranh giữa hai phía đã được đẩy ra khỏi biên giới Việt Nam, xâm nhập vào đất Tàu.

Cuối cùng, vào ngày 9.6.1885, triều đình nhà Thanh phải đồng ý ký với Pháp một hòa ước lâu dài có tên là “Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Thương mại”, gọi tắt là Hòa ước Thiên Tân, lấy tên nơi ký kết văn kiện này. Ngay điều khoản thứ nhất của hòa ước này đã ghi rõ là Pháp giành quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để giải tán hay tống xuất các băng nhóm cướp bóc để đảm bào sự trị an. Về phần mình, nhà Thanh cam kết giải tán và trục xuất các băng nhóm đang trú ẩn ở các biên giới giáp với Việt Nam, không được gửi quân qua biên giới với Việt Nam 

Điều này có nghĩa là nhà Thanh phải từ bỏ mọi sự hỗ trợ hay hợp sức với đạo quân Cờ Đen trong việc chống Pháp. 



V) LƯU VĨNH PHÚC VÀ CÁC NHÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Khi trở về Trung Quốc, Lưu Vĩnh Phúc bỏ lại đạo quân Cờ Đen cho các thuộc tướng. Đó cũng là lúc mà cuộc xuất bôn của vua Hàm Nghi khỏi kinh thành Huế (5.7.1885) và  hịch Cần vương đã làm khởi phát nhiều cuộc khởi nghĩa của Tạ Hiện, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao … 

Các lãnh tụ Cần vương tìm cách liên lạc với đạo quân Cờ đen để gây thêm thanh thế, song mất Lưu Vĩnh Phúc, họ như rắn mất đầu, một số lấy việc cướp bóc để tồn tại và đó là thời điểm mà đạo quân này bị lên án mạnh nhất. Theo bộ sách của Pháp “Histoire militaire de l’Indochine française ”, đến ngày 23.3.1887, trong các cuộc hành quân tại Cao Bằng, Pháp vẫn còn ghi nhận sự hiện diện của các toán quân Cờ Đen.

Về phần Lưu Vĩnh Phúc, sau khi trở về Trung Quốc, ông được nhà Thanh cử làm Tổng binh Quảng Châu. Năm 1894, khi cuộc chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, ông đang là Tổng binh đảo Đài Loan. Chiến tranh kết thúc một năm sau đó, thắng lợi nghiêng về phía Nhật Bản, nhà Thanh phải chấp nhận ký hòa ước Mã Quan (Shimonoseki) ngày 17.4.1895 giao đảo Đài Loan cho Nhật. Tuy nhiên, người đứng đầu đảo này là Đường Cảnh Tùng không tuân thủ hòa ước, công bố nước Cộng hòa Đài Loan với Lưu Vĩnh Phúc là Phó Tổng thống. Song trước sự tấn công mãnh liệt của quân Nhật, thế yếu, Lưu Vĩnh Phúc đã phài cải trang làm một người phụ nữ và trốn khòi Đài Loan.

Quay lại đại lục Trung Hoa, Lưu Vĩnh Phúc trở thành chỗ tựa cho các nhà cách mạng Việt Nam hoạt động trên đất Tàu. Trong bài viết dài hơn 100 trang có nhan đề “Quelques précisions sur une période troublée de l’histoire d’Annam”, cây bút Pháp A. Delvaux có nhắc đến chi tiết vào tháng 3.1888, Lãnh sự Pháp tại Quảng Đông phát hiện Đề đốc Trần Xuân Soạn có mặt tại nhà Lưu Vĩnh Phúc. 

Năm 1900,  một nhà cách mạng Việt Nam là cụ Phan Bội Châu mưu tính tập hợp các nhà trí thức yêu nước trong một phong trào chống Pháp, với sự hỗ trợ của Lưu Vĩnh Phúc. Năm 1905, cụ đi gặp họ Lưu. Cụ cho rằng nếu không có Lưu “dân tộc chúng ta sẽ không có được một giọt máu nào để rửa cổ giặc”.

Nhà Lưu Vĩnh Phúc không chỉ là nơi tiếp đón cụ Phan Bội Châu, mà cả cụ Phan Châu Trinh và Nguyễn Thiện Thuật (hay Nguyễn Thuật). Riêng cụ Thuật là người ở lâu dài trong nhà họ Lưu.

Tháng 1.1907, sau khi từ Nhật về, cụ Phan Bội Châu lại đến nhà Lưu Vĩnh Phúc, nơi đây, cụ vạch ra kế hoạch Đông Du, đưa thanh niện Việt Nam sang Nhật du học. Thất bại trong việc thành lập một đạo quân chống Pháp, cụ Phan muốn biến người từng lãnh đạo đạo quân Cờ đen và các đồng chí của ông thành những nhân tố của một cuộc cách mạng chính trị.     

Cụ Phan Bội Châu là một trong những nhà cách mạng khả kính, vì vậy những gì cụ viết về Lưu Vĩnh Phúc là điều cần được chúng ta lưu tâm. Trong hồi ký “Phan Bội Châu niên biểu”, cụ Phan đã có những dòng sau đây về Lưu Vĩnh Phúc: “Thượng tuần tháng 8 đến Quảng Đông, thăm chào ông Lưu Vĩnh Phúc, nhân gặp được cụ Tam Tuyên tán lý xưa là cụ Nguyễn Thuật. Lưu tuổi gần 70 mà dung mạo quắc thước, khi vừa gặp chúng tôi, nói tới người Pháp thì vỗ tay trên án mà nói rằng: ‘Tả! tả! tả!’     
“Tôi nhân đó mà nhắc lúc quân Tây hai lần lấy thành Hà Nội, nếu không có quân Lưu đoàn, thì chắc quân ta không được giọt máu nào rơi ở cổ người giặc. Ôi, Lưu đoàn chẳng phải là một bậc anh hùng hay sao? Tôi lúc bấy giờ, cái lòng sung bái anh hùng hết sức dốc đổ vào Lưu …”

Sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911, Lưu Vĩnh Phúc được cử làm Tổng trường dân đoàn Quảng Đông, tiếp tục công tác cho chế độ dân quốc đến ngày qua đời vì bệnh năm 1917.

Căn cứ vào các tư liệu trên, có thể thấy rằng vai trò của Lưu Vĩnh Phúc trong lịch sử kháng Pháp của Việt Nam thay đổi qua từng thời kỳ; thời kỳ trước năm 1868 là một kẻ cầm đầu thổ phỉ, thời kỳ từ 1868 đến 1885 là một quan lại triều đình Việt Nam, lập nhiều chiến công, được vua Tự Đức phong đến chức Đề đốc, hàm nhị phẩm, và thời kỳ từ 1885, bị hất ra khỏi guồng máy chiến tranh Việt-Pháp, quay về Trung Quốc, góp phần cải thiện đời sống xã hội của nước ông vào những thập niên 1890-1900 -1910.

Từ những thập niên qua, nhiều nhà viết sử Việt Nam đi theo lối mòn của các cây bút Pháp, vốn hận thù đạo quân Cờ đen từng sát hại hai sĩ quan ưu tú của họ, nên đã có những miêu tả và nhận định không công bằng đối với một người như Lưu Vĩnh Phúc. Đặt họ Lưu đúng vào vị trí đích thực của ông trong cuộc kháng chiến lâu dài của người Việt chúng ta là cách mang lại sự công bằng lịch sử, phù hợp với đạo lý do cha ông truyền lại.


LÊ NGUYỄN 

Tóm lược tình hình tại Iran

- TT Trump cân nhắc nhiều phương án, bao gồm cả hành động quân sự chống lại Iran.  - Iran tuyên bố sẵn sàng chiến tranh nhưng cũng sẵn sàng ...